Showing posts with label bảo đại. Show all posts
Showing posts with label bảo đại. Show all posts

Tuesday, August 19, 2025

 Gặp một cựu GS Toán-Lý-Hóa của  tại SG trước 1975.

Sáng nay, tôi gặp 1 bà láng giềng, từng dạy Toán-Lý-Hóa tại các trường công lập như nữ trung học Lê văn Duyệt, Thánh Mẫu (của Công giáo) và Taberd (của dòng tu La-San).

Bà cho biết lúc trẻ đã học trung học Đồng Khánh (Huế), sau đó vào SG học môn Toán Lý Hóa tại ĐH Sư phạm SG. Bà nói, phải qua ĐH Khoa học SG để học Lý-Hóa với các GS Việt và Pháp, vì ĐH Sư phạm ko có thày. 

Tôi nói GS Toán Đinh Qui từng ở nhà tôi. Ông từng là hiệu trưởng trường Quốc Học Huế. Ổng với ba là bạn "nối khố", đã thầm yêu 1 nữ sinh Huế và sau này ông Qui cưới bà này. Tuy vậy sau này ba người đều là bạn với nhau. Sau 75, cả gia đình ông định cư tại Úc vì có 2 con gái du học ở đó. 

Chồng của bà thuộc hoàng phái họ Bửu. Bà cho biết họ Bửu trên họ Vĩnh, nhưng dưới họ Ưng. 

Sunday, November 19, 2023

 

BẢO ĐẠI SOLUTION

The so-called Bao Dai Solution of the late 1940s first began in the wake of World War I, when the former governor general of Indochina, Albert Sarraut, then minister of the Colonies, joined hands with the resident of Annam, Pierre Pasquier, to use the crown prince Bao Dai as the incarnation of Franco-Vietnamese collaboration and as a politico-cultural weapon to win over Vietnamese support and combat communists and nationalists contesting colonial rule. After receiving in Paris a French education fit for aristocrats and nobles, Bao Dai returned to Vietnam in 1932 and was dispatched on imperial tours to help calm tensions in areas recently wracked by communist-backed peasant revolts. Under Pasquier’s direction, Bao Dai also tried to revive the monarchy and administer a Vietnamese government in accordance with Annam’s status as a protectorate. However, the French inability to accord a modicum of autonomy, symbolized by the resignation of Ngo Dinh Diem from the government, undermined this first attempt to use Bao Dai and the monarchy for any progressive or counter-revolutionary purposes. Bao Dai withdrew thereafter, uninterested in French efforts to mobilize royalty via his person and disappointed by the French incapacity to provide any real autonomy to the monarchy. Even Vichy’s Jean Decoux privately lamented that Bao Dai was no solution.

However, a host of conservative minded colonial officials, both republicans coming out of the French resistance and those who had continued to serve Vichy faithfully in Indochina during the war, joined hands after 1945 to resurrect the Bao Dai project for a third time (Decoux failed during World War II), this time to counter the national threat posed by the emergence of the Democratic Republic of Vietnam (DRV). This was particularly true after Charles de Gaulle’s would-be Vietnamese king, Duy Tan, died in a plane crash in 1945. While Gaullists regretted that Bao Dai had publicly abdicated in August 1945 and become a supreme advisor to the new republic, colonial administrators such as Charles BonfilsAlbert TorelJean Cousseau, and Léon Pignon had no such qualms. These men all knew each other and the emperor from before the war and were intimately familiar with Sarraut, Pasquier, and Decoux’s royalist projects.

Starting in July 1946, as the DRV and French military officers began eliminating the anti-French anti-communist parties, the French began working behind the scenes to woo Bao Dai back home (Bao Dai had left the DRV in April 1946 and chosen exile in Hong Kong). Pignon and Cousseau took the lead. The High Commissioner for Indochina Georges Thierry d’Argenlieu supported the idea of finding a Vietnamese “Solution” in order to counter the nationalist one proposed by Ho Chi Minh. Bao Dai did not, however, dutifully return to Vietnam as he had done for the French in 1932. He was well aware of how he had been used since World War I and spoke in derisive terms of the so-called Bao Dai Solution. He remained in Hong Kong hoping to pressure the French to accord him what they had refused Ho Chi Minh: national unity and real independence.

