Showing posts with label trại llđb kannak. Show all posts
Showing posts with label trại llđb kannak. Show all posts

Thursday, August 18, 2022

 Tấn Công và Phản Công trên Quốc Lộ 19

Năm 1965 cộng sản Bắc Việt phát động một chiến dịch nhằm cắt đôi Việt Nam và đánh bại QLVNCH trong một trận chiến quy ước.

Trong cuộc tấn công Đông-Xuân năm 1964-65 Việt Cộng hướng về vùng Cao Nguyên Trung Phần. Cường độ của cuộc tấn công của Việt Cộng tại An Lão về phía bắc của Tỉnh Bình Định vào tháng 12 cho thấy Việt Cộng đang chuẩn bị tăng gia nhịp độ sinh hoạt từ các hành động du kích cỡ nhỏ lên tới một cuộc chiến di động. Trong hành động này, chúng hành quân với lực lượng cấp trung đoàn hay chiến đoàn với ít nhất ba hoặc bốn tiểu đoàn. Việt Cộng chống trả và chỉ rút lui dưới áp lực mạnh của QLVNCH. Đây là một thay đổi so với quá khứ, từ chính sách tấn kích và phục kích rồi rút quân khi QLVNCH xuất hiện .

Thế rồi vào tháng 2, đồng thời với các cuộc tấn công vào khu trú đóng của nhóm cố vấn Quân Đoàn II và vào phi trường của Tiểu Đoàn 52 Không Quân tại Pleiku, Việt Cộng phát động một loạt tấn công cỡ lớn vào phần đất phía bắc của Tỉnh Bình Định. Các cuộc tấn công này nhằm chiếm cứ toàn vùng bắc của tỉnh lỵ, và chúng đã thành công. Chúng chiếm đoạt nhiều cứ điểm của lực lượng trung đoàn QLVNCH và chế ngự phần bắc của Tỉnh Bình Định, bằng cách xô đẩy các lực lượng còn lại của QLVNCH vào những khu vực cô lập tại Bồng Sơn và Phù Mỹ chỉ có thể tiếp tế bằng đường hàng không. Hành động này được tiếp nối bởi một cuộc hành quân tại trung tâm Bình Định để cắt đứt Quốc Lộ 19, con đường huyết mạch giữa hải cảng chính trong vùng (Qui Nhơn) và vùng Cao Nguyên. Nếu thành công, cuộc tấn công này sẽ tách rời các tỉnh Kontum và Pleiku trên Cao Nguyên. Một khi không còn tiếp tế được bằng đường bộ, hai tỉnh này sẽ phải lệ thuộc hoàn toàn vào đường bay về mặt tiếp tế. Tình trạng này sẽ làm suy giảm tinh thần và đặt Việt Cộng vào một thế rất lợi cho một cuộc tấn công trong tương lai, vào mùa mưa, nhắm vào Kontum và Pleiku.

Điểm đáng chú ý là xem Việt Cộng noi gương được đến mức độ nào Việt Minh, bậc thày và bậc tiền bối của chúng, trong thế di chuyển nhanh chóng các cuộc tấn công từ vùng này qua vùng kia để hỗ trợ cho một kế hoạch toàn diện. Điểm đáng chú ý khác là thế di động chân cẳng, trong khi có thể đối lại các công xa và chiến xa Pháp, nay gặp khó khăn khi đương đầu với thế di động trực thăng vận và hỏa lực của các lực lượng QLVNCH thời nay.

Nỗ lực toan tính phá phách Quốc Lộ 19 lớn đầu tiên của Việt Cộng trong năm 1965 được phát động vào ngày 14 tháng 2. Chiến lược này đã được tư lệnh Quân Đoàn II (Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Có) tiên đoán trước vào tháng 12 năm 1964, sau trận đánh An Lão. Tư lệnh Quân Đoàn II là một tư lệnh chiến trường dày kinh nghiệm với một trí hiểu biết trực giác về các chiến thuật của cộng sản, kết quả của nhiệm vụ chỉ huy cuộc chiến Việt Nam trong 20 năm qua. Vào tháng 12, khi các cuộc tấn công tiếp diễn tại An Lão và các cuộc điều quân của Việt Cộng chỉ cho thấy sinh hoạt trong tương lai nằm tại các vùng phía bắc Bình Định, Tướng Có bắt đầu kiện toàn các vị trí dọc theo con đường tiếp tế chính giữa Qui Nhơn và Pleiku. Ông giải thích: "Tình trạng này giống hệt chiến dịch đông-xuân của Việt Minh năm 1954. Chúng sẽ đánh vào đồng bằng phía bắc Bình Định để buộc chúng ta đổ các lực lượng trừ bị về vùng duyên hải. Và rồi chúng sẽ tìm cách cắt đứt Quốc Lộ 19 và tách biệt vùng Cao Nguyên. Lần này chúng ta sẵn sàng đối phó chúng."

Để kiện toàn các lực lượng, đã bị trải mỏng khắp vùng Quân Đoàn II - vùng quân đoàn lớn nhất tại Việt Nam, bao gồm gần 50 phần trăm đất đai toàn nước - Tướng Có hành động như sau: Một số đại đội thuộc Nhóm Dân Sự Chiến Đấu (DSCĐ) được đặt để tại hai trại dọc theo Quốc Lộ 19. (Các đại đội DSCĐ được kết hợp từ dân chúng địa phương và được huấn luyện bởi Lực Lượng Đặc Biệt. Trên vùng Cao Nguyên các đại đội DSCĐ được kết hợp từ các bộ lạc dân Thượng). Tiếp đó, nhiều tiểu đoàn bộ binh từng thi hành các sứ vụ an ninh tĩnh động được giải tỏa khỏi sứ vụ đó và xung vào các lực lượng trừ bị di động. Tướng Có cũng chỉ thị cho ban tham mưu chuẩn bị các kế hoạch đáp ứng trường hợp bất ngờ này. Các vùng bãi đáp trực thăng và phi cơ được tân trang và đạn dược, xăng nhớt, và các tiếp liệu khác được tồn kho tại các vùng chính yếu. Đồng thời với các chuẩn bị trên, các lực lượng trừ bị di động được huấn luyện về mặt kỹ thuật di chuyển bằng trực thăng và phi cơ Caribou và C-123. Với việc hoàn tất của các chuẩn bị trên, sân khấu đã được dựng xong cho giai đoạn kế tiếp của cuộc tấn công đông-xuân của Việt Cộng.

Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Cộng hướng vào Quốc Lộ 19 xảy ra với một đại đội Địa Phương Quân tiểu nhược đang trên đường di chuyển từ Pleiku đến các vị trí trên Đèo Mang Yang. Đại đội này bị phục kích ở phía tây của Đèo Mang Yang và bị tổn thất nặng nề. Trong cuộc tấn công này địch quân được trang bị với những súng ống của Tàu Cộng sao bản của loại súng ống bộ binh tân tiến nhất của Nga Sô: súng trường SKS, súng trường tấn công AK, và liên thanh nhẹ RPD, cùng một sao bản của súng phóng hỏa tiễn chống chiến xa RPG-2 của Nga Sô. Đây là chứng cớ cụ thể đầu tiên cho thấy một đơn vị mới đang hành quân trong vùng. Lệnh được ban bố để gia tăng sinh hoạt các đơn vị bạn dọc theo Quốc Lộ 19, và các đơn vị DSCĐ trong vùng gia tăng các cuộc tuần tiễu chiến đấu và khởi sự hành quân với các đơn vị cỡ đại đội.

Ngày 20 tháng 2 Việt Cộng dốc toàn nỗ lực để chiếm lấy Quốc Lộ 19 và cắt lià vùng Cao Nguyên. Trước hết chúng đánh vào một tiền đồn DSCĐ, Căn Cứ Hành Quân Tiền Phương 1 (FOB1) phía tây Đèo Mang Yang. (Sketch 1). Các lực lượng của Nhóm Dân Sự Chiến Đấu tại An Khê đáp ứng lập tức và phái một đại đội DSCĐ như là một lực lượng phản ứng. Khi tiến gần tới tiền đồn, đại đội này rơi vào một ổ phục kích. Đại đội này đánh tan địch quân bằng cách dốc toàn lực trực diện phản công khiến Việt Cộng tháo chạy, để lại súng ống và xác chết tại chỗ. Tiếp đó đại đội DSCĐ tiến vào tiền đồn và gom góp các lực lượng bạn bị tản mác lại và đóng trại qua đêm. Ngày hôm sau, trên đường trở về căn cứ, đại đội lại bị phục kích lần nữa, và các công xa của đại đội bị đánh gục bởi các hỏa tiễn chống chiến xa RPG. Lần này Việt Cộng thành công và đại đội DSCĐ bị tổn hại nặng nề. Khi hay tin về trận phục kích này, đại đội DSCĐ trừ bị tại An Khê được phái đi tiếp cứu. Khi tới gần địa điểm phục kích, đại đội trừ bị này phải đứng dừng lại vì gặp một nút chận và hỏa lực súng cối 82 ly dữ dội khiến cho công xa dẫn đầu bị tiêu hủy và gây nhiều thương vong. Sợ bị vây hãm và bị hỏa lực súng cối làm thịt, đại đội rút về An Khê.

Tiếp sau đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt C Detachment tại Pleiku đặt kế hoạch đưa một đại đội DSCĐ từ một căn cứ tại Suối Đồi phía đông Đèo Mang Yang, di chuyển về hướng tây xuống Quốc Lộ 19 trong khi các lực lượng tại An Khê tiến lên về hướng tây (Sketch 2). Các cuộc hành quân này nhằm dồn ép Việt Cộng từ hai hướng. Một trung đội DSCĐ trừ bị trực sẵn để được trực thăng vận bởi phi đoàn Eagle Flight để hỗ trợ đại đội này từ Suối Đồi. Cũng còn thêm một tiểu đoàn Biệt Động Quân là thành phần lực lượng trừ bị của Quân Đoàn túc trực sẵn sàng xung trận nếu cần thiết.

Khi tiến gần tới địa điểm đoàn quân Groupe Mobile Pháp bị phục kích và tiêu hủy năm 1954, các công xa của đại đội DSCĐ Suối Đồi cũng bị hỏa tiễn chống chiến xa RPG phá hủy tan tành. Tiếp đó là một cuộc xung phong tàn khốc của Việt Cộng. Đại đội bị tràn ngập, nhưng cuối cùng những người sống sót chiến đấu ra được khỏi ổ phục kích và trở về Đèo Mang Yang. Họ được yểm trợ bởi trực thăng vũ trang và chiến đấu cơ A-1E là những thành phần của lực lượng tiếp cứu đã được dự phòng cho một trường hợp bất ngờ như vậy. Các quân nhân DSCĐ sống sót báo cáo là họ bị tấn công bởi biển người Việt Cộng ném lựu đạn và trang bị với các loại súng mới. Họ báo cáo là sau khi hết đạn, họ dùng dao găm, lưỡi lê và lựu đạn đánh sáp lá cà tiếp sau trận phục kích. Một dấu hiệu chỉ cho thấy mức độ tàn khốc của cuộc xung đột là các loại vết thương. Một quân nhân DSCĐ bị cắn xuyên thủng bắp vế chân.

Hay tin cuộc phục kích, trung đội Eagle Flight được lập tức tung lên và đáp xuống tại phía đông vị trí phục kích để gây áp lực phía hậu của Việt Cộng và phá vỡ ổ phục kích. Nỗ lực này thất bại vì Việt Cộng quá mạnh và hỏa lực của chúng ghim chặt Eagle Flight xuống.

