Showing posts with label sư đoàn 5 - trung đoàn 7. Show all posts
Showing posts with label sư đoàn 5 - trung đoàn 7. Show all posts

Thursday, June 13, 2019

NHỮNG TRẬN ĐÁNH CỦA SĐ 1 BỘ BINH , CÒN GỌI LÀ ANH CẢ ĐỎ (BIG RED ONE) TẠI VÙNG III CT .
               










MỘT SỐ BẢN ĐỒ CÁC TRẬN ĐÁNH .










Chiến dịch Bầu Bàng – Dầu Tiếng (từ 12 đến 27-11-1965)

TP - Nhà báo Horst Faas gắn bó với Việt Nam từ khi đưa tin Hiệp định Genève năm 1954.

Sự ra đi của Horst Faas hôm 10-5 vừa qua để lại nhiều tiếc thương trong báo giới, di sản của ông với những bức hình vô giá về cuộc chiến ở Việt Nam sẽ còn được nhớ mãi. Chúng tôi đã thử lần tìm về bối cảnh một trong số những bức ảnh của ông.
Bức ảnh lịch sử , xem hình 1 : Người lượm xác phải che mặt vì mùi hôi thối từ xác binh lính Mỹ và Việt Nam bị chết trong trận chiến ở nhà máy cao su Michelin (Dầu Tiếng) cách Sài Gòn 45 dặm về phía đông bắc. Ảnh chụp ngày 27-11-1965. Tác giả: Horst Faas.
Xóa sổ lữ đoàn 3 của “sư Anh cả đỏ”
Bức ảnh mà tôi muốn đi tìm sự thật đằng sau nó được Horst Faas chụp ở Đồn điền cao su Dầu Tiếng, Bình Dương vào ngày 27- 11- 1965, mô tả một đoạn đường trong rừng cao su với rất nhiều xác chết ngổn ngang.
Nhân vật duy nhất là một người đi dọn xác binh lính, với khuôn mặt đeo khẩu trang chỉ còn thấy đôi mắt. Bức ảnh được chụp trong trận chiến đấu nào? Vì sao nó lại ám ảnh Horst Faas và người xem đến vậy?
Anh Nguyễn Cứ, một người chép sử của sư đoàn 9 kể: “Tháng 11 - 1965, Mỹ điều Sư đoàn thủy quân lục chiến 1 (Sư đoàn “Anh cả đỏ” giàu truyền thống của Mỹ từng tham gia hai cuộc chiến tranh thế giới) và Sư đoàn 5 của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), chia làm hai gọng kìm, với sự hỗ trợ của phi pháo và máy bay, thực hiện chiến dịch “tìm diệt” sư đoàn 9 của ta”.
Sư đoàn 9 là một trong 2 sư đoàn chủ lực của Miền Nam, mới được thành lập cách đó 2 tháng. Theo các cựu chiến binh sư 9, đây là trận đối đầu cấp sư đoàn với Mỹ đầu tiên trên chiến trường miền Nam nên “Đại tướng Nguyễn Chí Thanh không muốn đánh ngày, chủ trương đánh đêm do hỏa lực của địch quá mạnh”. Nhưng khác với dự kiến, cuối cùng trận Bàu Bàng lại diễn ra giữa ban ngày!
Cựu chiến binh, Đại tá Trần Nam Hùng kể lại: “Lúc đó tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1. Đến giờ nổ súng mới phát hiện địch đã âm thầm rút đi lúc nào không biết!” Không có địch, các đơn vị lui về vị trí tập kết. Riêng Trần Nam Hùng nhận định, “địch không thể đi đâu xa, chúng ta không nên quay về mà tiếp tục tìm đánh. Địch di chuyển nhiều chắc chắn sẽ lộ sơ hở”.
Đến 4 giờ sáng, tiểu đoàn 1 gặp Lữ đoàn 3 cua địch cách vị trí cũ 3 km. Lúc này lữ đoàn của Mỹ đã kịp húc đất làm một con đê phòng thủ, xe tăng và pháo thò súng ra ngoài. Phía ta, rừng cây cao su còn nhỏ nên không ẩn nấp được, mặt đất thì bằng phẳng, dân làm đậu đắp luống chừng 20cm, không thể ẩn náu. Thế trận quân ta bất lợi.
                 
Tiểu đoàn trưởng Trần Nam Hùng lần đầu tiên nhìn thấy tấm ảnh lịch sử của Horst Fass. Ảnh: T.N.A
Ông Nam Hùng nhớ lại: “Tiểu đoàn tôi được bổ sung cũng chỉ 500 quân, tôi ước lượng lữ đoàn địch phải hơn 2.000 quân. Sư đoàn chỉ đạo không cho đánh, do không liên lạc được với 3 tiểu đoàn còn lại. Tôi vội báo cáo, nếu 5 giờ sáng không đánh, địch sẽ phát hiện quân ta và nổ súng trước thì tiểu đoàn tôi hy sinh hết”.
Thời gian trôi đi, vẫn không liên lạc được với các tiểu đoàn. “Đến đúng 5 giờ sáng tôi mới nhận được lệnh cho nổ súng. Sư đoàn nói: các anh cứ nổ súng, nghe tiếng súng, các tiểu đoàn khác sẽ tới hỗ trợ, theo truyền thống hợp đồng theo tiếng súng của đơn vị ta. Chúng tôi cổ vũ anh em: Đây là trận đầu ta đánh sư đoàn Mỹ, phải lấy máu nhuộm lưỡi lê, đã đánh là phải thắng”. 5 giờ 6 phút, tiểu đoàn nổ súng tấn công.
Ban đầu lữ đoàn của Mỹ bất ngờ, nhưng rồi họ nhận ra hỏa lực của đối phương khá hạn chế nên tổ chức cho xe tăng xông ra phản kích. Lúc đó sư đoàn 9 chưa có B40 diệt xe tăng, nên phải buộc lựu đạn và bộc phá thành chùm để ném nổ đứt xích xe địch, dùng súng phun lửa bắn cháy xe. Tăng địch xông ra rất nhiều, chúng chạy xe cán thẳng vào các ổ đại liên của ta. Cuộc chiến giáp lá cà diễn ra khắp mọi nơi. Xe địch bị bắn cháy 10 chiếc.
Sau 30 phút đơn độc chiến đấu với lữ đoàn nổi tiếng của Mỹ, tiểu đoàn 1 nghe tiếng súng của quân ta từ các hướng đổ về. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu vẫn diễn ra giằng co do pháo và máy bay địch chi viện ác liệt. Đến 11 giờ trưa ngày 12 - 11 trận đánh mới kết thúc.
Lữ đoàn 3 của sư “Anh cả đỏ” gần như bị các đơn vị sư đoàn 9 xóa sổ với 2.040 lính bộ binh thiệt mạng, chưa kể 39 khẩu đội pháo và 50 xe tăng. Đại tá Nam Hùng nói: “Chỉ 50 – 60 lính Mỹ chạy thoát mà thôi”.
Nơi chụp tấm ảnh lịch sử
Sau khi bẻ gãy cánh quân của Mỹ, sư đoàn 9 quay sang tấn công cánh quân của VNCH để chấm dứt chiến dịch “tìm diệt” của địch.
Sư đoàn 5 của VNCH rất mạnh, được mệnh danh là “sư đoàn máu và nước mắt”. Đêm 26 rạng ngày 27, Trung đoàn 1 của sư đoàn 9 được lệnh bí mật bao vây Trung đoàn 7 thuộc Sư 5 của VNCH đang đóng quân trong 3 lô cao su ở đồn điền cao su Michelin Dầu Tiếng.
Trung đoàn 7 có nhiều cố vấn Mỹ, đem theo hàng chục cô gái điếm để giải trí, bố phòng sơ hở. Đúng 5 giờ sáng 27-11-1965, 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 nổ súng giáp công, chia cắt trận địa theo chiến thuật mới của tướng Nguyễn Chí Thanh là “bám thắt lưng địch mà đánh”, tránh Mỹ dùng máy bay hủy diệt.
Những ngày sau đó, địch tổ chức lên lấy xác. Có thể việc đưa hàng ngàn thi thể về thành phố sẽ gây cú sốc lớn, địch vận động người nhà các nạn nhân
tự lên nhận dạng rồi đem về. Tận mắt tôi thấy còn khoảng 300 xác không được đem đi do đã biến dạng .
Nhân chứng là Tiểu đoàn trưởng Trần Nam Hùng nói: “Trung đoàn chúng tôi thực hiện chia cắt địch, đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê. Địch phản kích bằng xe tăng nhưng thế trận đan cài nên xe tăng không hiệu quả. Đến 11 giờ trưa 27 - 11 trận chiến kết thúc.Trung tá Nguyễn Tư là Trung đoàn trưởng của đối phương chết ngay tại sở chỉ huy cùng nhiều cố vấn Mỹ”.
1.200 lính VNCH và cố vấn Mỹ bị bị Trung đoàn 1 tiêu diệt. 60 lính VNCH và 3 cố vấn Mỹ bị bắt sống. Đây là lần đầu tiên một trung đoàn chủ lực tiêu diệt hoàn toàn một trung đoàn VNCH. Tiểu đoàn trưởng Nam Hùng nói: “Quân Mỹ đã không giải cứu Trung đoàn 7”.
Đại tá Trần Nam Hùng xác định vị trí Horst Faas chụp ảnh lịch sử là “Con đường từ hãng cao su đi lên làng 6, đến làng 14, là nơi diễn ra trận chiến đấu sáng 27-11-1965. Nay đường đã được rải nhựa”.
Ông Nam Hùng nhớ lại: “Những ngày sau đó, địch tổ chức lên lấy xác. Có thể việc đưa hàng ngàn tử sĩ về thành phố sẽ gây cú sốc lớn, địch vận động người nhà các nạn nhân tự lên nhận dạng rồi đem về. Tận mắt tôi thấy còn khoảng 300 xác không được đem đi do đã biến dạng”.
Nhìn bức ảnh của Horst Faas ngổn ngang thi thể binh sĩ, người tiểu đoàn trưởng năm xưa không khỏi bùi ngùi. Ông nói: “Chiến tranh khắc nghiệt, mình không bắn người ta, người ta cũng bắn mình”.
Đại tá Trần Nam Hùng kể: “Mỗi năm giỗ mẹ, tôi đều làm cơm cúng, mà khấn: tụi bay đi dép râu (bộ đội) hay đi giày bốt đờ sô (lính VNCH), hôm nay giỗ mẹ của tao, mời tụi bay cùng về đây nhậu. Chiến tranh đã kết thúc rồi”.
Tháng 5 - 2012
Trần Nguyễn Anh
Báo Tiền Phong

Sunday, March 10, 2019


Những kỷ niệm về trung đoàn 7 sư đoàn 5 bộ binh .


Lộ trình từ Sài Gòn đi Phước Long qua Phú Cường , Bến Cát , Lai Khê , Chơn Thành , Đồng Xoài , Phú Riềng , Hiếu Phong  . 


Để tưởng nhớ Phạm Văn Thẩm và Tôn Thất Nguyện
Kỳ 1: TRÌNH DIỆN ĐƠN VỊ

Đã 38 năm từ ngày rời mái trường mẹ!
Chúng tôi, khóa 2: 7 người được thuyên chuyển về Trung đoàn 7, Sư đoàn 5 bộ binh gồm Lý Văn Tài, Phạm Văn Thẩm, Đinh Văn Chương, Tôn Thất Nguyện, Nguyễn Văn Hoàng (Tarzan), Huỳnh Ngọc Thành (Laba) và tôi.

Sau hai tuần lễ ở Bộ tư lệnh Sư đoàn để đi tham quan sinh hoạt tại một số đơn vị cho chúng tôi có một khái niệm về thực tiễn, chúng tôi được cấp sư vụ lệnh về trình diện Trung đoàn.

Sư đoàn 5 Bộ binh, một trong ba sư đoàn chủ lực của Quân đoàn III, ngoài Sư đoàn 18 và 25, phụ trách một vùng trách nhiệm gồm ba tỉnh Bình Dương, Bình Long và Phước Long, với những mật khu nổi tiếng Hố Bò, Long Nguyên, Tam giác Sắt... Đây cũng là cứ địa Chiến khu D, sào huyệt của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với nhiều ngõ ngách giao liên chằng chịt. Chúng lợi dụng địa thế hiểm trở, rừng núi chập chùng, để chuyển vận binh lính và vũ khí xâm nhập từ Kampuchia vào miền Nam Việt Nam.

Cũng nên nhấn mạnh, Sư đoàn 5 Bộ binh là sư đoàn đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp nhận các sĩ quan CTCT khóa I như một thí điểm xử dụng tại đơn vị tác chiến. Mặc dù có bỡ ngỡ bước đầu, những con chim đầu đàn của trường mẹ đã thích ứng nhanh chóng với chiến trường, tạo những thành tích vẻ vang khiến các đơn vị trưởng đã phải thay đổi cái quan niệm đánh giá về sĩ quan CTCT trước đây. Cho tới ngày mất nước, một số niên trưởng tại SĐ5BB đã anh dũng hy sinh để không làm hổ thẹn mái trường thân yêu đã đào tạo họ như Nguyễn Hữu Cung, Lê Bách Việt, Quách Kế Nhơn...

