Thursday, February 25, 2021

 Võ Vũ Trường Giang (sinh ngày 20 tháng 4 năm 1983) là một nam diễn viênngười dẫn chương trình người Việt Nam.[1]

VÕ = 67 = 13 = 4

VŨ = 66 = 12 = 3

TRƯỜNG = 426753 = 27 = 9 

GIANG = 31153 = 13 = 4 

Cộng lại: 4 3 9 4 = 20 

Sự tỉnh thức (awakening)
Ngoài việc được gọi là "sự tỉnh thức", số kép này được mô tả (is pictured) bởi người cổ Can-Đê (Chaldean) là "Sự Phán Xét". Đó là một giải thích kỳ lạ (peculiar), và được tượng trưng bởi "một thiên thần có cánh, thổi kèn, trong khi từ bên dưới, một đàn ông, một đàn bà, và một đứa nhỏ sống lại/nổi lên (arise) từ một nấm mộ, với tay chấp lại cầu nguyện (hands clasped in prayer). Ở một lúc nào đó (at some time) trong kinh nghiệm/thử thách của người hay thực thể thay mặt bởi số 20, có một sự tỉnh thức mạnh mẻ, mang lại một mục tiêu mới, các kế hoạch mới, các tham vọng mới - (đó là) lời kêu gọi hành động cho đại nghĩa hay ý tưởng nào đó (some great cause or ideal). Thỉnh thoảng có thể có những trì hoãn hay chướng ngại cho kế hoạch cho y, nhưng những điều này có thể chinh phục hay vượt qua bằng cách phát triển kiên nhẩn (cũng là thách thức của số 20) và bằng cách tiếp tục trau dồi (cultivate) niềm tin vào các khả năng tự biến đổi của y (in one's own powers to transform). Số 20 đem lại phước lành (blessing) qua những giấc mơ sống động về nhận thức (vivid precognitive dream), cộng thêm khả năng bày tỏ những giấc mơ may mắn và triệt tiêu những giấc mơ tiêu cực (negative). Số 20 không phải là số vật chất (material), vì thế ko chắc có được thành công về tài chánh (doubtful regarding financial success). Nếu cần thiết có số tiền lớn để hỗ trợ thực tế cho một đại nghĩa hay ý tưởng mới, sau đó y có thể chọn một con số nặng về vật chất tích cực hơn (a more positive materialistic number) bằng cách đổi chánh tả của tên, với giả dụ rằng 20 là ngày sanh. Nếu tên cộng lại bằng 20, vậy, hy vọng rằng, ngày sanh này sẽ ban cho (bestow) một tác động tài chánh may mắn hơn (the birth number will bestow a more fortunate financial vibration). Tuy nhiên, những ai hợp với sự tác động/rung động của số 20 ít khi để ý vấn đề tài chánh. Tiền bạc không quan trọng với họ -- và số 20 sẽ, như một luật phổ quát, cung cấp đủ cho những nhu cầu căn bản".
Dịch từ trang 257-8 của sách Linda Goodman's Star Signs.

trần thị nhã phương


THƯ GỬI NGƯỜI BẠN CÔNG GIÁO VỀ ẢNH NHÀ THỜ HOANG PHẾ Ở NAM ĐÀ NẴNG THỜI CHIẾN.


