Wednesday, September 23, 2026

NƯỚC MỸ CHỈ LÀ THIÊN ĐƯỜNG CHO KẺ MAY MẮN.

Rất nhiều người ở Mỹ đã sống trong đau khổ TRIỀN MIÊN, nước mắt nhiều hơn nụ cười, có người nói với tôi, hôn nhân của họ là ĐỊA NGỤC, v.v... Với những người như vậy, cuộc đời rất buồn chán (boring), không còn sinh khí (lifeless).

Trong hơn 25 năm ở Mỹ, qua việc giúp đỡ (cho nhiều thanh niên thất nghiệp, sa cơ thất thế)... dạy Toán và Anh văn cho trẻ em mới sang Mỹ... giúp đỡ bạn bè hay láng giềng làm đơn từ, dịch thuật Anh-Việt, điện thoại thông minh, v.v... tôi nhận thấy rất nhiều người Việt kém may mắn hay không thích ứng với cuộc sống tại Mỹ vì: 1/ Qua Mỹ khi đã lớn tuổi trong khi tiếng Anh rất kém, ko tìm được nghề hợp với năng khiếu hay kiến thức của mình, v.v... 2/ Có người dù đến Mỹ dưới 10 tuổi nhưng chỉ học hết trung học rồi nghỉ nên họ phải làm các nghề tay chân, tương lai mờ mịt, thường xuyên thất nghiệp. 3/ Có người, do NGHIỆP QUẢ (karma) xấu nên hôn nhân của họ là địa ngục. 4/ Những đau khổ sau khi miền Nam sụp đổ (như sĩ quan và công chức VNCH đi tù, đổi đời, đổi tiền, cải tạo tư sản, v.v... các thảm cảnh của vượt biên như cướp biển, gia đình ly tán, v.v... những hậu quả của hố sâu về thế hệ * (generation gap). 

SJ ngày 23.9.2020. Cập nhựt ngày 23.9.2006.


Monday, September 21, 2026


Phái Đoàn của vua nước Thái Rama IV yết kiến hoàng đế Napoléon III vào ngày 27/6/1861, họ chấp nhận quỳ gối trước Napoléon để đổi lấy sự hoà bình, sự tự do, tránh được chiến tranh với nước Pháp.



- Để thoát khỏi sự xâm lược của các nước phương Tây, người Thái phải chấp nhận quỳ gối, tuy giữ được độc lập nhưng người Thái phải nhân nhượng nhiều quyền lợi , cắt đất cho Anh và Pháp, Năm 1888 và 1893, Thái Lan phải cắt một số vùng đất phía đông cho Campuchia (thuộc quyền cai trị của Pháp). Năm 1904 và 1907 phải tiếp tục cắt đất, tổng cộng hơn 20.000 km2 cho Pháp. Năm 1909 phải cắt nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Bắc cho Anh. Năm 1909, lại phải cắt vùng đất trên 40.000 km2 tại bán đảo Malacca cho Anh .Tổng cộng, trong 50 năm, Thái Lan đã bị mất đi 352.877 km2 lãnh thổ ,những vùng này ngày nay thuộc về Campuchia, Myanmar và Malaysia, coi như là bị mất hẳn. Lãnh thổ Thái Lan ngày nay chỉ còn rộng bằng 60% so với trước năm 1867 (514.000 km2 so với 867.000 km2)

Sunday, September 20, 2026

 Số 10, 13 và 23 và nước Mỹ




- Có lần tôi nói đùa với bạn bè: Nếu nước Mỹ sẽ chìm như tàu Titanic, tôi sẽ là người cuối cùng rời tàu.