In December 1947, following the French decision to exclude the possibility of new talks with Ho Chi Minh’s government, Bao Dai met the High Commissioner Émile Bollaert in the Bay of Ha Long. A joint declaration was written up and a secret protocol was initialed. Bao Dai agreed to join the “Solution”, although the creation of the Associated State of Vietnam was never referred to as such. A future unified Vietnam would remain within the French Union as an associated state, the former emperor agreed, and the French would administer much of its military and foreign affairs. However, in exchange, the French had to recognize Vietnamese independence and unification, meaning the transfer of Cochinchina. Nationalist leaders, notably Ngo Dinh Diem, refused to accept the secret protocol and moved to the sidelines to wait things out. Bao Dai, under pressure to reach an agreement at a time when the international situation was hostile to the DRV, tried to renegotiate the terms but finally accepted the creation on 26 March 1948 of “a provisional central government” (un gouvernement central provisoire) under the leadership of General Nguyen Van Xuan. On 25 May 1948, the French agreed to allow this government to represent the former colonial regions of Tonkin, Annam and Cochinchina. On 5 June 1948, in the Bay of Ha Long, Bollaert initialed another protocol, in the presence of the emperor, setting the foundation of Franco-Vietnamese relations and agreeing that France would recognize Vietnamese independence. Bao Dai insisted however that the French go all the way and legally transfer Cochinchina to Vietnam and sign a new accord to that effect. Gone was the Provisional Government of the Republic of Cochinchina (also known briefly as the gouvernement provisoire du Sud-Vietnam). In short, the deteriorating situation in China, increased pressure from the United States, the inability of the French army to defeat the DRV, and the accession of Léon Pignon to the position of high commissioner for Indochina combined to force the French to reach the famous accord of 8 March 1949 between Vincent Auriol and Bao Dai. France formally recognized Vietnam’s independence, even though it was limited in the diplomatic, economic, and military domains. On 23 April 1949, the Cochinchinese Assembly voted to allow the former French colony of Cochinchina to be attached to the rest of Vietnam.

Bao Dai finally returned to Vietnam after more than four years abroad. However, the French refused to allow the imperial head of state to take up residence in the palace of the high commissioner in Saigon. Instead Bao Dai had to set up shop in Dalat. On 2 July 1949, Bao Dai formally oversaw the creation of the Associated State of Vietnam. He became head of state and allowed his prime minister to run a government that was no longer “provisional”. On 7 August 1949, the DRV’s representative in France, Tran Ngoc Danh, unilaterally closed the government’s delegation in Paris. (The French could not recognize, even indirectly, two Vietnams.) While the French bowed to British and American pressure to grant increased independence to the Vietnamese in order to take on the wider and more important communist threat triggered by the Chinese communist victory on 1 October 1949, the French, led by Léon Pignon, also recast the colonial Bao Dai Solution as an integral part of the American-led war against global communism. In February 1950, following the Chinese and Soviet diplomatic recognition of Ho Chi Minh’s government, the United Kingdom and the United States recognized the Associated State of Vietnam and thus endorsed the Bao Dai Solution dating back to Sarraut’s post-World War I strategy.

Sunday, December 16, 2018


Tống Văn Công - Hồ Chí Minh: Người hai mặt . . . 

Đăng bởi: Tiểu Nhi on Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018 | 16.12.18


Khi Hồ Chí Minh theo Quốc Tế III Cộng Sản, Cụ Phan Châu Trinh với tư cách là bạn của bố ông Hồ gửi lá thư đề ngày 12 Tháng Hai, 1922, cho rằng con đường đó sẽ đưa tới tình trạng “quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX:Nxb Chuông Rè, 2000, tt 39-40).



