Showing posts with label giáo dục vnch. Show all posts
Showing posts with label giáo dục vnch. Show all posts

Monday, March 11, 2019

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 4)

VIỆC THI CỬ

1. Trước kỳ thi

Đơn vị chính trong các kỳ thi trên toàn miền Nam trước 1975 là cấp Tỉnh. Trường trung học công lập chính thức của tỉnh là nơi trực tiếp thực hiện những thủ tục cần thiết dưới sự sắp xếp của Nha Khảo thí và các cơ quan liên hệ của Bộ Giáo dục như Nha Trung học, Nha Tiểu học, đoàn Thanh tra.
Mấy tháng trước ngày thi, các trường tư thục trong tỉnh phải nộp học bạ của tất cả thí sinh thuộc trường mình cho trường Trung học công lập tỉnh kiểm nhận, và chỉ khi nào học bạ được kiểm nhận hợp lệ, học sinh liên hệ mới được cấp số báo danh để dự kỳ thi sắp tới.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một trang học bạ của học sinh lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường tư được trường công lập của tỉnh kiểm nhận mấy tháng trước kỳ thi. Đó là điều kiện bắt buộc của học sinh trường tư để được cấp số báo danh cho kỳ thi sắp mở.
Cũng mấy tháng trước kỷ thi, các giáo sư công lập đang dạy chính môn nào thì được Nha khảo thí yêu cầu đề xuất một số đề thi thuộc môn đó (thường từ 3 đến 5 đề thi). Những đề thi này chỉ có tính tham khảo, nếu có được chọn đi nữa thì xác suất được chọn cũng rất nhỏ, so với số đề thi đề xuất trên cả nước.

2. Trước ngày thi

Việc chọn đề thi do một tiểu ban của Bộ Giáo dục gồm phần lớn là các Thanh tra trung học đảm trách. Khoảng một tuần lễ trước ngày thi, bộ phận này bị cấm trại 24/24 tại trụ sở cho đến ngày thi xong. Không một ai, kể cả Bộ trưởng Giáo dục được phép tiếp xúc với những người này. Họ có những nhiệm vụ quan trọng sau:
– Thảo luận kỹ, chọn ra những đề thi cho từng môn thi, căn cứ vào đề xuất của các giáo sư từng bộ môn đã tập trung về Bộ cách đó mấy tháng.
– Quyết định xong toàn bộ các đề thi, họ đánh máy trên giấy stencil (giấy sáp) và tự tay quay roneo các đề thi đã chọn xong. Vì trong ngày thi, đề thi được phát tận tay mỗi thí sinh, nên số đề được quay roneo vô cùng to lớn, nhiều hơn tổng số thí sinh cho kỳ thi đó. Sau khi công việc khó nhọc này hoàn tất, họ dựa vào số thí sinh do các tỉnh báo cáo, cho toàn bộ đề thi vào những thùng kín có hai ống khóa, được niêm phong cẩn thận, chờ đại diện hội đồng thi các tỉnh lên nhận về.
– Trước khi kỳ thi diễn ra, mỗi tỉnh có một Hội đồng thi tập trung tại trường trung học công lập của tỉnh, gồm phần lớn các giáo chức trong tỉnh. Một ngày trước ngày thi, Hội đồng cử người về Bộ để đưa đề thi về tỉnh, tùy mỗi địa phương mà đi bằng đường bộ hay đường hàng không. Nếu đi đường bộ, họ được xe cảnh sát hộ tống chặt chẽ. Trong suốt những năm trước 1975, chưa hề nghe có một scandal vào về việc tiết lộ đề thi, đủ biết sự bảo mật được thực hiện chặt chẽ như thế nào.
Khi về đến tỉnh, thùng đựng đề thi được đưa ngay đến trụ sở Tòa hành chánh tỉnh. Viên chức giữ chức vụ Phó Tỉnh trưởng sẽ thay mặt ông Tỉnh trưởng sở tại, chủ trì một tiểu ban tiếp nhận và bảo quản đề thi. Họ niêm phong và ký tên trên tất cả giấy niêm phong, cho hết vào một tủ sắt trong phòng Phó Tỉnh trưởng, niêm phong tủ sắt với chữ ký của các thành viên trong tiểu ban (đại diện trường trung học công lập tỉnh, đại diện Ty cảnh sát, tòa án, Hội đồng tỉnh…).
Sáng ngày thi, chỉ một khoảng thời gian ngắn đủ để mang đề thi đến mỗi trường thi, người của hội đồng thi và đại diện mỗi trường thi đến Tòa hành chánh tỉnh, phá niêm phong, nhận đề thi về các trường thi. Khi họ về đến nơi thì chỉ còn một thời gian tối thiểu để các giám thị phát đề thi đến tận tay thí sinh.
– Thường là một ngày trước ngày thi, các trường thi có thông lệ viết bằng phấn số báo danh của thí sinh trên từng bàn học trong phòng thi. Điều này không quan trọng đối với thí sinh Tú Tài, song rất cần thiết đối với thí sinh Trung học Đệ nhất cấp (cấp 2), nhất là thí sinh Tiểu học, giúp họ đến trường thi trước ngày thi, xem và biết trước sẽ ngồi ở phòng nào trong ngày thi. Trước khi có cách làm này, nhiều em gần đến giờ thi, chạy cuống quýt, không biết tìm phòng thi ở đâu, nếu tìm được phòng trễ quá, theo nội qui trường thi, sẽ không được vào phòng thi nữa. Tác giả bài viết này từng là một cậu học sinh như thế trong kỳ thi Tiểu học năm 1954.