1/ Như đã viết nhiều lần, số 13* đã xuất hiện rất nhiều trong lịch sử Mỹ với 13 bang tiên khởi, 13 mủi tên trong chân của chim ưng và 13 lá nguyệt quế trên đồng đô la, v.v... Theo LTS, các quốc phụ của Mỹ cũng là các chiêm tinh gia nên họ áp dụng thuật phong thủy tại thủ đô, xem hình.
Trong ảnh: National Mall là hồ chứa nước hình chữ nhựt, với Đài Kỷ Niệm Lincoln ở đáy của chữ nhựt, ở giữa là Tượng Đài Washington có hình kim tự tháp* (theo các nhà phong thủy, tượng đài này dùng để trấn yểm), và cuối là Điện Capitol - nơi họp của QH Mỹ.
2/ Tôi dùng LTS để phân tách:
UNITED = 6 5 1 4 5 4 = 25 = 7
STATES = 3 4 1 4 5 3 = 20 = 2
OF = 7 8 = 15 = 6
AMERICA = 1 4 5 2 1 3 1 = 17 = 8
Cộng lại: 7 2 6 8 = 23 = CỰC KỲ MAY MẮN
Sau đây là ý nghĩa của số này
Số 23 – Ngôi Sao Của Sư Tử Vua (The Royal Star of the Lion)
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1). Số 23 ban cho (bestow), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong những nỗ lực (endeavor) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp, mà còn bảo đảm có sự giúp đỡ từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chở/bảo vệ từ những người có địa vị cao (protection from those in high places). Đây là một số rất may mắn, và số này ban phát (bless) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể (entity) tượng trưng bởi số này. Số này, cũng nên được xem xét với những số khác (như ngày sanh hay tên) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số (full numerological analysis), điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn. Nhưng trong những giai đoạn khó khăn, những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử. Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó./.
(Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs).
Chú thích: (1) Từ Karmic xuất phát từ danh từ Karma, tiếng Sanskrit có nghĩa là hành động /số mệnh/nghiệp. Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước, và (nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này.
* Theo LTS, số 13 tượng trưng cho TRẢ NỢ DỒN. Rất may cho tôi, ngày sanh và tên ko dính gì đến trả nợ dồn.
3/ Nhưng tên tôi lại bằng 10 (bánh xe định mạng, hạnh phúc và đau khổ thường đi kế nhau). Tên USA = 6 + 3 + 1 = 10, cũng có ý nghĩa tương tự. Do vậy tôi RẤT HỢP VỚI NƯỚC MỸ: cũng đúng thôi, có ai cở tuổi 15-16 ăn cắp tiền cha mẹ để mua một bộ nguyệt san Mỹ gồm mấy trăm quyển kèm bản đồ. Kiến thúc của tôi đã phát triển nhờ bộ sách này.
Đăng ngày 10/5/2020, cập nhật ngày 20/9/26.

 

VỤ KIỆN CÀ PHÊ MCDONALD GÂY PHỎNG CHO KHÁCH HÀNG

Ngày 27/2/1992, bà Stella Liebeck, 79 tuổi, đã mua 1 ly cà phê nóng giá 49 cent từ quày drive-through, xem hình, của 1 nhà hàng McDonald’s, tại Albuquerque bang New Mexico.

Bà Liebeck ngồi ghế hành khách của một xe Ford Probe đời 1989, loại ko có thiết bị giữ ly nước. Đứa cháu nội đậu xe để bà bỏ thêm kem và đường vào cà phê. Bà đặt ly cà phê giữa đầu gối và mở nắp ly cà phê, và đã làm đổ hết ly cà phê lên đùi. Do bà mặt quần dài (sweatpant) bằng cô-tông loại tập thể dục, xem hình, nên cà phê thấm vào da, gây phỏng đùi, mông, và vùng xương chậu (groin hay pelvic region).

Bà được đưa vào bv cấp cứu. Bà bị phỏng cấp độ 3 trên 6/100 của cơ thể và phỏng cấp độ thấp hơn ở 16/100 cơ thể. Bà phải ở bv 8 ngày để ghép da. Trong thời gian này bà sụt 9.1 kí, chỉ còn nặng 38 kí. Sau khi xuất viện bà được con gái chăm sóc 3 tuần. Bà đã bị biến dạng vĩnh viễn và phần nào tàn phế trong 2 năm.

