Showing posts with label nguyễn hữu chế. Show all posts
Showing posts with label nguyễn hữu chế. Show all posts

Monday, October 3, 2022

 Buổi chiều cuối cùng


Bảo Định

 


 

Bây giờ là 6 giờ chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975. Đó là buổi chiều cuối cùng tôi còn là lính. Tôi được gọi lên gặp Hằng Minh (danh hiệu truyền tin của Tướng Tư lệnh Sư đoàn).


Trước buổi trưa, chiến tuyến cuối cùng của VNCH là Trảng Bom (Biên Hòa). Lúc này Long Bình đã là địa đầu chiến tuyến. Trước ngày 16.4, quân ta còn đánh nhau với quân CSBV tại Phan Rang. Thời gian càng dài ra thì chiến tuyến càng thu ngắn lại. Sau đó là Bình Thuận, Bình Tuy, rồi Xuân Lộc. Quân và dân Xuân Lộc đã anh dũng chiến đấu suốt 12 ngày đêm, với quân số tương đương một sư đoàn, đã chống đở thắng lợi 4 sư đoàn quân CSBV, đã tạo nên chiến tích thần kỳ. Nhưng cuối cùng Xuân Lộc cũng bị bỏ ngỏ vào đêm 20 rạng ngày 21.4. Lực lượng trấn thủ được lệnh lui binh về Biên Hòa lập phòng tuyến mới để bảo vệ Biên Hòa và Thủ đô Sài Gòn.


Vào lúc quá trưa, cộng quân bắt đầu pháo kích kho đạn Long Bình. Những tiếng nổ long trời lở đất, khói đen bốc lên ngùn ngụt, cao tận mây xanh. Từ buổi sáng, phòng tuyến Trảng Bom đã vỡ. Một Tiểu đoàn của Trung đoàn 43BB bị địch quân đông gấp bội, với chiến xa trợ chiến, đã tràn ngập vị trí. Vị Tiểu đoàn trưởng được ghi nhận mất tích. Mất Trảng Bom, chiến tuyến cuối cùng của VNCH là Long Bình.


Tôi dời Bộ chỉ huy Tiểu đoàn vào bên trong căn cứ, đặt tạm tại văn phòng của Ban chỉ huy Đại đội Quân Cảnh Sư đoàn.


Khi Tiểu đoàn xuống núi (Núi Thị) để hành quân triệt thoái khỏi Xuân Lộc, quân số khá đầy đủ, với hơn 500 tay súng. Nhưng vì là đơn vị sau cùng triệt thoái khỏi mặt trận, một mình đơn độc, không có không quân và pháo binh yểm trợ, đạn dược thiếu hụt, lại bị Sư đoàn 341/CSBV truy đuổi liên tục trong khu rừng rậm, từ lâu vốn là căn cứ địa của VC, nên đã bị hao hụt rất nhiều. Vì lẽ đó, lần đầu tiên đơn vị được giao một nhiệm vụ khá nhẹ nhàng là bảo vệ Bộ Tư lệnh Sư đoàn, trong lúc các tiểu đoàn bạn phải lên tuyến đầu chống chọi với cộng quân tại chiến tuyến Trảng Bom.


Lối 9 giờ sáng, Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Vùng 3 Chiến thuật bay trực thăng đến BTL/SĐ để gặp Tư lệnh các đại đơn vị: SĐ5, SĐ18, SĐ25, và Lữ đoàn 3 Xung kích. Nhưng hiện diện chỉ có hai tướng là Lê Minh Đảo, TL/SĐ18BB và Trần Quang Khôi, TL/LĐ3XK. Lúc này BTL/QĐ đã di chuyển về Sài Gòn. Sau cuộc họp mặt chớp nhoáng để ban chỉ thị giữ Biên Hòa, Tướng Toàn vội vả bay đi mà không bao giờ trở lại. Có lẽ đây là những chỉ thị cuối cùng trong tư cách là Tướng Tư lệnh Quân đoàn. Theo “Những Sự Thật Chiến Tranh Việt Nam 1954 – 1975” của các tác giả Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Đại tá Lê bá Khiếu, và Tiến sĩ Nguyễn Văn, thì vào một ngày của tháng 3.1975, Quân đoàn III được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, nghiên cứu bãi đổ bộ tại Phước Tuy cho hai Sư đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ khi hữu sự. Khi Tướng Dương Văn Minh nhậm chức Tổng Thống chiều ngày 28.4.1975, bận lo tổ chức nội các, lo hòa giải và hòa hợp với cộng sản, Tướng Toàn tìm mọi cách liên lạc với giới chức có thẩm quyền về việc liệu có việc đổ bộ của hai Sư đoàn TQLC Hoa Kỳ? Nhưng không gặp được ai. Sau khi họp mặt và ban lệnh cho hai Tướng Đảo và Khôi tại Long Bình là phải giữ Biên Hòa , Tướng Toàn bay về Gò Vấp. Sau đó bay ra Soái hạm Blue Ridge của Đệ Thất Hạm đội Mỹ, để yêu cầu xác nhận. Nhưng đó chỉ là “quả lừa.”


Cũng buổi sáng ngày 29.4, lối 8 giờ, trong lúc các đơn vị QLVNCH trên khắp các mặt trận, Sư đoàn 5 tại Lai Khê, Sư đoàn 25 tại Củ Chi, Sư đoàn 18 tại Biên Hòa, Sư đoàn 22 tại Bến Lức, và tại Vùng 4, quân sĩ của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam với các Sư đoàn 7, 9 và 21, đang anh dũng chiến đấu với quân thù, thì cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đã bay ra Hạm đội 7 bằng trực thăng riêng Huey của mình. Trước khi bay đi, Tướng Kỳ ghé lại Bộ Tổng Tham Mưu, tình cờ gặp Trung tướng Ngô Quang Trưởng, và rủ rê cùng đi. Có nguồn tin cho rằng Tướng Kỳ mời Tướng Trưởng bay về Miền Tây gặp Tướng Nam để bàn chuyện cứu nước. Nhưng trực thăng đã trực chỉ ra biển đông. Được biết quân sĩ tại Vùng 4 đã tiếp tục chiến đấu với quân thù, dù có lệnh buông súng của Dương Văn Minh. Họ chỉ buông súng tan hàng sau khi nghe tin các Tướng chỉ huy của họ là Trần Văn Hai (TL/SĐ7BB), Lê Văn Hưng (TLP/QĐ), và Nguyễn Khoa Nam (TL/QĐ) tuẩn tiết. Buổi chiều ngày 28.4, tại xứ Tân Sa Châu thuộc quân Tân Bình, Tướng Kỳ nói chuyện với những người Bắc Kỳ Di cư, những người đã một lần năm 1954, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ ruộng vườn, bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, trốn chạy cộng sản vào Nam. Tướng Kỳ hô hào đoàn kết, cùng nhau chiến đấu chống bọn CSBV xâm lược. Khi nghe Tướng Kỳ tâm sự rằng ông sẽ ở lại chiến đấu cùng đồng bào đến giọt máu cuối cùng, ai ai cũng nức lòng. Ông còn khôi hài rằng qua Mỹ sẽ không có “mắm tôm để ăn”. Đồng bào đã hoan hô Tướng Kỳ hết mình. Một hy vọng mong manh đang nhen nhúm! Hay nói như cách nói qua lời của một bài hát: “Có Tin Vui Giữa Mùa Tuyệt Vọng”.


Sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, bàn giao lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương, Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng BTTM/QLVNCH cũng đệ đơn lên Tổng Thống Tân nhiệm xin nghỉ việc. Nhưng Tổng Thống Huơng vẫn lưu nhiệm, và ông chỉ ký Sắc lệnh giải nhiệm Đại tướng Viên trước khi bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Tướng Dương Văn Minh. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng BTTM kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận được cử thay thế. Nhưng Tướng Khuyên cũng rời bỏ nhiệm sở buổi trưa ngày 29.4. Các Tướng có chức có quyền bắt đầu rời bỏ nhiệm sở, tìm cách trốn chạy trước khi quân CSBV vào đến Sài Gòn. Lúc đó tại Sài Gòn, vị sĩ quan cao cấp nhất và thâm niên là Trung tướng Vĩnh Lộc, liền được Tổng thống Dương Văn Minh mời giữ chức TTMT đang bỏ trống. Đồng thời cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (sau này được biết Hạnh đã bị VC móc nối) được gọi tái ngũ, giữ chức Phụ tá TTMT cho Tướng Vĩnh Lộc. Vừa nhận chức TTMT, Tướng Vĩnh Lộc triệu tập cuộc họp tại Bộ TTM, yêu cầu “mọi người đừng bỏ đi, hãy ở lại để làm việc với tất cả trách nhiệm”. Tướng Vĩnh Lộc điện thoại về Vùng 4, nói chuyện với Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, bàn kế hoạch đưa Chính phủ hoặc những nhân vật đầu não về Miền Tây. Dưới quyền của Tướng Nam, còn nguyên vẹn các Sư đoàn 7, 9, 21, Không Quân, Hải Quân, lực luợng ĐPQ và NQ. Tướng Lộc liên lạc với Tư lệnh Không Quân và Tư lệnh Hải Quân cùng lên đài Truyền hình, nhưng không thực hiện được. Trong cố gắng cuối cùng, ông ban Nhật lệnh kêu gọi quân sĩ tiếp tục chiến đấu, miệt thị đám tướng lãnh và sĩ quan bỏ ngũ, rời nhiệm sở là “những con chuộc nhắt!” Nhưng lối 6 giờ sáng ngày 30.4, cùng với Trung tướng Trần Văn Trung, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Chiến tranh Chính trị, cũng đã tìm đường di tản, cũng làm “những con chuột nhắt”.


