Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Thursday, July 29, 2021
Wednesday, July 28, 2021
Ý NGUYỆN CUỐI CÙNG CỦA Á-LỊCH-SƠN ĐẠI ĐẾ.
- Kho tàng quí nhứt trên cõi đời này là tình yêu thương.
- Đời là vô thường.
Tôi vừa tìm được một bài của thày Tùng (dạy lớp quốc tịch tại SJ, nay đã chết, là một giáo dân sùng đạo, quanh năm mỗi ngày đi lễ hai lần, rất thân với tôi vì nhờ tôi chỉ dẫn về vi tính và phone), đã email đến tôi từ lâu, với nội dung rất là thâm thúy. Tôi tự hỏi Alexandre Đại Đế, còn được gọi là Á-Lịch-Sơn Đại Đế (sinh ngày 20/7 năm 355 trước Công Nguyên, chết ngày 10/6 năm 323 trước Công nguyên, thọ 32 tuổi) không biết kiếp trước có phải là một cao tăng Phật giáo hay không, mà ông rất thấm nhuần triết lý "đời là vô thường" của đạo Phật qua câu chuyện ngắn duới đây. Trong khi rất nhiều kẻ giàu có trên cõi đời này, trong đó có nhiều kẻ mà tôi biết, cứ suốt ngày ôm giữ của cải của mình, mà ko biết rằng họ sẽ ko mang được gì sang thế giới bên kia sau khi chết.
========
"Mỗi ngày chúng ta chỉ có 24 giờ để sống,mỗi ngày trôi qua cuộc đời chúng ta ngắn đi 24 giờ đồng hồ. Cho dù có sợ chết chúng ta cũng không qua khỏi cái quy luật tự nhiên của Tạo Hóa (Sinh Lão Bệnh Tử) ...
Vậy chúng ta phải làm gì với những thì giờ còn lại trên thế gian này ?
THE LAST WISHES OF ALEXANDER THE GREAT / Những ý nguyện cuối cùng của ngài Alexander Đại Đế khi sắp chết.
Ngài Alexander Đại Đế cho triệu tập các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Ngài phán rằng:
1 - Quan tài của ngài phải được khiêng đi bởi chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất của thời đó.
2 - Tất cả các báu vật của ngài (vàng, bạc, châu báu, ...) phải được rải dọc theo con đường dẫn đến ngôi mộ của ngài, và ...
3 - Đôi bàn tay của ngài phải được để lắc lư, đong đưa trên không, thò ra khỏi quan tài để cho mọi người đều thấy.
Một vị cận thần của ngài, rất đổi ngạc nhiên về những điều yêu cầu kỳ lạ này, và đã hỏi ngài Alexander lý do tại sao ngài lại muốn như thế.
Ngài Alexander đã giải thích như sau:
1 - Ta muốn chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất phải khiêng quan tài của ta để cho mọi người thấy rằng một khi phải đối mặt với cái chết, thì chính họ (là những người tài giỏi nhất) cũng không có tài nào để cứu chữa.
2 - Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trên mặt đất để cho mọi người thấy rằng của cải, tài sản mà ta gom góp được ở trên thế gian này, sẽ mãi mãi ở lại trên thế gian này (một khi ta nhắm mắt xuôi tay từ giả cỏi đời).
3 - Ta muốn bàn tay của ta đong đưa trên không, để cho mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có hai bàn tay trắng.
Đến cuối cuộc đời, chúng ta sẽ nghiệm ra rằng, kho tàng quý giá nhất trên cuộc đời này là TÌNH YÊU THƯƠNG".
Tuesday, July 27, 2021
"Bạn có thể phỏng đoán "quyền" sắp tới của dân Myanmar là gì ? - Ngôn luận? Tôn giáo? Sai hết. Đó là quyền làm chủ đất.
Sunday, July 25, 2021
Cảnh sát đường phố ở Nhật: bạn biết gì về họ ?
Không nơi nào cất dấu của cải tốt nhứt bằng cái đầu của bạn
Monday, July 19, 2021
Nữ tài tử Ava Gardner qua lăng kính LTS
Ava Lavinia Gardner (December 24, 1922 – January 25, 1990) was an American actress and singer. She first signed a contract with Metro-Goldwyn-Mayer in 1941 and appeared mainly in small roles until she drew critics' attention in 1946 with her performance in Robert Siodmak's film noir The Killers. She was nominated for an Academy Award for Best Actress for her performance in John Ford's Mogambo (1953), and for best actress for both a Golden Globe Award and BAFTA Award for her performance in John Huston's The Night of the Iguana (1964).
During the 1950s, Gardner established herself as a leading lady and one of the era's top stars with films like Show Boat, Pandora and the Flying Dutchman (both 1951), The Snows of Kilimanjaro (1952), The Barefoot Contessa (1954), Bhowani Junction (1956) and On the Beach (1959). She continued her film career for three more decades, appearing in the films 55 Days at Peking (1963), Seven Days in May (1964), The Bible: In the Beginning... (1966), Mayerling (1968), Tam-Lin (1970), The Life and Times of Judge Roy Bean (1972), Earthquake (1974) and The Cassandra Crossing (1976). She continued to act regularly until 1986, four years before her death in 1990, at the age of 67.