3. Trong ngày thi

Trong phòng thi, thường ban tổ chức bố trí một bàn hai thí sinh ngồi ở hai đầu bàn, mỗi phòng có hai giám thị là giáo viên (tiểu học) hay giáo sư (trung học), thường là một nam, một nữ.
Đến giờ thi, thí sinh được phát riêng cho mỗi người:
– Đề thi in trên giấy in roneo dày, màu vàng, chữ rất rõ ràng.
– Giấy làm bài thi khổ to, có rọc phách giữa phần khai báo của thí sinh và bài làm.
– Giấy làm nháp thường có ba màu: xanh lục, vàng nhạt, hường. Thí sinh ngồi chung một bàn được phát giấy nháp khác màu nhau.
Khoảng 5 đến 10 phút trước khi hết giờ làm bài, các giám thị thông báo cho thí sinh biết để xem lại bài. An ninh phòng thi rất chặt chẽ, những người không có nhiệm vụ trong trường thi không được phép đến gần trường thi.

4. Sau ngày thi

* Việc học và thi tại miền Nam những năm 1954-1963 (và sau đó) dựa trên những ý niệm căn bản sau:
– Chỉ có ưu tiên trong học tập, hoàn toàn không có ưu tiên trong thi cử. Thành phần học sinh được ưu tiên trong học tập là con của quân nhân, công chức “hi sinh vì nhiệm vụ” (tử trận, tử nạn trong lúc thi hành nhiệm vụ, chết vì bệnh do công vụ gây nên…) hoặc của những thường dân hi sinh mạng sống để cứu người… Họ được thu nhận vào trường Quốc gia Nghĩa tử, được tạo những điều kiện học tập tốt nhất, bù đắp với sự bất lợi do thiếu cha hay thiếu mẹ so với các học sinh bình thường khác. Họ được miễn học phí, được cấp học bổng và nhiều phương tiện khác trong học tập. Với những điều kiện ưu đãi đó, họ phải cố gắng học tập như mọi người và trong kỳ thi, không được hưởng bất cứ sự ưu đãi nào.
– Tuy nhiên, có một trường hợp duy nhất được cộng điểm. Để khuyến khích học sinh rèn luyện thể lực, khoảng 2-3 tháng trước kỳ thi, Ty thể dục thể thao tỉnh tổ chức kỳ thi thể dục cho toàn thể học sinh trong tỉnh. Kỳ thi gồm nhiều môn phối hợp: chạy xa, nhảy xa, nhảy cao, ném tạ…, ai được từ 11/20 điểm trở lên thì được cộng số điểm sau khi trừ 10 vào tổng số điểm thi đã nhân với hệ số. Ví dụ một học sinh đạt điểm thi thể dục 13/20, cậu ta được cộng thêm 3 điểm vào tổng số điểm thi. Việc cộng thêm điểm này không đáng kể lắm nếu ta biết rằng tổng số điểm trung bình cần để đậu trong kỳ thi thường vượt quá con số 100, sau khi đã nhân với hệ số từ 2 đến 4, tùy theo môn thi.
– Những năm 1954-1963, tại miền Nam, bài thi được cho điểm trên cơ sở tối đa 20 điểm. Tùy theo tính cách quan trọng nhiều hay ít của các môn học và thi, mỗi môn được nhân với một hệ số khác nhau, ví dụ ở kỳ thi Tú Tài II (Tú Tài toàn phần) ban C, môn Triết học hệ số 3; Pháp văn sinh ngữ 1 hệ số 3; Anh văn sinh ngữ 2 hệ số 2; Sử Địa hệ số 2. Như vậy tổng số điểm tối đa các môn thi là 200, số điểm trung bình tối thiểu để đậu kỳ thi viết là 100/200.
– Mỗi kỳ thi Trung học Đệ I cấp, Tú Tài I và Tú Tài II đều có một kỳ thi viết và một kỳ vấn đáp. Thí sinh nào đạt điểm trung bình từ 10/20 trở lên được chấm đậu trong kỳ thi viết. Việc công bố kết quả thi viết diễn ra tại một trường học có sân rộng, loa được bắc nhiều nơi, một người trong ban tổ chức kỳ thi đọc trên loa tên và số báo danh của những người đậu kỳ thi viết, theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, cũng là thứ tự mẫu tự của tên. Những thí sinh đậu trong kỳ thi viết mới được tham dự kỳ thi vấn đáp mở ra sau đó vài ngày.
ADVERTISEMENT
Những người không đủ 10/20 điểm để đậu trong kỳ thi viết được chia làm hai hạng:
. Ai có từ 8 đến dưới 10/20 điểm trung bình được thi kỳ 2 mở cách kỳ 1 khoảng 2 tháng. Công việc nấu sử sôi kinh diễn ra ngay sau đó, trong kỳ nghỉ hè.
. Ai dưới 8/20 điểm trung bình không được dự thi kỳ 2, đợi sang năm sau thi tiếp
– Tùy theo số điểm trung bình trong kỳ thi, tính cả thi viết lẫn thi vấn đáp, người ta chia số người đậu theo các hạng sau:
. Hạng Thứ (passable): Từ 10 đến dưới 12/20 điểm
. Hạng Bình Thứ (Assez bien): Từ 12 đến dưới 14/20 điểm
. Hạng Bình (Bien): Từ 14 đến dưới 16/20 điểm
. Hạng Ưu (Très bien): Từ 16 đến dưới 18/20 điểm
. Hạng Tối ưu (Excellent): Từ 18 đến 20/20 điểm.