CÁC LẦN THƯA KIỆN

Lúc đầu bà chỉ yêu cầu McDonald’s chi trả 20 ngàn đô về chi phí hiện tại hay sắp tới (anticipated). Gồm có chi phí trị phỏng là 10,500; chi phí sắp tới khoảng 2.500; con gái mất thu nhập vì chăm sóc bà khoảng 5.000; tổng cộng khoảng 18.000 đô. McDonald’s chỉ chịu trả 800 đô.

Khi McDonald’s từ chối tăng tiền bồi thường, bà Liebeck nhờ luật sư Reed Morgan, thuộc Tòa Quận hạt New Mexico. Ông này buộc tội McDonald’s đã TẮC TRÁCH NGHIÊM TRỌNG do bán cà phê đã “nguy hiểm một cách vô lý” (unreasonably dangerous) và “chế biến đầy khiếm khuyết” (defectively manufactured). Morgan đề nghị bồi thường 300 ngàn đô, và 1 nhà hòa giải đề nghị 225 ngàn, nhưng McDonald’s đã từ chối.

PHIÊN TÒA

Phiên tòa diển ra từ 8-17/8/1994, tại Tòa án Quận hạt New Mexico.  Các LS của bà Liebeck đã khám phá rằng McDonald’s yêu cầu các đại lý phải giữ cà phê từ 82-88 độ C. Các LS nói rằng cà phê ko nên nóng quá 60 độ C, một số đại lý đã cung cấp cho khách cà phê thấp hơn nhiệt độ do McDonald yêu cầu. Các LS trưng bằng chứng cà phê khắp thành phố được phục vụ cho khách ở nhiệt độ 11 độ C thấp hơn so với cà phê của McDonald.

Họ còn trưng cho bồi thẩm đoàn ý kiến của 1 chuyên gia. Ông này nói rằng cà phê nóng 88 độ C có thể gây phỏng cấp 3 (cần phải ghép da) trong khoảng 3 giây và nếu nóng 82 độ sẽ có thể gây phỏng trong khoảng 12 tới 15 giây. Nếu giảm nhiệt độ xuống còn 71 độ C, thời gian gây phỏng sẽ là 20 giây. Giúp cho nạn nhân có thể có đủ thời gian lau sạch cà phê nóng, tránh gây bỏng thêm.

McDonald’s đã lập luận rằng hãng cung cấp cà phê nóng như vậy cho khách hàng drive-thru vì nghĩ rằng họ sẽ mang cà phê một đoạn xa mới uống; khi đó nhiệt độ sẽ thấp hơn lúc mới mua. Tuy nhiên, người ta tìm tìm thấy một khảo sách của hãng này cho thấy khách uống liền khi lái xe. Hãng này cũng nhận khuyến cáo từ các chuyên gia rằng nhiệt độ cao giúp cà phê toát hết hương vị.

Một số văn bản khác cho thấy, từ 1982 đến 1992, hãng này đã nhận hơn 700 báo cáo về phỏng bởi cà phê, và đã bồi thường hơn nửa triệu đô. Quản lý về kiểm tra chất lượng của hãng, ông Christopher Appleton cho rằng con số trên ko đủ để khiến hãng đánh giá việc pha cà phê. Ông nhấn mạnh mọi thực phẩm nóng hơn 54 độ C đều có nguy cơ gây bỏng và các nhà hàng đều ý thức điều đó.

Các nguyên đơn nói rằng Appleton đã thừa nhận cà phê McDonald’s có thể gây phỏng miệng và uống họng nếu khách hàng uống liền khi nhân viên bưng ra bàn.

PHÁN QUYẾT CỦA TÒA

Bồi thẩm đoàn 12-người đã đi đến phán quyết (reach a verdict) vào ngày 18/8/94. Dựa trên các nguyên tắc “hai bên ít nhiều đều có lỗi” (comparative negligences), bồi thẩm đoàn thấy rằng McDonald’s trách nhiệm 80/100 cho tai nạn này và bà Liebeck chịu 20/100. Dù rằng có cảnh báo trên ly cà phê, họ nghĩ điều đó ko đầy đủ. Họ đề nghị bà Liebeck được 200.000 đô bồi thường thiệt hại, nhưng được giảm 20/100 còn 160.000 đô. Bà còn được 2.7 triệu đô do McDonald bị phạt vạ. Bồi thẩm đoàn đã đưa con số này vì LS Morgan đề nghị phải phạt 2 ngày lợi tức của hãng, khoảng 1.3 triệu mỗi ngày.