Lúc tôi đến căn phòng nhỏ nằm sát đàng sau Văn phòng Tư lệnh, Tướng Đảo đang dùng cơm chiều. Ông ngồi đó, cô đơn, ăn cơm một mình. Một Trung úy Pilot ngồi cạnh đang đọc báo. Các vị Đại tá, gồm Nguyễn Văn Mai, TLP/SĐ, Huỳnh Thao Lược, TMT/SĐ, Hứa Yến Lến, TMP/HQ & TV, Dương Phún Sáng, Chánh Thanh Tra, đều đứng. Không ai nói gì, chỉ im lặng. Không khí trầm lắng. Có lẽ các vị vừa họp bàn xong. Đâu ngờ đây là cuộc họp cuối cùng của các vị. Trên khuôn mặt, ai ai đều mang nặng nét ưu tư. Một lúc sau, các vị đều rời khỏi phòng đi đâu đó. Giờ đây chỉ còn lại Tướng Đảo, viên Phi công trực thăng và tôi. Ông mời tôi dùng cơm. Tôi từ chối. Ông khui chai rượu Tây mời uống. Khui hộp bánh Lubico mời ăn. Tôi hỏi khẻ vị Trung úy:


- “Chỉ một mình anh thôi sao?”


- “Vâng, ông Tướng có thể làm co-pilot.”


Tướng Tư lệnh hỏi han tình hình của đơn vị, nhất là tinh thần quân sĩ. Tôi cứ tình thật trình bày. Sau cuộc triệt thoái khỏi Xuân Lộc, là đơn vị rút ra cuối cùng, phải đơn độc chiến đấu không có không quân và pháo binh yểm trợ, phải chống chỏi trước một lực lượng địch đông gấp bội, bị thiệt hại nhiều, tinh thần căn thẳng, thể xác rã rời, chưa lấy lại sức. Thật ra những người lính của tôi đã chịu đựng quá nhiều. Là một trong những đơn vị có thành tích chiến đấu dũng mãnh trong Sư đoàn, nhiều lần Tiểu đoàn tôi đã nhận lãnh những nhiệm vụ khá nặng nề, và luôn luôn đã hoàn thành xuất sắc. Vì lẽ đó, con số thương vong thường cao. Nhưng người lính QLVNCH vẫn “xem Thái sơn nhẹ tựa hồng mao!” Vào những ngày như những ngày hôm nay, những ngày của giờ thứ 25 cuộc chiến, đơn vị nằm sát đuờng Quốc lộ, chứng kiến hàng đoàn người dân di tản, và tin tức lan truyền từ Sài Gòn, rằng đã có nhiều người bỏ nước ra đi, trong đó không ít các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp. Con đường QL1 từ Kẻ Sặt đến cầu Đồng Nai, đi ngang qua BTL/SĐBB từ mấy ngày qua trở nên chật hẹp. Người nguời gồng gánh, xe ba-gác, xe lam, xe ngựa, xe trâu, xe bò, và xe vận tải, chất đầy người và hành lý, vội vàng xuôi về Sài Gòn. Hình như Sài Gòn là nơi mà mọi người dân tị nạn chiến cuộc có thể nương náu an toàn. Tình hình xáo động. Người lính chiến từ nhiều tháng nay không có tin tức gì về gia đình. Nhưng “Việc công là trọng, niềm tây sá nào”. Quân sĩ của tôi, hầu hết vẫn ở lại chiến đấu. Tinh thần không nao núng! Dù là chiến đấu một cách vô vọng! Họ ở lại, bởi vì các cấp chỉ huy trực tiếp của họ vẫn còn ở lại. Yếu tố quan trọng nhất, vị anh cả của họ, Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo vẫn còn ở lại. Buổi chiều trong cuộc họp tại Bộ Tư lệnh, tôi là sĩ quan tác chiến, không phải tham mưu nên không tham dự, chỉ nghe kể lại, rằng ông Tướng đã khẳng định cùng thuộc cấp, rằng ông sẽ không đi đâu cả, rằng ông sẽ ở lại chiến đấu sát cánh cùng anh em. Vợ con ông cũng ở lại, gia đình ông không ai bỏ đi.


Ông khuyên tôi cố gắng giữ Long Bình. Nếu giữ được Long Bình thì Long Bình là của mình! Ông nói: “Một Phái đoàn của Chính phủ do Giáo sư Bùi Tường Huân, Bộ trưởng Quốc Phòng của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đã đi gặp đối phương tại một nơi nào đó trên xa lộ Đại Hàn, để bàn chuyện ngưng bắn “da beo”. Sau này được biết, Phái đoàn của Bùi Tường Huân đã bị cộng quân giữ lại, bị bắt làm con tin. Dương Văn Minh bị lừa. Nhà Sư Thích Trí Quang đã bị lừa. Để rồi cả Miền Nam bị lừa.


Ăn cơm xong, ông Tướng đến ngồi bên chiếc bàn nhỏ, có điện thoại bàn. Ông gọi vào Dinh Độc Lập xin gặp Đại tá Đẩu, Tùy viên của Tổng Thống. Nhưng người trả lời trong máy tự xưng là Trung tá, hình như tên Thọ, Phó Tùy viên. Trung tá Thọ cho biết, hiện Tổng Thống đang chủ tọa cuộc họp Nội Các. Tướng Đảo trình bày tổng quát tình hình, và xin lệnh Tổng Thống được đưa Sư đoàn 18BB về thiết lập tuyến phòng ngự bên bờ Nam sông Đồng Nai để ngăn chận địch từ hướng Đông. Phía Bắc và Tây Bắc có Sư đoàn 5 của Tướng Lê Nguyên Vỹ, và Sư đoàn 25 của Tướng Lý Tòng Bá, phía Nam có Sư đoàn 22 của Tướng Phan Đình Niệm. Với lực lượng phòng thủ như vậy, chúng ta có thể giữ được Sài Gòn. Cuộc điện đàm kết thúc với lời hứa của Trung tá Thọ, rằng sẽ trình lại với Tổng Thống và sẽ liên lạc với Tuớng Đảo cho biết quyết định. Được biết sau khi nhậm chức Tổng thống, Dương Văn Minh đã bổ nhiệm Trung tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham Mưu Trưởng, và cựu Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh (đã giải ngũ), làm Phụ tá TTMT. Nhưng Tướng Vĩnh Lộc vừa mới nhậm chức chưa hiểu rõ tình hình. Tướng Tư lệnh Quân đoàn thì đã bỏ nhiệm sở. Do đó Tướng Đảo phải làm việc trực tiếp với Dinh Độc Lập, vì Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh Tối Cao của QLVNCH.


Được biết, vào những ngày cuối cùng, Đại tướng Vanuxem của Pháp có mặt ở Sài Gòn, thường vào ra Dinh Độc lập. Chính vị tướng này đã khuyên Dương Văn Minh cố gắng để cho quân đội cầm cự thêm 48 tiếng đồng hồ thì sẽ có giải pháp chính trị có lợi cho VNCH. Theo Tướng Vanuxem, nếu có lời yêu cầu, quân Trung cộng sẽ tràn vào Bắc Việt, áp lực CSBV ngừng tấn công. Một giải pháp chính trị có lợi cho VNCH sẽ được thi hành. Nhưng Tổng Thống Dương Văn Minh đã từ chối. Ông chỉ tin Thầy Thích Trí Quang, là người môi giới để ông tiếp xúc và đàm phán với “người anh em phía bên kia”. Nhưng khi Phái đoàn đàm phán do Giáo sư Bùi Tường Huân (Bộ trưởng Quốc phòng) cầm đầu, ra xa lộ Đại Hàn gặp VC, thì bị VC giữ lại làm con tin. Sau nhiều lần thúc dục Thích Trí Quang không kết quả, Dương Văn Minh tuyệt vọng, đã than: “Thầy hại con rồi!”


Trở lại bàn ăn, Tướng Đảo cho biết, lối 12 giờ khuya nay, BTL/SĐ sẽ dời về Thủ Đức. Trung đoàn 43BB và Trung đoàn 52 vẫn ở lại Long Bình. Một lần nữa ông khuyên tôi cố gắng giữ cho được Long Bình. Tôi chỉ dám hứa là làm hết sức mình.