Trong kỳ thi Tú Tài, thường chỉ có hai ban A (chủ yếu các môn Lý Hóa-Vạn vật) và B (chủ yếu các mônToán-Lý Hóa) là có thí sinh đậu hạng Bình hay Ưu, vì các bài Toán, Lý Hóa, Vạn vật chấm điểm theo đúng, sai, ai làm bài đúng hoàn toàn dễ kiềm được 16-18 điểm. Riêng ban C với các môn chính: Triết học, Pháp (dissertation morale: luận đề luân lý), Anh (dịch), Sử Địa, kiếm được từ 10 đến 12/20 điểm trung bình đã rất vất vả nên hầu như chưa thấy ai học ban C mà đậu hạng Bình trở lên.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Tú Tài II cấp năm 1962
– Hàng năm, những kỳ thi tuyển vào các trường đào tạo công chức và có học bổng như Đại học Sư phạm, Quốc gia Hành chánh, Kỹ thuật Phú Thọ đều được mở ra giữa hai kỳ 1 và 2 của kỳ thi Tú Tài II, ai thi rớt kỳ 1, chờ thi kỳ 2, sẽ không có cơ hội tham gia các kỳ thi tuyển vào Đại học năm đó.
– Tỉ lệ thi đậu hàng năm của 3 kỳ thi trung học dao động từ 25% đến 45%, thấp nhất thường là ở kỳ thi Tú Tài I, chỉ khoảng 30%-35%, cao nhất là kỳ thi Tú Tài II, từ 35% đến 45%. Điều này dễ hiểu: trình độ học sinh lớp Đệ Nhị (để thi Tú Tài I) không đồng đều bằng học sinh lớp Đệ Nhất (để thi Tú Tài II) vừa đậu xong Tú Tài I năm trước.
Mặt khác, số thí sinh trường tư thường đậu thấp hơn thí sinh trường công, chiếm khoảng 70% -90% số thí sinh thi đậu của trường công. Lý do: Trình độ học sinh trường tư rất không đồng đều, phải chờ nhau, nên không tiến nhanh được. Cần nhớ là trong kỳ thi Tú Tài I, 100% thí sinh trường công đều có bằng Trung học Đệ nhất cấp, trong khi thí sinh trường tư thi Tú Tài I không cần có bằng Trung học Đệ nhất cấp. Chỉ riêng sự khác biệt này đủ làm nên sự chênh lệch về tỉ lệ thi đậu ở mỗi loại trường.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Trung học Đệ nhất cấp cấp năm 1959.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Tú Tài I cấp năm 1961. Người ký là Phó Tổng Giám Đốc Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục Phan Thế Roanh, con trai danh sĩ Phan Mạnh Danh, tác giả tập Bút Hoa.
– Trong kỳ thi Tú Tài (và cả Trung học Đệ nhất cấp), có một thành phần “thí sinh tự do” là những người không có điều kiện học thường xuyên tại trường học. Họ là những quân nhân, công chức hoặc người thi rớt nhiều năm liền. Quân nhân, công chức thường ghi danh học các lớp ban đêm và ban mà họ chọn nhiều nhất là ban C. Họ được miễn điều kiện học bạ, nhưng vẫn phải thi như bất cứ thành phần nào khác, không có chuyện “chuyên tu” hay “tại chức” như sau 1975.
– Sau khi có kết quả thi cả viết lẫn vấn đáp, những thí sinh đã đậu chính thức được cấp sớm một chứng chỉ bằng một tờ giấy A4, có khi chỉ bằng nửa tờ A4. Họ sao y tờ chứng chỉ này dùng cho mọi việc cần thiết: thi tuyển, ghi danh vào đại học, xin việc làm… Phải mấy năm sau họ mới được cấp văn bằng chính thức, khổ to, viết chữ đẹp, giấy cứng, thường chỉ có tác dụng lộng kính treo trong nhà, mọi việc đều nhờ vào tờ chứng chỉ.
– Hàng năm, nhiều nước cấp học bổng cho học sinh, sinh viên Việt Nam, thường là học bổng toàn phần, gồm học phí, chi phí ăn, ở trong suốt mấy năm học. Bộ Giáo dục đăng thông báo trên các báo vài tháng trước khi có kỳ thi tuyển chọn, ai muốn đi du học nộp đơn và hồ sơ dự tuyển. Đến lúc này, thứ hạng trong kỳ thi Tú Tài mới phát huy tác dụng, thường những người đậu từ hạng Bình trở lên được du học miễn thi, có năm phải từ hạng Ưu. Những người đậu hạng Bình Thứ hay Thứ phải dự kỳ thi tuyển, thường là về môn ngoại ngữ (Anh hay Pháp) liên quan đến nước cấp học bổng. Nhiều nhân tài miền Nam nên danh từ những học bổng toàn phần này.
– Sau Đệ nhất Cộng hòa (1963), các kỳ thi vấn đáp được bỏ dần, đến giữa thập niên 1960, bắt đầu thử nghiệm việc thi trắc nghiệm, được gọi vui là “A,B,C khoanh”. Đến đầu thập niên 1970, việc thi được đẩy mạnh về mặt khoa học kỹ thuật, tiến dần đến cách chấm thi bằng kỹ thuật xuyên phiếu với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các chuyên viên thuộc hãng IBM. Lúc đó, một ngạch công chức mới ra đời, đó là ngạch xuyên phiếu viên.
Lê Nguyễn
29.11.2018