Thưa anh chị,

Tuy là một Phật tử, tôi lại rất xúc động trước cảnh nhà thờ bị tàn phá hay bỏ hoang. Thời gian ở một đv tác chiến, khoảng năm 1973-74 , tôi đã đến một nhà thờ tại một khu trù mật ở Đồng Tháp Mười (giữa tỉnh Kiến Phong và Định Tường), lập nên dưới thời tổng thống Ngô đình Diệm. Nhà thờ bỏ hoang và bị tàn phá nặng nề sau khi CS vào nhà thờ: tất cả các ảnh tượng (ở trên tường) đều bị bắn, rơi rớt xuống đất, riêng tượng Chúa và Đức Mẹ ở trước nhà thờ đều bị bắn bể đầu. Ko biết sau này giáo dân trong vùng có phục hồi/sửa chữa lại ko? Dân ở đó đều là người công giáo (CG) ở miền Bắc, di cư vào Nam năm 1954 và được ông Diệm đưa đến đây, nhưng lúc đó con cái của họ đều nói giọng Nam (vì họ ở xen kẻ hay lẫn lộn với dân miền Nam, mặc dù vẫn chiếm đa số, nên ko còn giữ bản sắc như nơi dân di cư CG miền Bắc sống tập trung như Hố Nai, Gia Kiệm, Bình Giã, v.v...). Họ sống dọc hai bên các con kinh đào, trồng lúa nổi*, các loại rau và các máy cày đều trồng hay để trên bè--để ko bị hư hỏng do nước lên rất cao vào mùa lũ.
Có lẽ, trong KIẾP TRƯỚC, tôi đã là một người CG, nên ở kiếp này, mặc dầu ko là giáo dân nhưng vẫn có cảm tình với CG qua lối ăn nói, cách sống. Tôi đã giúp nhiều người CG nghe chương trình Mẹ Hằng Cứu Giúp của cha Nguyễn trường Luân qua internet; lúc đó, gần như đêm nào tôi cũng thức đến 12 giờ đêm để nghe CT này. Tôi có một người bạn CG, chưa bao giờ nghe cha Luân nói chuyện (vì ko thức nổi tới giờ đó), nhưng lại thích xem phim bạo động như wrestling (đô vật); hay cũng có người bạn CG khác, vào internet là chỉ để xem phim sex loại hardcore. Anh thử nghĩ những người như vậy có giữ được lời răn của Chúa ko? Hay họ chỉ nghĩ rằng chỉ cần đều đặn đi lễ ngày chúa nhựt là đủ. Tôi quan niệm, ở đời quan trọng là thực hành. Nói nhiều mà ko làm gì hết thì người ta sẽ khinh rẻ mình thôi.
Sẵn dịp, tôi gửi đến anh chị bức ảnh lính TQLC Mỹ đi hành quân ngang một nhà thờ bỏ hoang ở gần Đà nẵng. Điều này chứng tỏ chung quanh nhà thờ đã có một cộng đồng giáo dân; nhưng trong ảnh ko thấy ai hết.
Hẹn thư sau. Chào anh chị,
* Lúa nổi là lúa ko cần chăm sóc và nổi lên cao khi mua lũ. Trên cánh đồng nước chỉ toàn bông điên điển. Khi nước rút đi, các ao đầm tôm cá rất nhiều.
25/02/2021.