Gặp Tướng Tư lệnh xong, tôi lại được lệnh đi gặp Đại tá Trung đoàn trưởng Lê Xuân Hiếu. Đó là cuộc họp mặt cuối cùng, trong buổi chiều cuối cùng của tôi với các đơn vị trưởng bạn. Chỉ có hai Tiểu đoàn trưởng là tôi, 2/43, và Thiếu tá Nguyễn Văn Dư, 3/43. Tiểu đoàn trưởng 1/43 được ghi nhận là mất tích, trong một trận giao tranh ác liệt tại Trảng Bom sáng nay. Được biết Thiếu tá Dư bị bọn “cách mạng 30” dùng búa đánh chết tại nhà ở Vũng Tàu, sau ngày tan hàng 30.4. Sau khi nghe tôi trình bày chỉ thị tôi vừa nhận trực tiếp từ Tướng Tư lệnh, Đại tá Hiếu đưa ra hai kế họach:


1. Kế hoạch Alpha: Tiểu đoàn 2/43 thi hành theo chỉ thị nhận trực tiếp từ Tướng TL Lê Minh Đảo.


2. Kế hoạch Bravo: Tiểu đoàn 2/43 sẽ di chuyển qua bên kia sông Đồng Nai, lập tuyến phòng ngự từ cầu Đồng nai đến cầu Ghềnh, dọc theo bờ Nam con sông.


Đúng 12 giờ đêm, trực thăng Tư lệnh cất cánh. Tiếp theo sau đó là BTL với các phòng ban, cùng các đơn vị kỹ thuật và tiếp vận thuộc BTL bắt đầu di chuyển. Được biết, Tướng Đảo đã hoàn trả chiếc trực thăng về cho Sư đoàn 3/KQ. Ông đã di chuyển bộ cùng binh sĩ qua ngã cầu Ghềnh. Đây là lần thứ hai Tướng Tư lệnh đi bộ cùng binh sĩ khi triệt thoái. Lần thứ nhất là đêm 20 rạng ngày 21.4, Tướng Đảo đi bộ cùng binh sĩ trong cuộc triệt thoái khỏi Xuân Lộc về Bà Rịa. Đây là cuộc triệt thoái thành công nhất. Sự hiện diện của vị Tướng Tư lệnh, cùng di chuyển bộ với binh sĩ là yếu tố thiết yếu cho sự thành công. Một lần nữa, Tướng Đảo lại di chuyển bộ trên đường triệt thoái.


Lúc gần sáng, tôi nhận lệnh thi hành “Kế hoạch Bravo”. Đơn vị rời Long Bình, di chuyển qua hướng cầu Đồng Nai. Vài chiếc xe tăng địch xuất hiện. Chúng nổ súng một lúc, rồi lại trở lui. Đoàn quân tiếp tục di chuyển. Toán tiền phương đã đến cầu. Nhưng đơn vị bảo vệ cầu chận lại, không cho đi qua. Tôi phải cho lệnh đổi hướng qua ngã cầu Ghềnh. Khi toán quân cuối cùng qua khỏi cầu thì trời đã hừng sáng. Tôi gặp BCH Trung đoàn đang dừng chân trên đoạn đường dốc gần cầu. Theo kế hoạch đã định, Tiểu đoàn bắt đầu rải quân, thiết lập chiến tuyến. Tôi đặt BCH/Tiểu đoàn trong một khu vườn có vòng rào bao quanh. Đơn vị cuối cùng là Đại đội 2/2 của Đại úy Võ Văn Mười cũng bắt đầu rải quân. Nhưng nhìn về hướng cầu Đồng Nai, cách xa vài trăm mét, không tin vào mắt mình, xe tăng và xe chở quân CSBV đang di chuyển trên xa lộ. Chúng đã vượt qua cầu. Cây cầu vẫn còn đứng nguyên! Tại sao cây cầu không bị giật sập? Đơn vị bảo vệ cầu đã biến đi đâu? Tối hôm qua Tướng Đảo cho biết tất cả các cây cầu bắt qua sông Đồng Nai, gồm cầu Đồng Nai, cầu Ghềnh và cầu Mới đều đã được công binh đặt mìn. Cầu sẽ bị đánh sập, nếu cộng quân tiến qua cầu. Nhưng sự việc đã không xảy ra. Sau này được biết chính tên phản tướng Nguyễn Hữu Hạnh, với tư cách Quyền TTMT đã cấm không cho giựt sập cầu, để cho bộ đội CSBV thuận lợi tiến chiếm Sài Gòn. Đây là thành tích “dâng Bác và Đảng” mà tên Hạnh đã khoe trong một bài phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ cách đây vài năm, nhân dịp kỷ niệm “Đại thắng Mùa Xuân” của CSBV.


Một đoàn chiến xa quân CSBV, gồm T-54, PT-76, xen lẫn những chiếc Molotova chở đầy bộ đội đang di chuyển trên xa lộ hướng về Sài Gòn. Được biết đó là quân của Tướng Nguyễn Hữu An, Chỉ huy Quân đoàn 2/CSBV được lệnh đưa bộ đội của hắn, “hợp đồng” cùng 4 cánh quân khác, tiến nhanh về Sài Gòn. Theo kế hoạch ban đầu của “Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh”, quân của Tướng Hoàng Cầm, Chỉ huy Quân đoàn 4/CSBV sẽ tiến về Sài Gòn. Nhưng 12 ngày chạm trán Sư đoàn 18BB, Tiểu đoàn 82/BĐQ, Lữ đoàn 1 Dù, lực lượng ĐPQ và NQ Long Khánh, Quân đoàn 4/CSBV bị tử vong hơn 6 ngàn bộ đội, và 37 chiếc xe tăng bị phá hủy. Chỉ huy sở Sư 341 và các đơn vị “tập kết”, chuẩn bị tiến về Biên Hòa, bị hai trái bom BLU-82 đánh trúng, hơn 10 ngàn bộ đội bị loại ra khỏi vòng chiến, nên không còn khả năng tác chiến. Một sĩ quan bị bắt khi đơn vị bị quân CSBV tràn ngập, trong trận giao tranh ác liệt tại Trảng Bom buổi sáng ngày 29 cho biết:


“Khi bị áp giải đến gặp tên “Thủ trưởng E” (Trung đoàn trưởng), hắn nói: “May mà anh gặp chúng tôi. Nếu anh bị đơn vị kia bắt (ý hắn muốn nói các đơn vị thuộc Sư 341) thì đã bị giết ngay tại chỗ.”


Thấy còn vài chiếc lẹt đẹt chạy sau, tôi cho lệnh nổ súng. Lối 4 chiếc xe tăng dừng lại, quay nòng súng hướng về chúng tôi nổ súng. Những tràng đại liên 12.8 ly ào ào xối xả, nhưng không lâu. Rồi 4 chiếc xe đó lại quay đầu xe hướng về Sài Gòn, tiếp tục chạy. Chúng cố chạy nhanh cho kịp đoàn quân đang hung hăng hướng về Sài Gòn.


Tôi tự hỏi, nếu đơn vị giữ cầu Đồng Nai để cho Tiểu đoàn tôi qua cầu, nếu đơn vị tôi đã vào vị trí trước khi cộng quân qua cầu, nếu cầu Đồng Nai bị đánh sập thì chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng trang sử đã lật. Những trang sử oai hùng của quân và dân VNCH đang lùi dần vào dĩ vãng. Một trang sử mới đầy đau thương và nước mắt đang ghi lại biết bao nỗi ô nhục của người dân Việt do bọn cầm quyền ngu dốt ngự trị tại “Bắc Bộ Phủ” cam tâm làm tay sai cho giặc Tàu, kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc.


Buổi chiều cuối cùng kéo dài đến 11 giờ 30 trưa hôm sau, ngày 30.4. Tiếp theo là bóng đêm. Bóng đêm đã đổ ập xuống trời Nam. Đã 45 năm qua, hừng đông vẫn chưa ló dạng.

 


Bảo Định

 

 

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính

Friday, April 23, 2021

 Nửa đêm chờ giặc




Bảo Định




Lúc đó là mùa Hè năm 1971, đơn vị tôi đang hành quân vượt biên Kampuchea. Kể từ ngày QLVNCH mở những cuộc hành quân truy lùng và tiêu diệt quân CSBV tận sào huyệt của chúng đặt trên lãnh thổ quốc gia bạn, các Chiến đoàn 43, 48 và 52 thuộc Sư đoàn 18BB, và các Chiến đoàn BĐQ/QK3 có nhiệm vụ thay nhau mở những cuộc hành quân tảo trừ quân CSBV dọc theo QL7, từ ngã ba Krek lên đến vùng đồn điền cao su Chup. Chup là đồn điền cao su lớn nhất của người Pháp ở xứ Đông Dương thuộc địa. Nơi đây có một làng người Việt sinh sống biệt lập trong khu rừng cây cao su, làm phu đồn điền. Họ là những người dân miền Bắc Việt Nam, được thực dân Pháp mộ đến đây, có lẽ từ thập niên 1930.