Monday, February 18, 2019

NHÂN BẢN - KHAI PHÓNG - DÂN TỘC là triết lý giáo dục của VNCH trước 1975 .
(Viết sau phát biểu của hiệu trưởng trường Bùi Thị Xuân , Huế) .

- Nhân bản là lấy con người làm gốc .
- Khai phóng là giúp con người được tự do .
- Dân tộc là giữ được bản sắc VN .
1/ Trong khi giáo dục VNCH đề cao NHÂN BẢN , thì bà "hiệu trưởng" trên tuyên bố "tuổi trẻ năng động nên đánh nhau là chuyện thường , v.v..." . Bà nên biết rằng , khi cho phép 4-5 học trò , trong đó có 1 nam sinh , đánh hội đồng một nữ sinh , thì bà còn thua THÚ DỮ vì chúng ko lấy đông đánh ít , v.v...
2/ KHAI PHÓNG nghĩa là giúp con người được tự do :
a/ VNCH tạo điều kiện cho mọi ng được đi học và chọn môn học hay chương trình mình thích . Dưới chế độ cũ , bằng cấp là 1 thứ giấy chứng nhận trình độ , do vậy , ko bắt buộc phải đi học hết lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ) mới thi lấy bằng trung học đệ 1 cấp hay phải học hết đệ nhị (lớp 11 bây giờ) , mới được thi lấy bằng Tú Tài I . Tôi đây là 1 VD : sau khi có bằng Tiểu học , khoảng 8 năm sau , tôi mới thi bằng trung học đệ nhứt cấp và tú tài 1 , trong cùng 1 năm . Chỉ khi vào ĐH mới bắt buộc phải có tú tài 2 . Có 1 số ĐH thì chỉ cần Tú Tài 1 .
Do ko có chế độ hộ khẩu nên thí sinh có thể nộp đơn thi ở bất cứ nơi nào có tổ chức thi , nghĩa là một thí sinh có địa chỉ ở Sài Gòn có thể thi Tú Tài I hay II tại Đà Nẳng !
b/ Hoàn toàn không có BẰNG GIẢ TRÀN LAN như bây giờ . Tôi học đệ nhị BA năm qua hàm thụ (par correspondence) mới lấy Tú Tài 1 , nếu mua được bằng giả là tôi đã vào được ĐH rồi .
c/ Các bài thi từ trung học đệ nhứt cấp trở lên đều lưu trữ NHIỀU NĂM ở Nha Khảo Thí bộ GD (nằm gần trường nữ Trưng Vương) trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm , Sài Gòn để đề phòng KHIẾU NẠI CỦA THÍ SINH . Ví dụ : nếu anh A học giỏi hơn anh B nhưng lại rớt bằng Tú Tài 1 (trong khi anh B thi đậu) thì anh có quyền yêu cầu xem lại bài thi của anh A và anh B . Nếu bài thi cho thấy anh A làm bài tốt hơn anh B thì các người chấm thi sẽ bị bộ GD "sờ gáy" nghĩa là bị điều tra "có ăn tiền anh B để cho anh điểm cao" . Kể ra đây để cho thấy luật pháp dưới thời VNCH rất nghiêm minh trong mọi lãnh vực của xã hội .
d/ Sách giáo khoa mọi cấp đều do tư nhân viết - dựa theo chương trình của BGD đưa ra ; nghĩa là các GS và HS toàn quyền chọn sách mình thích để dạy và học . Không có tình trạng ĐỘC QUYỀN IN SGK của nhà xuất bản Giáo Dục bây giờ . Do "một mình một chợ" , ko ai cạnh tranh nên nhà xuất bản này luôn luôn có lời đến độ nhân viên các cấp đều được thưởng kể cả cho đi du lịch nước ngoài .
e/ Trường công hoàn toàn MIỄN PHÍ , không giống như bây giờ .
3/ Coi trọng bản sắc DÂN TỘC : HS được tự do tiếp xúc với mọi thứ và nhà trường ko dạy HS , như bây giờ , là phải học tư tưởng HCM , một tư tưởng ngoại lai , du nhập từ LX và TQ * . Nếu CNCS tốt đẹp thì nó đã ko bị vất vào thùng rác ở đất nước sản sinh ra nó . Chính CNCS đã đẩy dân tộc VN đang làm NÔ LỆ cho TQ về đủ lãnh vực từ chính trị , văn hóa , xã hội , kinh tế , v.v...
* VNCH đâu có nhà thơ nào khóc các TT Mỹ như Tố Hữu khóc ông Lênin hay Stalin , v.v...
Tóm lại , chỉ khi nào Trời Đất THU HỒI (recall) ĐCSVN thì dân Việt mới hết khổ , mới hết nạn "CA và công chức các cấp coi dân như KẺ THÙ hay RƠM RÁC hay BÒ SỮA" . Điều này tôi ko nói nhiều vì các bạn kể tội chúng mỗi ngày trên FB .

Thursday, March 1, 2018

KHAI PHÓNG - NHÂN BẢN - DÂN TỘC : ba triết lý GD của VNCH . (tiếp theo) .
Hai triết lý đầu tiên có thể giải thích tóm tắt là : CP tạo mọi điều kiện để ng dân được đi học dễ dàng để mở mang kiến thức và khai phá tiềm năng của họ .
Sau đây là 1 VD minh chứng cho 2 triết lý trên . 
1 HS sống từ nhỏ tới lớn tại Sài Gòn có thể ra Nha Trang để thi Tú Tài 1 , mà trình độ - giống như bạn học lớp 11 bây giờ . Do ko có chế độ hộ khẩu chặc chẻ như bây giờ , ng dân muốn ở đâu cũng được , ko cần xin phép . Chỉ sau Tết Mậu Thân 1968 , do CS đưa CT vào các thành phố mới có chế độ liên gia trưởng , khóm và phường . Nhưng chỉ là tổ chức về ANQS , chứ các sinh hoạt khác thì bình thường . Mọi giấy tờ như làm khai sinh , khai tử , hôn nhân , v.v... ng dân lên quận làm việc , chứ ko qua phường như bây giờ . Không có họp tổ dân phố hay CA khu vực kiểm tra hộ khẩu .
Ở Mỹ , GD cũng khai phóng và nhân bản như vậy :
1 HS , ví dụ 16 t , ở VN mới qua , họ cho ngay vào lớp - dành cho lứa tuổi như vậy ở mỹ , mà ko cần xem xét đến học bạ hay chứng chỉ học trình của em lúc còn ở VN . Thông thường các em trở ngại về tiếng Anh , nên ngoài giờ ở lớp , họ cử 1 HS cùng lớp đến nhà dạy kèm em này . Chỉ sau thời gian 6 tháng , các em có thể ko cần ng đến nhà dạy kèm . Các môn học chia thành tín chỉ/credit , em nào kém thì chọn tín chỉ dễ nhứt , miễn làm sao , em có những tín chỉ cần thiết của mỗi môn học . Giờ học chia theo tiết/period , nghĩa là hết giờ Sử , các em chạy sang phòng khác học môn Hóa , hết môn hóa thì chạy sang phòng khác học môn Toán (giống như chạy "sô") . Do vậy , tình bạn bè , thày trò ko sâu đậm như vn . Tôi biết như vậy nhờ học trò Toán kể lại , chớ có đi học ngày nào ở mỹ đâu mà biết !
Tôi hay nói với học trò , thày của tụi bây đi xe Lexus còn tao đi xe bus !.
(Về tổ chức hành chính , mỹ ko có phường và quận , nghĩa là dân trực tiếp lên tòa thị chính , quản lý tới gần 2 triệu dân như San Jose , để làm các thủ tục hành chánh . Qua Mỹ đã gần 22 năm , tôi chưa bao giờ bị hay đc CS hỏi giấy tờ đi đường dù họ ko có tổ chức như CA phường hay quận . Tuy nhiên , chỉ gần dùng ĐT bàn gọi 911 và gát máy xuống là xe cứu thương , xe CS và xe cứu hỏa sẽ nhanh chóng chạy đến nhà bạn. Vì nhìn vào Caller ID , họ biết số phone và địa chỉ) .