Tiếp sau đó trung đội Eagle Flight được tăng phái bởi một chuyến trực thăng vận của một đại đội Biệt Động Quân được thả xuống tiếp ứng. Đại đội này bị một hỏa lực mãnh liệt uy hiếp và sau khi hứng chịu nhiều thương vong thiết lập được một chu vi phòng thủ cho qua đêm. Vào giờ phút này trời đã xầm tối và số còn lại của tiểu đoàn Biệt Động Quân không còn có thể được trực thăng vận vào khu vực này, nhưng được các phi cơ Caribou đưa tới phi trường An Khê. Sáng hôm sau trung đội Eagle Flight và đại đội Biệt Động Quân tiến chiếm vị trí phục kích và kêu gọi các trực thăng đến tản thương. Trong số người bị thương có một đứa bé chín tháng, người sống sót duy nhất trong số hành khách dân sự của một chuyến xe đò di chuyển từ Qui Nhơn lên Pleiku đã bị Việt Cộng tàn sát tại địa điểm phục kích. Đại đội Biệt Động Quân và trung đội Eagle Flight từ địa điểm phục kích di chuyển về hướng đông dọc theo Quốc Lộ 19, nhưng vì các lực lượng Việt Cộng trong vùng quá mạnh, họ được lệnh kết nối với một tiền đồn DSCĐ kế cận (FOB2) và phòng thủ vùng này cho đến khi một lực lượng tiếp viện đến .

Tiểu đoàn Biệt Động Quân tại phi trường An Khê được lệnh phát động một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn dọc xuống Quốc Lộ 19 về hướng tây và kết nối với các đơn vị QLVNCH hiện đang bị cô lập tại FOB2.

Tiểu đoàn Biệt Động Quân tấn công xuống Quốc Lộ 19 về hướng tây vào sáng ngày 23 tháng 2 với sứ vụ khai thông đường lộ và kết nối với các đơn vị bị cô lập tại FOB2. Khởi đầu Biệt Động Quân tiến nhanh chống lại một kháng cự yếu và phát hiện các công xa bị phá hủy tại địa điểm đại đội DSCĐ An Khê bị phục kích. Nhưng chẳng mấy chốc sau đó, họ gặp phải một vị trí Việt Cộng đông đảo núp trong các hầm hố. Tiếp đó họ phối trí lại hàng ngũ và phát động một cuộc tấn công phối hợp nhưng bị chận đứng bởi số thương vong nặng nề.

Đến lượt Việt Cộng phản công, yểm trợ bởi hỏa lực súng cối mãnh liệt, do đó tiểu đoàn Biệt Động Quân từ từ rút lui về An Khê.

Vào lúc này tham mưu trưởng Quân Đoàn (Đại Tá Hiếu) và cố vấn trưởng Quân Đoàn bay thám thính chiến trường để nhận định tình hình cho tư lệnh Quân Đoàn. Họ khám phá là các đơn vị Việt Cộng ở cấp tiểu đoàn, được trang bị đầy đủ, và dùng chiến thuật bộ binh quy ước vừa bắn vừa di chuyển. Thêm vào đó, Việt Cộng đã được huấn luyện thành thạo các kỹ thuật hỏa lực phòng không chống các trực thăng vũ trang. Những đơn vị bị bắn trực tiếp sẽ tìm cách ẩn núp, nhưng những đơn vị hai bên sườn sẽ tiếp tục bắn vào trực thăng. Cuộc thám sát này nhận định là nỗ lực của Việt Cộng nhằm chiếm đoạt Thung Lũng An Khê được khơi mào bởi một số lượng đông đảo gồm các đơn vị thiện chiến Việt Cộng. Sau khi hay biết điểm này, Tướng Có, tư lệnh Quân Đoàn II, lập tức kêu gọi tăng phái từ các đơn vị của lực lượng tổng trừ bị tại Sài Gòn và ra lệnh cho các đơn vị của mình bảo vệ An Khê.

Vấn đề nan giải to lớn ngay trước mắt là 220 quân nhân bị bao vây tại căn cứ FOB2 của Nhóm Dân Sự Chiến Đấu. Ai nấy đều cảm thấy là nếu họ không được tiếp cứu thì sẽ sớm bị tràn ngập. Tướng Có lập tức chấp thuận một kế hoạch bốc họ bằng trực thăng, và kế hoạch được thi hành khẩn cấp. Đây là một cuộc hành quân khó khăn vì lẽ các đơn vị mắc bẫy bị hoàn toàn bao vây bởi Việt Cộng và các trực thăng sẽ rất dễ bị trúng đạn súng nhỏ khi đáp xuống và khi cất cánh. Cộng thêm vào đó, nếu như vùng bãi đáp bị hỏa lực súng cối mãnh liệt uy hiếp, thì sẽ xảy ra vô số tổn thất và xáo trộn. Một kế hoạch được đề xướng và được sự chấp thuận của Tướng Westmoreland để đem ra xử dụng lần đầu tiên các phản lực cơ vào việc yểm trợ cho các cuộc hành quân tại Việt Nam.

Kế hoạch trù định xử dụng phản lực cơ Hoa Kỳ hai bên sườn các trực thăng để cung cấp hỏa lực đánh dập bằng cách nã đại liên và trút bom xuống trong khi các trực thăng vũ trang trang bị súng bắn sát bên hông các trực thăng lanh lẹn. Kế hoạch này - cố gắng phối hợp ăn khớp các trực thăng, các phản lực cơ F-100, các chiến đấu cơ cánh quạt A-1E và các phóng pháo cơ B-57, tất cả với những vận tốc và đặc điểm khác nhau, thành một cuộc hành quân hội nhập duy nhất - đòi hỏi thiết kế cẩn thận và thi hành thật chính xác. May là mọi sự tiếp diễn vuông tròn. Hầu như không có tai nạn xảy ra, 220 quân nhân QLVNCH và DSCĐ được bốc lên trong ba đợt vào buổi chiều ngày 24 tháng 2. Trong chuyến bốc cuối cùng các trực thăng bắt đầu gặp hỏa lực súng cối và một ít hỏa lực súng nhỏ gần bãi đáp, nhưng may là chỉ có một trực thăng bị trúng đạn và một người bị thương. Các trực thăng của Lục Quân, với sự yểm trợ của phản lực cơ Không Quân, đã chứng tỏ nhiều khả năng bằng cách thêm một kiểu hành quân mới vào bảng liệt kê thành quả lớn lao của đơn vị tại chiến trường Việt Nam. Nếu hành động này xảy ra vào năm 1954, những người bị cô lập trong thung lũng hẳn phải toi mạng giống như đơn vị Groupe Mobile Pháp khi đơn vị này bị bao vây cũng tại chính khu vực này. Tuy nhiên lần này, các trực thăng và các phản lực cơ đã chứng tỏ là một yếu tố mới khiến Việt Cộng phải thua thiệt. Vào lúc này các đơn vị tổng trừ bị của lữ đoàn Dù được đổ xuống phi trường An Khê. Chiến đoàn Dù này lập tức phát động một cuộc tấn công vào tiểu đoàn Việt Cộng trước đây đã đẩy lui và cấu xé tiểu đoàn Biệt Động Quân. Khoảng chừng 200 lính Việt Cộng bị sát hại trong trận đụng độ này. Chúng bị trừng trị nặng đến độ chúng để lại nhiều súng ống và xác chết trên chiến trường.