Những căn cứ Hành quân được xây dựng rải rác dọc theo hai bên đường QL7 để bảo vệ trục lộ lưu thông huyết mạch này. Các đơn vị của quân đội Lon Nol thành lập đến cấp Tiểu đoàn, nhưng trang bị nghèo nàn, trình độ tác chiến thấp kém, còn thua cả các Trung đội Nghĩa quân VNCH, nên hoàn toàn lệ thuộc vào quân ta. Khi QLVNCH thôi mở những cuộc hành quân sang Kampuchea, các Tiểu đoàn quân Lon Nol đành phải “di tản chiến thuật”. Một số chạy đến cửa biên giới Xa Mát, qua vùng Thiện Ngôn, được đưa về Gò Dầu Hạ để quay trở lại Phnom Penh; một số vượt sông lên thủ phủ Kompong Cham. Họ đã bỏ lại một vùng đất rộng lớn cho quân Khmers Đỏ và quân CSBV.


Sau khi Tướng Đổ Cao Trí, Tư lệnh Quân đoàn III kiêm Vùng 3 Chiến thuật bay trực thăng đi thi sát chiến trường bị tử nạn trên vùng trời căn cứ Trảng Lớn, thuộc tỉnh Tây Ninh, hoạt động của các đơn vị thuộc Quân đoàn đang từ thế công đã trở về thế thủ. Đó là một điều đại kỵ trong binh pháp. (Có tin đồn ông bị thanh toán. Nhưng do thế lực nào? Một sĩ quan thuộc Phòng 7/BTTM cho tôi biết chính anh đã trông thấy một sĩ quan cố vấn Mỹ, tay cầm một cái hộp nhỏ, vội vàng chạy ra LZ trao chiếc hộp đó cho một sĩ quan cố vấn Mỹ khác đang ngồi trên trực thăng. Và khi trực thăng cất cánh được một lúc thì nghe một tiếng nổ lớn. Trực thăng tan nát và Tướng Trí tử nạn). Trước kia quân ta đánh đuổi địch lên phía Bắc, qua khỏi Dambe, Chhlong, đến tận Kratie. Bây giờ các hoạt động của quân ta chỉ quanh quẩn hai bên QL7.


Vào một đêm tối trời của mùa Hè năm 1971, lối 1 giờ sáng, quân CSBV mở cuộc tấn công dữ dội vào căn cứ Hành quân Tiểu đoàn 2/43 của Thiếu tá Đỗ Văn Tân, tức Tân Đen, danh hiệu truyền tin của ông là Hắc Long, K.7 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (sau này ông là Trung tá Trung đoàn Phó Trung đoàn 52BB, đi tù về, lập hồ sơ đi diện HO, một buổi chiều, bị VC bắt vào đồn công an gần ngã tư Hàng Xanh, khi xe đạp của ông bị xe honda của tên công an đụng phải. Bị bắt vào đồn, bị đánh hội đồng nhừ tử, nhờ đồng bào tụ tập trước đồn, la ó phản đối, chúng đành phải thả ông về. Nhưng sau vài ngày thì chết, do những cú đòn hiểm ác của các tên CA. Lúc đó ông đã được phỏng vấn, đã khám sức khoẻ, đang chờ đi Mỹ theo diện HO).


Căn cứ thiết lập trên cánh đồng trống trải, phía Bắc QL7, cách thị trấn Suong vài cây số về hướng Tây. Đây là căn cứ cấp Tiểu đoàn, được thiết lập khá vững chắc, với vòng đai đất cao lối 1 mét. Bên ngoài vòng đai phòng thủ là bãi mìn claymore, lựu đạn với những vòng rào bằng kẽm gai concertina. Ở thời điểm này, QLVNCH hành quân vượt biên Kampuchea được trang bị khá đầy đủ. Quân đội của Lon Nol rất ngưỡng mộ sự hùng mạnh và trang bị tối tân của quân ta.


Đêm mùa Hè trời nóng, nhưng căn cứ nằm giữa đồng trống, nên cũng thoáng mát. Đêm đen bao phủ vạn vật. Ngoài những toán đi phục kích, tiền đồn, và những người lính canh, và đốc canh; tất cả đều say sưa trong giấc ngủ mệt nhọc, vì những ngày hành quân gian khổ mà tinh thần luôn luôn trong tình trạng căng thẳng. Đêm nay là đêm cuối, ngày mai đơn vị sẽ được di chuyển trở về Việt nam sau gần ba tháng hành quân xa nhà. Mọi sự đã sẳn sàng.


Dù đã quá nửa đêm, nhưng tôi và Đức, Đại úy Lương Văn Đức, K.18 Sĩ quan Trừ bị Thủ đức, Đại đội trưởng Đại đội 3/2 vẫn còn thức chuyện trò trong căn hầm chỉ huy. Chúng tôi là đôi bạn thân, cùng một lớp tuổi, nhưng tôi vào lính sớm hơn, trước Đức 5 khóa. Tôi từ Sư đoàn 25BB thuyên chuyển về đơn vị vào cuối năm 1970, sau một thời gian giải ngũ, và trôi nổi qua binh chủng BĐQ khi mới tái ngũ. Tôi nắm Đại đội 2/2, thay thế Đại úy Dư về Trung đoàn làm Trưởng ban 2 (ngày tan hàng, Dư là Thiếu tá TĐT Tiểu đoàn 3/43, trở về nhà ở Vũng Tàu, bị bọn cách mạng 30 sát hại bằng búa chết). Chúng tôi đều được thăng cấp Đại úy một lần, trong một buổi lễ gắn “lon” tại sân cờ Hậu cứ Trung đoàn 43 ở Xuân Lộc vào ngày đầu năm 1971. Chính Đức đã mua cặp lon Đại úy tặng tôi khi cùng về BCH Trung đoàn dự lễ.


Đức quê ở quận Long Định, tỉnh Định Tường. Từ nhỏ Đức đã đi tu vào nhà Dòng. Khi sắp sửa chịu chức Linh Mục thì hoàn tục. Đức vào Thủ Đức, ra trường làm người lính chiến. Nhưng đối với gia đình, bà con, và làng xã thì anh bị đi quân dịch, hay thi hành quân dịch, vì “Đi Quân Dịch là thương nòi giống”. Không ai biết anh là một sĩ quan, kể cả người thân, đừng nói là một sĩ quan gan dạ trên chiến trường. Khi Đức tử trận trong một cuộc hành quân sang Kampuchea sau đó, khi quan tài của anh được đưa về quê quán, được phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ, được Đơn vị đọc bản tuyên dương công trạng, được truy tặng Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương với Ngành Dương Liễu, và được truy thăng cấp Thiếu tá thì người nhà mới biết. Người dân ở Long Định, quê của anh, lâu nay vẫn nghĩ rằng anh chỉ là một lính trơn, tức là Binh Nhì !


Cuộc sống của Đức rất giản dị. Anh ăn bận xuề xòa đến độ lười biếng. Tôi chưa bao giờ thấy anh bận đồ ủi hồ, lại ít khi mang phù hiệu cấp bậc. Anh rất dễ dãi với lính. Lương anh lãnh ra chỉ có thể dính túi được vài ngày, dù anh không bao giờ cờ bạc. Đúng là “tiền lính, tính liền”. Vào những ngày đầu tháng, nếu không phải bận hành quân, anh rủ bạn bè, và bao lính đi nhậu. Nhậu để quên đi nổi sầu nhân thế, quên đi nỗi buồn chiến tranh, quên đi những tháng ngày gian khổ phải băng rừng lội suối. Túi tiền rủng rỉnh chỉ được vài ngày rồi lại cạn túi. Sau đó lại ăn cơm lính với khẩu phần đạm bạc.


Kể từ ngày tôi về đơn vị, những lúc có dịp hành quân chung, hay lúc ở Hậu cứ, Đức thường đến dùng cơm chung với tôi. Sự thân thiện cũng có thể bắt nguồn từ sự việc bà xã tôi cùng quê Mỹ Tho với Đức. Thời gian này tôi đã có cháu gái đầu lòng. Mỗi lần hai mẹ con có dịp ra đơn vị thăm tôi, Đức thường giành bồng ẵm cháu bé. Đức rất thương cháu. Đã trên 30, anh vẫn sống độc thân, mà cũng không ái tình lăng nhăng. Một vài lần lãnh lương, anh đã đưa trọn số lương nhờ Chuẩn úy Đức, Phát hướng viên Tiểu đoàn đưa về cho bà xã tôi. Tôi biết việc này, nhưng Đức bảo không cần để ý, còn nói rằng khi nào có thì trả lại. Tính Đức rộng rãi, tốt với bạn bè. Anh thuộc loại “gia ân bất cầu báo”.


Ly cà phê đen dở dang, những điếu thuốc Ara rẻ tiền, do người Miên sản xuất, cháy chưa hết đã dụi tắt. Thật ra chúng tôi đều không ai nghiện thuốc lá, mà chỉ phì phà khói thuốc cho qua thời gian, trong lúc chờ sáng. Những điếu thuốc nối tiếp theo nhau lập lòe trong đêm tối, trong căn hầm chỉ huy chật hẹp. Đêm nơi chiến địa đến thật nhanh, nhưng đêm nơi chiến địa cũng dài bất tận ! Đức thèm chai bia 33 lạnh, còn tôi thì thèm tô phở gà nóng Hiền Vương. Ước muốn của chúng tôi thật tầm thường, nhưng khó thực hiện. Bên ngoài vẫn yên tĩnh. Màn đêm dày đặc. Thỉnh thoảng trái sáng pháo binh thắp sáng một vùng. Thời gian chầm chậm trôi qua. Chứ không phải “thời gian ơi chầm chậm chờ ta với”, hay “Thời giờ thấm thoát thoi đưa, nó đi đi mãi, chẳng chờ đợi ai”.