Có lẽ thời gian đã quá lâu, một số kỷ niệm không còn chính xác lắm. Bảy đứa chúng tôi về trình diện hậu cứ Trung đoàn 7, sau khi thỏa thuận tự gia hạn cho mình thêm một tuần lễ phép, lúc đó còn đóng tại một căn cứ cũ tại Bình Dương, sau chuyển về Phú Giáo. Chỉ huy hậu cứ, Đại úy Mão, một người bề ngang thì có bề dài thì không, nhìn chúng tôi với cặp mắt không mấy thiện cảm, đám sĩ quan vừa mới ra trường đã ba gai, ông chờ chúng mày cả tuần lễ rồi chả thấy đứa nào, vậy là “ba gai tập thể “ đấy. Được rồi, ông ta cất giọng:
- Tôi nhận công điện cả tuần lễ rồi, sao bây giờ các anh mới trình diện?
Im lặng một lúc, thấy không ai lên tiếng tôi đành vả lả:
- Đại úy thông cảm, chúng tôi học ở quân trường quá lâu, mãn khóa chỉ có hai tuần phép, ít quá. Ra đơn vị tác chiến, không biết khi nào mới có dịp nữa...
Có lẽ không muốn mất thì giờ nghe tôi giải thích, ông ta cắt ngang:
- Các anh lên trình bày với Trung đoàn trưởng, bây giờ cho tôi xem căn cước quân nhân.
Nói xong, ông bước lại góc phòng, nơi có đặt một máy liên lạc truyền tin báo về trung đoàn gì đó. Tôi nghĩ ông ta cần căn cước quân nhân để ghi chép các chi tiết vào hồ sơ cá nhân nên móc bóp lấy. Sáu người còn lại cũng vội vàng làm theo. Thu bảy cái căn cước xong, ông ta lấy một sợi giây thun cột chung mấy cái căn cước bỏ vào ngăn kéo và bảo:
- Các anh xuống dãy nhà phía sau kiếm chỗ ngủ. Tôi đã điện lên Trung Tâm Hành Quân, nay mai, khi nào có trực thăng, các anh lên Phước Long.
Một ý nghĩ thoáng nhanh trong đầu, tai sao ông ta không coi căn cước của chúng tôi nếu cần ghi lại những chi tiết gì đó vào hồ sơ cá nhân? Tôi phản ứng ngay:
- Đại úy làm ơn cho chúng tôi xin lại căn cước.
- Không được, lệnh của Trung đoàn trưởng.
Mặc dù không để ý ông ta đã liên lạc với trung đoàn những gì, nhưng tôi suy đoán không thể có cái lệnh đó. Ông ta sợ chúng tôi, với cái tính bai gai cố hữu, có thể dọt bất cứ lúc nào vì trực thăng chưa chắc gì đã có trong vòng vài ngày nữa! Nếu chờ đợi vài ngày không có phương tiện, tụi tôi buồn buồn có thể biến dạng như chơi. Ông ta sẽ trả lời sao với trung đoàn? Nhưng đó là việc của ông ta, chúng tôi cũng cần thể diện. Lịch sự nhưng vẫn dõng dạc, dù chả ai trong nhóm cử tôi làm đại diện, tôi cất tiếng:
- Thưa Đại úy, chúng tôi không phải tân binh quân dịch. Chúng tôi, những sĩ quan hiện dịch, xuất thân từ trường Đại Học CTCT Đà Lạt, không vì bất cứ lý do gì Đại úy lại giữ căn cước quân nhân của chúng tôi.
- Tôi chỉ làm theo lệnh trung đoàn. Muốn gì các anh lên đó khiếu nại.
Nóng mặt, chả cần suy nghĩ, tôi phạng lại:
- Xin lỗi Đại úy, đã đến đây, chúng tôi cũng muốn nhanh chóng có phương tiện để về đơn vị mới, thời gian với gia đình cũng đã đủ. Nhưng vì Đại úy đã coi chúng tôi giống như những tân binh quân dịch, nên chúng tôi xin báo cho Đại úy biết, chúng tôi sẽ đi thêm một tuần nữa. Đại úy đừng tưởng không có căn cước chúng tôi sẽ không dám đi đâu.
Không cần để ý tới phản ứng của ông Đại úy chỉ huy hậu cứ trung đoàn, tôi quay sang các bạn:
- Chúng mình về chơi thêm. Đúng ngày này tuần sau gặp lại ở đây.
Câu nói của tôi phát ra nhanh quá, các bạn nhìn tôi rồi quay sang nhìn nhau như dọ hỏi ý kiến lẫn nhau. Không để cho họ bày tỏ thái độ trước mặt lão Đại úy, tôi kéo bọn họ ra khỏi phòng. Cái phong cách dõng dạc nhưng không kém phần quyết liệt của tôi có lẽ làm anh em ngạc nhiên phần nào, nhưng trước sự việc đã rồi, họ đành chấp nhận!

Chia tay nhau để rồi sau đúng một tuần chúng tôi lại gặp lại ở đây. Lần này chúng tôi thiếu một người: Lý Văn Tài. Lúc đó tôi chỉ cho rằng Tài còn muốn nghỉ thêm. Sau này được biết Tài đã thu xếp sao đó để được về phục vụ tại một đơn vị Hành chánh tài chánh nào đó.

Ông chỉ huy hậu cứ trung đoàn có lẽ đã quá chán ngán với đám sĩ quan ba gai tụi tôi nên cũng chẳng thèm nói chuyện. Cho một tay trung sĩ xuống bảo tụi tôi chuẩn bị sẵn sàng, sáng hôm sau sẽ có GMC chở bằng đường bộ lên Phước Long thay vì trực thăng bốc như lần trước.

Đúng 6 giờ sáng, còn đang ngái ngủ, chúng tôi bị đánh thức bởi tiếng xe hai chiếc GMC đang nổ máy, tiếng con nít khóc, tiếng léo nhéo của mấy bà vợ lính kêu réo nhau lên xe đi thăm chồng, tiếng chuyển đồ đạc lịch kịch lên xe... Chúng tôi lật đật thu xếp ba lô, làm vệ sinh cá nhân thật nhanh và kéo ra sân. Trong cảnh mờ sáng mờ tối, tôi chỉ kịp nhận thấy hai chiếc xe nhà binh mười tám bánh, một mới một cũ đang nổ máy, khói phun mù mịt, không kịp tan trong sương lạnh vẫn còn dày đặc. Chiếc xe trước, còn mới toanh, gia đình vợ con lính đã leo lên ngồi đầy chặt. Chiếc sau coi thật bệ rạc, chất hàng chuyển lên trung đoàn cũng gần đầy ắp, chúng tôi đành leo lên. Chỉ còn được ba chỗ ngồi. Thẩm, Chương và Nguyện may mắn, còn lại ba đứa đành đứng vịn thành xe!

Đường bộ từ Bình Dương lên Phước Long theo quốc lộ 13 vế phía bắc, ra khỏi châu thành độ mười cây số đến ngã Ba Sở Sao, chạy thẳng thì lên Bến Cát, Lai Khê (Căn cứ Bộ Tư Lệnh SĐ5BB), Chơn Thành, Bình Long, Lộc Ninh..., tách ra bên phải là Liên tỉnh lộ 13A, đi về Phú Giáo (Hậu cứ trung đoàn 7BB sau này), Đồng Xoài, Bù Nho, Phước Bình, Phước Long, Bù Gia Mập...

Lô trình dài khoảng hơn hai trăm cây số, hai bên là cao su. rừng tre, rừng già... cây cối nhiều đoạn thò ra tận ngoài đường lộ. Đường tráng nhựa chỉ tới được Phú Giáo, Phước Vĩnh, còn lại là đất đỏ, nắng thì bụi mịt mù, mưa thì sình lầy trơn trượt, thật nguy hiểm khi chạy qua những khúc lên đồi xuống dốc, uốn khúc quanh co. Đoàn xe chạy khoảng một tiếng, đang qua ấp Nhà Đỏ, gần cầu Sông Bé, chiếc đầu còn mới nên chạy khá nhanh, bỏ xa xe chúng tôi cả gần cây số vì đường lộ khúc này Mỹ làm rất tốt, thình lình, vì đứng và nhìn về phía trước, tôi thấy chiếc xe trước đảo qua đảo lại rồi lộn tung hai ba vòng lật văng vào lề đường. Qua đám bụi mờ từ xa, tôi thấy bóng đàn bà, con nít tung lên ra khỏi thành xe, rớt xuống, cùng với mớ hành lý bay còn cao hơn!

Khi xe chúng tôi vừa tới, không kịp chờ xe thắng lại hẳn, chúng tôi cùng một số binh sĩ trên xe nhảy vội xuống. Ngoài tài xế bất tỉnh, nhưng người còn lại đều trầy trụa xây sát nhưng cũng may không có ai trầm trọng. Đồ đạc trên xe chúng tôi được vất xuống lấy chỗ khiêng những người bị thương chở về bệnh viện Bình Dương. Còn lại, chúng tôi ngồi bên vệ đường chờ hơn hai tiếng sau, cũng chiếc xe cũ kỹ đó quay lại đón chúng tôi về lại hậu cứ.
Sáng hôm sau nữa, cũng bằng phương tiện GMC, chúng tôi được chở lên Bộ chỉ huy trung đoàn, lúc đó đóng tại một căn cứ dã chiến, sát sân bay Phước Bình, dưới chân núi Bà Rá. Tới nơi đã gần 5 giờ chiều. Ban 1 trung đoàn giao chúng tôi cho hai niên trưởng khóa I: Minh “Móm” và Chiếu “Mù” thuộc khối CTCT trung đoàn tiếp nhận chờ ngày sau trình diện Trung đoàn trưởng.

Lần đầu tiên từ khi ra trường, khóa I có được mấy chú đàn em về tiếp sức, hai niên trưởng Minh và Chiếu tiếp đãi chúng tôi thật ân cần. Sau khi về phòng bỏ tạm hành lý, hai niên trưởng dẫn chúng tôi ra câu lạc bộ dã chiến trung đoàn.

Gọi là phòng cho lịch sự, thật ra đó là dãy những thùng đạn pháo binh được sắp xếp chồng lên nhau, bên ngoài phủ những lớp bao cát để chống pháo kích, diện tích chưa tới năm mét vuông, chỉ vừa kê đủ hai chiếc ghế bố và một cái bàn bằng những thùng đạn pháo binh gá ghép lại!
Câu lạc bộ dã chiến trung đoàn còn thê thảm hơn. Rộng khoảng mười thước vuông, cũng bằng những thùng đạn pháo binh xếp chung quanh, ngoài phủ bao cát, mái là một tấm tăng lớn, chống lên cao nhờ một cây cột ở giữa, tứ phía là những sợi giây để căng tấm bạt cột vào những cọc sắt đóng sát mặt đất. Nhân viên phục vụ chả ai khác hơn ba anh lính thuộc đại đội công vụ trung đoàn dưới sự điều hành của tay Thượng sĩ thường vụ.

Biết chúng tôi đói bụng qua một đoạn đường dài vất vả, hai niên trưởng gọi cho chúng tôi mấy tô mì gói vì hủ tíu chỉ sáng sớm mới có. Qua trao đổi chuyện trò trong lúc ăn, chúng tôi được biết còn một số niên trưởng khác cũng thuộc trung đoàn nhưng đang ở ngoài các tiểu đoàn tác chiến 1, 2, 3 và 4. Niên trưởng Minh trước ở đại đội 7 trinh sát, niên trưởng Chiếu mới được đưa về từ TĐ2/7, niên trưởng Rang TĐ3/7, niên trưởng Việt đã xuất ngành đang giữ chức vụ đại đội trưởng ở TĐ3/7, niên trưởng Vững trưởng ban 5 TĐ4/7, niên trưởng Thiện TĐ1/7 và niên trưởng Thành trưởng ban 5 TĐ2/7, niên trưởng Cung vừa tử trận tại Snoul. Chúng tôi rất yên tâm khi đã có những đàn anh đi trước hướng dẫn tình hình.

Bữa ăn chấm dứt sau đó vì chúng tôi cũng đã mệt với cuộc hành trình một phần, nhưng cũng vì cảnh nghèo nàn thực phẩm của cái câu lạc bộ dã chiến nên xin từ chối phần nhậu kế tiếp. Theo sự sắp xếp của trung đoàn, hai niên trưởng dẫn chúng tôi về một cái bunker nổi kế vọng gác ngoài cổng căn cứ thu xếp chỗ ngủ. Căn hầm đủ rộng cho sáu người trải poncho xuống nằm. Tôi trằn trọc suy nghĩ về những ngày mới lạ đang chờ đón rồi cũng thiếp đi trong giấc ngủ lúc nào không hay.

Bảy giờ sáng hôm sau, niên trưởng Minh đánh thức chúng tôi dậy dẫn lên câu lạc bộ, niên trưởng Chiếu đã có mặt. Chúng tôi ai ăn gì gọi nấy. Nửa tiếng cà phê thuốc lá chưa chấm dứt, một anh trung sĩ bước vào bảo chúng tôi lên trình diện Trung đoàn trưởng. Theo chân anh ta, bước vào phòng, chúng tôi đứng nghiêm chào tay và trình diện tên họ, số quân, cấp bậc từng người. Chờ chúng tôi chấm dứt, Trung tá trung đoàn trưởng Phan Đình Niệm, đanh sắc mặt, phán cho chúng tôi một tràng huấn thị. Đã quá lâu, tôi không còn nhớ được từng chi tiết. Đại khái chúng tôi làm hổ danh sĩ quan hiện dịch, vô kỷ luật, làm sao có thể chỉ huy thuộc cấp sau này... Ông không lớn giọng, không quát tháo nhưng thật thấm thía. Và cuối cùng, để cảnh cáo, dù không muốn phạt trọng cấm, ông ra lệnh nhốt chúng tôi bẩy ngày trước khi phân phối đơn vị.

Cũng anh trung sĩ đưa chúng tôi về lại căn hầm ngoài vọng gác. Lần này, anh ta sau khi đóng cánh cửa, lấy ra một ổ khóa, khóa lại bên ngoài. Chúng tôi chẳng biết làm gì hơn, nằm tán dóc cho qua thời giờ. Mười hai giờ trưa, có tiếng mở cửa, một anh lính đem đến cho chúng tôi những dĩa cơm phần từ câu lạc bộ rồi trở ra khóa cửa lại sau khi dặn sẽ trở lại thu dọn, ai cần mua gì đưa tiền anh sẽ mua hộ. Buổi chiều, đúng năm giờ, cảnh này tái diễn, nhưng lần này có thêm hai niên trưởng Minh, Chiếu xuất hiện. Họ an ủi chúng tôi đừng lo, họ sẽ tìm cách cho chúng tôi ra ngoài ngày mai chứ bữa nay chưa được vì 44 (danh hiệu Trung đoàn trưởng) còn đang nóng giận.

Thực tình mà nói, những anh lính làm nhiệm vụ ở đây, họ rất lễ phép với chúng tôi dù chúng tôi đang bị phạt. Sau này tôi hiểu được, họ phòng xa, lỡ một ngày đẹp trời nào đó... họ bị đì ra các đại đội tác chiến, chắc chắn họ sẽ gặp lại một trong những ông thần đang nằm tại đây!