Bị đánh bại dọc theo Quốc Lộ 19, tiếp sau Việt Cộng tìm cách tràn ngập căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt tại Kannak. Căn cứ nằm phía bắc Quốc Lộ 19 này, và căn cứ song đôi phía nam Quốc Lộ 19 tại Plei Ta Nangh, được đặt để trong Thung Lũng An Khê như những tiền đồn cho Quốc Lộ 19. Tuy không ngăn chận được sự xâm nhập của các đơn vị tấn công Quốc Lộ, 19, hai tiền đồn này uy hiếp mặt hậu của các đơn vị Việt Cộng hành quân dọc theo quốc lộ. Chúng đặc biệt là mối đe dọa cho việc tiếp tế và di tản thương binh Việt Cộng từ các cuộc giao tranh dọc theo các quốc lộ.

Việt Cộng phát động cuộc tấn công vào căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt tại Kannak vào 1 giờ 50 ngày 8 tháng 3. Các tài liệu tịch thâu được cho thấy là các phần tử của hai tiểu đoàn tham chiến. Chúng tấn công trong một hành động đẫm máu giống như trận đánh cay chua tiền đồn bên Triều Tiên tại Pock Chop, T-Bone và Old Baldy vào mùa xuân năm 1953. Hai tiền đồn nhỏ bé hơn của căn cứ bị tràn ngập trước. Một trong hai tiền đồn nhỏ này sau này được tái chiếm bởi một cuộc phản công của nhóm DSCĐ. Khu vực trung tâm của căn cứ đứng vững và Việt Cộng bị đánh bật tan tành ra khỏi trại. Chúng bỏ lại 126 xác chết vắt vẻo trên giây kém gai và bên trong những vị trí của tiền đồn mà chúng đã xâm nhập. Ngoài rất nhiều súng ống mới bao gồm cả các súng liên thanh, các súng không giựt 57 ly, các súng cối hai chân 82 ly và vô số lựu đạn, còn là vô số ống chứa chất nổ và mìn phá hoại bị bỏ lại bởi các quân Việt Cộng khi chúng bị đánh bại và tẩu tán. Tác động này sau cùng đã bẻ gãy giai đoạn đầu của cuộc tấn công đông-xuân của Việt Cộng.

Phá vỡ được cuộc tấn công của Việt Cộng, kế tiếp tư lệnh Quân Đoàn II phát động một giai đoạn phản công. Những cuộc hành quân này nhằm tái mở trước hết Quốc Lộ 19 và tiếp đến Quốc Lộ 1. Giai đoạn thứ nhất của cuộc tấn công của Quân Đoàn quét sạch quân Việt Cộng khỏi các trục lộ đưa tới quốc lộ trong Thung Lũng An Khê và trong một thời gian ngắn Quốc Lộ 19 được thông mở cho các đoàn xe dân sự chở các hàng tiếp tế tối cần cho vùng cao nguyên.

Giai đoạn kế tiếp, một cuộc tấn công để tái mở Quốc Lộ 1, được phát động bởi Sư Đoàn 22. Mục tiêu cuộc hành quân là quét sạch Việt Cộng khỏi phần đất phía bắc Tỉnh Bình Định mà chúng đã chiếm đoạt trong cuộc tấn công vào tháng 2. Nhiệm vụ thứ nhất là nối kết với một trại cô lập tại Phù Mỹ và sửa chữa con đường và các cầu đã bị Việt Cộng làm hư hại. Sau khi quốc lộ được sửa chữa xong tại Phù Mỹ, một cuộc tấn công được phát động từ phía bắc Phù Mỹ và từ phía nam Bồng Sơn, nhằm quét sạch Việt Cộng khỏi Quốc Lộ 1 và giải tỏa trại quân tại Bồng Sơn trước đây cũng đã bị bao vây và phải được tiếp tế bằng đường hàng không từ khi Việt Cộng tấn công vào tháng 2. Hai cuộc tấn công này được thiết kế phối hợp với một lực lượng thứ ba, được trực thăng vận để thiết lập một đường bay an toàn giữa Bông Sơn và Phù Mỹ. Cuộc tấn công này tiến hành nhanh chóng chỉ gặp phải một kháng cự yếu ớt của địch quân, và con đường tới Bồng Sơn được tái mở cách mau lẹ. Khi Quốc Lộ 1 được tái mở giữa Bồng Sơn và Qui Nhơn, không mấy chốc các xe cộ dân sự bắt đầu di chuyển và đồng bào di cư bắt đầu trở lại các ấp xã và dưới sự kiểm soát của chính phủ.