Wednesday, February 28, 2018


BA TRIẾT LÝ GIÁO DỤC ĐẦY THAM VỌNG CỦA VNCH .



https://www.facebook.com/photo.php?fbid=2331394230207723&set=pcb.2331394716874341&type=3

Wednesday, February 21, 2018

Chuyện về tôi dạy học .
Năm 1998 , theo yêu cầu của một số phụ huynh mới sang Mỹ , tôi đã dạy toán và Anh văn cho các em từ lớp 2 đến 9 , phần lớn là dạy toán vì các em ko bắt kịp chương trình toán tại Mỹ do trở ngại ngôn ngữ . Các em ở VN , có đứa gđ làm ruộng , đi học về là vất cạc-táp chạy ra đồng cuốc đất trồng rau . 
Trong khi đó , dù học toán theo chương trình VN nhưng tôi có gia sư dạy kèm tiếng Pháp nên ở đệ tứ , đệ tam đã có thể đọc sách toán của Pháp . Dù từ 21 tuổi đã vào lính cầm súng , đi tù trong 6 năm , ra tù làm nghề xây dựng , và ko rớ tới toán học nhưng nhờ trí nhớ còn tốt nên ở tuổi 51 , vẫn dạy toán rất nhuần nhuyễn .
Ngoài hình học ko khác với những gì tôi đã học thời trung học , đại số khác rất nhiều vì có thêm xác xuất (probability) , biểu đồ và thống kê (graphs and statistics), lý thuyết số (number theory) v.v... Ở VN thời trước , các môn này chỉ học ở ban B (toán) của đệ Nhứt trong khi tôi lại học ban C (văn chương) . Tuy nhiên nhờ giỏi tiếng Pháp , tôi đã dễ dàng đọc các sách toán tại Mỹ vì danh từ khoa học tiếng Anh và Pháp gần như giống nhau vì cùng gốc Hy lạp và La tinh .
Để giúp các em làm bài tập , mỗi tháng tôi mua sách , đa số về toán , khoảng 200 đô (sic) . Học sinh khoảng 15 đứa , đứa nào gđ nghèo tôi ko lấy tiền nhưng các gđ giàu có trả cho tôi 50 đến 100 đô/tháng cho con của họ . Đây là giai đoạn HẠNH PHÚC NHẤT TRONG ĐỜI vì được làm việc mình ưa thích .
Sau khi ra tù năm 1981 , chữ viết rất xấu do bị phong thấp nhưng lúc dạy bọn trẻ này , tôi lại viết chữ rất đẹp (như có năng lực siêu hình giúp đở) . Bài tập của chúng được điểm cao nhất lớp . Tôi hay nói với chúng , thày của tụi bây đi xe Lexus còn tao đi xe bus !
Tôi còn nhớ , một người chú của 1 học trò , tốt nghiệp ĐH tại Nhật và Mỹ , góp ý hay "lên lớp" với tôi về việc dạy học . Tôi trả lời , tôi chưa bao giờ vổ ngực khoe khoang là thày giáo dạy toán , tôi chỉ dạy những gì tôi biết .
Viết nhân dịp BT bộ Học bị "ném đá" tới tấp vì gian lận về bằng cắp lại thêm nói ngọng - do được đào tạo bởi các cô giáo chỉ mới học lớp ba . (Theo thày Dương đình Giao trên blog Ông Giáo Làng) .

Sunday, February 4, 2018

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đâu rồi?



Bài “GIÁO DỤC VIỆT NAM: NỖI ĐAU NHIỀU KIẾP CHƯA TAN” viết chưa ráo mực, thì được tin ông Mai Sỹ Tuấn, Phó giáo sư – Tiến sĩ, từng là Trưởng khoa Sinh Học – Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ biên sách giáo khoa mới, gộp ba môn Lý-Hóa-Sinh vào một tên gọi “Khoa học tự nhiên” và khẳng định rằng, “cần phải hiểu đây là một môn học, chứ không phải cộng cơ học của 3 môn”, thì đổ bệnh phát ốm (giaoduc.net.vn, 01/02/2018: Phó giáo sư Mai Sỹ Tuấn có dạy được Vật lý, hóa học không? Nếu không, đừng ép).

Phó thủ tướng CP Vũ Đức Đam. Ảnh: internet
I. THUA XA THỜI GS NGUYỄN VĂN HUYÊN VÀ GS TẠ QUANG BỬU

Vào những năm 50, 60 thế kỷ 20, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên đã cho dạy môn Khoa học thường thức ở cấp I (lớp 1- 4). Đến cấp 2 ( lớp 5-7), ông đã cho tách các môn chuyên ngành. Dạy các môn Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa, để học sinh có cơ hội đi dần vào chuyên sâu. Toán thì tách Số học, Hình học, Đại số. Đó là bước đi rất khoa học.