Quả thực như hai niên trưởng khóa I đã nói, sáng hôm sau, không biết bằng cách nào, đến bảo chúng tôi chuần bị ra ngoài thị xã Phước Long chơi. Chúng tôi leo lên một chiếc xe dodge của toán chính huấn thuộc đại đội 301 CTCT Biên Hòa, đang công tác tại trung đoàn 7BB. Từ căn cứ dã chiến này ra tới thị xã độ khoảng 6, 7 cây số đường đất đỏ, nhà dân rải rác thưa thớt, có những đoạn rất quanh co nguy hiểm. Chính trên con đường này, niên trưởng Rang, TĐ 3/7, đã bị bấm mìn tử nạn chỉ cách căn cứ độ hơn cây số vài tháng sau đó.

Thị Xã Phước Long, chu vi chưa tới vài cây số vuông, dăm ba con lộ chính trải nhựa, còn lại vẫn đất đỏ. Mùa mưa thì lầy lội, nắng bụi bay mù mịt, nhà cửa tiệm tùng lúc nào cũng phủ một màu đỏ đất. Dân số, trừ một ít buôn bán làm ăn lên đây lập nghiệp, đa số là vợ con công chức, quân nhân thuộc tiểu khu, vì vậy rất thưa thớt nếu không kể đến một số đồng bào thượng với nhiều sác dân sống rải rác chung quanh, hàng ngày vẫn tụ họp về thị xã mua bán đổi chác các vật dụng cấn thiết. Ngoài căn chợ nhỏ, sinh hoạt thị xã tóm gọn với những quán ăn, tiệm cà phê nhạc, vài tụ điểm bi da và mấy quán nhậu. Đó là nơi lính tráng thường lui tới để tìm khuây sau những ngày hành quân dài trong rừng rậm, dù những ngày này cũng chẳng được bao nhiêu!

Chúng tôi trải qua một ngày đầu tiên tại vùng đất mới, sau một chầu ăn sáng hủ tíu, mì... Ghé vào một quán cà phê, tiếp đãi không ai khác hơn là một cô gái, con chủ, nhan sắc không sắc sảo lắm, nhưng ở cái tỉnh lỵ nhỏ bé thế này thì cũng được liệt vào hạng hoa khôi rồi. Chả có ai phụ bàn vì có lẽ khách cũng chả lắm khi đông đúc! Được cái cà phê khá ngon vì đưa thẳng từ Ban Mê Thuột về qua đường Quảng Đức rất gần. Đến trưa, chúng tôi ghé vào một quán nhậu cách đó vài căn. Món nhậu ở đây khá phong phú, đũ các loại thịt rừng: nhím, heo, chồn, rắn, trúc... Hai món tôi rất thích là chồn hương nướng và trúc xào lăn. Thịt chồn hương tự nó đã có một mùi thơm khó tả, còn trúc xào lăn, da của nó dòn sần sật cũng thật là độc đáo, nuốt miếng nào khoái khẩu miếng đó! Chúng tôi, đứa nào cũng có một ít tiền thủ túi vì chưa biết chứng nào mới được phát lương, thế là vung vít gọi món ăn với một két bia 33 chai lùn. Vì là ngày thường, quán chỉ có mỗi bàn chúng tôi. Vừa nhậu, chúng tôi vừa hỏi thăm tình hình chiến sự, nhân số các niên trưởng khóa I phân phối về trung đoàn... Ngoại trừ Thành Laba uống cô ca, chúng tôi ai cũng uống bia. Bữa nhậu qua đi thật nhanh nhưng không thể kéo dài. Bốn giờ chiều chúng tôi phải trở về căn cứ, trễ hơn tình hình an ninh không bảo đảm trên đoạn đường xa 6, 7 cây số. Sau khi chia nhau trả tiền chúng tôi theo hai niên trưởng leo lên xe quay về căn cứ.

Sáng hôm sau, niên trưởng Minh sắp xếp cho chúng tôi đi một vòng ngoạn cảnh với toán Chính Huấn của Đại đội 301 CTCT. Toán trưởng, một Thiếu úy đón chúng tôi bằng chiếc xe Dodge cơ hữu, phụ tá là một trung sĩ với một hạ sĩ tài xế, tôi đã quên tên tất cả vì đã quá lâu. Sau khi ăn sáng, uống cà phê ở một tiệm hủ tíu mì, chúng tôi lên xe đi thăm thác Đức Mẹ cách thị xã khoảng 4 cây số theo lộ trình đi Bù Gia Mập, về hướng đông bắc. Lúc đó độ khoảng hơn 10 giờ, xe chạy phon phon vì giao thông rất vắng, đường lại đang đổ dốc. Tay thiếu úy ngồi phía trước cạnh tài xế. Sáu đứa chúng tôi chia nhau hai hàng ghế phía sau với anh trung sĩ phụ tá ngồi sát trên cùng ngay sau lưng tài xế.
Thình lình, chúng tôi nghe tiếng đạp thắng gấp và cảm thấy chiếc xe trợt bằng bốn bánh trên lớp sỏi, lao khá nhanh xuống dốc. Chỉ quan sát được phía đàng sau chiếc xe, tôi thấy cát bụi cuộn lên mù mịt hút ngược lên thùng xe chỗ chúng tôi ngồi và rồi chiếc xe lộn đi mấy vòng không biết nữa, chúng tôi bị quẳng ra khỏi xe la liệt trên mặt đất. Tôi may mắn ngồi ngoài, cuối cùng nên văng ra khỏi xe đầu tiên. Vừa định hồn đứng dậy, tôi thấy bóng Chương mờ mờ, vì cặp kính cận đã văng đâu mất, đang kẹt dưới một bánh xe phía sau của chiếc Dodge, phản ứng không suy nghĩ, tôi lao lại nắm hai chân lôi ra trước khi cái trớn dốc có thể đẩy chiếc xe lùi lại đè Chương bẹp dí! Một vài phút sau tỉnh táo, dáo dác đảo mắt tìm được cái kính đeo vào, kiểm điểm tình hình, tôi mới nhận ra chúng tôi còn quá may mắn! Anh tài xế lái khá nhanh, gặp khúc quanh hơi gấp nên thắng bớt, không ngờ đường đổ dốc, bánh xe không lăn mà cứ thế trượt trên những lớp sỏi sạn của đường núi đất đỏ và bị hất tung ra khỏi con đường.
Cái may tôi muốn nói ở đây, nhờ cái xe tuột quá nhanh nên bị hất văng vào một bãi đất trống cạnh thác Đức Mẹ. Chỉ cần chậm hơn một chút cả chiếc xe đã lao xuống vực thẳm của thác và chắc chắn chúng tôi không có mạng nào nguyên vẹn. Chúng tôi, ngoại trừ Chương bị choáng váng còn năm yên trên mặt đất, những người khác chỉ xây sát nhẹ. Toán chính huấn không may mắn như vậy. Trưởng toán bị kính phía trước bể khiến đầu và mặt nhiều chỗ trầy trụa. Anh tài xế bị tay lái ép mạnh vào lồng ngực còn đang bất tỉnh. Anh trung sĩ phụ tá là người xấu số nhất, bị một thanh gỗ ngang trên nóc xe gẫy, khi xe lộn mấy vòng, đâm sâu vào đầu đã tử nạn tại chỗ.

Khoảng mười lăm phút sau, một chiếc Honda từ hướng Bùi Gia Mập chạy qua. Chúng tôi chận lại nhờ ghé qua bệnh viện tiểu khu báo tin xin xe cứu cấp. Chờ thêm nửa tiếng nữa xe cứu thương mới xuất hiện. Cùng với nạn nhân chúng tôi cũng leo lên xe theo về thị trấn. Tới sân bệnh viện tiểu khu, hai niên trưởng Minh, Chiếu đã có mặt cùng với thiếu tá Tăng, trưởng ban 3 trung đoàn. Chương được đưa vào phòng cấp cứu cùng với tay thiếu úy trưởng toán chính huấn.
Mười phút sau Chương trở ra, không có gì nghiêm trọng. Không biết ông thiếu tá trưởng ban 3 bàn nhỏ gì với hai niên trưởng khóa I, niên trưởng Minh quay sang dặn tụi tôi coi như không có chuyện gì xảy ra và bảo tụi tôi lên xe về căn cứ ngay sau đó.
Thì ra, các sĩ quan ban tham mưu trung đoàn cũng thông cảm với chúng tôi, dấu Trung đoàn trưởng, để chúng tôi lén ra ngoài thoải mái ít ngày trước khi được bổ nhiệm đơn vị chính thức. Nào ngờ tai nạn xảy ra. Các ngài phải dấu nhẹm và đồng thời dặn chúng tôi không được hó hé! Có lẽ vì thế, sáng hôm sau, còn đang ngồi nhâm nhi cà phê tại câu lạc bộ, chúng tôi được gọi lên văn phòng nhận lệnh bổ nhiệm. Thẩm về TĐ1/7, Nguyện và Chương TĐ3/7, Thành Laba, Hoàng Tarzan TĐ4/7, tôi TĐ2/7.

Tất cả ba tiểu đoàn kia đang hoạt động tại Phước Long. Riêng TĐ2/7 tăng phái cho chiến đoàn 8 (Trung đoàn 8, SĐ5BB cộng thêm thiết giáp, pháo binh...) đang hành quân tại Snoul, Kampuchia. Thẩm may mắn nhất, về làm đại đội phó cho một thiếu úy trẻ gốc người Nùng, tên Châu Cẩm Sáng, đại đội này đang giữ an ninh vòng đai phi trường Phước Bình ngay sau lưng căn cứ dã chiến trung đoàn. Sở dĩ tôi còn nhớ được tên họ của tay đại đội trưởng này vì cái họ khá đặc biệt.
Sau này tôi mới rõ, SĐ5BB từ khi thành lập, đã có rất nhiều binh sĩ người Nùng gia nhập vì họ thù cộng sản. Do đó tinh thần chiến đấu của họ rất cao, cộng thêm sự gan dạ, sức chịu đựng dẻo dai bền bỉ của dân tộc miền sơn cước, Sư đoàn 5 Bộ Binh đã khiến cộng quân phải gờm mặt sau nhiều lần đụng độ. Sáng lái xe đón Thẩm về đại đội chỉ mười lăm phút sau khi bổ nhiệm.
Buổi trưa, TĐ3/7 cho người về đón Chương và Nguyện. Trên xe Jeep bước xuống một trung úy trẻ măng, dây ba chạc mang trên người nhưng để lỏng không cài, nón sắt với một lớp vải ngụy trang bằng vải rằn ri, bó lại bởi một sợi thun dẹp màu xanh cùng với một hộp chữ nhật nhỏ phía trong, hộp băng cứu thương cá nhân. Cặp chiếc nón sắt dưới nách ông trung úy trẻ bước lại gần chúng tôi, miệng cười cười tự giới thiệu:
- Tôi, Lê Bách Việt, khoá I...
Chúng tôi cùng một lúc khép mạnh hai chân, giơ tay lên chào vị niên trưởng thứ ba mà chúng tôi gặp tại trung đoàn. Sau một lúc trò chuyện, chúng tôi được biết niên trưởng Việt đang giữ chức vụ đại đội trưởng tại TĐ3/7. Chương và Nguyện đưa mắt nhìn nhau. Biết ý, niên trưởng Việt quay sang họ bảo:
- Hai anh đều là đàn em. Tôi không muốn thiên vị, vả lại tôi cũng không biết riêng gì hai anh trước đây nên đã trình tiểu đoàn trưởng để ông ấy quyết định. Kết quả là anh Nguyện về làm đại đội phó cho tôi, đại đội 9, còn Chương về đại đội 10. Tiểu đoàn còn một niên trưởng nữa, niên trưởng Rạng, đang làm trưởng ban 5. Tiểu đoàn đang đóng ở Bù gia mập, cách đây hai chục cây số.
Thêm một lúc hỏi han chuyện vãn, niên trưởng Việt cáo từ hẹn có dịp sẽ gặp sau vì đường về khá xa, dẫn theo Chương và Nguyện.

Khoảng hơn một tiếng sau, TĐ4/7 cho xe tới đón Thành và Hoàng. Tiểu đoàn này đang đóng tại Bù Nho, phía nam quận Phước Bình khoảng 8 cây số. Người đón là một thượng sĩ ban 1. Sau khi dọ hỏi chúng tôi được biết tiểu đoàn này cũng có một niên trưởng khóa I: Vương Trọng Thiện, trưởng ban 5.

Mọi người đi hết, tôi nằm lại một mình trong cái bunker cạnh cổng chờ đợi có trực thăng bốc về đơn vị mới. Ba ngày ròng rã trôi qua, chả thấy ai réo gọi. Ban ngày, tôi leo lên xe lam chở khách ra thị xã, lang thang cho đỡ buồn, vì hai niên trưởng Minh, Chiếu đều có công việc của họ. Tối kéo nhau ra câu lạc bộ hoài cũng nhàm chán. Buổi tối, nằm vắt tay lên trán suy nghĩ miên man. Những ngày đám khóa 2 tụi tôi tụ họp ở đây thật ngắn ngủi, chưa biết khi nào có dịp gặp lại nhau tuy cùng chung một trung đoàn. Những ngày ngắn ngủi này cho tôi một ấn tượng về từng người một. Chương lầm lì ít khi mở miệng, tính khí có vẻ cọc cằn, khó thân cận. Thành Laba, miệng lúc nào cũng oang oang, cái gì cũng biết, nhưng có lẽ trăm voi không được bát nước xáo! Nguyện hơi bộp chộp, gần như nhanh nhẩu đoảng, nhưng thẳng thắn tốt bụng. Hoàng Tarzan, có lẽ cái biệt danh anh em trên trường đặt cũng khá chính xác. Hoàng rất nóng tính, có lẽ bản chất thật thà bộc trực của người nam bộ, nhưng sức chịu đựng thì rất khá. Bằng cớ là hôm bị lật xe, Thành la bai bải, Nguyện nhăn nhăn nhó nhó, Chương luôn miệng kêu đau. Tôi nghĩ Thẩm, Hoàng và tôi không có gì. Tối về Hoàng vén áo, chỉ cho tôi thấy, nguyên một mảng da lưng bị trầy trụa khá nặng! Riêng Thẩm, một mẫu người khá đặc biệt. Da ngăm ngăm đen, đôi môi hơi thâm giống như dân hút thuốc phiện lâu đời, nhưng miệng lúc nào cũng chúm chím mở nụ cười, thêm vào hàm răng không đều đặn lắm nhưng lại làm lộ cái răng khểnh khá có duyên. Có thể nói, Thẩm là tay tẩm ngẩm tầm ngầm chết voi. Không biết có em gái nào ở vùng hoạt động của chúng tôi chết vào tay Thẩm chưa, vì thực tình, tuy chung một trung đoàn, hầu như rất ít khi chúng tôi có dịp gặp nhau sau đó.