Sau khi Bồng Sơn được khôi phục, kế hoạch bắt đầu bước qua giai đoạn chót và gian nan nhất của cuộc hành quân. Quận Hoài Nhơn gồm 125.000 dân rất thiết yếu cho kế hoạch kiểm soát Tỉnh Bình Định của Việt Cộng. Ai cũng cảm thấy Việt Cộng sẽ phản ứng mạnh mẽ để ngăn ngừa QLVNCH tái khôi phục quận này. Trung Đoàn 2 Việt Cộng gồm ít nhất bốn tiểu đoàn đã tháo lui trước sự tấn công của Sư Đoàn 22 từ các núi đồi phía tây của Quốc Lộ 1. Vì cuộc tấn công này đã được thiết kế nhằm quét sạch Việt Cộng khỏi Quốc Lộ 1 cho tới tận ranh giới của Quân Đoàn, Tướng Có (tư lệnh Quân Đoàn II) và cố vấn trưởng Quân Đoàn viếng Đà Nẵng (bộ tư lệnh Quân Đoàn I) và phối hợp giai đoạn này của cuộc tấn công với tư lệnh và ban tham mưu Quân Đoàn I. Kế hoạch cũng thảo chi tiết cho phần yểm trợ của pháo binh và không tập.

Giai đoạn chót này của cuộc tấn công Quốc Lộ 1 bắt đầu từ ngày 10 tháng 4 với một tấn kích của hai tiểu đoàn trực thăng để thiết lập một đầu mũi bãi đáp tại Vĩnh Thụy, gần ranh giới Quân Đoàn I. Cuộc tấn kích này được phối hợp với một cuộc tấn công bộ binh tại phía bắc Bồng Sơn và cũng được hỗ trợ bởi một cuộc hành quân của Quân Đoàn I để chiếm đoạt phần đất cao điểm chế ngự Quốc Lộ I tại ranh giới của hai quân đoàn. Lúc ban đầu cuộc tấn kích trực thăng đổ bộ và cuộc tấn công từ bắc Bồng Sơn chỉ gặp phải một ít kháng cự lẻ tẻ.

Sau khi dọn sạch khu vực bãi đáp chống lại một chống cự yếu ớt, hai tiểu đoàn TQLC phân tán ra và bắt đầu dẹp sạch các thôn ấp dọc theo Quốc Lộ 1. Đó là điều Việt Cộng đang trông chờ. Đêm ngày 21 tháng 4, năm ngày sau cuộc tấn kích trực thăng, Trung Đoàn 2 Việt Cộng phát động một cuộc tấn công với một lực lượng ước tính khoảng ba đến bốn tiểu đoàn, nhằm phá hủy phần cận nam của tiểu đoàn TQLC. Nếu thành công, cuộc tấn công này sẽ tiêu diệt tiểu đoàn này, cắt đứt Quốc Lộ 1, và cô lập hóa tiểu đoàn TQLC và đơn vị pháo binh ở phía bắc. May là TQLC cảnh thức, phòng thủ kiên cố, và nắm vững địa thế. Với sự yểm trợ của pháo binh, họ dập tan cuộc tấn công Việt Cộng, địch quân rút lui và để lại hơn 200 xác chết trên chiến trường cùng khoảng 100 vũ khí, gồm có súng đại liên, súng không giựt, và súng cối. Trong khi Việt Cộng rút lui về hướng tây, chúng bị các chiến đấu cơ bắn hạ và hứng chịu nhiểu tổn thương hơn nữa. Tối hôm sau Việt Cộng phát động một cuộc tấn công cấp một tiểu đoàn nhằm bao bọc cuộc rút quân tổng quát về vùng căn cứ của lực lượng tan tành cách thảm thương cùng với nhiều xác chết và thương binh. Cuộc tấn công thành công này đã bẻ gãy sự chống cự của lực lượng chính Việt Cộng trong vùng này, và Sư Đoàn 22 và TQLC tiếp tục càn quét các lực lượng địa phương và du kích Việt Cộng còn để lại đàng sau.

Để chuẩn bị cho màn đánh kế tiếp, các lực lượng của QLVNCH xúc tiến cấp kỳ việc tái củng cố trong vùng. Họ sửa chữa đường lộ, tái tổ chức các cán bộ chính phủ trong xã ấp, và bắt đầu tái huấn luyện và tái tổ chức các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân trong một nỗ lực tái thiết lập guồng máy kiểm soát dân sự trong vùng. Đợt đầu gia đoạn của cuộc tấn công Việt Cộng đã thất bại. Tuy nhiên, mùa mưa sắp đến, Việt Cộng có khả năng tăng phái các đơn vị với những tiểu đoàn và trung đoàn mới của Bộ Đội Miền Bắc từ Bắc Việt xuống và tấn công lại một lần nữa, lần này với một con số đông đảo hơn.

Bài học đáng kể nhất trong thời kỳ này là tính cách quan trọng của yếu tố tinh thần - điều khó đo lường trong các cuộc hành quân mà các phân tích gia nặng phần áp dụng kỹ thuật điện toán trong trò chơi đánh giặc và nghiên cứu của họ không thèm màng tới. Lúc ban đầu bị bại và đẩy lui bởi cuộc tấn công Việt Cộng giáo đầu bởi các đơn vị mới xâm nhập từ Miền Bắc, tinh thần của các chiến binh QLVNCH chìm thấp một cách trầm trọng khoảng giữa tháng 2 năm 1965. Vào thời điểm này, các cuộc không tập Hoa Kỳ tại Bắc Việt và việc đem ra sử dụng các phản lực cơ để yểm trợ các cuộc giao tranh địa phương - ghi nhận trong việc cứu vớt thành công 220 quân lính QLVNCH bị mắc bẫy tại Quốc Lộ 19 - đã cho một mũi tiêm thuốc vào cánh tay khiến cho các lực lượng QLVNCH lên tinh thần. Việc Tổng Thống Johnson phái TQLC Hoa Kỳ đến Đà Nẵng được coi như là chứng tỏ tối hậu của ý chí cương quyết của chúng ta hậu thuẫn cho chính phủ Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo trì tự do của mình. Cuộc phản công thành công của QLVNCH kế tiếp và việc tái mở Quốc Lộ 19 và 1 lại nâng cao tinh thần lên hơn nữa.