Vào những năm chiến tranh khốc liệt, Giáo sư Tạ Quang Bửu đã cho thành lập hệ thống trường chuyên toán tại các trường ĐH Tổng Hợp, ĐH Sư Phạm Hà Nội, ĐH Sư Phạm Vinh (1966-1967). Sau đó, hệ thống trường chuyên toán được mở ở các tỉnh. Nhờ hệ thống trường chuyên toán mà Việt Nam mới có hàng ngàn học sinh giỏi toán, mới có giải thưởng Fields của Giáo sư Ngô Bảo Châu.

Tầm nhìn của Giáo sư Nguyễn Văn Huyên và Giáo sư Tạ Quang Bửu là không có so sánh.

Nay các ông Nguyễn Minh Thuyết, Mai Sỹ Tuấn lại nổi danh, làm ngược tiền nhân. Nhập các môn mà GS Nguyễn Văn Huyên đã tách, gộp lại thành Khoa học thường thức để dạy ở cấp II. Ông Mai Sỹ Tuấn còn khẳng định, “cần phải hiểu Vật Lý, Hóa Học, Sinh Học là một môn!”

Sau năm 1954, do đất nước còn khó khăn, nền giáo dục mới phát triển, nên từ bình dân học vụ – người biết chữ dạy người chưa biết chữ, rồi đến thời kỳ, hết lớp 7 thì đi dạy cấp I. Sau đó đến thời kỳ hết lớp 10 đi học thêm 2 năm để dạy cấp 1 gọi là 10+2. Còn 10+3 thì dạy cấp 2. Cũng vì thiếu giáo viên nên chương trình 10+3 lúc đó mới đào tạo giáo viên Văn – Sử, Toán – Lý, Sinh – Hóa, Sinh – Địa. Đó không phải là nguyên cớ cho một số người biện hộ rằng trước đây chúng ta đã đào tạo gộp các môn, để mà quay lại thời khó khăn ban đầu.

Nếu ông Mai Sỹ Tuấn đã có bằng tiến sĩ về Sinh học thì ông phải biết ngành Sinh học khi làm tiến sĩ thì được chia ra rất nhiều ngành chuyên sâu. Nhưng các chuyên ngành này đều có gốc rễ chung của khoa học sinh học. Còn Lý – Hoá – Sinh thì không bao giờ có thể là một môn được.

Trong thần thoại Hy Lạp có những con quái thú. Griffin là đầu đại bàng thân sư tử. Sphinx là quái vật đầu người mình sư tử. Centaurus là quái vật đầu ngườ thân ngựa. Minotaur là quái vật nửa người nửa bò.Typhon là quái vật đầu người mình rắn. Harpy là quái vật đầu người mình chim… Các quái vật này là kết hợp hai loài, chứ chưa đến đẳng cấp tổ hợp 3 như Lý- Hoá – Sinh.

Thư giãn một chút để quay lại với chuyên ngành. Dẫu rằng trong một lĩnh vực có nhiều ngành chuyên sâu, nhưng ở Liên xô trước đây, khi bảo vệ luận án tiến sĩ, lĩnh vưc Toán và Lý có chung một tên gọi là Tiến sĩ Toán – Lý. Nó phản ánh một thực tế, rằng người có học vị tiến sĩ rất giỏi về chuyên sâu nhưng cũng rất giỏi trong lĩnh vực khoa học rộng lớn hơn nhiều. Một ông tiến sĩ Toán có thể ngồi ở nhiều hội đồng chuyên ngành, chứ không chỉ trong hội đồng chuyên sâu mà người đó bảo vệ luận án. Vì thế mới có danh từ Bác học.

Ở Việt Nam hiện nay, quan sát thấy khuynh hướng ngược. Một hội đồng khoa học bị chẻ nhỏ quá mức. Chẳng hạn chuyên ngành kế toán thì nhất thiết phải có người bảo vệ ngành kế toán, mà những người giỏi đích thực, có học vị khoa học ở lĩnh vực rộng lớn hơn là Khoa học Kinh tế thì lại không được lựa chọn. Tương tự như vậy là ở các chuyên ngành khác.

Cho nên, tiến sĩ thời này ở nước ta, có khuynh hướng là thợ, mà không phải là thầy. Nhìn các đề tài tiến sĩ trong thời gian vừa qua, trừ các lĩnh vực tự nhiên đòi hỏi công bố trên các tạp chí quốc tế (ISS/Scopus), thì thấy đau khổ cho học vị tiến sĩ nước nhà. Rất vụn vặt.

Tiến sĩ là học vị khoa học. Muốn có học vị tiến sĩ thì trước hết phải là một người học rộng, biết nhiều; phải là một nhà bác học.

Cũng như vậy là học hàm giáo sư.

Cố Giáo sư Tạ Quang Bửu trong thời gian du học ở châu Âu đã lao vào học nhiều ngành mà không đặt mục đích lấy bằng tiến sĩ. Nên kiến thức của Cụ Tạ Quang Bửu mênh mông sâu rộng. Đạo đức và tầm nhìn thì ở mức cao thăm thẳm tầng xanh.

Khác quá xa với các giáo sư tiến sĩ bộ trưởng bây giờ. Họ đeo trên mình lủng củng một xâu chuỗi học hàm, học vị, bằng cấp, chức danh, giải thưởng, huân chương mà kiến thức không có là bao. Thật là, hậu sinh mà không khả úy!

II. PHẢI THAY ĐỔI NHẬN THỨC VỀ GIÁO DỤC TRẺ NHỎ: DÀNH ĐIỀU TỐT NHẤT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ THCS

Như người mẹ nuôi con, những thứ ngon nhất, bổ nhất, tốt nhất đều dành cho trẻ nhỏ. Giáo dục cũng vậy.