Nhưng chánh án đề nghị chỉ phạt McDonald’s 480.000 đô, và bồi thường 160.000 đô cho bà Liebeck, tổng cộng là 640 ngàn đô. Quyết định này đã bị hai bên chống án vào tháng 12/1994, nhưng hai bên đã đồng ý giải quyết ngoài tòa án với số tiền ko được tiết lộ.

Dịch xong buổi sáng ngày 20.9.26 từ bài Liebeck v. McDonald's Restaurants trên Wikipedia.

Friday, September 18, 2026

    


NĂM 1975 CHỊ 25 TUỔI VÀ CÓ 2 CON. NGÀY 30.4.75, DÙ EM CHỒNG LÀ HẢI QUÂN NHƯNG ANH VẪN Ở LẠI VÌ KHÔNG THỂ BỎ ĐƠN VỊ. ANH ĐI TÙ 9 NĂM VÀ GIA ĐÌNH ĐỊNH CƯ TẠI MỸ.  

Monday, September 14, 2026

 TRẬN ĐỖ XÁ ĐỢT 1 NĂM 1964.

… Trong những ngày cuối tháng 4, bộ tổng tham mưu QLVNCH ra lịnh cho trung tá Lê nguyên Khang thành lập một chiến đoàn gồm 2 TĐ và một pháo đội cho QĐ 2. Khi đó TQLC sẽ cùng các thành phần của sđ 2 và 25 VNCH để mở một tấn công gồm nhiều trung đoàn vào rừng núi hiểm trở ngay phía nam của ranh giới QĐ 1 và 2. Được đặt tên BẠCH PHƯỢNG 10, cuộc hành quân này nhầm xâm nhập vào Đỗ Xá, một căn cứ địa bất khả xâm phạm của CS. Căn cứ này nằm trên dãy Trường Sơn, tại một nơi mà 3 biên giới của 3 tỉnh Quảng Tín, Quảng Ngải, và Kontum gặp nhau, xem hình. Trước 1954, quân Pháp chưa bao giờ đến đây.

 

Các tù binh CS bị bắt vào đầu thập niên 1960 khai rằng các cán binh bắc VN đã đi qua Đỗ Xá trước khi đến những bình nguyên ven biển dân cư đông đúc thuộc các tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Hơn nữa, khu vực này được cho là nơi đặt bộ tư lịnh (BTL) của quân khu 5 (QK-5).

Sau khi ra lịnh cấm trại đối với TĐ 2 và 4, một pháo đội sơn pháo, xem hình, 1 trung đội viễn thám, và một BCH nhẹ, Khang bay cùng với trung tá Moody tới Pleiku để bàn kế hoạch với thiếu tướng Nguyễn Khánh và BTM của QĐ 2. Theo kế hoạch, trực thăng của TQLC và lục quân Mỹ sẽ bốc bộ binh và pháo binh của VNCH để lập vòng đai bao vây khu vực tình nghi của căn cứ Đỗ Xá. Theo từng giai đoạn, các đv VNCH sẽ bắt đầu thu nhỏ vòng vây, sau đó (whereupon), đv TQLC sẽ được bốc vào khu vực tình nghi, để lục soát.

Ảnh: Sơn pháo 75 ly, tầm xa 8.8 km, tốc độ 6 viên phút, súng nặng 653 kg. Do Mỹ sản xuất, nhưng quân đội VM và CSBV cũng có (do TC chuyển giao cho VMCS sau khi chiếm được của quân Tưởng giới Thạch trước 1949).

Để kiểm soát toàn bộ chiến dịch, tướng Khánh sẽ lập BCH tiền phương tại Plateau GI, một làng Thượng, ở bờ nam của khu vực hành quân, ở 25 dặm đông bắc Kontum.