Bị phân tán và đẩy lui trở về các căn cứ trong rừng núi, màn kế tiếp tùy thuộc Việt Cộng. Với mùa mưa gần kề, chúng có khả năng tăng quân số đông đảo với các quân lính từ Miền Bắc. Sau khi chuẩn bị chúng có thể tấn công nữa, với lớp màn che của mưa giông bão đổ xuống vào cuối tháng 5 hay đầu tháng 6 trên vùng cao nguyên. Tuy nhiên cho dù chúng có làm gì đi nữa, Việt Cộng sẽ đối mặt với các đơn vị QLVNCH với một tinh thần nâng cao bởi các cuộc chiến thăng mới đây và bởi một xác tín là Việt Cộng có thể bị chận đứng tại chiến trường. Như Tướng Có nói, "Giai đoạn sau tùy thuộc Việt Cộng. Chúng ta đã đánh bại chúng trong một trận chiến quy ước. Giờ đây chúng phải lựa chọn trở lui lại du kích chiến hay đưa vào những lực lượng Bắc Quân mới ngõ hầu chiếm được ưu thế với con số đông đảo. Nếu chúng làm vậy, cuộc chiến sẽ tiến vào một giai đoạn mới."

Đại Tá Theodore C. Mataxis
Army, October 1965

(Vietnam Center Archive)

generalhieu.com

 Attack and Counter-Attack on Highway 19

In 1965 the North Vietnamese communists launched a campaign designed to cut Vietnam in two and to defeat the Army of Vietnam (ARVN) in open warfare.

During the winter-spring offensive of 1964-65 the Viet Cong turned to the highlands of central Vietnam. The strength of the VC attack at An Lao in northern Binh Dinh Province in December indicated that the VC were prepared to quicken the tempo of activities from small-scale guerrilla actions to mobile warfare. In this action they operated at regiment or task force strength of at least three or four battalions. The VC held their ground and withdrew only under strong pressure by the Army of Vietnam. This was a change from their previous policy of raiding and ambushing, withdrawing as ARVN troops approached.

Then in February, concurrently with attacks on the II Corps advisory group billets and the 52d Aviation Battalion airfield in Pleiku, the VC launched a series of large-scale assaults in northern Binh Dinh Province. These were designed to seize control of the entire northern section of the province, and were successful. They overran several ARVN and regimental force positions and seized the northern portion of Binh Dinh Province, driving the remaining ARVN forces into isolated enclaves at Bong Son and Phu My which had to be supplied by air. This action was quickly followed by an operation in central Binh Dinh to cut Highway 19, the main supply route between the major port in the area (Qui Nhon) and the highlands. If successful, this attack would have isolated the highland provinces of Kontum and Pleiku. Cut off from supplies by road, they would have then depended only on air for resupply. This would have further weakened morale and put the VC in an excellent position for a later offensive, during the rainy season, against Kontum and Pleiku.

It is interesting to see how the Viet Cong retain the ability of their masters and predecessors, the communist Viet Minh, to shift their attacks rapidly from sector to sector in support of an overall plan. It is also significant to note how the foot mobility, while good enough to match that of French tanks and trucks, is having difficulty in coping with the helicopter mobility and firepower of today's ARVN forces.

The first serious attempt by the VC during 1965 to harass Highway 19 was launched on 14 February. This strategy had been anticipated by the II Corps commander (Brigadier General Nguyen Huu Co) in December 1964, after the An Lao battle. The II Corps commander is an experienced field commander with an intuitive grasp of the communist tactics resulting from extensive filed and command duty during the past 20 years of war in Vietnam. In December, when the attacks were made against An Lao and increased VC movements pointed to future activity in the northern Binh Dinh areas, he began to strengthen positions along the main supply route between Qui Nhon and Pleiku. As he explained: "This is just like the Viet Minh winter-spring campaign of 1954. They will strike in the plains of northern Binh Dinh to force us to rush our reserves over to the seacoast. Once this is done, they will then try to cut Highway 19 and isolate the highlands. This time we will be ready for them."

To strengthen his forces, already stretched thin over the II Corps area - the largest corps area in Vietnam, comprising nearly 50 per cent of the country's land - he took this action: Several companies of the Civilian Irregular Defense Group were deployed into two camps along Highway 19. (CIDG companies are formed from among the local populace and trained by Special Forces. In the plateau region CIGD companies are formed from among the various Montagnard tribes.) Next, several infantry battalions that had been on static security missions were freed from that mission and reassigned as mobile reserves. He also had his staff prepare plans for this contingency. Helicopter landing zones and airstrips were resurveyed and ammunition, POL, and other supplies stocked in key areas. Concurrently with these preparations, the mobile reserves were trained in the techniques of movement by helicopter and fixed-wing transport, Caribous as well as C-123s. These preparations completed, the stage was set for the next phase of the VC winter-spring offensive.

The first blow by the Viet Cong, directed against Highway 19, fell on an under-strength Regional Force company moving from Pleiku to positions in Mang Yang Pass. This company was ambushed west of Mang Yang Pass and suffered several losses. In this attack the enemy was armed with Chinese copies of the latest Soviet family of infantry weapons: SKS rifle, AK assault rifle, and RPD light machine gun, as well as a copy of the new Soviet RPG-2 antitank rocket launcher. Here was the first concrete evidence that a new unit was operating in this area. Orders were given to intensify friendly activity along Highway 19, and the CIDG units in the area increased their combat patrols and began operation in company-sized units.

On 20 February the VC launched their all-out effort to seize Highway 19 and cut off the highlands. First they struck at the CIDG outpost, Forward Operational Base No.1 (FOB1) east of Mang Yang Pass. (Sketch 1). The Civilian Irregular Defense Group forces at An Khe replied immediately and dispatched a CIDG company as a reaction force. As this company approached the outpost, it ran into an ambush which it routed by a head-on assault which caused the VC to break and run, leaving weapons and bodies on the site. The CIDG company then proceeded to the outpost where it gathered up the scattered friendly forces and remained overnight. Next day, as the company was returning to base camp, it was ambushed again, and its vehicles knocked out by the RPG antitank rockets. This time the Viet Cong succeeded and the CIDG company suffered heavy losses. On learning of this ambush, the CIDG company on alert at An Khe was dispatched to its relief. As the alert company approached the ambush site it was stopped by a roadblock and met heavy 82 mm mortar fire which destroyed the lead vehicle and caused several casualties. Threatened by encirclement and under mortar fire, the company withdrew to An Khe.