Trẻ con cảm thụ kiến thức rất nhanh và nhớ rất lâu. Những gì được học từ bé thường hằn sâu suốt cả cuộc đời.

Cho nên, những lời mẹ ru con – qua câu dân ca, ca dao và những bài thơ hay, đã truyền cho người con khả năng cảm thụ văn học và âm nhạc, còn những câu tục ngữ, điển tích thì trở thành giáo lý dạy con nên người.

Cuốn Tam Tự Kinh tuy bé nhỏ mà chứa đựng kiến thức giáo lý ngàn cân. Bởi đó là đúc kết luân lý nhiều đời.

Giáo trình của chúng ta hiện nay làm điều ngược lại. Ở bậc Tiểu học và THCS, học sinh ít được học nhiều những bài thơ, bài văn hay, không được dạy những điển tích kinh điển nhất.

Về các khoa học xã hội, bị chi phối quá nhiều bởi thời cuộc của chế độ hiện tại. Cho nên Văn chưa hay, Sử thì nhạt, Luân lý không bền vững.

Trên tất cả là các em cần được học với các thầy giỏi. Cùng một bài thơ mà được học với thầy giỏi thì sự cảm thụ khác xa với thầy chưa thực giỏi. Các thầy giỏi sẽ tự có giáo trình riêng của mình, phù hợp với từng đối tượng. Hãy lấy thể thao và âm nhạc làm thí dụ. Những thầy giỏi luôn tìm học trò giỏi từ bé. Nhờ đó mới có thiên tài.

Nay áp đặt quan điểm rằng, bậc tiểu học và THCS không cần thầy giáo hiểu biết biết sâu rộng, chỉ cần giới thiệu đại khái, không học điều tinh túy căn bản, tức là sẽ tước đi cơ hội thành nhân tài và siêu nhân của bao thế hệ.

Một quốc gia muốn hùng cường phải có nhiều siêu nhân.

III. SỰ KHÁC BIỆT CỦA THẦY GIỎI

Chắc chắn sẽ có rất nhiều giáo viên muốn được nghe ông Nguyễn Minh Thuyết và ông Mai Sỹ Tuấn giảng Lý – Hóa – Sinh để mà học tập.

Nhưng dạy theo giáo trình được chuẩn bị trước không phải là điều khó. Trả lời học trò và giải các bài tập mới là điều khó. Điều này thì ông Thuyết và ông Tuấn sẽ bị điểm liệt.

Người học rộng, càng học càng thấy mình biết ít. Càng học càng thấy thế giớ bí hiểm và mình dốt.

Vì thế, các thầy giỏi luôn thấu hiểu học trò, sợ học trò phải tốn công tìm hiểu như mình đã từng trải qua, nên tìm cách biến điều phức tạp thành điều đơn giản, với thí dụ rất cụ thể để cho học trò dễ hiểu, mà không sợ bị xem là tầm thường.

Ngược lại, có người biến điều đơn giản thành điều rối rắm, để tự huyễn hoặc là cao siêu.

Người thầy giỏi luôn sợ không đủ kiến thức để truyền dạy cho học trò. Khi thấy học trò xuất sắc, mà mình đã hết kiến thức hoặc không đủ tầm, thì giới thiệu cho người giỏi hơn mình. May mắn cho những ai được học với thầy giỏi. Tầm sư học đạo đã trở thành con đường kinh điển cho những ai muốn tiến xa.

IV. NGUYÊN TẮC KẾ THỪA

Khoa học luôn dựa trên nguyên tắc kế thừa. Muốn cải cách chương trình giáo dục thì phải dựa vào nguyên tắc kế thừa.

Nay chương trình của ông Thuyết và ông Tuấn không những không kế thừa, mà còn đi ngược lại với chương trình của các bậc tiền nhân, ngược với cấu trúc tự nhiên và tiến bộ nhân loại. Loại bỏ nguyên tắc kế thừa là vi phạm tiên đề.

Một bộ giáo trình không có kế thừa, chắc chắn sẽ vô số sai sót. Sẽ tốn công sức biên soạn. Sẽ mất nhiều tiền cho sách giáo khoa.

Nhớ lại, cũng những năm 60 của thế kỷ 20, anh em trong một nhà học chung một bộ giáo trình từ lớp 1 đến lớp 10 mà không phải mua sách mới. Nay thì năm nào cũng in sách giáo khoa mới với những bổ sung liên tục. Bổ sung toàn vặt vạnh. Nhưng học trò thì buộc phải bỏ tiền mua sách mới. Làm điêu đứng các gia đình nghèo. Làm lãng phí bao tiền bạc của cả xã hội.

Kế thừa là nguyên tắc đá tảng của tiến bộ nhân loại. Người sau tiếp theo người trước mà đặt lên một viên gạch mới. Tự cho mình tài năng, xóa bỏ công sức tiền nhân, làm lại từ đầu, là sự mê muội.

V. SAO CỨ TỰ LÀM NGHÈO MÌNH NHƯ THẾ NÀY?

Khi được biết Bộ GD&ĐT có dự án vay 100 triệu USD để đào tạo lại giáo viên dạy Lý – Hóa – Sinh và Sử – Địa, đào tạo cán bộ phục vụ chương trình cải cách giáo dục, thì thất kinh.

Không biết thời Cụ Nguyễn Văn Huyên biên soạn chương trình giáo dục phổ thông thì mất bao nhiêu tiền? Chắc chắn là không đến 1% số tiền nêu trên. Sẽ có người tin rằng, lấy bộ giáo trình thời Cụ Nguyễn Văn Huyên mà điều chỉnh thì còn tốt hơn bộ giáo trình mà ông Nguyễn Văn Thuyết đang làm tổng chủ biên. Vừa tốt về nội dung vừa đỡ lãng phí không biết bao nhiêu tiền bạc cho nhân dân.