Ngày 1/5/1963, các C-123 của Không quân Mỹ chở 2.000 lính TQLC từ SG đến thị xã Quảng Ngải. Trung tá Moody và thiếu tá Croft, cố vấn phó và cố vấn pháo binh, đi theo TQLC. Ngày kế, một đoàn xe tải chở các TQLC này chạy khoảng 40 dặm về phía bắc tới Tam Kỳ, tỉnh lỵ của Quảng Tín. TĐ 2 TQLC, cố vấn bởi đại úy Taylor, xuống xe và tập họp ở phi đạo Tam Kỳ, trong khi phần còn lại của đoàn xe quay về phía tây, theo con đường đất chật hẹp vòng quanh các ngọn đồi để tiến sâu vào rừng núi Trường Sơn.

Ảnh: trực thăng H-21. Tốc độ đường trường 158 km/h, tối đa 204 km/h, tầm xa 426 km. Vỏ trang: 1 hay 2 khẩu 12.7 ly hay M-60. Chở 20 lính hay 12 băng ca.

Trong khi đó, các H-21, còn gọi là trực thăng “trái chuối”, xem hình, từ Pleiku đã đáp xuống Tam Kỳ, bốc các thành phần của TĐ 2, và đã bắt đầu trực thăng vận họ vào một bãi đáp hay LZ nằm cạnh một dòng suối, khoảng 30 dặm tây nam của tỉnh lỵ. Đoàn xe chở TQLC tiếp tục  chạy theo hướng tây nam cho tới khi gặp 1 tiền đồn nhỏ của vnch ở Trà My. Tại đây, khoảng 24 dặm tây nam của Tam Kỳ, Khang đã lập BCH trong một trường học kế cận một phi đạo thô sơ bằng đất nện. Pháo đội sơn pháo 75-ly, cố vấn bởi thiếu tá Croft, được đặt gần đấy trong khi trung đội viễn thám  và các thành phần của TĐ 4, cố vấn bởi đại úy Christensen, làm công tác an ninh. Sau đó, các trực thăng H-34 của TQLC mỹ từ Đà Nẳng chở một bong bóng đựng xăng (fuel bladder), xem hình, và máy bơm sân bay này. Một khi cuộc đổ quân của TĐ 2 hoàn tất, các H-21 của lục quân Mỹ, được nhận xăng từ các bồn chứa này, đã bắt đầu bốc TĐ 4 vào LZ của TĐ 2, ở vài dặm phía nam của Trà My.

Một khi hoạt động này đã hoàn tất, hai TĐ này bắt đầu lục soát một thung lũng sâu và những núi kế cận để kiếm các căn cứ địa CS. Sau vài ngày TQLC của Khang đã tìm được một căn cứ nhưng ko gặp bất cứ kháng cự nào khi tiến vào vị trí này. Lại một lần nữa, đối phương, có lẽ được cảnh báo trước đó bởi hoạt động của các đv VNCH, đã rút lui.  Quân ta chỉ bắt một y sĩ bắc VN và một y tá. Những ngày kế, sau khi lục soát những túp lều và hệ thống địa đạo, TQLC đã tìm thấy 1 kho tiếp liệu gồm vài súng, 6 máy đánh chữ, 3 máy may, một máy truyền tin, 44 bản đồ, một bảng tính bằng tiếng Pháp cho pháo binh, và nhiều pin cho đèn bấm.

 

Ảnh trên: Bong bóng đựng xăng; ảnh dưới: bong bóng chứa 10.000 gallon xăng, bốn phía là bao cát, chụp tại căn cứ Cửa Việt, Quảng Trị.

 

 SAN JOSE NGÀY 14 THÁNG 9 2026.

TÀI TRẦN

 

QUÂN PHÁP TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT THÁNG 11 NĂM 1945.