Hai hôm sau nữa, quá buồn, tôi ra thị xã, ghé trạm hàng không Air Việt Nam mua vé leo lên máy bay vù về Sàigon chơi thêm một tuần. Ngày tôi lên hậu cứ tiểu đoàn, một chiếc GMC về lấy đồ tiếp liệu cho tiểu đoàn, tôi tháp tùng theo. Trên xe, tôi gặp một niên trưởng nữa, niên trưởng Thành. Niên trưởng Thành, trưởng ban 5 tiểu đoàn, người trắng trẻo, tròn trịa tính tình vui vẻ. Hèn chi các niên trưởng ở đây gọi là Thành sữa. Sữa chỉ là vẻ bên ngoài, sống và tồn tại ở một đơn vị tác chiến hai năm trời không dễ dàng. Vả lại không phải tự dưng mà về làm trưởng ban 5. Niên trưởng Thành cũng đã từng có thời gian dài lặn lội ngoài các đại đội tác chiến. Sau khi trình diện tiểu đoàn trưởng, ở đây tất cả mọi người đều gọi bằng danh hiệu 92, mặc dù sau lưng cũng có một biệt danh “Cù lũ” Giảng. Nếu có bạn nào từng binh xập xám, chắc thừa hiểu cù lũ chỉ có thua mậu binh! Có lẽ ông tiểu đoàn trưởng này cũng thuộc loại có cựa.

Đó là một Đại úy, người to lớn bệ vệ, đầu gần như hói. Ông tiếp tôi trong căn hầm chỉ huy tuy không lớn lắm, nhưng dù ngồi, đầu ông cũng gần đụng tới nóc. Có lẽ trong thời gian vừa qua tiểu đoàn đụng địch liên miên. Tình hình chiến sự bên đây rất sôi động. Ta vừa phải bung quân lục soát, vừa phải giữ các yếu điểm, rải mỏng quân giữ trục lộ từ biên giới tới đây hơn chục cây số. Địch thì rình, đợi ta sơ hở tập trung lực lượng tập kích, lấy đông đánh ít. Sự tổn thất không thể tránh khỏi. Mới hai tuần trước khi tôi về đây, một niên trưởng đã ra đi vĩnh viễn: Nguyễn Hữu Cung. Tiểu đoàn trưởng, hỏi tôi vài câu lấy lệ, công điện từ trung đoàn đã đến từ lâu. Tôi cũng không phải là sĩ quan CTCT đầu tiên về đơn vị. Sau khi khuyên tôi cố gắng để nhanh chóng thích ứng, ông cho tôi về làm đại đội phó đại đội 7. Nhờ niên trưởng Thành dẫn tôi ra đại đội, ông với đưa cho tôi lệnh phạt 15 ngày trọng cấm của Trung đoàn trưởng!

Tôi theo niên trưởng Thành ra ngoài vành đai căn cứ, nơi đại đội tôi đang làm nhiệm vụ giữ an ninh. Cái căn cứ này rất nhỏ. Chu vi chưa tới 100 mét vuông, được xe công binh ủi thành hai vòng tròn đồng tâm, vách đất cao chừng hai mét, cách nhau độ hơn mười thước. Vòng trong là bộ chỉ huy tiểu đoàn, một trung đội pháo binh 105 ly với hai khẩu súng và một hầm đạn nổi chứa khoảng hai ngàn trái pháo. Vòng ngoài được tô điểm với những lô cốt nổi, cấu tạo bởi những thùng đạn pháo binh và bao cát, đó cũng là nơi lính trú ngụ. Phía ngoài là vài hàng concertina thả vòng quanh căn cứ. Xa chút nữa, trong khoảng chu vi hơn hai trăm thước, đất trống trải nhờ xe ủi đã san bằng để phe ta dễ dàng quan sát nếu địch dám bén mảng tiếp cận.

(Tiếp theo kỳ tới: Trên Chiến Trường Sôi Động) 

Tuesday, February 26, 2019

Trận đánh cộng đồng Bún-Bình Dương

Huy hieu su doan 5 bo binhHuy hieu trung soan 9, SD5BB
Xuân về, nhớ Tết Mậu Thân: giữa Tiểu Đoàn 3/7 và trung đoàn của Tướng VC Trần Độ.
(Kính tặng anh hai, và các chiến hữu thuộc Tiểu Đoàn Khăn Tím 3/7-SĐ5BB).
Lê Tường Vũ.
https://c1.staticflickr.com/1/658/22376672502_0f2933cc8e_c.jpg
Gió thoảng của những ngày đầu Xuân vẫn nhẹ nhàng mênh mang len giữa bao tia nắng nhạt vàng của buổi chiều sắp tắt.Cái không khí se lạnh vẫn không làm rượi người khi tiếng súng ở thành đô, ở những quận-tỉnh lỵ còn rền vang trong đợt phản công của các đơn vị từ Nhân Dân Tự Vệ, Cảnh Sát Quốc Gia, Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, đến các sư đoàn chủ lực cùng những lực lượng Tổng Trừ Bị nhất tâm đánh bật Cộng quân đã thừa dịp hưu chiến trong mấy ngày Tết thiêng liêng, tổng tấn công với mưu đồ thôn tính cả Miền Nam.
Tôi cũng đã ráng chạy về đơn vị từ nơi đó, từ Saigon vẫn còn vang tiếng súng, sau khi “dù” về bởi mấy thằng bạn học ôn dịch nhắn nhe có tổ chức… nhảy đầm mở “ball famille” ở nhà bạn học trong khu Nha Viễn Thông gần nhà. Chiều tối đêm giao thừa đó, khoác lên người bộ veston, tôi tản bộ dọc lề đường về hướng Hồng Thập Tự, ngó xem thiên hạ giờ nầy vẫn còn vác mấy cành mai về chưng Tết. Vừa ngang trước Cục An Ninh Quân Đội, số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, thì gật mình khi nghe tiếng… chửi rủa:
– Ê, Vũ! Mẹ kiếp – nói cho nhẹ thôi – Tết “dù” về Saigon đi chơi hả mậy?
Ngoảnh đầu nhìn vào dãy nhà trong lề, thằng bạn học cùng lớp thuở trung học đang hiên ngang trong bộ đồ Dù, nai nịt chỉnh tề với khẩu colt xề-xệ, bước ra cười mỉm. Thằng Sang, đúng là nó. Nhà nó ở hẻm cây xăng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm bên kia Phan Đình Phùng mà. Ồ, mà nó đã mang hai bông mai rồi, ngon lành thiệt. Lại hất đầu, Sang lập lại:
– “Dù” phải hông mậy?
Tôi cười khảy:
– Thì ở rừng rú mật khu hoài, Tết nhứt chuồn về chơi chớ sao mậy. Chớ ai như mầy, Nhảy Dù, Tết nhứt được ở Saigon.
– Mẹ họ, tụi tao mới vừa về đây nè. Đánh giặc túi bụi. Nhảy Dù mà! Ai như mấy thằng bộ binh nghĩ mình là “hoa khôi chiến trường” nên cứ tà tà.
– Giỡn mặt, lính đánh giặc mà tà-tà để rửa cẳng lên bàn thờ ngồi sớm hả.
Cả hai cùng cười với bốn bàn tay xiết nhau thật chặt. Rời khỏi học đường, cả đám chia nhau mỗi thằng mỗi nẻo, còn gặp nhau thì biết còn sống, còn đùa giỡn với nhau nên không vui sao được. Dán mắt vào cặp lon Trung Úy của Sang, tôi hỏi:
– Mầy lên trung úy hồi nào lẹ vậy?
Vẫn cái giọng kênh kênh, Sang ngước mặt vừa phà khói thuốc lá lên trời vừa nói:
– Đánh giặc kiểu Nhảy Dù mà mậy. Ai như…
Biết Sang sắp giở giọng xỏ lá kềnh, tôi nhứ quả đấm thẳng mặt nó:
– Dẹp mầy đi. Phải rửa lon, mầy.
– Ừa, bữa nào đã – Sang ngưng lại, mím môi nói nhỏ – Tao nghe tin thằng Phát…
Vui vẻ đứt đoạn, tôi cũng cúi đầu hình dung lại khuôn mặt dễ thương của thằng bạn học, Trần Khánh Phát, tên lót thật của Phát là “Khắc,” sợ xui nên trên ê-ti-kết mấy cuốn tập nó đề là “Khánh”… nhưng ai dè nó bị “khắc” thiệt:
– Thằng Phát đã “đi” rồi. Mà cũng tại nó. Ai đời, làm Trưởng Ban 2 Tiểu Đoàn mà lính đại đội rớt đàng sau, nó không muốn xác lính lọt vào tay giặc nên một mình quay lại và rớt ngay tại chỗ đó luôn.
Biết tụi nầy trước rất thân thiết với nhau, Sang nói câu an ủi… mà huề vốn:
– Thôi mầy. Mỗi thằng có cái số. Nó hiền từ, ít tội nên đi trước. Còn lại đám “quỷ phá nhà chay” tụi mình nặng tội nên còn lâu để trả nợ đời.
Nói xong, Sang cười khằng khặc nhưng tôi cười không nổi:
– Mầy nhớ thằng Mỹ không? Đặng Ngọc Mỹ? Tôi hỏi.
– Sao không nhớ. Cái thằng Bắc Kỳ, mắt hơi lé, trong trường ưa làm thơ viết văn với mầy và thằng Thúc chớ đâu. Tao còn nhớ nó chọc mầy Nam Kỳ cũng bày đặt văn chương. Vậy mà nó thua mầy tuốt luốt. Sao rồi?
– Mỹ cũng “rớt” rồi! Nó nắm đại đội trưởng Đại Đội 10, TĐ 3/8, cũng chung Sư Đoàn 5. Lúc tao ra trường về, gặp nhau trên đại lộ Lê Lợi, nó thấy tay áo tao mang Sư Đoàn 5 Bộ Binh nên càng mừng hơn. Mỹ bảo: “Toa về với moa đi, nắm Trung Đội Trưởng Vũ Khí Nặng cho moa. Moa nắm Đại Đội Trưởng rồi.” Tao không nghĩ nó muốn chỉ huy tao để “trả thù” văn của tao được chấm giải cao hơn nó, mấy em khoái xem bài của tao hơn là “Mỹ… lé” mà là tình thân với nhau ở tuổi học trò, tin tưởng cùng rơ hơn.
– Tại mầy khoái đi làm chính trị, làm Cán Bộ Áo Đen, chớ không thằng nào cũng như nhau.
– Bậy bạ. Cũng tùy từng thằng. Như mầy đi Nhảy Dù, hơn anh em, tao cũng phục.
– Tụi mình đời lính mà mậy. “Một xanh cỏ, hai đỏ ngực” vậy thôi. Rồi thằng Mỹ với mầy?
– Nó ở Trung Đoàn 8, tao về Trung Đoàn 7. Có cái ngộ là tao cũng ở Tiểu Đoàn 3, cũng về Đại Đội 10 và cũng giữ Trung Đội Vũ Khí Nặng. Chỉ có khác là trung đoàn thôi.
– Thì trung đội đó là trung đội chỉ huy.
– Thôi, chuyện thằng Mỹ thì nó bị ở Bến Cát. Tiểu Đoàn tụi tao dưới Bình Dương tức tốc lên tăng viện… nhưng không kịp, nó mất quá nhiều máu. Chỉ tội là mới có vợ, và vợ nó… đang mang thai!
Sang chắt lưỡi:
– Lính đánh giặc như tụi mình, vợ con làm quái gì cho… khổ thân. Đường nào cũng về… Nghĩa Trang Quân Đội mà. Đúng không?
– Thì… đương nhiên.
Và để cắt ngang bầu không khí ngột ngạt, tôi bảo Sang:
– Ê mầy, tới nhà chị Mai, chung lớp với tụi mình, có mở “ball famille”, trong Nha Viễn Thông kế cận nè. À, rồi mầy rửa lon luôn.
– Thôi mầy đi chơi đi. Tao không rời đại đội được. Mầy nhớ về sớm nghen. Tụi tao về đây là tình hình không ổn đó.
Tôi buột miệng chửi thề:
– Mẹ họ! Nhảy Dù tụi mầy cứ đảo chánh lên đảo chánh xuống.
Thằng Sang chửi thề lại ngay và trả đũa:
– Sư Đoàn 5 của mầy cũng vừa hả. Đếch cãi với miệng mồm mấy thằng “chính chị” như mầy nữa. Nhớ… về sớm nghen. Hổng có đảo chánh đâu. Lộn xộn đó.
Và mà thật. Rạng sáng hôm sau thì tiếng súng nổ rền. Má tôi phải đánh thức mà tôi dậy không muốn nổi vì ban tối uống rượu, nhảy đầm liên tu. Trong giọng ngáy ngủ:
– Việt Cộng gì… Việt Cộng. Đảo chánh đó. Hồi chiều… thằng Sang có nói con…
Má tôi, đúng là bà già miền Tây, nắm tóc kéo đầu tôi lên và bảo:
– Ừa, Việt Cộng nó đảo chánh đó. Tụi nó mang khăn rằn chạy ngoài lộ kìa… Ba mầy, ổng… đi đâu rồi.
Tôi tỉnh ngủ ngay. Tỉnh như sáo sậu. Nhét khẩu colt sau lưng, xỏ vội chiếc jacket nhà binh với hai băng đạn, tôi phóng ngay ra cửa và men theo những hàng ba của dãy phố để vòng ra đầu ngỏ có trụ sở Khóm…