Plans were then made by the C Detachment at Pleiku for a CIDG company from Soui Doi, a camp to the west of Mang Yang Pass, to move to the east down Highway 19 while the forces in An Khe would work to the west (Sketch 2). These operations were designed to press the VC from two directions. Arrangements were made to have a helicopter-borne Eagle Flight of one CIDG platoon on standby to be lifted in to support the company from Soui Doi. Also alerted as further backup in case it was needed was the Corps reserve, a ranger battalion.

As the Soui Doi CIDG company approached the site where the French Groupe Mobile was ambushed and destroyed in 1954, their trucks were also hit by RPG antitank rockets which literally blew the trucks apart. This was followed by a furious VC assault. The company was overrun, but the survivors finally fought their way out of the ambush and back to Mang Yang Pass. They were supported by helicopter gunships and A-1E fighters which had been on column cover for such a contingency. The CIDG survivors reported that they had been assaulted by waves of Viet Cong who threw grenades and were armed with new weapons. They reported that after their ammunition had run out they used knives, bayonets and grenades in the hand-to-hand combat which followed the ambush. An indication of the ferocity of the melee was the nature of the wounds. One CIDG trooper had the calf of his leg bitten through.

On hearing of the ambush, the Eagle Flight platoon was immediately launched and landed to the east of the site in an effort to put pressure on the VC rear and rout the ambush. This attempt failed because the VC were too strong and their fire pinned down the Eagle Flight.

The Eagle Flight was soon reinforced by a helicopter lift of a ranger company which joined up with the Eagle Flight. They came under heavy fire and after suffering several casualties established a defensive perimeter for the night. By this time it was dark and the rest of the ranger battalion could not be lifted by helicopter into this area, but was airlanded by Caribous at the An Khe airfield. Next morning the Eagle Flight and the ranger company seized the ambush site and called in helicopters to evacuate the wounded. Among the wounded was a nine-month-old baby, sole survivor of a busload of civilians headed from Qui Nhon to Pleiku who had been massacred by the Viet Cong at the ambush site. The ranger company and Eagle Flight at the ambush site began moving east along Highway 19, but due to strong VC forces in the area, were ordered to join up with a nearby CIDG outpost (FOB2) and to defend the area until a relief force arrived.

The ranger battalion at the An Khe airfield was ordered to launch a battalion attack down Highway 19 to the west and link up with the ARVN troops now isolated at FOB2.

The ranger battalion assaulted to the west down Highway 19 on the morning of 23 February with the mission of clearing the road and linking up with the isolated ARVN troops at FOB2. Initially the rangers advanced rapidly against light resistance, uncovering the destroyed trucks at the site where the An Khe CIDG company was ambushed. Soon thereafter, however, they ran into a strong, dug-in VC position. They then organized and launched a coordinated attack but were stopped cold with heavy casualties.

The Viet Cong in turn counterattacked, supported by heavy mortar fire, so the ranger battalion withdrew slowly back toward An Khe.

At this time the Corps chief of staff (Colonel Hieu) and the Corps senior advisor reconnoitered the area to clarify the situation for the Corps commander. They found that the VC troops were in battalion strength, well equipped, and had used conventional infantry tactics of fire-and-movement. In addition, the VC had been well trained in the techniques of antiaircraft fire against helicopter gunships. Those being fired at directly would seek cover, but those in the flanks would continue firing at the chopper. The reconnaissance determined that the VC effort to seize the An Khe Valley was sparked by large numbers of hard-core Viet Cong troops. After learning this General Co, II Corps commander, immediately called for reinforcements from units of the general reserve at Saigon and ordered his troops to defend An Khe.

The major immediate problem was the 220 troops surrounded at the Civilian Irregular Defense Group's FOB2. It was felt that if they were not relieved they would soon be overrun. General Co immediately approved the scheme for removing them by helicopter, and planning was expedited. This was a ticklish operation since the trapped units were completely surrounded by VC and the choppers would be extremely vulnerable to small-arms fire while landing and taking off. In addition, if the landing zone itself came under heavy mortar fire, it could well result in serious losses and chaos. A plan was drawn up and approved by General Westmoreland for the first use of jet aircraft in support of operations in Vietnam.

The plan called for use of U.S. jets on the flanks of the helicopters to provide suppressive fires by strafing and bombing while the helicopter gunships flew shotgun on the immediate flanks of the "slick" choppers. This scheme - trying to match helicopters, F-100s and A-1E fighters and B-57 bombers, all of different speeds and characteristics, in a single integrated operation - required careful planning and split-second execution. Fortunately it went off like a charm. Almost without incident, 220 ARVN and CIDG troops were taken out in three lifts on the afternoon of 24 February. On the last lift the choppers began meeting mortar fire and sporadic small-arms fire near the landing zone, but fortunately only one chopper was hit and one man wounded. The Army Aviation choppers, supported by Air Force jets, proved their versatility by adding a new type of operation to their already impressive list of accomplishments in Vietnam. Had this action happened in 1954, the men isolated in the valley would have been lost as was the Groupe Mobile when it was surrounded in the same area. This time, however, the choppers and jet aircraft proved to be the additional factor which turned the table on the Viet Cong. By this time reinforcements from the general reserve airborne brigade were pouring into the An Khe airfield. The airborne task force quickly reconnoitered and launched an attack against the VC battalion which had pushed back the ranger battalion, and mauled it severely. It was estimated the VC lost more than 200 in this engagement. They were punished so badly they left many weapons and bodies on the battlefield.

Defeated along Highway 19, the VC next tried to overrun the Special Forces camp at Kannak. This camp north of Highway 19, and its sister camp south of Highway 19 at Plei Ta Nangh, had been placed in the An Khe Valley as outposts for Highway 19. While unable to stop infiltration of units to attack Highway 19, they threatened the rear of the Viet Cong units operating along the highway. They were a particularly dangerous threat to VC resupply and evacuation of wounded from these engagements along the highways.