Wednesday, February 24, 2021

 Quân Y Trong Thời Chiến

Hồ Minh Đức
Tôi chỉ mong một điều là được góp phần nhỏ bé trong công việc làm cho các em, các thế hệ sau này biết thêm chân dung sự thật của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thấy được cuộc sống của những người đã 1 thời chiến đấu bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam và tôi xin riêng tặng cho những người lính Quân Y không danh, không lợi nhưng vẫn chiến đấu kiên cường, chấp nhận hy sinh gian khổ, sống đầy tình nghĩa, thực sự là huynh đệ chi binh. Xin 1 lần cám ơn đến các anh em quân nhân thuộc Trung Đội 2/ Đại Đội 14/ Tiểu Đòan 1 Quân Y / Sư Đòan 1 Bộ Binh QLVNCH, và mong sẽ có 1 lần chúng ta gặp lại nhau. Vì không có khiếu văn chương, nên xin quý vị vui lòng ráng đọc dùm. Còn nhớ những ngày ở trong trại tù cộng sản, tôi cứ phải đi làm thêm 1 gánh củi trả công cho anh bạn nào làm giúp cho bài thơ báo tường dịp Tết theo chỉ tiêu của trại cải tạo và bọn cán ngố.
quany
*****
Sau lễ mãn khóa ở trường Quân Y, chúng tôi được 2 tuần nghỉ phép về thăm nhà và thu xếp hành trang trước khi trình diện đơn vị mới.
Đáp xuống phi trường Đà Nẵng vào lúc 1 giờ khuya, bọn tôi là những tân sĩ quan trợ y được bổ nhiệm về các Sư Đoàn 1, 2 và 3 trấn đóng ở vùng 1 chiến thuật. Đây cũng là thời điểm quyết liệt của mùa hè đỏ lửa năm 1972. Về cùng Sư Đoàn 1 gồm có Long Lùn, Mỹ, và tôi. Nhóm đi Sư Đoàn 3 có Minh và Ngư ( Chuẩn Úy Nguyễn Ngư đã hy sinh tại mặt trận Quế Sơn sau đó chỉ có 3 ngày ). Sau khi trình diện ở Tiểu Đoàn 1 Quân Y, tôi nhận sự vụ lệnh về làm Trưởng Toán Quân Y Xung Kích thuộc Tiểu Đoàn 4 của Trung Đoàn 3 Bộ Binh. Ngày đầu tiên ra đơn vị đang hành quân vùng quanh đèo Sơn Na mặt Tây Nam Huế, ngồi ở sân bay chờ trực thăng bốc ra mặt trận để thay cho vị sĩ quan trợ y vừa mất tích trong lúc đánh nhau. Tôi vô cùng lo lắng, hồi hộp vì biết rằng sắp sửa được ném vào lò lửa nóng nhất lúc bấy giờ là mặt trận Bagstone Tây Nam Huế. Ngay lúc đó người hoa tiêu trưởng toán trực thăng UH1B có nhiệm vụ đổ quân vào vùng lửa đạn chợt kêu lên và hỏi tôi rằng :
-Mày đi chuyến này phải không ? Ngẩng nhìn lên mới biết đó là ông anh cả của tôi.
- Dạ, em ra trình diện đơn vị mới.
- Thế mày có biết đơn vị mày đang ở đâu không ?
- Dạ, không rõ chi tiết, dường như đơn vị đang hành quân.
- Mày có nghe nói về mặt trận Bagstone Huế không ? Tiểu Đoàn 4 của mày đang nằm ở Đèo Sơn Na, cách căn cứ Bagstone khỏang 15 cây số, sâu trong rừng để làm chốt chặn đường 547 trên đèo, cản không cho VC tiếp tế mặt trận. Trên đường bay vào vùng khi nhìn xuống mày sẽ thấy mặt đất lỗ chỗ đầy hố bom như mặt trăng do máy bay B52 cày nát.
Vì thương thằng em ruột, anh bảo tôi rằng khi đến nơi thì cứ ngồi yên trên trực thăng, đừng nhảy xuống và anh sẽ tìm cách đưa về nhà đào ngũ. Vậy mà khi trực thăng vừa xà xuống bãi đáp dã chiến giữa núi rừng, tôi cũng nhào theo toán lính. Lúc nhìn lên thì trực thăng đã bay xa rồi. Từ đây bắt đầu 1 cuộc đời mới, lính chiến thực thụ, đối diện với quân thù, với súng đạn chết chóc bất cứ lúc nào, phải tập làm quen với quy luật sống còn của chiến tranh thôi.
Trong cuộc hành quân đầu tiên này có 1 điều mà suốt cuộc đời tôi không thể nào quên được là có 1 lần trong lúc di hành trời nắng khô và nóng bức, mọi người đều mệt lả, lệnh cho dừng quân nghỉ dưỡng sức. Gặp 1 hố bom có nước, ai nấy cũng nhào đến múc nước uống không kịp bỏ cả thuốc lọc nước sát trùng. Riêng tôi nằm dài ra úp mặt xuống vừa uống vừa rửa mặt luôn thể. No nê tỉnh táo thì tôi mới thấy 1 xác chết có lẽ là VC đang thối rữa, cách đó khỏang 1 mét. Tôi quay sang hỏi vị Đại Úy bên cạnh :
- Đại Úy có nhìn thấy cái xác chết kia không ?
- Thấy chớ sao không.
- Sao ông không cho tôi biết ?