                           

ĐÂY LÀ MỘT XE RENAULT VIVA 4, MÀ CHỈ HUY CỦA VM TẠI ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ DÙNG. XE NÀY TRƯỚC ĐÓ CỦA CHỦ ĐỒN ĐIỀN CAO SU. QUÂN PHÁP NHỜ XE NÀY ĐÃ QUA MẶT CÁC TRẠM KIỂM SOÁT CỦA VM TRÊN ĐƯỜNG TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT. (C’est un véhicule identique à celui-ci (Renault Viva 4) que le chef régional viet-minh s’était approprié (sûrement en le prenant au propriétaire d’une plantation) et que la colonne a pu récupérer pour tromper les sentinelles des postes VM dans la dernière ligne vers Buôn Ma Thuột). 

LỜI NÓI ĐẦU:

Tưởng cũng nên nhắc lại: Tháng 9/1940, quân Nhật đã xâm chiếm phía bắc của Đông Dương sau khi nước Pháp rơi vào tay Đức Quốc Xã. Chánh quyền thuộc địa của Pháp tại Đông Dương (dưới thời Vichy) lúc đầu vẫn nắm quyền, nhưng cho phép quân Nhật hiện diện.

Tháng 7/1941, quân Nhật tiến vào phía nam Đông Dương, dùng khu vực này để làm bàn đạp tấn công Malaya, Singapore, và vùng Đông Ấn (Dutch East Indies).

Tháng 3/1945: Sợ rằng người Pháp sẽ nổi dậy khi chiến tranh trở nên thất lợi cho Nhật, họ đã làm đảo chánh Pháp, bắt giam các viên chức Pháp, và buộc các thủ lãnh địa phương phải tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, dưới sự bảo hộ của Nhật.

Tháng 8/1975, Nhật đầu hàng, tạo ra 1 khoảng trống quyền lực dẫn đến Chiến tranh Đông Dương lần thứ Nhứt. Lợi dụng tình hình này, VM đã dành chánh quyền tại Hà Nội và một số khu vực trên toàn quốc, bao gồm tại Nam Kỳ và Trung Kỳ. Sau đó, quân Pháp theo chân quân Anh, để tái chiếm Nam Kỳ và Trung Kỳ. Ở Bắc Kỳ, quân của Trung Hoa Dân Quốc vào giải giới quân Nhật…

Sau là là phần chuyển ngữ.

Chú ý: Để tôn trọng nguyên bản, tôi xin giữ những danh xưng đã dùng trong bài viết.

“Trong khuôn khổ của việc người Pháp trở lại Nam Kỳ (Cochinchina), và Trung Kỳ (Annam), họ đã thực hiện các cuộc hành quân tảo thanh (lục soát) và bình định. (Nam Kỳ và Trung Kỳ, sau này được chúng ta gọi Nam phần và Trung phần – ND)

BẢN ĐỒ CỦA HÀNH QUÂN TÁI CHIẾM BAN MÊ THUỘT (BMT).

 

Ngày 25/11/1945, đại đội A của Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) nhận lịnh phải tiến hành một hành quân xa 350-km vào Cao nguyên Trung Kỳ để bất ngờ chiếm Ban Mê Thuột.  (Nói thêm: Trung đoàn này là một đơn vị cảm tử hay thám kích thành lập tại An-giê-ri năm 1943 trong Đệ Nhị Thế chiến, lúc đầu có tên là Đoàn Can thiệp Cơ động (Corps Léger d’Intervention hay CLI) và được tái xử dụng (repurpose) để hoạt động tại Viễn Đông, và cuối cùng tái cấu trúc ngày 1/5/1945 ở Tích Lan, nay là Sri Lanka, với tên mới là Trung đoàn 5 Bộ binh Thuộc địa (5th RIC) để giúp quân Pháp tái chiếm Đông Dương. (Trung đoàn này được thiết kế như 1 đơn vị bộ binh nhẹ, họ xử dụng chiến thuật du kích/thám sát, hoạt động sau phòng tuyến của đối phương, dựa trên những kinh nghiệm của các đơn vị đặc biệt của Đồng Minh như SAS của Anh, v.v… Đến Sài Gòn vào cuối 1945, họ đã chiến đấu từ Nam Kỳ đến Lào và bờ biển Trung Kỳ. Đơn vị này đã chính thức giải tán vào ngày 1/7/1946 tại Lào, với các cán bộ kinh nghiệm sau này trở thành nòng cốt của các TĐ Dù và thuộc địa của Pháp – ND).