***
https://c2.staticflickr.com/8/7556/15494056910_1b8d8cbc42_b.jpgChợ Bình Dương 1968.
– Giới chức coi kìa. Có hai thằng cha già đạp xe qua lại nãy giờ hai bận.
– Kệ mấy ổng. Tết nhứt thì người ta… vui chơi mà.
Tuy nói vậy với thằng Tân, một người lính trong Toán Quân Báo, đang có nhiệm vụ gác trước cổng trường mà Đại Đội chúng tôi đang trấn đóng, tôi liếc xéo ngoài đường quan sát. Đúng vậy! Hai người đàn ông lớn tuổi đạp xe lướt qua từ hướng Bún về ngã ba An Sơn, vừa chạy xe như dạo mát nhưng… vừa đảo mắt qua khu vực đóng quân. Một cảm giác ngờ vực nhuốm lên. Hổng lẻ tụi Việt Cộng muốn giở trò khi chúng tôi đang đóng dọc theo Quốc lộ 13, ba bề đồng trống, gần phố chợ? Bị đánh tan tác trong thành phố giờ muốn gỡ gạc với chúng tôi, với những đơn vị không đầy đủ quân số vì phần nhiều anh em ỷ y những ngày Tết “đình chiến” dù về nhà, kẹt chưa về kịp.
Sau khi dặn Tân cứ tự nhiên, hút thuốc ngó mông mênh làm như không để ý gì thế sự, tôi nhảy phóc xuống tường rào gạch định bước vào một phòng lớp nơi ở của Ban Chỉ Huy Đại Đội thì Trung Úy Tín, đại đội trưởng, từ phía cây điệp to bản bước ra chận đầu:
– Gì thế Vũ? Vừa hỏi, ông vừa cười mỉm.
– Thưa anh Hai – mấy trung đội trưởng cùng thân cận thường gọi ổng là anh Hai, dù ổng là người Bắc – có hai thằng…
– Anh biết rồi… nãy giờ. Dặn anh em cứ tự nhiên, gom cây lá ngay và nhóm lửa giữa sân trường như đun nước pha trà cho ấm bụng, gió lạnh, trời sắp tối rồi.
Thật khó cái gì qua mắt được cái ông trung úy giọng nói nhỏ nhẹ, dáng dấp thư sinh nhưng đánh giặc thì… “cò can” nầy. Lịnh được thi hành cấp tốc để nghi binh và chỉ có chúng tôi là đang suy tính tình hình thôi. Trung Úy Tín nói rất nhanh với Binh1 Long, Trưởng Toán Quân Báo, đang đứng cùng anh em trong Toán:
– Trời gần tối rồi, mấy đứa ngồi, dứng trước hàng rào cứ như trò chuyện. Chừng hai thằng già đó quay về ngang tới thì phóng nhanh ra chận đưa vào đây. Phải làm thật nhanh và êm.
Thằng Long nhanh nhẩu:
– Nhận rõ thẩm quyền.
Nói xong, Long quay người hất hàm ra hiệu năm người trong toán đi theo. Thằng Bé, toán phó, luôn đi sát với Long bởi hai đứa là bạn bè thân thiết. Hai đứa nó được mang tên là Long VC và Bé VC. Cũng đúng thôi, vì tụi nó cùng đi theo Việt Cộng và cùng từ trong khu ra với ý muốn hồi chánh. Sau khi hỏi han và xác định nỗi bất mãn hận thù của Long và Bé, đơn vị muốn giúp hai đứa có thêm quyền lợi và đơn vị được người có nhiều khả năng phục vụ nên làm thủ đục tụi nó đăng lính để có tiền đầu quân, vào Trung Tâm Huấn Luyện Huỳnh Văn Lương, trở về đại đội và được giao nắm Toán Quân Báo vì tụi nó rất rành rẽ những mánh khóe của Việt Cộng.
Hai ông già đã bị điệu vào BCH Đại Đội, Trung Úy Tín nghiêm giọng hỏi:
– Việt Cộng tối nay tấn công mấy giờ? Nói ngay.
Hai lão chối bây bẩy:
– Hổng có đâu trung úy. Tụi tui là dân thường. Tết uống rượu nóng trong người nên chạy vòng vòng cho mát.
Thằng Long giơ tay dọa đánh, Trung Úy Tín khoát chận và nói với hai lão:
– Hai ông đã đi mấy vòng điều nghiên? Báo cáo các chỗ đóng quân rồi phải không?
– …..
– Nói ngay… không tôi giao cho tụi nó.
Hai người vẫn giở giọng kêu oan nhưng trong ánh mắt chẳng có gì là thật. Thiệt là mất thời gian! Trung Úy Tín quyết định:
– Bọn thằng Long nhét giẻ bịt miệng, cột hai thằng già nầy vào gốc cây điệp giữa sân trường…
Xoay qua hai tên tình nghi, ông tiếp:
– Nếu khai thật thì chúng tôi giữ mấy ông trong này. Bằng không, tối nay mấy “đồng chí” mấy ông tấn công thì tôi sẽ bắn hai ông trước rồi đánh với bọn chúng sau. Mang đi!
Sau khi cho giải hai người kia ra ngoài, mặt Trung Úy Tín thản nhiên nhưng chúng tôi biết ông đang suy nghĩ, đang liệu định một cái gì. Rút điếu thuốc capstan – là gu của ông – trong bao dẹp nửa, nhìn bọn tôi như dò hỏi. Thượng Sĩ Điểm, thường vụ đại đội, dáng người kềnh càng, dựa lưng vào tường, lên tiếng trước:
– Tôi nghĩ chắc tụi nó dám chơi mình lắm, trung úy.
Chương, trung đội trưởng Trung Đội 2, dù thích uống rượu nhưng tánh người lúc nào cũng trầm tĩnh:
– Tiểu đoàn mình ở ngoài nầy chỉ có 3 đại đội, không đầy đủ quân số, chỉ có thằng Bù – tên thường gọi Đại Đội 10 chúng tôi – mình là đám lính có gia đình ở Lò Chén nhiều nên đã về kịp nhưng quân số chỉ hơn 70. Phải không Dách-Cún (thượng sĩ)?
Nghe Chương hỏi mình, Thượng Sĩ Điểm nhanh nhẩu:
– Đúng, hơn bảy chục nhưng mình chơi ngon lành mà. Bên thằng Sập Dách (Đại Đội 11) chẳng còn bao nhiêu; bên chỉ huy cũng không khá, tụi nó dù tá lả.
Điếu pall-mall cháy tàn trên tay, tôi liên nhớ tối qua ngay mùng 5 Tết, vừa theo xe jeep của Trung Tá Nguyễn Xuân Mai, tham mưu trưởng sư đoàn, về ngang gặp ngay Đại Bàng Ninh, tiểu đoàn trưởng, nên bị phạt dẫn một tiểu đội đi “ăn sương” (kích) ở Cống Bể. Nửa đêm đúng là VC di chuyển. Thoạt đầu, tôi tính cho “hốt” để lập công chuộc tội nhưng may… ông bà “độ”. Chờ qua mấy thằng xích hầu, tôi tính nổ súng lệnh để tất cả tung lựu đạn diệt cả lũ đi sau có mang theo máy móc liên lạc. Vừa tính xiết cò thì tai tôi thoáng nghe qua đợt gió thoảng từ bên kia đường, qua khoảng đồng lúa đã gặt là một vườn mía mênh mông, mang theo không phải tiếng lá mía xào xạc mà lẫn lộn nhiều tiếng người.
Thả lỏng tay cò, tôi rướn người nhìn qua dãy bụi rậm, thấy từ bên kia đường, hướng ruộng mía lố nhố người đi ra, dọc theo bờ cống bể, băng qua đường xuôi về hướng chúng tôi. Không ổn rồi! Tụi nó đông quá, súng ống lủ khủ, trong khi tụi tôi chỉ có bảy thằng. Rồi còn nữa, ở bãi ruộng bên đường, bọn chúng ở đâu ra dầy đặc, đang tuần tự băng lộ để đi trên con đường đất nhỏ độc đạo dọc theo con lạch thoát từ cống bể.
Bỏ mẹ rồi! Hồi nãy mà ra tay thì cả đám không còn… xác để hốt. Từ thế hàng ngang, chúng tôi vẫn vậy nhưng bò lùi ra sau, cố gắng qua cách một thửa ruộng nhỏ, nằm mẹp nấp sau bờ đê thấp, hướng súng đặt trên bờ phòng khi bị phát giác thì chỉ còn mạng đổi mạng thôi. Hết đường binh! Đêm khuya, tiếng đi nghe rần rật. Tuy vậy, lúc bọn chúng dừng thì sự thanh vắng ghê lạnh bừng lên. Tôi với tay qua tắt máy PRC-10 trên lưng hiệu thính viên năm sát cạnh vì e tiếng máy rồ-rồ sẽ lộ nơi ẩn núp. Bọn chúng hướng về trên kia, lên phía đường rầy xe lửa. Hàng trăm, hàng ngàn, không phải… hàng cả trung đoàn của địch quân đang di chuyển.
Bố tụi nó. Cứ như đi chợ vậy! Tôi chửi thề trong bụng. Cả bọn nằm rạp, dán mắt nhìn bọn Việt Cộng chuyển quân. Phải non hai tiếng, bọn chúng mới đi qua hết. Chờ một hồi lâu, không còn động tịnh, nhìn bờ ruộng bên kia đường cũng vắng hoe, tôi cho mở máy liên lạc:
– Hélène. Victor gọi. Hélène…
Tiếng rè rè của máy liên lạc nội bộ vang lên nho nhỏ vì bọn tôi đã bớt volume:
– Victor… đây Hélène.
– Nghe…
Tiếng máy bên kia cắt ngang:
– Nãy giờ sao im lặng vô tuyến, liên lạc không được. Đại Bàng cũng có theo dõi. Thẩm Quyền đang lo.
Tôi bấm combiné:
– Đang kẹt. Gặp Thẩm Quyền gấp.
– Nhận rõ Giới Chức. Chờ.
Chỉ khoảng 30 giây, tiếng Trung Úy Tín lên bên máy:
– Victor… đây Tango.
– Nghe 5/5.
– Tụi em “lặn” đi đâu. Không liên lạc được. 43 – danh hiệu Tiểu Đoàn Trưởng – nãy giờ “qué” tùm lum.
– Trình Thẩm Quyền. Tụi em tắt máy. Bọn chúng vừa qua. Đông lắm!
– Có sao không?
Luôn luôn là sự quan tâm của người chỉ huy thương đàn em như ruột thịt. Tôi xúc động:
– Dạ… chưa sao. Lúc nãy mà nổ thì… banh xác rồi.
– Con khỉ. Rồi thế nào?
– Bọn chúng đã đi qua. Khoảng một trung đoàn trừ. Hình như là chính quy Bắc Việt.
– Đi đâu? Hướng nào?
– Dạ, giờ nầy chắc trên 2 con rắn đỏ (đường rầy xe lửa).
– Chắc chắn?…Anh tin. Để đó anh lo. Cố giữ an toàn. Đáp nhận.
– Nhận rõ.
Rời combiné, tôi ngã người gối đầu lên bờ đê nhìn trời tối thẩm. Sương đêm khá lạnh, thấm qua đồ treilli, len vào da thịt nhưng trong người chúng tôi nóng nảy bồn chồn. Chẳng biết ở trên giải quyết thế nào. Mong trời mau sáng đặng… dẫn đội trở về. Khoảng mươi phút sau, chúng tôi nghe tiếng depart của pháo binh từ Phú Lợi, căn cứ của sư đoàn, rót về. Và từng loạt đạn đại bác nổ vang trên dãy mô cao dọc theo đường rầy xe lửa. Chỉ huy mình chịu chơi thiệt. Tin và lo cho em út hết mình. Tiếng pháo ì-ầm làm toán kích ấm lòng, nôn nao trông chờ rựng sáng.
Tiểu đội đứng nghiêm như trời trồng giữa sân trường Trịnh Hoài Đức “Nam” để nghe Đại Bàng “xát xà-phòng”:
– Tiên sư bọn mầy. Dù chơi về bị phạt rồi đặt chuyện làm cả đêm không ai ngủ được.
Vừa sạt tụi tôi, Đại Úy Ninh ngó xéo đại đội trưởng bọn nầy như trách cứ ông hay tin thương cái đám ba gai, ba đồ… trong lúc Trung Úy Tín đứng gần bên ông, ngó trời… tỉnh bơ. Đại Bàng Ninh càng tức khí xì-nẹt bọn tôi một mách nữa nhưng chưa hả thì một chiếc jeep của sư đoàn chạy vội vào thắng két. Viên trung úy – lúc sau được biết ở Phòng 2 của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn – nhảy xuống xe tiến đến chào Đại Úy Ninh xong, trình phong bì còn hàn kín.
Đại Úy Ninh bóc văn thư, hay mật điện gì đó, liếc nhanh xong cười toe và quơ tay:
– Về trình với Mặt Trời (danh hiệu của Tư Lệnh Sư Đoàn) là yên trí. Chúng tôi lưu tâm và bung rộng lắm. Thế tối qua mới báo lên sư đoàn để pháo.
Đang nói, ông lại quay qua bọn tôi ra lịnh:
– Giải tán đi!
Biết chúng tôi thoát nạn, Trung Úy Tín cười vỗ vai tôi, nhỏ nhẹ:
– Thôi em về coi sóc trung đội của em đi.
– Dạ.
Chúng tôi kéo ra khỏi trường Trịnh Hoài Đức, đi về ngôi trường Cộng Đồng Bún sát cạnh là đất của đại đội tụi nầy…
– Ê Vũ, sao mậy?
Thằng Tư, trung đội trưởng Trung Đội 3, vừa hích cùi chỏ vừa hỏi, lôi tôi trở về với thực tại.
– Mẹ… tụi nó. Tối qua thì tao xém… rồi. Đám nầy từ hướng dưới, bọn chánh quy chắc bị Cọp Biển (TQLC) dợt cho tan tác giờ kéo về đây tính gỡ gạc. Hồi hôm bị pháo đuổi rồi.
– Chưa chắc chạy.
Đôi người lên tiếng. Tất cả suy nghĩ. Tiểu Đoàn 3/7 ở ngoài nầy chỉ có 3 đại đội: ĐĐ Chỉ Huy, ĐĐ10 cùng ĐĐ11 và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Đại Đội9 thì nằm trong Mật khu An Sơn, thủ căn cứ của tiểu đoàn. Không đơn vị nào còn đủ quân số. Tụi nầy nghĩ thằng Cẩu (ĐĐ9) nằm cheo leo một mình trong vùng địch chỉ có nước thủ, đêm tối không thể cho con cháu bung khỏi cầu Cây Cui thì tụi nó dễ dàng vòng qua, ra ngoài tấn kích hay cầm chưn đơn vị lớn, san bằng đơn vị nhỏ.