Đêm đen đang dần trôi. Bỗng một tiếng ầm vang dội, phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Đó là tiếng mìn Claymore, vài tiếng nổ khác tiếp theo, sau đó là những loạt đạn M16 nổ dòn chen lẫn những tràn đạn AK chát chúa. Toán phục kích tiền đồn đã chạm địch. Có lẽ cộng quân đang xuất hiện gần căn cứ. Chúng định tấn công chăng? Các toán phục kích và tiền đồn khác được gọi về. Toàn căn cứ báo động. Tất cả ra tuyến phòng thủ. Pháo binh được gọi bắn vào các điểm hỏa tập tiên liêu. Bầu trời được thắp sáng. Nhưng chúng tôi không phải chờ lâu. Một loạt, hai loạt, rồi hằng loạt đạn pháo đủ loại, đủ cỡ, ào ào rót vào căn cứ. Đạn nổ dồn dập và rất dữ dội, cũng giống như cơn mưa rào thịnh nộ vùng nhiệt đới. Tiếng nổ sấm chớp của đạn pháo chỉ chấm dứt khi những tên bộ đội “cụ Hồ”, như những con thiêu thân tiến sát vào căn cứ. Tiếng kèn thúc quân và những tiếng la xung phong dậy trời. Những bóng đen cứ lù lù lăn xả trước lằn đạn của quân trú phòng. Súng nổ rền vang. Căn cứ đã bị VC tấn công! Chúng áp dụng chiến thuật cố hữu quen thuộc: “Tiền Pháo, Hậu Xung”. Tuyến phòng thủ bị địch tấn công mạnh nhất là nơi Đại đội 2 của tôi và Đại đội 3 của Đức. Bên ngoài tuyến, xa về hướng Tây và Bắc, cách vài thửa ruộng là khu rừng chồi, là nơi tiến sát của địch quân. Tuyến phòng thủ của Đại đội 1 và Chỉ huy về hướng Đông và hướng Nam thì chỉ bị ăn đạn pháo. Với chiến thuật biển người, chúng đã mở đợt tấn công như vũ bão. Lớp trước bị đốn ngã, lớp sau lại lao lên, như sóng biển, sóng sau dồn sóng trước. Nhưng vô vọng và chỉ chuốc lấy thảm bại! Chúng không thể nào chọc thủng được phòng tuyến. Những chiến sĩ can trường của Tiểu đoàn 2/43 cương quyết giữ vững vị trí. Dù là một chọi ba hay chọi bốn. Quân trú phòng có công sự phòng thủ kiên cố, có chiến hào, có những bãi mìn, có những vòng rào kẽm gai chướng ngại bao quanh, lại có hỏa lực dồi dào, yểm trợ pháo binh chính xác, nên đã ngăn chận được những làn sóng dữ liên tiếp vỗ vào bờ.


Không chọc thủng được phòng tuyến của quân trú phòng, lại bị thương vong quá lớn, chúng đành phải rút trở lui, để lại nhiều tên bị kẹt trong vòng rào kẽm gai, trên bãi mìn. Quân trú phòng cũng bận rộn lo tản thương, chỉnh đốn lại tuyến phòng thủ. Đêm yên tĩnh trở lại. Hai bên mệt mỏi, đều ngưng tiếng súng, cũng giống như ngầm thỏa thuận hưu chiến. Sau khi đi một vòng kiểm tra phòng tuyến, tôi và Đức trở về hầm chỉ huy. Nhưng chúng tôi đã không được nghỉ ngơi lâu. Địch lại mở đợt tấn công mới. Vẫn là trận mưa pháo dữ dội mở màn, trước khi cho bộ đội xung phong biển người. Pháo của ta từ các căn cứ bạn yểm trợ rất hữu hiệu. Pháo nổ liên tục trên đội hình tấn công của địch. Hai khẩu pháo của Tiểu đoàn có lúc phải trực xạ. Địch đang mở đợt tấn công lần thứ hai. Cũng như lần trước, chúng chỉ chuốc lấy thảm bại, lại phải rút về tuyến sau. Tiếng súng lại tạm ngưng. Chúng tôi lại có dịp nghỉ ngơi.


Dù chỉ là căn cứ dã chiến, nhưng với tinh thần cảnh giác cao độ, quân sĩ đã xây dựng những công sự chiến đấu kiên cố, có hệ thống chiến hào bao quanh, nên đã giảm thiểu được con số thương vong. Phòng tuyến Đại đội 2 của tôi và Đại đôi 3 của Đức là nơi bị địch tấn công nặng nhất thì vẫn đứng vững. Binh lính của chúng tôi vẫn bình tĩnh, và vững vàng trong hố chiến đấu. Tôi và Đức thì sát cánh bên nhau trong suốt trận chiến. Chúng tôi thay nhau tuần tra, đôn đốc quân sĩ. May mà đạn và pháo đã chừa chúng tôi, không đứa nào bị gì.


Sau hai đợt tấn công thất bại, cộng quân vẫn chưa nản chí. Chúng được tăng viện thêm và chuẩn bị đội hình mở cuộc tấn công lần thứ ba. Giữa những trận chiến, những lúc “hưu chiến”, tôi và Đức lại chuyện trò trong đêm chờ địch. Chúng tôi nói bất cứ chuyện gì, đề tài này bắt qua đề tài khác, miễn là có chuyện để nói hầu tránh buồn ngủ. Có khi mệt quá tôi lại thiếp đi một lúc, khi tỉnh lại, thấy Đức vẫn nói với giọng trầm, đều đều. Đức nói mà không cần người đối thoại. Khi địch bắt đầu mở lại đợt pháo thi tôi và Đức lại lao ra chiến hào, ai nấy lo phần trách nhiệm của mình.


Cộng quân lại mở thêm một đợt tấn công nữa trước khi rút lui lúc trời mờ sáng. Một khi bóng đêm tan đi và ánh sáng ban ngày trở lại thì cộng quân như những bóng ma, cũng mờ khuất sau những khu rừng rậm xa xa. Một ngày mới lại bắt đầu. Các Đại đội bung ra lục soát chung quanh căn cứ. Mặc dù địch quân có thì giờ rút lui, có thì giờ mang theo số thương vong của đồng đội, nhưng chúng cũng đã để lại nhiều vũ khí, vài chục tên bộ đội thương vong bị mắc kẹt trong vòng rào kẽm gai. Quân sĩ của tôi đã bắt gặp trong ống cống trên QL7, lối 10 tên bộ đội vừa chết vừa bị thương. Chúng tôi đã bắt sống được vài tên. Chúng còn rất trẻ.


Căn cứ được bàn giao lại cho Chiến đoàn BĐQ của Trung Tá Lê Minh Hồng, Đơn vị tôi di chuyển bộ ra Kandaol Chrum để lên xe trở về Việt Nam.