Cho nên cải cách giáo dục hiện nay đang ngả về hướng vẽ ra dự án để tiêu tiền. Đau xót thay, đây là tiền đi vay. Rồi chúng ta phải đóng thêm thuế, và con cháu chúng ta phải nai lưng trả nợ.

Nếu không phải độc quyền, mà cho phép có các chương trình khác, thì giáo viên không phải đào tạo lại, chẳng những không phải vay 100 triệu USD này, mà quan trọng hơn là con cháu chúng ta được học một chương trình tốt hơn. Đó là điều chắc chắn.

VI. TẠI SAO PHẪN NỘ?

Chúng ta tranh luận, thảo luận, nhưng không chỉ trích, không chưởi bới, không mạt sát.

Vâng, đó văn hóa tối thiểu của nhà giáo, của người làm khoa học. Nhưng văn hóa đó chỉ dành cho học thuật. Văn hóa đó không dành cho sự độc quyền áp đặt thực thi chương trình giáo dục quốc gia, ảnh hưởng đến bước tiến của một dân tộc.

Hấp tấp vội vã; làm ngược với tiền nhân; hoang phí tiền bạc của nhân dân; kéo thụt lùi nền giáo dục nước nhà; làm giảm khả năng cạnh tranh quốc tế của thế hệ trẻ; làm chậm bước tiến của dân tộc, thì không chỉ phẫn nộ mà phải căm thù.

Đối với những người ngồi trên trọng trách, nhưng không cẩn trọng để đến nỗi mang tai họa về cho đất nước, thì chưởi bới hay mạt sát không có ý nghĩa, mà phải áp dụng hình phạt, nếu hành động của họ làm tổn hại to lớn đến quốc gia, dân tộc. Để ngăn chặn một hành động tai họa, thì không chỉ là thảo luận đề đạt, mà cần thiết còn phải ngăn chặn, phản kháng, nổi dậy.

Giáo dục quốc gia không phải là tài sản riêng của ông bộ trưởng bộ GD&ĐT hay của một nhóm người. Cất tiếng nói và hành động là nghĩa vụ của mọi công dân.

VII. PHÓ THỦ TƯỚNG VŨ ĐỨC ĐAM CẦN LÊN TIẾNG

Khi mà ông bộ trưởng Bộ GD&ĐT không ngăn cản được mà thậm chí còn thúc đẩy một chương trình giáo dục tốn kém nguy hại, thì đó là lúc ông Phó Thủ tướng phụ trách lĩnh vực giáo dục cần phải hành động. Bởi vì:

1. Cải cách giáo dục kiểu vừa viết giáo trình vừa triển khai là có tội.

2. Cải cách giáo dục chỉ độc quyền có một chương trình của một nhóm người là không cạnh tranh nên không thể có chương trình tốt.

3. Cải cách giáo dục bắt những người lớn tuổi, đã dạy lâu năm một chuyên môn phải đi học chuyên môn khác để dạy, là phản giáo dục.

4. Cải cách giáo dục với quan điểm rằng học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở không cần giáo viên giỏi, chỉ cần dạy đại khái, là thảm họa.

5. Cải cách giáo dục phải đào tạo lại giáo viên, viết lại chương trình với chi phí hàng trăm triệu đô la là hoang phí tiền bạc của nhân dân.

6. Cải cách giáo dục bác bỏ đúc kết của tiền nhân và tiến bộ nhân loại là phản khoa học.

VIII. HÃY DỰA VÀO DÂN

Lúc nào khó hãy hỏi dân.

Vì thế, nếu còn băn khoăn hay do cơ chế không cho phép hành động, thì ông Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam hãy dựa vào đội ngũ giáo viên.

Ông hãy cho hỏi ý kiến giáo viên phổ thông trên toàn quốc về chương trình cải cách này. Cụ thể hơn, ông hãy hỏi:

1. Đồng ý hay không đồng ý môn học gộp Lý – Hóa – Sinh cho THCS.

2. Đồng ý hay không đồng ý chương trình vay 100 triệu đô la để đào tạo lại giáo viên dạy chương trình mới?

Câu trả lời chỉ có thể là CÓ hoặc KHÔNG, chứ không có lựa chọn khác. Lúc đó ông sẽ thấy trí tuệ của quần chúng giáo viên.

Đừng nói rằng họ không đủ trình độ để trả lời. Cũng đừng quy kết rằng họ sợ trách nhiệm phải đi học mà phản đối. Họ là đội ngũ thầy cô giáo, có kiến thức và có trách nhiệm với học trò của mình.

Ông cũng phá thế độc quyền chương trình cải cách giáo dục bằng câu hỏi cho tất cả giáo viên đại học rằng:

1. Đồng ý hay không đồng ý chỉ độc quyền một bộ chương trình cải cách giáo dục do ông Nguyễn Minh Thuyết làm tổng chủ biên?

2. Đồng ý hay không đồng ý tạm dừng chương trình cải cách giáo dục phổ thông để chờ những giải pháp khoa học hơn?

Câu trả lời cũng chi là CÓ hoặc KHÔNG, mà không có sự lựa chọn nào khác. Lúc đấy ông Phó Thủ tướng sẽ có cơ sở để mà nói chuyện với bộ GD&ĐT, với Chính phủ và với Quốc Hội.

Ông có thể thay đổi cách thu nhận ý kiến cũng như quyết định mà không cần viện đến những điều trên. Đây là thời điểm mà ông Phó Thủ tướng phụ trách giáo dục cần thể hiện chính kiến dứt khoát của mình vì nền giáo dục nước nhà. Đó là trách nhiệm của ông trước nhân dân. Sự dĩ hòa vi quý – không thể có trong trường hợp loại trừ (alternative), không bao giờ là sự lựa chọn của bậc hào kiệt.

Nguyễn Ngọc Chu

(FB Nguyễn Ngọc Chu)