https://c2.staticflickr.com/4/3843/14203020428_d8411a470c_c.jpg
Địa hình tiểu đoàn đóng quân cũng tương đối ổn. Ba đại đội đóng trải trong hai trường trung học liền nhau: trường Cộng Đồng Bún và Trịnh Hoài Đức (Nam). Trước mặt là quốc lộ 13, gần chợ Bún đi về thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. À, băng qua cánh ruộng hông trường họ Trịnh, một dãy lũy tre khá dày chạy dọc theo con đường đất đỏ dẫn vào trường nữ Trung học Trịnh Hoài Đức. Nơi nầy hơi bất an vào buổi chiều sẩm hoặc tối trời. Du kích thỉnh thoảng xuất hiện nên chúng tôi thường căn dặn những người lính mới về. Đất địa nầy là vùng xôi đậu mà. Chung quanh trường ba mặt là đồng ruộng đã gặt hái, nhứt là phía sau cả một bãi đất trống rộng, người dân đã cắm chà tre để trồng những dây sắn. Phía hướng về Bình Dương thì các toán kích đêm của ba hậu cứ trung đoàn ở Phú Văn đều bung về mặt đó. Vậy nếu địch muốn tấn công thì sẽ ở mặt nào?
Nhìn các cấp trung đội và luôn cả ông thường vụ đại đội cau mày, Trung úy đại đội trưởng nhếch miệng cười khẽ bảo:
– Mấy người ở đây, cho con cái cơm nước hoàn tất nhanh. Tôi qua gặp Đại Bàng Ninh một tí.
Nghĩ cấp chỉ huy đã suy định kế hoạch, bọn nầy nhao nhao:
– Liên lạc máy. Đi làm chi.
Trung Úy Tín lắc đầu:
– Có những lúc không nên nói chuyện trên máy khi tiếp xúc thẳng được. Vô tuyến chẳng tuyệt đối an toàn… chờ lệnh.
– Nhận rõ…
– Rõ, trung úy.
Trung Úy Tín vội vã bước ra sân, băng qua rào giữa ngăn cách hai trường để đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn nằm trên dãy lầu của trường Nam. Còn lại, chúng tôi nhìn nhau rồi mạnh ai nấy về lo trung đội của mình. Long, Bé, Tân, Kiệt,… đứng chờ bên ngoài, gặp tôi hỏi liền:
– Sao Giới Chức? Trung Úy có tin là tụi Việt Cộng tấn công không?
– Chưa biết. Nhưng đừng ồn ào. Làm thinh chuẩn bị thì hơn.
– Nghe Giới Chức. “Bí mật quân… sự” hì… hì…
Cái đám quỷ nầy cứ vậy. Nói xong, cười nham nhở coi lại dây trói và khăn bịt miệng hai lão già tình nghi bị cột quanh thân cây rồi ôm súng ra dọc tường rào quan sát. Đường lộ vắng tanh, bóng tối xuống dần. Mấy căn nhà bên kia đường, ẩn khuất trong những tàng cây rậm giờ thêm tăm tối, toát ra cái lạnh lùng ghê rợn. Tôi ngẫm nghĩ: Địch sẽ tấn công ở mặt tiền, từ phía bên kia, phát xuất từ Mật khu An Sơn. Tấn công và rút cùng một hướng. Chắc mẻm!
Trung Úy Tín quay về. Cả bọn quay quần và nhận lịnh. Các nhóm lửa phía sau vẫn bập bùng, phía trước được dập tắt. Chờ đêm phủ trùm cảnh vật, bán đội Quân Báo trườn sát mặt đường qua trước, đột nhập ba căn nhà, buộc gia đình họ xuống hầm vì sợ giao tranh sẽ liên lụy và cũng e họ dùng đèn để báo hiệu lính Quốc Gia hiện diện thì bể kế hoạch. Được báo đầu cầu êm ả, từng tiểu đội, trung đội, lần lượt bò qua hết đại đội. Chỉ trừ, hai người lính thuộc ban Tiếp Tế và ba quân nhân cảm bịnh ở lại trong sân để xe đạp của nhà trường, dịp Tết sân trống, nên được để chảo đụng, củi dầu, gạo thóc của đại đội.
Kể ra, sếp của đại đội tụi nầy có tài thuyết phục. Đại Bàng Ninh mà cho đại đội cứng nhứt tách khỏi tiểu đoàn cũng là điều lạ. Đại Đội 11 của Trung Úy Chờ phần yếu, phần ít quân phải cùng Đại Đội Chỉ Huy căng quân ra trám tuyến qua phần trước đó của chúng tôi. Ổng tin cũng phải, ba bề quanh hai trường học là đồng trống, địch không dại gì làm mặt tấn công. Cái nguy là phía trước thiếu bề phòng thủ. Nếu địch từ trong An Sơn ra đánh thẳng vào mặt tiền thì hỏng. Cái nầy trước đó ổng ỷ y ở Đại Đội 9 mà không nghĩ tới.
Vừa qua toàn bộ, chúng tôi liền bố trí. Trung Đội Vũ Khí Nặng của tôi phải lãnh mặt “nặng” là lập phòng tuyến phía sau, hai thằng mặt rỗ (đại liên 30) đặt cách khoảng của Phân Đội Đại Liên hướng súng vào phía trong. Việt Cộng mà tiến phía nầy thì những tràng đạn 12.7 ly đan chéo cho chúng biết thế nào là… lễ độ. Vì theo cán bộ thám sát điều nghiên của chúng không thể về báo có thay đổi một đơn vị Quốc Gia nằm ở bên nầy. Phân Đội Súng Cối cũng cho hai “ông già” 60 gióng súng vào trong, xạ bàn kẻ vòng, vạch sẵn để yểm trợ cho thằng Cẩu nếu nó bị Việt Cộng tính “làm gỏi.”
Trung Đội 3 và 2 của Lê Văn Tư với Nguyễn Văn Chương thì căng hình chữ L để lo mặt hông và cánh trái đại đội. Trung Đội 1 của Quách Đức Tú thì nối giáp với Trung 2 dàn sát bờ thấp của quốc lộ trước mặt BCH và đối diện bên kia đường là trường Nam họ Trịnh. Đại đội trưởng của chúng tôi thì ít khi nào đặt TOC trong nhà dân. Lính tráng nằm ngoài thì ổng cũng luôn ở bên ngoài nên anh em ai cũng thương mến.
Từ quân trường ra, chọn đơn vị và trình diện Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh ở Phú Lợi tất cả 8 thằng: 6 thằng tới tuổi và 2 thằng học Đặc Biệt đều về Trung Đoàn 7, từ đó phân phối đi các tiểu đoàn. Thằng Phạm Thành Phước, cặp bài trùng với tôi, lại qua Tiểu Đoàn 4/7. Tôi và một thằng nữa (không còn nhớ tên và cũng không muốn nhớ vì…) được phân phối về Tiểu Đoàn 3/7. Vừa tới Ban I Tiểu Đoàn, thằng về chung tiểu đoàn với tôi liền móc từ túi trên ra lá thư đưa cho một trung sĩ – tôi còn nhớ tên là Tĩnh, HSQ Quân Số – nhờ trao cho Đại Úy Nguyễn Văn Lực, tiểu đoàn trưởng, (ghi trên phong bì). Tôi chửi thầm trong bụng: Mẹ nó! Lại thứ “C.O.C.C.” gởi gấm nữa rồi. Cứ ngữ nầy làm được đách gì.
Tôi thì quen cảnh từ quân trường là đám “con bà phước, cháu ông sư” nên phớt lờ. Đất nước bị xâm lăng thì đi đánh giặc chớ chạy chọt tránh né thì khác gì “Nam nhi như… chí.” Và sau đó là quảy ba-lô đi qua hậu cứ Đại Đội 10 trao lệnh phân phối để lãnh súng đạn chờ… ra đơn vị nghe nói đang đóng đâu đó trong rừng. Không phải tôi không có nghĩ: Tiểu Đoàn 3/7 rồi Đại Dội 10 cả hai đều bù thì phen nầy chắc… sạch túi mà sợ. Không! Tôi chẳng có việc đó.
Từ ở quân trường, trên nón sắt của tôi mang số 13 chần vần nên tụi cùng khóa ưa chọc ghẹo. Nhứt là khi chọn đơn vị, điểm cao mà lại chọn Sư Đoàn 5 Bộ Binh làm đám bạn náo động hội trường. Thằng Khánh (sau về Sư Đoàn 25 BB) cũng chơi thân với tôi, ngồi phía sau níu áo:
– Ê, mầy muốn chết sớm hả? Còn nhiều chỗ để chọn mà sao mầy đi Sư Đoàn 5?
– Đi lính, chỗ nào cũng vậy.
– Mẹ kiếp, mầy ngu quá. Thôi chọn lại SĐ 25 đi, hiền hơn. Chút nữa còn chỗ thì tao về 25.
– Thôi, chừa cho mầy đó. Tao không thay đổi.
Không phải dưới lao nhao mà trên dãy bàn mấy sếp cũng thầm thì. Trung Tá Trương Như Phùng, tham mưu trưởng, với giọng Huế nặng nề cho tôi 5 phút suy nghĩ và ưu tiên chọn lại đơn vị. Tôi nhứt quyết và dõng dạc: “Sư Đoàn 5 Bộ Binh.” Xong rồi.
Cả đám chung quanh tôi lầm bầm, nói năng chửi rủa lung tung:
– Tao đã nói nó số 13 mà.
– Chắc ở đó nó có “gốc” đó. Một thằng khác nói.
– Thằng có tật ưa gàn.
– Kệ nó. Thôi mình lo thân mình.
– ….
Ôi, tụi nó nói tá lả âm binh. Thây kệ tụi nó. Mình có quyết định của mình. Thằng bạn, em ông Tướng Khang, nói sẽ kéo về Thủy Quân Lục Chiến vì gia đình, anh em bà con của tôi đi Cọp Biển khá nhiều. Tôi cũng khoái. Nhưng khóa đó Thủy Quân Lục Chiến không có lấy thì mình đi nơi khác vậy. Đi lính thì đâu cũng lính chớ thắc mắc, thắc… mũi làm gì. Chừng tất cả rời Hội trường, tôi mới biết lý do tại sao trên dưới đều…
Lý do là Sư Đoàn 5 Bộ Binh vừa bị thiệt hại một trận nặng nề tại Dầu Tiếng, Bến Cát, với Trung Đoàn 7. Trung đoàn nầy đánh thắng 13 trận ở 13 làng trên Bến Cát. Những trận cuối cùng, xác và vũ khí quá nhiều của Việt Cộng khỏi tịch thu mà xe ủi hố, dốt lấp hết. Tới làng 13 Bis (cũng con số 13) có lẽ “lơ là” (?)nên bị tụi nó phục thù tan tác. Báo chí đăng tải tùm lum nên đa số lo sợ là phải. Tôi thì cóc sợ. Hơn nữa thằng Phước tiếp đó cũng theo tôi chọn SĐ5.
Tánh gàng bướng cố hủ, chờ phương tiện về Saigon, đầu đội bê-rê vàng, vai áo mang phù hiệu Ngôi Sao Trắng Miền Đông với số 5 đỏ chói làm lóe mắt bạn bè, tụi nó nhìn với vẻ e dè, mặt mấy thằng tôi kênh kiệu. Tự nhiên tôi bắt đầu hãnh diện bởi đơn vị của mình từ đó. Và cả bây giờ, dù mang số 13, tôi vẫn còn ngồi đây ghi lại những dòng nầy.
Tới đây, tôi xin phép tưởng nhớ những người bạn thân thiết cùng khóa với tôi, tụi nó đã gục ngã trên khắp chiến trường, đã hy sinh xương máu cho Tổ Quốc Việt Nam mà ước vọng vẫn chưa thành! Thằng Lê Sanh Phuông – cháu Thiếu Úy Châu của Quân trường Đồng Đế, rớt trước tiên trong tháng đầu, rồi sau đó thằng Khánh,… cùng Sư Đoàn 25. Thằng Cương lên cố thiếu úy khi chiến xa nó bị ở Quảng Trị. Cương về bên Thiết Giáp. Thằng Tùng thì lái trực thăng bị rớt. Còn những thằng nữa, ở Sư Đoàn 22, Sư Đoàn 23, Biệt Động Quân, Lực Lượng Đặc Biệt,… không nhớ nổi. Về Sư Đoàn 5 thì hai tay Đặc Biệt ra đi sớm nhứt. Rồi thằng Khanh ở 2/7 bị B.40 gọt nửa đầu bên phải, trực thăng tản thương vừa chạm đất thì nó… hết thở. May các bác sĩ tận tình, cắt cuống họng, luồn dưỡng khí, giải phẫu và nó sống với nữa thân mình bất toại. Cuối cùng thì tôi chỉ biết còn lại tôi và thằng Phước trở về Saigon…
“Ầm! Ầm!…”
Hai tiếng nổ chấn động, chớp sáng bùng lên từ trên dãy lầu bên kia đã phá tan bầu không khí trầm lặng giữa đêm khuya. Tiếp đó là những loạt súng đủ loại rền vang từ hướng trường nữ Trịnh Hoài Đức và hình như từ hướng sau hai dãy trường tới tấp bắn tới. Tiếng đạn bay vèo vèo, xé gió cao khỏi đầu ngọn cây. Tất cả anh em đã vững vàng tay súng, bám sát hàng đất dọc lề đường, mắt hướng về phía trước.
Tôi phóng người ra tuyến sau. Anh em cũng ghìm súng phòng địch tấn công mặt hậu. Hai xạ thủ đại liên cũng như phụ xạ thủ đã trải đạn căng dài, hướng súng vào khoảng đêm đen um tùm với những vườn dâu, măng cụt, chôm chôm,… liền nhau san sát. Mối lo bị tấn công mặt sau vẫn còn đè nặng trong tôi, nhưng ở đây vẫn yên tĩnh. Tôi căn dặn anh em cẩn thận thì Hạ Sĩ Mậu, một xạ thủ đại liên, cười nói với tôi yên trí: “Tụi nó mà lọt vào cách mấy chục thước thì để bãi lựu đạn trả lời trước, rồi tụi tui đốn hết mấy thằng Việt Cộng ráo trội.”