Michigan, mùa Tuyết trắng 2008

Bảo Định

Monday, January 28, 2019

TRẬN BỐ LÁ… MỒ CHÔN GIẶC CỘNG

(Bảo Định Nguyễn Hữu Chế)
Sau chiến thắng Bố Lá, trong một bửa cơm thân mật với các đơn vị trưởng, Trung tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 43 Lê Xuân Hiếu nói với tôi: “Khi quân CSBV tung Trung đoàn 165 đánh chiếm Bố Lá, cắt đứt LTL 1A, tình hình chiến sự trên khắp 4 vùng chiến thuật tương đối yên tĩnh. Quân Dù và TQLC, hai đại đơn vị Tổng Trừ Bị đang rảnh tay, Tổng Thống muốn cho quân Dù vào giải tỏa, nhưng Tướng Nguyễn Văn Minh, TL/QĐIII xin Tổng Thống cho 15 ngày để đơn vị cơ hữu Quân đoàn III của ông đánh. Chiến đoàn 52 của Trung tá Ngô Kỳ Dũng (có Tiểu đoàn 1/43 của Đại úy Nguyễn Hữu Tài tăng phái) được lệnh mở cuộc hành quân. Trận chiến kéo dài sang ngày thứ 6, nhưng vẫn chưa thanh toán xong mục tiêu. Lúc Tiểu Đoàn 2/43 vào trận, đáng lý còn 7 ngày nữa, nhưng ông Tướng chỉ cho cậu 5 ngày, là ông ấy đã bớt đi 2 ngày!”
Vào một ngày cuối năm 1974, trong một dịp nghỉ phép cuối tuần, Thiếu tá Đào, thuộc Lữ đoàn 3 Kỵ binh, đang theo học khóa Thiết giáp Cao cấp tại trường Thiết giáp Long Thành, ghé thăm tôi tại đơn vị, đang dừng quân ở Trảng Bom, Biên Hòa. Trước đây Đào là Đại úy Chi đoàn trưởng, Chi đoàn Thiết quân vận M.113 của Thiết đoàn 5, thường sát cánh cùng với Tiểu đoàn 2/43 của tôi trong mỗi cuộc hành quân nhổ chốt. Đã tạo nhiều chiến thắng lẫy lừng, đó là các cuộc hành quân giải tỏa ngả ba Dầu Giây, Phương Lâm, Cẩm Mỹ,… khi Hiệp định Paris năm 1973 có hiệu lực, mà VC vẫn giành dân lấn đất. Đơn vị của Đào cũng có tham dự trận đánh Bố Lá hồi tháng 8 năm 1973. Đào cho biết khi học bài chiến thuật “Nhị Thức Bộ Binh – Thiết Giáp”, phần tài liệu, anh đã được xem phim trận đánh điển hình áp dụng “Nhị Thức Bộ Binh – Thiết Giáp”. Đó là trận Bố Lá, mà Bộ Chỉ huy Thiết giáp đã cho diễn tập lại, quay phim, để làm tài liệu huấn luyện.
Vào lúc quá trưa ngày N+4, Tiểu đoàn 2/43, Sư đoàn 18BB của Đại úy Nguyễn Hữu Chế và Chi đoàn 3/15 Thiết kỵ, Thiết đoàn 15 Kỵ Binh, Lữ đoàn III Xung kích của Đại úy Nguyễn Thường Hưởng, đã sẵn sàng vượt tuyến xung phong dứt điểm mục tiêu. Đó là cụm kiềng chốt cuối cùng, rất kiên cố, do một đại đội của Trung đoàn 165/CSBV cố thủ từ nhiều ngày qua. Đơn vị đã đổ nhiều xương máu, nhưng vẫn chưa nhổ được. Hôm nay là ngày thứ 5 của cuộc hành quân giải tỏa, kỳ hạn chót để đơn vị phải hoàn thành nhiệm vụ. Nếu không xong, đơn vị phải lui về tuyến sau để đơn vị khác vào thay thế.
Từ sáng sớm, không quân và pháo binh thay nhau đánh phá mục tiêu. Đó là khu rừng chồi sát đường, nối tiếp cánh rừng rậm về hướng Đông, nơi các đơn vị thuộc Trung đoàn 165, Công trường 7/CSBV đang bám trụ. Khi lệnh tấn công bắt đầu, phi cơ chiến đấu chuyển hướng tấn công vào Bộ chỉ huy và cơ sở hậu cần của Cộng quân nằm sâu bên trong. Pháo binh được lệnh tác xạ hủy diệt cụm kiềng chốt trên mặt đường. Khi giờ G tấn công bắt đầu, sẽ chuyển xạ xa dần theo nhịp độ tiến quân của quân bộ chiến.
Đoàn thiết vận xa M.113 dũng mãnh hơn 20 chiếc băng rừng, vừa tiến vừa bắn, gầm rú lao thẳng vào mục tiêu. Theo sau những bánh xe xích là các chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43BB. Những khẩu đại liên 50, 30, đại bác 106ly trên pháo tháp thi nhau nhả đạn, hòa cùng tiếng la hét xung phong rền trời của các chiến sĩ bộ binh. Họ là đơn vị mang khăn quàng màu tím, đơn vị đã từng làm khiếp vía cộng quân trên chiến trường An Lộc hồi mùa hè đỏ lửa 1972. Theo cung từ của nhiều tù binh bắt được tại trận, chúng gọi TĐ2/43 và TĐ3/43 của Thiếu tá Lê Thành Quang (K.16 Võ Bị) là 2 đơn vị tên lửa, vì đã xử dụng nhiều hỏa tiễn M.72 mỗi lần xung trận. Họ là những chiến sĩ QLVNCH anh hùng. Họ xem thường hiểm nguy, một lòng trung trinh báo quốc, ra đi không mong hẹn ngày về, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Nhưng họ không giống như bọn cán binh cộng sản chỉ biết lao vào chỗ chết như những con thiêu thân trước ánh đèn, vì “Bác” vì “Đảng”. Người lính QLVNCH không hy sinh mù quáng. Họ sẵn sàng vì dân trừ bạo, vì nước hy sinh, nhưng với ý thức tự do.
Một đêm tối trời của tháng tám năm 1973, CSBV tung Trung đoàn 165 cắt đứt đường LTL.1A, con đường nối liền thị xã Phú Cường của tỉnh Bình Dương đi Đồng Xoài của tỉnh Phước Long. Chúng cho 1 Đại đội (quân số lối 50 hay 60 tên) đóng chốt ngay trên mặt đường, tại một thế đất cao, nơi có chiếc xe be màu vàng chết máy. Chúng bố trí một hệ thống kiềng chốt rất kiên cố với nhiều hầm hố địa đạo.
Từ Phú Cường, tỉnh lỵ Bình Dương, theo QL13 đi Bình Long, ta sẽ gặp con đường LTL.1A đi về hướng Đông, qua khỏi Cua Paris, đến Cua Bảng Xanh (địa danh địa phương), con đường đổi hướng về phía Bắc, đi một quảng ngắn là đến Ấp Bố Lá. Địa thế từ thế bằng phẳng, đi lên đoạn đường dốc. Hai bên là những thửa ruộng nhỏ đã gặt xong. Xa hơn về hướng Đông là rừng rậm, hướng Tây là rừng cao su. Nhờ địa thế trống trải, những tên bộ đội trong hệ thống kiềng chốt có tầm quan sát rất rộng, và một xạ trường tốt. Một khẩu thượng liên 12ly7, một đại bác 75ly, vài khẩu B.40 hay B.41 là có thể khống chế đối phương dù có quân số đông gấp nhiều lần, nhưng thất thế vì tiến lên từ vùng đất thấp và trống trải. Hai bên và đằng sau hệ thống kiềng chốt này là các đơn vị yểm trợ cấp Tiểu đoàn. Điểm nóng nhất là chỗ có chiếc xe be màu vàng.
Ngoài cụm kiềng chốt trên mặt đường như những con chốt thí, sâu vào bên trong là hai tiểu đoàn sẵn sàng tiếp ứng. Chúng ẩn núp trong khu rừng chồi lấn ra đến đường. Chúng quyết “tử thủ”. Hầm hố làm theo hình chữ “A”, dùng gỗ cây cao su chụm lại như mái nhà. Hầm này thông với hầm kia bằng một giao thông hào ngắn, có mái che, trong một thế liên hoàn để có thể yểm trợ và kiểm soát lẫn nhau. Loại “kiềng chốt” này rất khó đánh. Theo Nguyễn Đức Phương, tác giả của “CHIẾN TRANH VIỆT NAM toàn tập”, chiến thuật kiềng chốt này do Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174, Đàm Văn Ngụy sử dụng trong trận đánh Hú Mường (Thượng Lào) năm 1960, tại Dak Tô năm 1967, và Tây Ninh - Dầu Tiếng năm 1968. Sau đó được áp dụng tại Tàu Ô, tỉnh Bình Long năm 1972, khi Đàm Văn Ngụy trở thành Sư trưởng Sư 7.
Trung đoàn 165/CSBV chỉ là một đơn vị tầm thường, không có thành tích nào đáng kể. Khi mở cuộc đánh chiếm Bố Lá, chúng được tăng cường một đơn vị pháo hạng nặng, một đơn vị phòng không, và các đơn vị chủ lực VC địa phương quấy phá khắp nơi để phân tán lực lượng quân bạn.
Về phía quân bạn, Chiến đoàn 52 của Trung tá Ngô Kỳ Dũng, thuộc Sư đoàn 18BB, có căn cứ Hành quân tại Phú Lợi, thuộc tỉnh Bình Dương, được chỉ định mở cuộc Hành quân giải tỏa. Lực lượng cơ hữu gồm có 3 Tiểu đoàn tác chiến, Đại đội trinh sát; và Tiểu đoàn 183 Pháo binh Sư đoàn. Chiến đoàn được tăng phái 1 Chi đoàn chiến xa M 48, 1 Chi đoàn thiết vận xa M.113 và Tiểu đoàn 1/43BB.