The VC launched their attack on the Special Forces camp at Kannak at 0150 hours on 8 March. Captured documents indicate that elements of two battalions participated. They attacked in a bloody action reminiscent of the bitter outpost fighting in Korea at Pork Chop, T-Bone and Old Baldy in the spring of 1953. The two smaller outposts of the camp were initially overrun. One was later retaken by a counterattack by the CIDG. The central part of the camp held firm and the VC were driven off in complete disorder. They left 126 dead in the barbed wire and inside the outpost positions they penetrated. In addition to many new weapons including machine guns, 57 mm recoilless rifles, bipods of two 82 mm mortars and many grenades, bangalore torpedoes and demolition charges were abandoned by the defeated and disorganized VC. This action finally broke the back of the first phase of the Viet Cong's winter-spring offensive.

The VC offensive blunted, the II Corps commander next launched a phased counteroffensive. These operations were designed to reopen first Highway 19 and then Highway 1. The first phase of the Corps attack cleared the VC from highway approaches in the An Khe Valley and soon Highway 19 was opened to civilian trucks carrying the much needed supplies for the highland plateau.

The next phase, an offensive to reopen Highway 1, was launched by the 22d Division. Its objective was to clear the Viet Cong from the northern portion of Binh Dinh Province which they had seized during their February offensive. The first task was to link up with the isolated garrison at Phu My and repair the road and bridges which had been severely damaged by the VC. The highway repaired to Phu My, an attack was launched north from Phu My and south from Bong Son, designed to clear the VC from Highway 1 and relieve the garrison at Bong Son which had also been surrounded and had to be supplied by air since the VC attack in early February. These two attacks were mounted in coordination with a third force, lifted by helicopter to secure an air-head midway between Bong Son and Phu My. This attack progressed rapidly against only light enemy resistance, and the road to Bong Son was soon reopened. When Highway 1 was opened between Bong Son and Qui Nhon, civilian traffic soon started moving and refugees began returning to the hamlets and to government control.

Bong Son having been secured, planning began for the last and most difficult step of the operation. The Hoai Nhon District of 125,000 people was vital to the VC plan for securing Binh Dinh Province. It was felt that the VC would react strongly to prevent the ARVN from recovering the district. The Viet Cong 2d Regiment of at least four battalions had withdrawn in face of the 22d Division's attack to the mountains west of Highway 1. Since this attack was designed to clear the Viet Cong from Highway 1 all the way to the Corps boundary, General Co (II Corps commander) and the Corps senior advisor visited Danang (I Corps headquarters) and coordinated this phase of the attack with the I Corps commander and his staff. Detailed plans were also prepared for artillery and close air support.

This last phase of the Highway 1 offensive was begun on 10 April with a two-battalion helicopter assault to secure an airhead at Vinh Thuy, near the I Corps boundary. This was coordinated with a ground attack north from Bong Son and also supported by an operation by I Corps which secured the high ground dominating Highway 1 on the boundary of the two corps. This helicopter assault landing and the attack from Bong Son (north) at first met only scattered resistance.

After clearing the landing zone against light opposition the two Marine Corps battalions separated and began clearing the hamlets along Highway 1. This was what the VC had been waiting for. On the night of 21 April, five days after the helicopter assault, the Viet Cong 2d Regiment launched an attack by a force estimated at three to four battalions, designed to destroy the southernmost Marine battalion. If successful, the attack would have destroyed the battalion, cut Highway 1, and isolated the northern Marine battalion and its artillery. Fortunately, the marines were alert, well dug in, and stood their ground. Supported by artillery, they completely crushed the VC attack, the enemy withdrawing and leaving more than 200 bodies on the battlefield along with some 100 weapons, including machine guns, recoilless rifles, and mortars. As the VC withdrew to the west, they were hit by fighters and suffered still more casualties. The next night the VC launched a battalion-sized attack designed to cover the general withdrawal into their base area of their badly mauled force along with their many dead and wounded. This successful action broke the back of resistance by the Viet Cong main force in this area, and the 22d Division and marines continued mopping up against the local VC and guerilla forces that remained behind.

In preparation for the next round, the Army of Vietnam forces expedited their reconsolidation of the area. They repaired the road, reorganized the village government cadres, and began retraining and reorganizing their Popular and Regional Force units in an effort to reestablish civilian control in the area. The initial phase of the Viet Cong offensive had been defeated. However, the rainy season approaching, the VC were capable of reinforcing their units with new battalions and regiments of the People's Army of (North) Vietnam from North Vietnam and attacking once again, this time in much greater numbers.

The most impressive lesson learned during this period was the importance of the factor of morale - that imponderable in military operations too often ignored by today's computer-oriented operations research analysts in their wargames and studies. Initially defeated and driven back by the VC offensive which was spearheaded by new units infiltrated from the North, the morale of the ARVN troops sank to a critically low point by mid-February 1965. At this time U. S. air strikes on North Vietnam and the release of jet aircraft to support local engagements - noted in the successful recovery of 220 trapped ARVN troops on Highway 19 - gave a shot in the arm to the morale of the South Vietnamese armed forces. President Johnson's dispatch of U.S. marines to Danang was viewed as the final evidence of our firm determination to stand with the South Vietnamese government in its fight to retain its freedom. The Army of Vietnam's successful counteroffensive that followed and the reopening of Highways 19 and 1 have still further raised morale.

Dispersed and driven back into their mountain and jungle bases, the next move was up to the VC. With the approach of the monsoon season they had the capability for massive reinforcement with more troops from the North. Once prepared they could strike again, under cover of the rain storms due in late May or early June in the high plateau. However they move, the VC will be facing ARVN units whose morale has been raised by recent victories and a belief that the VC can be stopped on the battlefield. As General Co said, "The next move is up to the VC. We have defeated them in open warfare. They must now make the choice of going back to guerrilla warfare or introducing new PAVN forces in order to regain a superiority in numbers. If they do this, the war will enter a new phase."

Colonel Theodore C. Mataxis
Army, October 1965

(Vietnam Center Archive)

generalhieu