Thursday, September 7, 2017

MỘT CÁI CHẾT ĐÃ ĐƯỢC BÁO TRƯỚC 
Đăng lại nhân bài mới đây của bạn Nguyen Vinh Ken
-----
". . . Vào giửa năm 1972 , lực lượng CS ở miền Nam gồm có 176.000 quân CSBV chia thành 11 sư đoàn và 24 trung đoàn biệt lập , cộng thêm 200.000 quân thuộc các đơn vị tỉnh và địa phương của MTGPMN .
Quân lực VNCH lúc đó có 200.000 quân gồm 13 SĐ bộ binh được sắp xếp như sau : quân khu 1 có 5 SĐ bộ binh + SĐ dù + SĐ TQLC + 1 thiết đoàn + 6 tiểu đoàn BĐQ . QK 2 có 2 SĐ bb , 1 thiết đoàn và 18 TĐ BĐQ . QK 3 có 3 SĐ bb , 1 thiết đoàn , 9 TĐ BĐQ . QK 4 có 3 SĐ bb , 1 thiết đoàn và 12 TĐ BĐQ . 
Mổi thiết đoàn có 1 chi đoàn chiến xa hạng trung M-48 và 2 chi đoàn thiết kỵ ( gồm có 1 chi đội chiến xa hạng nhẹ M-41 và 2 chi đội thiết vận xa M-113) ; riêng QK 4 vì nhiều vùng sình lầy nên chỉ có M-113 , không có chiến xa . 
Thêm vào đó là 283.000 quân của 323 TĐ địa phương quân và 184.000 nghĩa quân . KQ của VNCH có 30.000 người và 1.200 máy bay .
Lực lượng quân CSBV tiếp tục phát triển trong năm 1974 . Vào tháng 3 , họ đã có 185.000 quân chính qui tại miền nam , hổ trợ bởi 500-700 chiến xa , 350 khẩu đại bác 122 và 130 ly , và 24 trung đoàn phòng không trang bị hỏa tiển SAM2 , SAM3 , và SAM6 . (Lúc đó đã có hỏa tiển tầm nhiệt vác vai SA-7 * xử dụng tại miền Nam , gây rất nhiều thiệt hại cho máy bay bay chậm như trực thăng .-- Tài) . 
Trong lúc đó , các đơn vị của VNCH ngày càng thiếu thốn vũ khí/đạn dược khi quốc hội Mỹ cắt giảm lớn lao nguồn quân viện cho VN . Không Quân chỉ còn xử dụng 921 máy bay/1277 chiếc , và sự thiếu hụt về xăng dầu/đạn dược đã buộc họ cắt giảm 40% phi vụ và 60% hỏa lực kể từ 1973 .
Nếu trong khi năm 72 , QLVNCH đã được tiếp tế 66.500 tấn chiến cụ / tháng , thì kể từ tháng 7/74 , con số này là 18.267 tấn/tháng . Kho vũ khí của QLVNCH giảm đi ¼ : không có trực thăng và chỉ có BỐN chiếc F-5 được thay thế cho những chiếc bị bắn rơi hay bị tai nạn lúc hành quân . QLVNCH chỉ còn xử dụng 1/5 đạn dược và 1/10 xăng dầu nếu so với lúc quân viện được tiếp tế đầy đủ . Người lính bộ binh chỉ được xử dụng 85 viên đạn/ngày và mỗi khẩu đại bác là bốn viên/ngày .
Kể từ tháng 9/1974 , toàn bộ các trực thăng (trên cả nước) chỉ thực hiện được 2.000 giờ bay/tháng bao gồm tải thương . 1/5 máy bay phải nằm ụ và đại bác thì chỉ còn xử dụng BA quả mỗi ngày .
Trong khi đó , quân CSBV đã lên tới 200.000 người với 600 khẩu pháo và 1000 chiến xa . Quân lực VNCH , tính tới đầu năm 1975 trên giấy tờ là 450.000 người , kể luôn luôn thành phần tiếp vận . Bao gồm 11 SĐ BB , 1 SĐ Dù , 1 SĐ TQLC , 2 trung đoàn biệt lập , 21 chi đoàn thiết giáp , 43 TĐ BĐQ và 18 TĐ pháo binh . Mức độ đào ngũ là 24.000 người/tháng . Con số đầy kinh hoàng này cho thấy tinh thần chiến đấu sa sút của QLVNCH tính tới cuối năm 1974 . Sự gần như bỏ rơi của đồng minh (Mỹ) và thương vong tiếp tục cao đã làm suy yếu rất nhiều (ate up away at the spirits) tinh thần các cấp trong QLVNCH . . ." (HẾT) .
Dịch từ : The Vietnam War , 1959-1975 , trang 206-7 .
NHẬN XÉT : Câu nói "chiến trường quyết định bởi quân nhu" đã rất đúng khi áp dụng vào tình hình quân sự trước khi miền Nam sụp đổ . Vì quân viện Mỹ cho VNCH bị cắt giảm mạnh tới 80 % nên mỗi đại bác chỉ được bắn 3 quả/ngày , lính bộ binh 85 viên/ngày , v.v... Lúc đó tôi đang hành quân ở 1 TĐ bộ binh của SĐ 7 nên rất hiểu sự nghiêm trọng của vấn đề này . Có lần tiểu đoàn hành quân trực thăng vận mà chuyển quân từ sáng đến chiều mới xong (đánh chác được gì khi chuyển quân kiểu đó) . 
San Jose ngày 14.12.10 lúc 1:33 sáng .
* Theo wiki , có khoảng từ 40-50 máy bay trực thăng và cánh quạt của VNCH và Mỹ bị SA-7 bắn rơi trong giai đoạn từ 1972-75 . Theo 1 nguồn tin , hỏa tiển này đã dùng từ 1968 .

No comments:

Post a Comment