Đúng vậy, chế độ của ông Hồ không cho người dân được tự do bằng chế độ thực dân Pháp. Thực dân Pháp đã cho các nhà văn thành lập Tự Lực Văn Đoàn, các nhà giáo thành lập Hội Truyền Bá Chữ Quốc Ngữ, các đảng viên Cộng Sản ra báo tiếng Việt và tiếng Pháp tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản.

Do đó, trong tác phẩm Gửi Mẹ và Quốc Hội, ông già Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn, người vào đảng Cộng Sản từ năm 1936 đã chua xót xin đảng “cho người dân được tự do bằng với chế độ thực dân Pháp.”

Nhà bình luận người Pháp, ông Jean Francois Revel viết về Hồ Chí Minh: “Mục tiêu của ông ta không phải là nền độc lập của nước Việt Nam mà là hợp nhất với Quốc Tế Cộng Sản. Đó không phải là đem lại cho nhân dân quyền tự quyết, quyền bầu cử, quyền lựa chọn những người lãnh đạo, luật pháp và cách sống của họ; mà là dùng cưỡng bách để áp đặt chế độ toàn trị kiểu Stalin lên dân chúng…” (Ho Chi Minh: le détournement du patriotism, trong quyển Ho Chi Minh: l’homme et son heritage, Ed. Đường mới, Paris, trang 9).

Có nhiều bài báo cho rằng ông Hồ không có ý ra đi tìm đường cứu nước. Bằng chứng là khi tới Pháp, ông Hồ đã gửi đơn xin học trường thuộc địa và bị bác đơn. Ông còn gửi đơn xin nhà nước thuộc địa cho cha mình một công việc để sống.

Ở thời bưng bít thông tin, chúng tôi không được biết những điều kể trên. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn nhiều người cao tuổi chống “đảng do Nguyễn Phú Trọng thao túng,” nhưng lại muốn quay về với đảng của Hồ Chí Minh vì cho rằng ông Hồ là người bảo vệ tự do, dân chủ!

Thực ra trong những năm 1945-1946, khi đảng Cộng Sản chưa giành được địa vị độc tôn đảng trị, Hồ đã có những phát ngôn đề cao dân chủ để thu phục nhân tâm, chống lại các đảng phái Quốc Gia. Hồ sống nhiều năm ở các quốc gia dân chủ Châu Âu, đã thuộc lòng nhiều câu về tự do dân chủ, nhưng không cảm nhận được bản chất tốt đẹp của dân chủ. Hồ nói về dân chủ chỉ để ru ngủ người dân, dẫn dụ họ tôn thờ, phục vụ đảng Cộng Sản. Hồ sống nhiều năm ở Liên Xô dưới triều đại Stalin, nhưng không nhận ra bản chất đáng ghê tởm của chế độ đảng trị, vì vậy đã cố tìm mọi cách để thiết lập và củng cố chế độ này ở nước ta. Trong khi đó, nhà văn André Gide một người từng coi Liên Xô “còn hơn là một vùng đất hứa,” nhưng sau khi đến thăm Liên Xô năm 1936, đã viết “những suy nghĩ muộn màng về Liên Xô: Phản bội lại tất cả mọi hy vọng của chúng ta. Quần chúng thì ù lì. Văn nghệ sĩ thì thụ động và kém hiểu biết về thế giới bên ngoài… Họ dành sự xa hoa để tiếp đãi tôi, trong khi xung quanh là cảnh nghèo đói.”

Ngày 16 Tháng Năm, 1946, trong lễ khai giảng Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, ông Hồ trao cho nhà trường lá cờ thêu sáu chữ “Trung với nước, hiếu với dân.” Thế nhưng, 18 năm sau, khi đã thiết lập được chế độ toàn trị trên miền Bắc, nhân ngày thành lập quân đội, 22 Tháng Mười Hai, năm 1964, ông Hồ viết: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân…” Chỉ riêng chuyện này đã cho thấy Hồ rất khôn khéo, ứng phó thích hợp với thời thế trong từng giai đoạn.