DIỄN TIẾN TRẬN ĐÁNH
Ngày N:
Trận chiến khai diễn đã hơn 7 ngày, quân địch vẫn bám trụ và giữ chốt. Chúng cố thủ trong những hầm hố và chiến hào vững chắc. Trận tuyến trải dài cả cây số. Quân bạn đã tận dụng hỏa lực phi pháo, liên tục mở nhiều cuộc tấn công. Nhưng tình hình vẫn không khá. Kỳ hạn 15 ngày phải thanh toán xong mục tiêu đã đi qua gần một nửa.
Từ Bàu Cá thuộc tỉnh Long Khánh, Tiểu đoàn 2/43 của Đại úy Nguyễn Hữu Chế được lệnh tăng phái Chiến đoàn 52. Trong khi đưa đơn vị vào vùng, Đại úy Chế được Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn cho kỳ hạn trong 5 ngày để dứt điểm mục tiêu.
Đơn vị đổ quân tại cua Bảng Xanh, gần Bộ chỉ huy Chiến đoàn. Không khí chiến tranh hiện rõ nét. Trên bầu trời, các chiến đấu cơ thay nhau dội bom lên mục tiêu. Các pháo thủ 105ly, 155ly bận rộn trong các ụ súng. Thương binh và tử sĩ được dìu về tuyến sau. Đâu đâu cũng thấy lính và lính. Dân chúng đã tản cư ra xa vùng chiến trận.
Tiểu đoàn được lệnh vào thay Tiểu đoàn 1/52 của Đại úy Cam Phú, đơn vị trực diện đối đầu với quân địch, có nhiệm vụ nhổ chốt. Việc thay quân không phải là dễ dàng trong lúc ta và địch đang ở thế mặt đối mặt, có vị trí trong thế cài răng lược.
Đại đội 1/2 của Trung úy Nguyễn Văn Hào và Đại đội 2/2 của Trung úy Võ Kim Thạch thay quân ở cánh phải con đường. Đại đội 3/2, Trung đội Biệt kích Tiểu đoàn và các Trung đội Biệt kích tăng phái (các Trung đội Biệt kích Tiểu đoàn được lệnh thành lập ngoài cấp số, từ khi Tướng Đảo về làm tư lệnh. Những trung đội này thường có quân số trên 40 quân nhân, được chọn lựa trong số những chiến binh can trường nhất và được gởi đi học khóa Viễn thám và Rừng Núi Sình Lầy ngoài Dục Mỹ), thay quân ở cánh trái của con đường. Đây là địa thế trống trải, dễ bị ăn pháo. Trước mặt là những thửa ruộng lúa thấp chỉ còn trơ những gốc rạ vàng úa. Xa hơn về phía Bắc là khu rừng chồi với nhiều hầm hố và chiến hào của cộng quân.
Để thăm dò phản ứng địch, ngay sau khi hoàn tất việc thay quân, các đơn vị được lệnh mở những cuộc tấn công nhỏ. Dù chỉ là những trận đánh thăm dò, cộng quân đã phản ứng dữ dội. Pháo địch đủ loại, từ cối 61, 82 đến cối 120ly từ xa tới tấp rót vào đội hình của đơn vị. Nhưng hỏa lực mạnh nhất là từ cánh rừng phía Đông. Ở khu rừng chồi phía Tây địch phản ứng yếu ớt. Khu rừng chồi không lớn. Qua khỏi khu rừng chồi là rừng cao su.
Ngày N+1:
 Sau một đêm dài không ngủ, bị đánh thức bởi những loạt đạn pháo địch, và những cuộc chạm súng lẻ tẻ từ các toán tiền đồn và phục kích.
Trung đội Biệt kích Tiểu đoàn được điều động thay thế vị trí Đại đội 2/2 của Trung úy Thạch, để cùng với Đại đội 1/2 của Trung úy Hào trách nhiệm giữ trận tuyến ở phía Đông. Hai đơn vị này có nhiệm vụ cầm chân địch, bám giữ vị trí, và liên tục mở những cuộc tấn công giả. Toàn bộ Tiểu đoàn còn lại, được tăng phái 1 Chi đoàn Thiết quân vận, mở cuộc tấn công khu rừng chồi cánh trái, cố gắng bắt tay Tiểu đoàn của Đại úy Hậu thuộc Chiến đoàn 52 đang án ngữ tại khu rừng cao su ở hướng Bắc. Không quân và pháo binh thay nhau trút bom đạn lên đầu giặc, đánh tê liệt mục tiêu. Quân bộ chiến có thiết giáp yểm trợ, vượt nhanh qua cánh đồng, tiến vào khu rừng chồi. Trận chiến diễn ra khốc liệt. Sau một ngày đánh vùi, chịu một số tổn thất, quân bạn đã bám được bìa rừng, tiêu diệt được nhiều VC trong các hầm hố. Đám VC này hầu hết bị trói chân lại với nhau bằng những giây điện thoại Trung Cộng, nên phải chịu chết. Một số cởi được giây trói, tung hầm bỏ chạy về hướng Đông. Nhưng dù sao đơn vị cũng đã thiết lập được đầu cầu. Quân bạn bố trí ngay trên những hầm hố và chiến hào địch vừa chiếm được. Pháo địch không ngớt rót vào quân bạn, đã gây cho ta một số tổn thất. Trước khi trời tối, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn lùi về tuyến sau, tạm đặt trong vòng rào phòng thủ của một đồn Nghĩa quân, cách tuyến đầu lối vài trăm mét. Trong những ngày lửa đạn, các chiến sĩ Nghĩa Quân vẫn kiên trì giữ đồn, sát ngay tuyến địch mà không hề nao núng. Không hổ danh là những “chiến sĩ áo đen anh hùng!”.
Ngày N+2:
Hai đơn vị phía Đông vẫn nằm tại chỗ, giữ vững trận tuyến. Nhiệm vụ của hai đơn vị này vẫn là tổ chức những cuộc tấn công giả hầu đánh lạc hướng và cầm chân địch.
Bước qua ngày thứ ba của trận chiến, Tiểu đoàn được tăng cường thêm 2 Chi đội M.48. Từ sáng sớm, đơn vị đã tổ chức đội hình tấn công. Trận chiến lại diễn ra khốc liệt trong khu rừng chồi. Nhưng VC vẫn lì đòn. Đám nào bị đánh chiếm thì chịu chết, hay tung hầm bỏ chạy. Đám nào chưa bị phát hiện thì vẫn nằm im, hay bắn yểm trợ bằng B.40 hay B.41. Đánh nhau với chúng suốt ngày, vẫn chưa làm chủ được khu rừng, để bắt tay với Tiểu đoàn của Đại úy Hậu. Cụm kiềng chốt của địch ở trên đường và khu rừng hướng Đông vẫn chưa đụng tới. Tiểu đoàn chỉ xử dụng phi pháo đánh tê liệt mà thôi.
Ngày N+3:
Tiểu đoàn tiếp tục tổ chức đội hình tấn công. Cường độ pháo của địch vẫn dữ dội, đã gây khá nhiều thương vong cho quân bạn. Đến lúc quá trưa thì quân bạn đã hoàn toàn làm chủ khu rừng. Địch rút chạy về hướng Đông. Đơn vị đã bắt tay được với Tiểu đoàn của Đại úy Hậu ở hướng Bắc. Nhưng sau ba ngày đánh vùi với VC, quân sĩ quá mệt mỏi. Cần được nghỉ ngơi. Nhưng kỳ hạn 5 ngày sắp hết. Mục tiêu vẫn chưa thanh toán được. Cụm kiềng chốt trên đoạn đường dốc và khu rừng sát đường thì rất kiên cố. Liệu đơn vị có hoàn thành nhiệm vụ được giao phó?
Ngày N+4:
Hạn kỳ 5 ngày sắp hết. Nhưng Đại úy Chế vẫn tin tưởng đơn vị mình sẽ hoàn tất nhiệm vụ. Đám VC đóng kiềng chốt trên đường, bây giờ đang ở trong thế bị gọng kìm. Chúng chỉ còn lại một hướng thoát thân là khu rừng rậm bất tận ở hướng Đông. Vị Tiểu đoàn trưởng cho mở cuộc hội ý chớp nhoáng với các Đại đội trưởng và Đại úy Hưởng, Chi đoàn trưởng Thiết kỵ. Đại úy Hưởng được yêu cầu cho thiết giáp dàn đội hình hàng ngang (trên 20 chiếc M.113). Bộ binh tiến đàng sau hai bánh xe xích, sẽ được thiết giáp che chở, tránh được các loại đạn bắn thẳng. Khi có lệnh tấn công, tất cả vừa bắn vừa tiến nhanh đến mục tiêu. Không được dừng lại hay co cụm mỗi lần có ai bị thương vong hay xe bị bắn cháy. Đại đội Chỉ huy và Công vụ Tiểu đoàn sẽ lo công việc tản thương. Tất cả vẫn tiếp tục tiến cho đến khi thanh toán xong mục tiêu. Khi máy bay ngưng ném bom thì đoàn quân bắt đầu tiến. Pháo binh sẽ chuyển xạ xa dần theo mức độ của cuộc tiến công. Hai Chi đội M.48 do một Đại úy chỉ huy đậu trên đường, có nhiệm vụ yểm trở cho cánh quân ở phía Đông, sẵn sàng chống trả nếu địch phản công từ khu rừng, không cho chúng đánh cạnh sườn mũi tiến công của ta. Nhiệm vụ chủ yếu của những chiếc M.48 này là sử dụng những khẩu đại bác nòng dài trên pháo tháp trực xạ vào cụm kiềng chốt trước mặt, và cũng chuyển xạ dần dần về hướng Đông theo nhịp độ tiến quân của quân bộ chiến.