Mậu nói có một phần đúng, vì nguyên tắc của đại đội là khi tối đóng quân thì mỗi trung đội phải cài ngoài phòng tuyến khoảng trên ba mươi trái lựu đạn gày, rất bén nhạy. Nếu mặt nầy có biến thì tôi vẫn kịp thời kề cận với anh em. Và tôi còn trách nhiệm với Phân Đội Súng Cối nữa. Tới giờ phút nầy, hai khẩu 60 ly vẫn còn hướng vào mặt trong, để yểm trợ thằng Cẩu cùng lo phía sau của đại đội mình.
Những loạt đạn chát chúa của AK, trung liên nồi RPD của Trung Cộng trao đổi với những tiếng Garant, Carbine M1 nhát gừng, tiếng Thompson, trung liên Bar,… từng tràng đáp lễ cũng ở bên kia quốc lộ. Bên chúng tôi hoàn toàn im lặng, không được khai hỏa khi trước mặt không có quân thù, và hơn nữa là cần giữ kín vị trí tới giờ phút chót.
Máy nội bộ im lìm, máy tần số tiểu đoàn liên tục phát khiến chúng tôi biết được tình hình bên đó. Việt Cộng đã mở cuộc tấn công hai mặt, phía sau và phía hông hướng Bún. Tụi nó không dám mở ở mặt bắc vì sợ bị tập hậu. Đúng là bọn chó điên muốn cắn càn! Hai mặt kia trống mà tấn công thì chỉ làm… bia thịt.
– Cửu Long. Đây Hồng Hà gọi.
Nghe gọi đích danh, thằng Hùng, hiệu thính viên, chụp ống liên hợp trả lời:
– Cửu Long nghe Hồng Hà. Cho…
– 43 muốn trực tiếp với Thẩm Quyền. Tiếng của người mang máy tiểu đoàn.
– Nhận rõ. Chờ…
Hùng trao máy cho đại đội trưởng kề bên. Trung Úy Tín lên tiếng:
– Tình hình bên đó ra sao? 43 đâu?
– Trình Thẩm Quyền, tụi nó thổi B.40 lên phòng BCH Tiểu Đoàn trên lầu, vì mấy thằng “mũi lõ” mở đèn coi báo. Một trung sĩ I “Mẽo”… dài hạn, Cố Vấn… ngắn hạn, và Đại Bàng vướng miểng ở chân. Tụi nó có lọt vô nhưng xong rồi. Phòng tuyến vững, đang bắn bia…
– 43 đâu? Thế nào rồi? Trung úy nóng ruột.
Nghe tiếng bên đầu máy:
– Ổng mới đây… à, thưa Đại Bàng, có Thẩm Quyền thằng Bù đầu máy.
Rồi nghe tiếng Đại Bàng Ninh:
– Tango, đây 43.
– Nghe 43. Có sao không?
– Nhẹ thôi. Nhưng khó ổn. Tụi nó đông lắm!
– Rõ. Nhưng chưa sao. Có cần thằng Bù tiếp chiến ngay?
– Không. Nằm yên. Mặt đó quan trọng hơn.
– 43 tính sao?
– Tao qua bên mầy.
Cả BCH ngạc nhiên: “Qua bên nầy?”
Trung Úy Tín hỏi lại:
– 43 muốn qua?
– Đúng, giữ an ninh, tao qua.
– Nhận rõ. 43 chờ tôi cho Dách Cún tụi nầy qua đường đưa 43 qua.
– OK. Tao chờ…
Tay còn cầm ống liên hợp, Trung Úy Tín xoay nhìn Thượng Sĩ Điểm và mấy thằng thám báo:
– Dách Cún giúp tôi đưa Đại Bàng qua đây. Mặt trước còn yên. Mấy thằng tụi mầy yểm trợ.
– Nhận rõ trung úy. Mấy người cùng đáp.
Thượng Sĩ Điểm là người rất to con, trước gốc quân đội, sau qua cảnh sát với nhiệm vụ bảo vệ yếu nhân. Không thích thú vai trò nầy, ông lại xin trở về quân đội và xin đi đơn vị tác chiến. Khi Thượng Sĩ Điểm về đại đội, chúng tôi vui lắm vì sẽ có một ông thượng sĩ thường vụ chánh tông. Chớ trước nay, hết trung sĩ I rồi lại trung sĩ bị bắt giữ chức Thường Vụ, nội nghe không cũng cảm thấy già cú đế.
Khi đại đội trưởng giao giữ chức Thường Vụ, Thượng Sĩ Điểm chối từ bây bẩy. Ông chỉ muốn làm trung đội trưởng. Lý do là ổng muốn nắm trung đội trưởng, khi được 6 tháng thì xin đi học khóa Sĩ Quan Đặc Biệt. Chính vì thế mà ổng đi tới những nơi đánh đấm như thế nầy. Cản ngăn mãi không được, cuối cùng Trung Úy Tín phải hứa là hiện giờ các trung đội đều có người, đều quen thuộc địa hình, dễ dàng điều động, thôi làm Thường Vụ tạm thời, thời gian ngắn sẽ cho người hoán đổi. Nhà binh thì chỉ có thi hành lịnh và Thượng Sĩ Điểm rất vui lòng vì biết ông trung úy trẻ tuổi, đẹp trai, thanh liêm nầy rất trọng lời hứa.
Thượng Sĩ Điểm rất gan dạ, với sự yểm trợ hai phía của 6 thằng quân báo, ổng trườn người qua bên kia lộ, và trườn ngược trở lại với ông Đại Bàng trên lưng. Đại Úy Ninh bị thương ở chân, sĩ quan trợ y đã kiểm soát và băng bó cho ông rồi. Trung Úy Tín đưa ổng ngồi tạm ở hố súng cối đào vội vì hai khẩu 60 đã dời vị thế, hướng ngược lại để sẵn sàng hỗ trợ tiểu đoàn.
Có lẽ đám chỉ huy Việt Cộng nóng lòng bởi đã khai pháo, đạn và người áp đảo, nắm yếu tố bất ngờ mà vẫn không tích sự, bèn khai triển ngay mặt đã dự trù là tấn công chính diện. Loạt đầu, cả trung đội VC từ hướng Nam chạy tràn trên mặt đường, vừa bắn vừa hô “xung phong” vang dậy mong cướp tinh thần những người lính cố thủ. Bọn chúng muốn tràn mặt chính nơi cổng chánh, mở đường cho đại đơn vị ập vào làm cỏ một tiểu đoàn trừ với khoảng 200 quân số. Và chắc chắn chúng không ngờ một đại đội đã chuyển quân khi lợi dụng bóng đêm, hai cán bộ điều nghiên của chúng đã… “nhậu say” ngủ ở bụi nào. Hơn nữa, từ đầu trận chúng tôi hoàn toàn im tiếng nên…
Tiếng chân chạy rầm rập trên đường, từng loạt AK chỉ thiên, những tiếng hô thét để… hù thiên hạ. Những mục tiêu di động quá gần, cách họng súng của chúng tôi không đầy 5 thước. Từng loạt đạn vút ra, tiếng đạn cắm vào người xừng xựt, nhứt là những viên đạn tiểu liên đầu tròn 11 ly 45 bay đập vào người nghe bịnh bịch. Toàn bộ đám tiên phong bật người ngã lăn, nằm lỳ trên đường… chẳng thèm ngồi dậy.
Đây có lẽ là lần đầu tiên của hầu hết những chiến sĩ biết đích thân mình giết được bao nhiêu địch. Vì quá cận kề, vì cấp chỉ huy của họ không hề tính là sẽ bị bắn xuyên hông. Háo thắng, u mê là điều tối kỵ. Và cuộc chạm súng vừa rồi chắc họ không hay. Bởi súng ống của họ do khối cộng sản quốc tế tận tình trang bị quá tối tân, nổ loạn cả một khung trời trong khi vũ khí trên tay bọn tôi lạch bạch như là những viên pháo tép trong nồi pháo đại. Họ không nghe và không biết gì hết!
Sau những loạt pháo binh từ sư đoàn rải xuống xung quanh ngoài vòng đai phòng thủ, mấy chiếc trực trăng đã lên vùng. Khi những trái hỏa châu lập lòe vừa tắt, một chiếc trực thăng pha đèn sáng rực xuống trận địa và hai chiếc võ trang bay vòng khạc đạn xuống những đám Việt Cộng đang chạy tán loạn trên đồng. Những tên chỉ huy của Việt Cộng thấy không ổn, cần phải tiếp cận để tránh phi pháo nên những đợt xung phong được thúc đẩy. Thêm những con thiêu thân tiến chạy trên đường.
– Tango 1… đây Charlie.
Máy hệ thống nội bộ kêu lên. Giới chức của Trung 2 đang gọi Trung 1.
– Nghe Charlie.
Trung Đội Trưởng Tú vừa lên tiếng thì giọng Chương vừa thật vừa tếu:
– Ê, Tango 1 nhường sân bớt đi chớ. Chiến lợi phẩm một mình đâu được. Bên nầy buồn ngủ thấy mẹ!
Đang đánh nhau mà thế đó. Lính mà! Hơn nữa hai trung đội trưởng nầy rất thân và về đại đội nầy trước tôi khá lâu. Tú cũng là một tay lão luyện chiến trường, cười bảo:
– Charlie đừng nóng. Hổng mất phần đâu.
– ……
Một lần nữa, đợt xung phong thứ hai của VC bị chúng tôi đốn sạch. Vừa thanh toán xong đợt nầy, Trung Đội 1 được lịnh tràn lên vừa thu lượm vũ khí, vừa bám luôn bên kia đường. Trung Đội 2 của Chương trám tuyến. Kịp thời hai cánh đánh bật đợt xung phong thứ ba trên đường lộ muốn tiến vào cổng trường để khuấy động từ trong. Tất cả mưu đồ của bọn chúng đều thất bại. Chúng tôi căng quân, lập phòng tuyến ngăn trên đường.
Ông đại đội trưởng của tôi đã đi sát với hai trung đội trước, sau khi căn dặn tôi điều chỉnh cho chính xác, yểm trợ theo phương cách ổng đã tận tình hướng dẫn trong những lúc đầu. Ổng là thế đó! Luôn luôn ở tuyến đầu với anh em, cùng đương đầu gánh chịu những hiểm nguy với anh em. Có nghe nói ổng từ là thủ khoa về pháo hay điều không tiền tuyến gì đó nên chấm tọa độ hay gọi yểm trợ thì sát nhíp, hết sẩy. Và đó là lý do tại sao tất cả đại đội luôn chết sống cùng ổng.
Cách điều quân đánh giặc của ông đại đội trưởng làm tôi nhớ đến một điều trong những cuốn sách viết về chiến tranh. Quân đội Do Thái có sự tự hào về mệnh lệnh của họ khác với hầu hết những quân đội khác trên thế giới. Đó là “Theo Tôi” chứ không phải “Đàng Trước… Tiến.” Ông trung úy nầy luôn đi trước và anh em sẵn sàng “Theo… ông.” Hai trung đội đã qua lộ bắt đầu tiến sau những tràng đạn 60 cơ hữu bắn phá mở đường, trong khi hai thằng mặt rỗ vẫn yên vị để phòng thủ mặt sau sợ bị đánh úp.
Hai khẩu 60 ly của tôi có tật khi khai quả là hàng loạt, mỗi loạt không dưới 10 trái và liên tục. Chính vì thế nên thường bị ông Đại Bàng chửi cái thằng Bù “ăn cối” còn hơn ăn gỏi. Lính bên trong đã liên lạc nên biết có tụi tôi phía trước, họ cảm thấy an toàn. Chúng tôi vừa lập tuyến, vừa gom súng địch trong khi tiếng đạn vẫn vi vút bên trên. Tất cả nằm rạp khi ánh hỏa châu bùng sáng, súng quay về hướng địch phòng bọn chúng lại tấn công, và lui sát tường rào khi trực thăng vào vùng bắn đuổi địch lùi xa.
“Tốc”… Ầm! “Tốc”… Ầm!
Tú say sưa, tra đạn M.79 và bắn liền tù tì. Thẩm quyền tới sát bảo:
– Em xài “hột gà” dữ vậy. Coi chừng hết đạn.
Không xoay đầu lại, Tú đăm đăm phía trước, cười nói:
– Đã lắm anh Hai… anh Hai coi nè…
Vừa nói, Tú hơi nâng khẩu phóng lựu M.79 hướng về đám chà cây, bóp cò. Một chớp nháng lửa kéo theo sau là tiếng nổ của trái đạm chạm đích. Những thân người bung ra, bật nghiêng bật ngửa. Phải công nhận là bọn cán binh Cộng Sản Bắc Việt rất gan lỳ… bị bắn là nằm… lỳ luôn, hổng chạy.
Chiếc trực thăng rọi đèn nhiều khi đứng sững, pha những chỗ có địch để hai chiếc kia tắt đèn, bay vòng bắn hạ. Biết cái ác quái là chiếc trực thăng pha đèn nên cây phòng không của Việt Cộng bắt đầu xuất chiến. Từng loạt đạn phóng lên thẳng vào bụng trực thăng nháng lửa từng hồi khiến chúng tôi âu lo nó bị rớt, nhưng… trực thăng vẫn đứng yên, vẫn rọi để chỉ điểm xạ kích.
Từ chỗ đóng quân, bên nầy đường nên chúng tôi thấy rõ nơi xuất phát của khẩu phòng không. Nó ở khoảng dãy đất cao với đường rầy xe lửa. Lấy xạ biểu, gióng hướng và khoảng cách theo tọa độ mà ông trung úy đã chấm. Khi mấy chiếc trực thăng vừa rời vùng là tôi cho hai ông già 60 “ho” liên hồi. Đạn đã trúng đích, ngôi nhà tranh trên kia nơi khẩu phòng không ém đặt bị bốc cháy. Lửa sáng cho chúng tôi dễ dàng thấy qua ống dòm 6×30, những bóng người nhốn nháo trì kéo dường như là khẩu cao xạ. Khoái quá!
Trung Úy Tín bốc máy ra lịnh cho một trung đội càng lên, vượt qua những chướng ngại, lên mãng đồi thấp để tóm lấy khẩu phòng không kia, nhưng Đại Bàng Ninh thì lại tính… chắc ăn, lấy lý do đại đội nhiều chiến công mà không thằng nào bị mẻ xước chút nào nên phải giữ quân. Đại Úy Ninh cầm máy của Trung Đội Nặng ra lịnh không được xông tới. Thế thì… xìu! Quân đội mà! Muốn đớp cây phòng không nhưng… chịu thôi.