Trong quyển “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương,” với bút danh Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ viết: “Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế, hay văn học như ta thấy ở Châu Âu và các nước Châu Á khác, chứ không phải là tờ báo do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển.” Nhưng chế độ của ông đã thiết lập một hệ thống báo chí làm “công cụ của đảng, nói tiếng nói của đảng.” Ông nói “dân chủ là người dân được mở mồm ra nói.” Nhưng Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường chỉ góp ý nên xây dựng chế độ pháp trị để giúp đảng tránh những sai lầm như cuộc cải cách ruộng đất, đã lập tức bị đưa ra đấu tố, “bị rút phép thông công” (Un excommunié – Tựa đề quyển hồi ký của Nguyễn Mạnh Tường viết bằng tiếng Pháp) rồi cho “ngồi chơi xơi nước.”

Hồ nói “chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương do nhân dân cử ra.” Nhưng sống trong chế độ của ông, người Việt Nam đã nhận xét bằng một thành ngữ “đảng cử dân bầu.” Ông nói: “Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ.” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, trang 283). Nhưng chính phủ của ông không chỉ làm hại dân một lần mà rất nhiều lần: Cải cách ruộng đất, Chống Nhân văn-Giai phẩm, Cải tạo nông nghiệp và công thương nghiệp…

Người dân làm sao để có thể đuổi cái chính phủ do đảng độc quyền lãnh đạo!

Hồ Chí Minh có bài viết “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân.” Đạo đức cách mạng theo ông Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.” Nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang nhận định: “Hệ tư tưởng này chỉ thừa nhận con người cộng đồng và con người chức năng. Con người cá nhân không thể không tìm lối thoát: Nó phải sống chui. Bi kịch cá nhân của nó chính là ở chỗ này.”

Và như chúng ta đã biết, chính bản thân Hồ Chí Minh cũng không thoát khỏi được bi kịch ấy trong đời sống riêng tư của con người cá nhân ông. Sống chui là sống không hợp thức, không hợp pháp.” (Hồ Chí Minh nói về con người. Phần viết thêm, Tháng Chạp 1993).

Ông Nguyễn Tài, người từng theo ông Hồ những năm ở Thái Lan, kể với Nguyễn Kiến Giang: Trước khi ông Hồ mất ít lâu, Nguyễn Tài được vào thăm. Ông Hồ bảo ông Tài viết tặng mình đôi câu đối. Ông Hồ nói: “Kẻo sau khi mình đi rồi, có tặng, mình cũng không biết gì nữa.” Ông Tài viết: “Giao hoan bi hỉ đồng song lệ. Ân oán giao tranh huyết nhất bầu.” Ông Tài giải thích: Cái vui, cái buồn xoắn lấy nhau, đôi tròng mắt trào lệ. Chuyện ân, chuyện oán tranh nhau, vẫn một bầu máu nóng ấy. Ông Hồ rất thích đã vỗ tay khen: “Câu đối này hợp với mình lắm. Cuộc đời mình, vui cũng nhiều mà buồn cũng nhiều. Ân cũng nhiều mà oán cũng nhiều.” (Cũng lạ, nếu ông Hồ là người giỏi chữ Hán tại sao ông không biết trong chữ Hán không có chữ bầu. Bầu là một từ thuần Việt!).

Năm 1960, khi làm phóng viên báo Lao Động, nhiều lần ở các hội trường của Ban Tuyên Huấn Đảng, tôi được nghe Tố Hữu, Hoàng Tùng nói, “Trần Dân Tiên, T. Lan là bút danh của Bác.” Các vị cho rằng ông Hồ viết về mình, không phải để tự đề cao mà chỉ nhằm mục đích thực hiện một công tác cách mạng: Giúp cho quần chúng hiểu rõ và kính yêu lãnh tụ, càng thêm tin tưởng vào tiền đồ cách mạng. Tuy nhiên trong sách này, Trần Dân Tiên không chỉ đề cao Hồ Chí Minh mà còn chê bai những anh hùng dân tộc như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và đả kích những người yêu nước không Cộng Sản như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh. Cuối sách, ông Hồ gợi ý: “Nhân dân gọi chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ Tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam.”