 Từ sáng sớm phi pháo vẫn liên tục trút bom đạn lên đầu giặc, đặc biệt là cụm kiềng chốt trên đoạn đường dốc, nơi có chiếc xe be màu vàng chết máy.
Trước giờ tấn công, lúc đó là quá trưa ngày N+4, Chiến đoàn điều động Tiểu đoàn của Hậu di chuyển về hướng Nam. Cả khu rừng đầy nghẹt lính, nên là cơ hôi tốt cho VC bắn pháo. Hậu đến bắt tay TĐT 2/43 đang ngồi trên một chiếc M113, đồng thời trao đổi vài tin tức. Vừa lúc đó, một trận mưa pháo dữ dội khởi đi từ khu rừng hướng Đông, bắn vào đội hình tấn công của đơn vị. Pháo đủ loại, nổ dồn dập trên toàn trận tuyến. Vài trái đạn nổ gần, gây một số thương vong, trong đó có Hậu và vị TĐT. Hậu bị một mảnh đạn ghim vào tay, máu chảy lênh láng, phải tản thương ngay. Đại úy Chế bị xây xát nhẹ, vết thương rỉ máu, nhưng vẫn có thể tiếp tục chiến đấu. Đợi cho đoàn quân của Hậu qua khỏi, lệnh tấn công bắt đầu. Lúc này máy bay đã chuyển mục tiêu ra khu rừng phía Đông. Pháo binh vẫn tiếp tục, nhưng chuyển xạ dần dần vào khu rừng trước mặt. Trong lúc đó, các chiến xa M.48 đậu trên đường, bắt đầu tác xạ vào mục tiêu. Súng nổ dồn dập: M.16 của bộ binh, đại liên 30, 50, đại bác 106ly của thiết vận xa, đại bác nòng dài của chiến xa, pháo binh từ xa liên tục rót lên đầu giặc. Địch không dám ngóc đầu dậy. Hầu hết súng của chúng bắn lên bầu trời xanh! Chỉ một ít dám bắn thẳng vào quân bạn. Nhưng không một tên nào bỏ chạy! Chúng không sợ chết? Thật ra thì chúng không thể nào chạy được. Không bỏ chạy không phải vì tính anh hùng can đảm, mà vì tất cả bọn chúng đều bị trói chân lại với nhau, và buộc vào thành hầm! Chúng phải nằm chết tại chỗ, vì “Bác Hồ” và “Đảng Cộng sản” ác ôn của chúng. Những cán binh cộng sản trước khi nhắm mắt lìa đời đều thốt lên: “Bác ơi! Đảng ơi! Con chết mất”.
Từ tuyến xuất phát đến mục tiêu, khoảng cách chỉ vài trăm mét. Mục tiêu ở ngay trước mặt. Những tay xạ thủ B.40 và B.41 của địch quân chỉ kịp bắn được một phát đạn, chưa kịp lắp viên đạn thứ hai thì xe thiết giáp đã đậu ngay trên đầu. Tiếng xe gầm rú, bánh xích cà qua, cà lại trên nóc hầm. Các chiến sĩ TĐ2/43 nhanh chóng tung lựu đạn xuống hầm. Tiếng nổ chát chúa của lựu đạn M.26, âm thanh giòn giã của M.16, hòa cùng tiếng gầm rú của thiết giáp, làm hưng phấn quân bạn. VC không có lối thoát đành phải chết dí thảm thiết. Có trên 10 hầm hố, bên trên mỗi hầm là một chiếc M.113 đậu ngay trên nóc. Những chiến binh không có nhiệm vụ nhổ chốt, dưới sự yểm trợ hỏa lực trực tiếp của thiết giáp, tiến sâu vào cánh rừng trước mặt, tiếp tục truy kích bọn tàn quân trong cụm rừng đang tháo chạy. Chúng như đàn ong vở tổ, chạy bán sống bán chết, hớt ha hớt hãi, lủi sâu vào khu rừng phía Đông. Nhưng trước mặt chúng là hàng rào hỏa lực của pháo binh đang dồn dập bắn chặn. Đại đội 1 và Trung đội Biệt kích Tiểu đoàn bố trí ở tuyến hướng Đông cũng rời chiến hào, thừa thắng xông lên truy kích địch. Trước khi trời tối, đơn vị tấn công đã hoàn toàn làm chủ trận địa. Xác địch la liệt, vũ khí ngổn ngang khắp khu rừng hoang lạnh. Tại điểm nóng trên đường, nơi có 4 cụm chốt, gồm hơn 10 hầm đang được các chiến sĩ Tiểu đoàn 2/43 đào xới. Tất cả bọn chúng đều bị trói chân, dính chùm vào nhau bằng những sợi dây điện thoại Trung cộng. Sau một hồi khai quật, đã đếm được hơn 50 xác “Bội đội cụ Hồ”, hầu hết có xâm hàng chữ trên cánh tay “Sinh Bắc Tử Nam”. Thương thay một thế hệ trẻ miền Bắc đang bị bọn cầm quyền Bắc Bộ Phủ tàn bạo, hiếu chiến, xua vào những lò thiêu thân ở miền Nam. “Mẹ Việt Nam rất đau buồn khi có những đứa con “Sinh Bắc tử Nam”.
Lúc đó là 5 giờ chiều ngày N+4, tức là vừa đúng 5 ngày mà Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo hạn định cho đơn vị phải hoàn tất nhiệm vụ:
“Trình Hằng Minh, con đường đã được khai thông kể từ giờ phút này”.
Được tin thắng trận, Trung tá Chiến đoàn trưởng 52 Ngô Kỳ Dũng và Bộ tham mưu của ông tức tốc đến ngay điểm nóng, nơi mà chỉ nửa giờ trước đây còn là cụm kiềng chốt kiên cố của cộng quân. Ngay sáng sớm ngày hôm sau, Tướng Tư lệnh Lê Minh Đảo đã bay đến thăm đơn vị. Vừa từ trực thăng buớc xuống, ông liền ôm chầm Đại úy Chế, vỗ về và cho lệnh:
“Lối một tiếng nữa sẽ có đoàn xe đến đưa Tiểu đoàn 2/43 ra Long Hải. Tôi cho Tiểu đoàn chú tham dự khóa Huấn luyện Bổ túc Đơn vị. Nhưng thật ra là cho đơn vị chú có thời gian nghỉ ngơi. Lệnh cho Ban 1 lập danh sách các quân nhân hữu công. Riêng chú, được thăng cấp đặc cách tại mặt trận lên cấp Thiếu tá.”
Trung đoàn 165/CSBV hoàn toàn thảm bại. Chúng đã thua. Chúng không thể ngoan cố “chịu đấm ăn xôi” mãi được nữa. Chúng đành phải rút sâu vào rừng, vào mật khu. Chúng cần một thời gian “rèn cán chỉnh quân”. Lối nửa năm sau, khi vừa “tái xuất giang hồ”, chúng lại đụng phải Tiểu đoàn 2/43 tại mặt trận Thái Hưng. Cũng như lần đầu gặp gỡ , lần thứ hai này chúng cũng đại bại, sau hơn một tuần lễ xâm nhập và chiếm đóng xã Thái Hưng thuộc quận Công Thanh, tỉnh Biên Hòa. Có lẽ tên thủ trưởng đơn vị này phải ngâm nga câu thơ của cụ Nguyễn Du:
“Người đâu gặp gỡ làm chi”
để rồi:
“Đánh nhau chẵng đặng, đành chuồn về rừng sâu!”
Lần tái xuất giang hồ trước khi cuộc chiến chấm dứt, Trung đoàn 165, cùng với Trung đoàn 141 và 209 của Sư đoàn 7/CSBV thuộc Quân đoàn 4 của Tướng Hoàng Cầm, trách nhiệm mũi tấn công vào Xuân Lộc từ hướng Đông. Đơn vị này được yểm trợ bởi 8 xe tăng T.54, nhưng mũi tiến công của chúng đã bị chận đứng ngay từ vòng ngoài của tuyến phòng ngự. Những chiếc tăng T.54 bị trúng mìn chống chiến xa, hay bị lún sình. Một vài toán bộ đội phá được hàng rào kẽm gai tiến vào, chúng đã đụng phải các chiến binh Chiến đoàn 43 của Đại tá Lê Xuân Hiếu chờ sẵn. Một lần nữa, Trung đoàn này lại thảm bại. Nhưng chúng ở trong phe thắng trận, và quân sử của chúng tha hồ mà vẽ rắn thêm chân. Lịch sử là lịch sử được viết lại theo cách nhìn của kẻ thắng trận!
Con đường đã được giải tỏa, đoạn đường huyết mạch đi Phú Giáo, Đồng Xoài và Phước Long đã được khai thông. Ngay lần ra quân đầu tiên để mở đầu cho chiến dịch Thu – Đông của quân CSBV đã bị bẻ gãy. Người dân tại lãnh thổ Vùng 3 Chiến thuật tạm thời được sống yên ổn. Nhưng rồi cuộc chiến vẫn tiếp tục với mức độ mỗi ngày một tàn khốc hơn, mặc dù Hiệp định đình chiến Paris 1973 đã được chúng long trọng ký kết mới hơn nửa năm.
“Đừng nghe những gì Việt cộng nói,
  Hãy nhìn những gì Việt cộng làm!”
(Lời của cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu)
Michigan, Mùa tuyết rơi năm Canh Dần 2010.
BẢO ĐỊNH