In 1999, the American Film Institute ranked Gardner No. 25 on their greatest female screen legends of classic American cinema list.[1]
Ava Lavinia Gardner
1/ Phân tách dựa vào tên khai sanh.
Thay các chữ bằng trị số tương ứng:
AVA = 161 = 8
LAVINIA = 3161511 = 18 = 9
GARDNER = 3124552 = 22 = giữ nguyên.
Cộng lại: 8 9 22 = 39 = 30.
Sau đây là ý nghĩa của số 30.
Kẻ cô đơn – Sự mặc niệm/ngẫm nghĩ
(The Loner-Meditation)
Đây là số của sự nhìn lại quá khứ (retrospection), sự suy diễn sâu sắc (thoughtful deduction), và thế thuợng phong (superiority) về tinh thần so với những nguời khác. Tuy nhiên, nó tùy thuộc hoàn toàn vào bình diện tinh thần (mental plane), và những nguời, mà số 30 đại diện, thuờng đặt tất cả của cải (things) vật chất qua một bên, không phải vì họ phải làm như vậy, nhưng bởi vì họ muốn làm như vậy. Hậu quả là, số kép 30 không tốt cũng như không xấu, bởi vì nó hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của nguời (hay thực thể) mà nó đại diện. Tác động của 30 có thể là toàn năng (all-powerful), nhưng thuờng thì không rõ ràng/ko được như vậy (but it is often indifferent), mà lại tùy thuộc vào ý muốn của nguời đó. Những nguời mà tên bằng 30, hoặc nguời sanh vào ngày 30, thuờng có ít bạn. Họ có khuynh huớng là những kẻ cô đơn lầm lì/ít nói (taciturn), thích sống cô độc với ý tuởng riêng tư của mình. Những chức vụ xã hội và hội họp công cộng không phải lối sống của họ. Nguời 30 không từ chối hạnh phúc hay thành công, nhưng họ thuờng tìm đuợc mãn nguyện (fulfillment) khi xa lánh sự xô bồ (chaos) của nơi thị tứ (market place), để sao cho thế thuợng phong về tinh thần của họ có thể đuợc dùng để phát triển một điều gì đáng giá (worthwhile) cho thế giới . . . để viết những ý tuởng có thể thay đổi thế giới . . . hoặc để bảo vệ và phát triển tài năng cá nhân của họ, như là nghệ thuật hay những năng khiếu (gifts) khác. Số này cho thấy một cuộc sống cô đơn nhưng lại thuờng may mắn (yet frequently rewarding life pattern).
(San Jose ngày 29/03/2010, dịch từ trang 205 của quyển Linda Goodman's Star Signs) ./.
2/ Dựa vào ngày sanh December 24, 1922.
Số 24 là số rất may mắn theo LTS.
TÌNH YÊU - TIỀN - SỰ SÁNG TẠO
1/ Người hoặc thực thể này là những người hưởng phúc đức, mà họ đã tạo ra từ nhiều kiếp trước. Họ được sự giúp đỡ cũng như có bạn bè giữ QUYỀN CAO , CHỨC TRỌNG. Họ đạt THÀNH CÔNG LỚN về tài chánh, và có được hạnh phúc trong tình yêu. Họ thành đạt trong các ngành văn chương, luật pháp, nghệ thuật, và có sự hấp dẫn mãnh liệt đối với người khác phái.
2/ a. Họ không nên BUÔNG THẢ, ĐAM MÊ trong các thú vui trần thế và có một sự KIÊU CĂNG nào đó trong tình yêu, trong những vấn đề tài chánh, nghề nghiệp; bởi vì mọi thứ đều đến với họ DỄ DÀNG NHƯ TRỞ BÀN TAY.
b. Nên khôn ngoan nhớ rằng nếu thực thể hay cá nhân này quá BUÔNG THẢ trong kiếp này, họ sẽ mang số 18 hay một ngày sinh xấu trong kiếp sau.
c. Người hay thực thể này không nên làm hỏng những ích lợi của số 23 hoặc 24, và cũng không nên để sự may mắn này dẫn đến sự ÍCH KỶ hoặc một thái độ COI THƯỜNG những giá trị tâm linh.
d. Phải nên tránh sự CÁM DỖ của đắm say trong nhục dục lệch lạc; cũng như khuynh hướng SA ĐỌA DƯỚI MỌI HÌNH THỨC (the temptation to indulge in promiscuity must be avoided; likewise a tendency to overindulgence of all kinds).
(Dịch từ trang 202 của sách Linda Goodman's Star signs)
https://en.wikipedia.org/wiki/Ava_Gardner