Nhiều người nước ngoài có dịp tiếp xúc với ông Hồ đã nhận xét về thói quen đóng kịch của ông. Trong quyển sách viết về ông Hồ xuất bản năm 1968, ở trang 217, nhà báo Pháp Jean Lacouture nhận xét: “Chiếc khăn tay của ông ta thường quệt trên cặp mắt khô queo.” Theo Hoàng Tùng, trước khi hành hình Nguyễn Thị Năm-Cát Hanh Long, người ta xin ý kiến ông Hồ, ông nói: “Người Pháp cho rằng không bao giờ đánh phụ nữ dù với một nhành hoa…” Trong khi đó, với bút danh C.B., ông Hồ đã viết trên báo Nhân Dân bài “Địa chủ ác ghê,” vu cáo Nguyễn Thị Năm giết chết rất nhiều nông dân.

Trong hồi ký của mình, Giáo Sư Nguyễn Đăng Mạnh có một bài viết về ông Hồ, trong đó có đoạn: “Như đã nói, vì lý do chính trị, Hồ Chí Minh nhiều khi phải diễn kịch. Sống cứ phải ‘diễn’ như thế, kể cũng khổ… Những trò diễn của Hồ Chí Minh nói chung có tác dụng rất tốt đối với tầng lớp bình dân. Nhưng với trí thức có khi lại phản tác dụng. Năm 1946, Hồ Chí Minh từ hội nghị Fontainebleau về nước, có Trần Hữu Tước và một kỹ sư tên là Quang theo về. Trên tàu, ông Hồ diễn trò nhảy ‘son lá son’ với các thủy thủ. Quang thấy thế lấy làm khó chịu, mất tin tưởng. Ông ta bỏ không theo Hồ Chí Minh nữa… Trần Hữu Tước sau này có gặp Quang rửa xe máy ở Sài Gòn.”

Chuyện ông Hồ có vợ con hay không cũng làm tốn rất nhiều giấy mực. Trong bức thư gửi Bác Sĩ Vũ Đình Tụng, người có con vừa hy sinh, ông Hồ viết: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình cũng không có con cái.”

Ngày nay, có rất nhiều tư liệu nói cụ thể về những người tình và vợ con của ông Hồ: Trong sách Hồ Chí Minh ở Paris, Thu Trang cho biết, ông Hồ từng viết những bức thư dài tán tỉnh cô Bourdon. Sử gia Daniel Hémery kể: Khi vào Đảng Xã Hội Pháp, ông Hồ có “người tình đồng chí” là Marie Briére. Rời Mạc-Tư-Khoa tới Quảng Châu, Tháng Mười năm 1926, Hồ làm lễ kết hôn với Tăng Tuyết Minh ở nhà hàng Thái Bình. Ngày 6 Tháng Sáu, 1931, khi bị cảnh sát Hongkong bắt, Hồ đang sống với một phụ nữ tên là Li San. Năm 1942, Hồ rời Cao Bằng đi Hoa Nam, đến Tháng Tám, năm 1943, Hồ trở lại Cao Bằng cùng với Đỗ Thị Lạc và đứa con gái. Trong cuốn “Một cơn gió bụi,” Lệ Thần Trần Trọng Kim có kể chuyện này.

Năm 1956, Hồ 65 tuổi đưa cô Nông Thị Xuân 22 tuổi, từ Cao Bằng về số 66 Phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội, để sống lén lút và sinh con là Nguyễn Tất Trung mà không dám thừa nhận. Có vợ, có con không phải là xấu, nhưng cố giấu chuyện mình có vợ có con mới là “vấn đề” và vì thế ông ta không dám bảo vệ khi vợ mình bị hãm hiếp, sát hại.