ẢNH: HUY HIỆU CỦA TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA, TRƯỚC ĐÓ CÓ TÊN LÀ ĐOÀN CAN THIỆP CƠ ĐỘNG (CLI).

Đơn vị này đã đến sân bay Tân Sơn Nhứt ngày 12/9/1945, dưới quyền của đại úy Noirtin, bên cạnh là trung tá Rivier—một đại biểu quân sự lâm thời, từng phục vụ trước đây trong TĐ lính Thượng.

Nay chỉ huy bởi đại úy Lataste, đại đội (đ.đ.) được chia thành 3 trung đội chiến đấu và hai toán chỉ huy và võ khí nặng, bao gồm 8 sĩ quan (sq), 4 dự bị sq, 48 hạ sq, và 61 binh sĩ (bs). Họ được tăng cường bởi khoảng 30 người từ Trung đoàn 5 bộ binh thuộc địa và 1 nhóm các cựu tù binh Pháp, cũng như vài dân thường quen thuộc với địa thế trong vùng hành quân. Liên đoàn khinh chiến của sư đoàn 2 thiết giáp, viết tắt là GM/2e DB, đã cung cấp hai xe thiết giáp nhẹ M8 (Greyhound), xem hình, và 1 trung đội của trung đoàn 501 chiến xa, viết tắt là 501e RCC, cùng với xe tải như xe GMC hay xe Dodge 6x5; trong khi đó trung đoàn 5, lại trang bị bởi Sư đoàn 20 Ấn độ của thiếu tướng Anh quốc Douglas Gracey với các xe tải hiệu Chevrolet C MP 15-cwt do Canada sản xuất, xem hình. Toàn bộ lực lượng này dưới quyền chỉ huy của trung tá Rivier.

 

ẢNH CHIẾN XA M-8: Khi bị phục kích trên QL-19 năm 1954, chiến đoàn 100 của Pháp có xài chiến xa này, sản xuất từ 1942, có đại bác 37 ly (80 viên), 1 đại liên 12.7 ly 400 viên và 1 đại liên 7.62 ly 1.500 viên. Trong trận Đồng Xoài 1965, có 2 xe này bị VC chiếm, gây thương vong cho quân trú phòng, nhưng sau đó bị máy bay phá hủy.

ẢNH của chiến xa Cadillac V-100, sản xuất năm 1963, do chạy bánh nên được ĐPQ VNCH dùng để tuần tiểu các quốc lộ như QL-4 cho tới năm 1975. Trang bị 1 đại bác tự động 20 ly, 1 phóng lựu 40 ly, 1 đại liên 12.7 ly và một đại liên 7.62 ly.  

 

ẢNH TRÊN VÀ DƯỚI, XE TẢI CHEVROLET 15 CWT CMP DO CANADA SẢN XUẤT, TRƯỚC ĐÂY THUỘC SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ CỦA TƯỚNG GRACEY, NAY TRANG BỊ CHO TRUNG ĐOÀN 5 BỘ BINH THUỘC ĐỊA.

ẢNH XE DODGE 6X6 DO MỸ SẢN XUẤT GẶP TRỞ NGẠI.

ẢNH: TỚI TRẠI LE ROLLAND, TRÊN ĐẤT CAM-BỐT.

ẢNH: TỚI NGÃ BA TAM BIÊN.

ẢNH TRÊN: TRỤ ĐỊNH VỊ CỦA NGÃ BA BIÊN GIỚI,

CHỤP NĂM 1945, VÀ ẢNH DƯỚI, CHỤP BÂY GIỜ.

ẢNH: DO TỪNG TRANG BỊ CHO SƯ ĐOÀN 20 ẤN ĐỘ, LÚC ĐÓ VẪN CÒN LÀ THUỘC ĐỊA CỦA ANH, NÊN XE NÀY MANG CỜ ANH. ẤN ĐỘ ĐỘC LẬP NGÀY 15.8.1947.