Trời đã tờ mờ. Trung đội tác chiến cuối cùng cũng đã “sang sông” tăng cường cho hai trung đội trước. Chỉ có đại đội chúng tôi ở ngoài tường rào của hai trường học. Lập một vòng đai cho BCH Tiểu Đoàn và hai đại đội bên trong. Chúng tôi đã thuận lợi hơn. Việt Cộng không còn khả năng tấn sát với ý đồ “thế cài răng lược” hoặc xáp lá cà để không bị phi pháo. Thêm mấy lần điên cuồng xua quân để nướng, bị nướng bởi ba màn lửa: của chúng tôi tầm ngang; của hai đại đội kia từ trên bắn thẳng; và của “mưa pháo” do hai khẩu súng cối 60 ly tụi tôi liên tục rót đạn chéo ô vuông cày nát từng thửa ruộng bung đầy gốc rạ cùng với xác thù.
Tới đây, tôi không thể nhắc đến một người. Ông Trung Sĩ I Thôn. Ông là người lính kỳ cựu, trước kia là hạ sĩ quan ngành Quân Vận và đã được giải ngũ khi mãn hạn. Trong nhu cầu đất nước chiến tranh, Trung Sĩ Thôn tái ngũ rồi sau đó được thăng cấp trung sĩ I. Ông giữ nhiệm vụ HSQ Tiếp Tế Đại Đội. Anh em thường gọi ông là Anh Ba. Dù ở hậu cứ, ông luôn quan tâm đến Đại Đội. Khi đại đội, tiểu đoàn đụng trận bất cứ ở đâu, ông đều chạy vào khu truyền tin của hậu cứ Tiểu Đoàn để nghe ngóng theo dõi tình hình. Khi nghe các máy trao đổi, ông biết thằng Bù “ăn nhiều” gần cạn “bánh mì” nên rất nóng ruột.
Chạy về hậu cứ đại đội cũng gần bên, ra lệnh cho kho tiếp liệu chất đạn nhứt là các thùng đạn cối, M.79 lên nửa chiếc dodge. Bao nhiêu người ngăn cản nhưng anh Ba nhứt quyết lái đi. Anh “liều” nhưng trong tính toán không liều. Từ hậu cứ Phú Văn xuống nơi chiến trận chẳng xa xôi. Nghe máy, anh đoán biết Việt Cộng không thể có ở mặt bắc vì sợ lực lượng của cả ba hậu cứ trung đoàn, còn thêm Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh đóng ở Gò Đậu, còn sư đoàn ở Phú Lợi tăng viện, và tình hình địch… không còn khả năng bung quân. Sau khi hậu cứ Trung Đoàn báo máy cho các toán kích trên quốc lộ, cùng đích thân anh Ba gọi máy báo đại đội rồi pha đèn phóng xe chạy như giông. Dọc đường, nếu có du kích lẻ tẻ thấy xe nhà binh đèn sáng rực thì chắc cũng… “chém vè.”
Biết rành vị trí, anh Ba Thôn một mạch tới nơi. Quẹo cúp vào sân nhà, ông nhảy phốc xuống hét lính mang đạn xuống xe ngay để sử dụng. Tướng người có bụng vậy mà anh lanh lẹ vô cùng, tay xách cây carbine M2 phóng ra tuyến quân, kề cận bên đại đội trưởng. Nghe hai khẩu 60 gia tăng mức độ “cường pháo”, anh Ba vô cùng thích thú.
Hoa nở rồi tàn. Trận chiến khốc liệt rồi cũng còn lác đác bởi địch lui dần. Đại đội chúng tôi bên ngoài cũng không buồn truy đuổi vì quân số ít ỏi. Vàng vọt những tia sáng đầu tiên hơi rựng trên những hàng cây cau cao vút ở chân trời. Lúc nầy, chúng tôi mới cảm thấy thấm mệt.
Thu gom vũ khí, xác Cộng quân xếp dọc lề đường. Đúng 47 tên. Nhìn những thân xác vô tri mà lòng buồn vô hạn. Mộng xâm lăng của cộng sản quốc tế giao cho giặc Hồ làm những tên xung kích bấy lâu tạo biết bao cảnh chết chóc, nhà tan cửa nát, lương dân khốn khổ trăm bề! Giờ đây nhìn bao xác thân của những chú “Sinh Bắc Tử Nam” bó mình trong những bộ ka-ki màu lá mạ nằm bất động, dù nét mặt xám xanh nhưng vẫn thấy rõ họ còn quá trẻ. Những người lính của tôi, lục ví (bóp) của các bộ đội Bắc Việt, đưa cho xem những tấm hình tí xíu, cỡ khoảng 2×2, đa số là một bà mẹ Miền Bắc với vòng khăn đen trên đầu đứng giữa một lũ con nít lô nhô. Tôi muốn tìm xem chú nào ở trong hình nào nhưng tinh thần đã quá nhiều giao động. Bản tính của những người lính Miền Nam!
https://c1.staticflickr.com/1/750/22201798740_c2aa22cdb6_b.jpg
Mặt trời đã lên, một số đơn vị nhỏ rải bung để quan sát chiến trường. Họ không thể tìm thêm vũ khí nhưng mang về một số cây tre dài đã vạt nhánh, cứ mỗi mắt tre có thắt một đoạn dây thừng và đầu dây là một móc sắt dùng để kéo xác nhưng bị pháo nà quá đành bỏ… cây chạy lấy người. Nhìn lại những xác trên đường, ngoài sợi nịt màu nâu với đầu nịt đồng khắc hình ngôi sao, tên bộ đội nào cũng thắt quanh bụng một sợi mây để xác dễ dàng được móc kéo đi tẩu tán.
(47 xác Vi-Xi nầy được chúng tôi huy động dân chúng đào một hố to ở bìa rào của trường Nông Lâm Súc, đối diện xéo trên bên kia đường để chôn cất. Sau năm 1975, và sau khi tôi ra tù về, nghe nói nơi đó bọn Việt Cộng cho xây một đài “liệt sĩ” để những tên cán binh xấu số “ngậm cười” nhìn thành quả cướp bóc, cho dân lành khốn khổ; cho
thiếu nữ VN bán ra nước ngoài; cho thanh niên VN đi làm nô lệ chịu muôn ngàn đắng cay, bị đánh đập đọa đày bởi những chủ nhân ông ngoại quốc; và nhìn những tên cán binh “tốt số” trong những ngôi nhà mới nguy nga, đô-la đầy đống chuyển ngân tẩu tán, được sự bảo kê của quan thầy sau màn cắt đất dâng biển VN cho đàn anh Trung Cộng “vĩ đại” đã có công tiếp trợ vũ khí tận răng để xâm chiếm Miền Nam Việt Nam.)
Vũ khí chất đống. Đạn dược, những cây AK.47, B.41 báng gỗ đỏ au, trung liên nồi của Trung Cộng,… Tất cả đều mới. Chỉ trừ những cây B.40 thân nhỏ như cây gỗ tròn, nhìn thấy bộ cò với loa phụt lửa màu đen mới biết là cây súng. Trong đống chiến lợi phẩm được sắp xếp, có thêm những vũ khí mà mấy anh lính bịnh và hỏa đầu vụ đã lập công đầu.
Kể ra địch cũng điều nghiên khá kỹ, ngoài hai mặt tấn công, bọn chúng dựa vào yếu tố bất ngờ ở chỗ mà quân đội Quốc Gia lơ là. Đó là hai dãy nhà cầu đâu lưng của hai trường ở phía sau. Một tiểu đội đặc công VC đã bò vào nơi đó mà chẳng ai hay. Khi B.40 hay 41 gì đó bắn lên lầu nơi ở của Ban Chỉ Huy Tiểu Đoàn thì cũng là pháo lịnh cho chúng hành động. Bọn chúng bung ra bắn phá, tạo rối loạn ở tuyến trong cũng như phá tường rào cho đại quân tràn ngập. Đám bộ đội đó không dè khi chúng xuất hiện thì những khẩu carbine của Hạ Sĩ Khiết và Binh I Nghiệp, hỏa đầu quân, và Garant M1 của ba bịnh binh nấp sau các bao gạo trong nhà xe bắn hạ không sót một tên.
https://c1.staticflickr.com/3/2761/4345771248_d183ab5ba7_z.jpg?zz=1
Không sót người nhưng… còn sót súng. Khi Thiếu Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lịnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, đến quan sát mặt trận, xem thành quả trận chiến và thăm hỏi anh em chiến sĩ, thì trung đội tùy tùng đi theo giữ an ninh đi vòng và “lượm” thêm hai khẩu B.40 nằm trong rãnh nước hông tường. Thiệt tình là tụi tôi chịu thua nếu khẩu B.40 chỉ ló phần đầu. Trông cứ như một khúc cây khô tròn lăn lóc dưới mương thôi. Cũng may là công trạng của thằng Bù khá lớn nếu không thì ông Đại Bàng Ninh sẽ cạo xát da.
https://c2.staticflickr.com/6/5802/22201769610_72b1121374_c.jpg
Đơn vị không thiệt hại gì nhiều. Bên Chỉ Huy chỉ có một HSQ Mỹ tử trận khi nằm mở đèn đọc báo, một cố vấn và tiểu đoàn trưởng bị thương nhẹ vì miểng. Đại Đội 11 có 2 binh sĩ… đi phép dài hạn. Do đó, không trách Trung Úy Chờ, đại đội trưởng, cáu sườn gặp mấy đứa tôi là mắng:
– Mấy thằng Mười tụi mầy vừa đánh giặc vừa ăn cướp. Mấy thằng Việt Cộng trước tuyến là tụi tao bắn. Lính tao chết hai thằng, mà… mà vũ khí tụi mầy thâu hết trơn.
Thông cảm ổng buồn nên chửi một chút cũng chẳng sao. Tôi kéo mấy thằng Quân Báo đi chỗ khác tránh mặt. Thằng Long cứ cằn nhằn:
– Mình trám tuyến giữ mặt ngoài cho ổng. Không cám ơn mà còn chửi.
Tôi kéo tay nó:
– Thôi, ổng buồn. Kệ ổng. Chút trưa, Thẩm Quyền sẽ kéo ra chợ Bún bao tụi mình một chầu bánh bèo bì.
Cả đám cười ha-hả, đi lại coi hai thằng già VC điều nghiên. May phước là Việt Cộng đánh mặt sau nếu không thì thân hình hai chả sẽ như cái rổ xảo. Hai cha còn sống nhăn và… nhăn thiệt, mặt mày xanh lè vì thoát chết, đang được giao cho Phòng 2 Sư Đoàn đem về Phú Lợi…
***
Tên cán bộ xưng là đại úy từ Hà Nội vào Saigon, móc tôi từ khu tử hình để điều tra. Đây là người thứ nhì bảo ở trung ương. Đại Úy Luyến – tên của hắn – cho biết hắn là em ruột của Trần Quốc Hoàn, một thời làm bộ trưởng ngoài Bắc, thuộc ngành Phản Gián, tra hỏi tôi lung tung nhưng hình như không khá. Chừng theo hồ sơ cá nhân, hắn hỏi tôi về đơn vị mà tôi từng phục vụ. Đó là Tiểu Đoàn 3/7 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh.
Ban đầu, tôi ngạc nhiên về cách thức điều tra của hắn. Hắn bảo tôi đừng chối vì cùng… nghề, nhưng không cùng chí hướng. Nhưng cả buổi cũng chẳng đâu vào đâu. Trước kia, cả đống tên gồm một “đồng nghiệp” báo chí Huỳnh Bá Thành, vẽ hiệu Họa sĩ Ớt, lộ nguyên hình một tên thiếu tá VC cùng với hai tên xưng là trưởng phòng Bảo Vệ Chính Trị 1 và 2, hai tên chấp pháp nhãi con vì tụi nó cũng là sinh viên Luật nhưng thuộc hậu sinh… khả ố quá xa, cả năm tên vây điều tra, hỏi han chận đầu túi bụi mà chưa thấy gì, huống hồ… rồi hỏi về tiểu đoàn, mời thuốc và chăm chú nghe kể về trận đánh đầu năm tại Bún hồi Tết Mậu Thân. Tôi kể đúng, kể thật với một sự thích thú. Cuối cùng, hắn buột miệng:
– Tôi suýt chết trong trận đó!
Ngạc nhiên, tôi hỏi:
– Cán bộ nói đi trong ngành, sao lại dính trong đó?
Mời tiếp tôi điếu thuốc, Đại Úy Luyến mơ màng:
– Tôi có công tác của tôi. Tôi cũng suýt chết ở khu Bình Lợi. Sư đoàn tụi tôi thiệt hại nặng, lần lượt rút về khu. Nhưng khi qua khu vực đó, chúng tôi còn khoảng trung đoàn và thấy chắc ăn khi thấy mấy anh đồn đống lơ lỏng. Phải phục hận! Bộ phận điều nghiên và phương án kỹ càng… nhưng… Giờ thì chắc anh biết tại sao tôi hỏi cặn kẽ việc nầy. Nghĩ không thể thua, mà bị…
– Không ngờ tụi tôi chuyển đội hình à?
– Thế mới bị… Nếu mấy anh truy đuổi khi chúng tôi chạy ra khỏi căn nhà bị cháy thì tôi và ông Tướng Trần Độ chỉ huy hoặc chết, hoặc bị mấy anh bắt rồi. Cũng chết thôi!
– Ủa. Trận đó Trần Độ chỉ huy à?
Sự ngạc nhiên của tôi cũng làm hắn kinh ngạc:
– Bên anh không biết trận đánh đó do Tướng Trần Độ chỉ huy à?
Tôi lắc đầu, hoàn toàn không biết. Tên cán bộ Trung ương lững thững đứng lên, đưa tay bắt (lịch sự) và trầm trầm:
– Cán bộ trại giam sẽ đưa anh về chỗ. Cảm ơn anh đã giải tỏa cho tôi một thắc mắc lớn hơn mười năm qua. Một lần nữa, cảm ơn.
Buồn cười thật, tôi nói:
– Nhưng đến nay là mấy cán bộ đã thắng…
Hắn lừng khừng, lắc đầu, miệng lẩm bẩm:
– Thắng… Bại…
Và lủi đi khi nháng thấy tên cán bộ trại giam đã tới khúc quẹo của hành lang.
Lê Tường Vũ