Tháng Giêng, năm 2009, trả lời câu hỏi của ông Nguyễn Vĩnh Châu: “Hồ Chí Minh có công hay có tội,” Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đáp: “Vấn đề tùy thuộc ở những gì những người kế vị Hồ Chí Minh sẽ thực hiện trong tương lai.”

Tại sao lại phải chờ xem những người kế vị Hồ Chí Minh sẽ làm gì? Tội của Hồ Chí Minh là đã tạo ra và củng cố một chế độ độc tài đảng trị, phản dân chủ. Chế dộ đó là nguyên nhân của hai tai họa cho đất nước: Giặc ngoại xâm phương Bắc được giặc nội xâm, tức là bọn kế vị Hồ Chí Minh dâng tặng đất đai trên đất liền và các đảo ở biển Đông. Giặc ngoại xâm phương Bắc không bao giờ thỏa cơn khát bành trướng xâm lược. Lũ nội xâm, tức là bọn cầm quyền trong nước thì vơ vét của dân không từ một thứ gì!

Có lẽ Cựu Hoàng Bảo Đại, người có dịp sống gần Hồ Chí Minh những năm 1945-1946, miêu tả con người hai mặt của Hồ Chí Minh xuất sắc nhất.

Trong hồi ký “Con Rồng Việt Nam,” Cựu Hoàng Bảo Đại kể, Tháng Chín, năm 1945, những ngày đầu gặp Hồ, ông nhận thấy: “Mặc chiếc vareuse hở cổ, đi dép Bình Trị Thiên, râu cằm lơ thơ, Hồ Chí Minh giống một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn, vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy. Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử, do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương, về Nga và Trung Hoa… Quả thật ông cụ này thành thực hăng say với nền độc lập và thống nhứt của đất nước.”

Một năm sau, ngày 15 Tháng Tư, năm 1946, bị bỏ rơi trên đất Tàu, không một xu dính túi, giở thư Hồ Chí Minh vừa mới gửi, đọc tới câu cuối: “Ôm hôn thắm thiết,” Bảo Đại bật cười và nhận xét:

“Quả nhiên, đây là tay đại hề, đóng kịch rất tài. Khi thì đạo mạo như cha già, khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả, yếu mềm hay nghiêm trang, trịnh trọng, nhiều khi trào lộng, mỉa mai. Tất cả những ai đã ở gần ông ta, đều tự lừa hay đã bị lầm. Người Mỹ rồi Sainteny, thêm tôi nữa… Khi tôi biết được quá khứ của ông ta sự giao dịch đã rất trơn tru. Tôi biết trước mặt tôi là ai rồi, sau cái mặt nạ này. Một chiến binh Mác-Xít, một kẻ đã chai đá sau hơn ba mươi năm chiến đấu, bị đảng chi phối, trói buộc chặt chẽ rồi, một chiến sĩ đầy thủ đoạn. Thừa khả năng chịu đựng, dám làm tất cả mọi sự lừa lọc, biết người, biết nhược điểm của họ, để khinh bỉ họ, kiên nhẫn cùng cực, và quyết theo đuổi kỳ cùng mục tiêu của mình mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt. Đầy tế nhị và thông minh và bất nhân đến độ bạo tàn. Lúc nào cũng sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình, để bóp chặt kín đáo không ai có thể ngờ.

Theo đảng Cộng Sản Mác-Xít do hoàn cảnh thực tế giai đoạn, bởi chủ nghĩa này trong chiến lược toàn cầu nhận thấy sự nổi dậy của tất cả các sắc dân bị trị, nên ông ta nhắm mắt tuân theo, không biết đến lý luận hay bàn cãi gì nữa. Khi đã vào đảng rồi, ông ta đã nhìn với nhãn quan của chủ thuyết này qua lăng kính một chiều của nó.”

Tống Văn Công *

(Người Việt)

* Ông Tống văn Công , đã từ bỏ ĐCSVN từ lâu sau khi biết bộ mặt thật của nó -- Tài .