ẢNH TRÊN: CẦU 14 HAY CẦU SÊ RÊ PÔC, GẦN BMT, CHỤP NĂM 1945, VÀ BÂY GIỜ, ẢNH DƯỚI.

ẢNH BẢNG HIỆU TRƯỚC BAN TÀI CHÁNH CỦA VM, Ở BMT.

ẢNH TRÊN: KHẨU ĐẠI LIÊN Ở SAU XE LÀ HOTCHKISS 1914; ẢNH DƯỚI, RÕ HƠN. (TRƯỚC NGÀY NHẬT ĐẢO CHÁNH PHÁP 9/3/1945, BMT VẪN CÒN DƯỚI QUYỀN CỦA PHÁP).

 

Lực lượng khởi hành ngày 27/11. Dự định sẽ đi qua Bù Đốp, trại Le Rolland (trên đất Cam-bốt), và đồn “Tam Biên”, xem bản đồ; các chướng ngại – như đường và cầu hư—ngày càng nhiều khi đi khỏi Bù Đốp (khiến phải tốn 36 giờ để sửa chữa sau vùng Tam Biên. Rất may cho quân Pháp khi họ đã chận bắt một viên chức địa phương của VM; và dùng xe của y (hiệu Renault Viva 4, xem hình) mà trước đó VM tịch thu của chủ đồn điền. Quân Pháp cho xe này chạy trước đoàn xe để đánh lừa và tiêu diệt từng chốt kiểm soát của VM. Chiến thuật này đã cho phép quân Pháp tới BMT mà không đánh động quân VM ở đó và gần như chiếm thị trấn này mà ko cần chiến đấu. Quân Pháp có sáu bị thương; trong đó có chuẩn úy Fabrège, sau này chết ở binh viện Grall hay Đồn Đất ở SG. Một số lớn súng đạn bị tịch thu, và khoảng 30 con tin Pháp được giải thoát.

Thay vì phát huy sự thành công này để làm suy yếu khả năng của VM tại địa phương, Rivier quyết định trở lại Bù Đốp ngày kế-- có lẽ do hiểu lầm lịnh của cấp trên—dù có phản đối của cấp dưới. Ngay khi tới Bù Đốp, ông lại nhận lịnh phải trở lại BMT; quân Pháp đã tái chiếm BMT ngày 5/12 sau khi bị phục kích nhiều lần—khi phải chiếm lại các trạm kiểm soát của VM trên đường từ Bù Đốp đến BMT. Họ cũng đụng độ dữ dội ngay trong thị xã. Tổn thất nặng hơn kỳ trước rất nhiều: 6 chết—trong đó quân y sĩ Nouaille-Degorce, thiếu úy Hérichier, và binh nhứt Geoffroy—và sáu biệt kích bị thương, gồm thiếu úy Icart, trung sĩ Guinet, và binh nhì Gross.

Tường trình của trung sĩ Pierre Guinet:  ”Đó là ngày 5/12/1945. Trung đội của Martin dẫn đầu. Xe thiết giáp đi cuối lần nữa bị hư. Khoảng trưa, khi sắp tới 2 km cuối cùng, súng tự động nổ vang. Quân phục kích, với quân đông đảo núp sâu trong rừng, tấn công những xe đi đầu. VM vô hình trong rừng rậm hai bên đường. Trung sĩ Aubert, ngồi kế tôi, bị trúng đạn vở đầu. Gross, thủ khẩu 12.7, bị trúng đạn ở cổ, trong khi chúng tôi phóng xuống đất giữa tiếng đạn rít (whin). Icart bị trúng ở đùi. Tôi trở lại xe tải và điều khiển khẩu 12.7. Giờ chỉ bắn từng phát 1. Aubert đã chết, Gross đang hấp hối, và máu khắp nơi”.  

 9

Chuyển ngữ bản tiếng Anh, dịch bằng Google Dịch từ nguyên bản bằng tiếng Pháp từ nguồn:

(4) Facebook

San Jose ngày 8 Aug 2026, cập nhật ngày 29/8/2026, và cập nhật lần 2 ngày 14/9/2026.

Tài Trần