- Cho anh biết làm chi, để anh uống mà có sức tiếp tục lội nữa chứ !.
Tiểu đoàn chúng tôi được lệnh đến đóng quân tại căn cứ Mái Nhà, 1 cao điểm đối diện và gần căn cứ Bagstone, thuộc tuyến phòng thủ mặt Tây Nam Huế, kiểm soát con đường 547 từ Hạ Lào về. Ngày qua ngày, chiến sự dịu dần sau chiến thắng lẫy lừng tái chiếm lại căn cứ Bagstone. Tôi đã quen dần tiếng pháo binh mỗi lần đạn đi xé gió đến cả trăm quả. Tiếng hải pháo 400 ly từ biển bắn vào. Rồi chấm dứt hành quân, về lại hậu cứ của Trung Đoàn 3 tại Hiền Sĩ cây số 17, tôi lại nhận sự vụ lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác, Tiểu Đoàn 2/3, còn Tiểu Đoàn 4 xung kích thì giải tán sau đó và nhập vào quân số của 3 tiểu đoàn 1, 2 và 3 cho đúng cấp số Trung Đoàn.
Kể từ lúc này tôi chính thức là Sĩ Quan Trợ Y Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 3, Sư Đoàn 1 Bộ Binh mà đám VC còn gọi là Sư Đoàn Anh Cả Đỏ. Cho đến bây giờ hơn 30 năm sau, trên đất Mỹ tôi vẫn còn nghĩ là mình cũng vẫn là Sĩ Quan Trung Đội Trưởng Trung Đội 2/14 thuộc Tiểu Đoàn 1 Quân Y như ngày nào. Tôi vẫn mong có ngày gặp lại anh em lính tráng quân y cũ, dù rằng đã hao hụt nhiều tại mặt trận. Đó cũng là điều mà tôi muốn nói lên sự hy sinh, chịu đựng gian khổ của những người lính quân y, những người lính với số tiền lương ít ỏi, không có cả phụ cấp tác chiến 4.500 đồng nhưng vẫn phải đương đầu với súng đạn quân thù, hy sinh tính mạng cho tới giây phút cuối cùng của tháng 3 đen gãy súng trên bãi biển Thuận An Huế năm 1975.
qd
Source: Corbis.
Sau khi nhận bàn giao hậu cứ cùng kho thuốc của Quân Y Tiểu Đoàn 2/3 xong, tôi theo xe tiếp tế lên vùng hành quân, trình diện Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưỏng TĐ 2/ trên căn cứ Hoàng Đế ( King ). Vì đơn vị đang hành quân nên tôi không làm sao gặp mặt được anh em y tá trực thuộc, chỉ nghe giọng nói qua máy truyền tin PRC 25, trở ngại lớn nhất lúc bấy giờ là tôi chưa nghe quen tiếng Huế hoặc tiếng Quảng Trị, anh em lính nói xong tôi chỉ hiểu có mỗi chữ ‘’ Hỉ ‘’ còn ngoài ra không hiểu gì ráo trọi, nên phải nhờ anh Trung Đội Phó, Trung Sĩ Nhất Thao thông dịch lại dùm, phụ làm công điện và điều hành mọi việc....
Tình hình có vẻ lắng dịu, nên tôi được lệnh dời Bộ Chỉ Huy 2/3 về căn cứ ‘’ Tea Point ‘’ hay Hiệp Khánh, đóng chung với bộ chỉ huy hành quân của Trung Đoàn 3, Sư Đoàn1 Bộ Binh. Càng gần ngày ngưng bắn theo Hiệp Định Paris là ngày 27 tháng 1 năm 1973, thì đám VC càng pháo kích vào căn cứ dồn dập hơn, từ đại pháo 130 ly đến hỏa tiễn 122 ly rồi súng cối 82 đến 106 ly đủ loại, nhưng anh em Quân Y vẫn thất nghiệp không có gì làm vì cộng quân bắn quá tệ, cả ngàn quả đạn mà không có được 1 quả nào trúng trong vòng rào căn cứ, chỉ vài quả rớt gần sân bay nên vô sự. Đúng 8 giờ sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973 lệnh ngưng bắn có hiệu lực, tiếng súng im bặt, mọi người khoan khoái chui ra khỏi hầm vươn vai hít thở không khí trong lành của buổi sáng nhưng khi nhìn xuống núi mới kêu trời. Bọn VC thừa dịp trong đêm trước đã cho lính cắm cờ tràn lan đồng thời đưa quân đánh chiếm 1 số làng xã miệt Lai Chữ, Hương Trà...
Tiểu Đoàn nhận lệnh hành quân gỉai tỏa, chia làm 2 cánh quân. Đại Úy Ngẫu Tiểu Đoàn Phò cùng bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 2 do Thiếu Tá Toại Tiểu Đoàn Trưởng cùng chi đội thiết vận xa M113 tấn công giải tỏa làng Lai Chữ, xong lại di chuyển qua căn cứ Bình Minh để tấn công mặt trận vùng Thượng Lưu sông Bồ. Trận chiến xảy ra dữ dội, Quân Y làm việc cật lực, gần như không nghỉ tay, có lúc thương binh về quá đông nằm cả cánh đồng, cấp cứu phân loại nặng nhẹ để lo tản thương, cao điểm là lúc cả 3 tiểu đoàn của Trung Đoàn 3 BB vượt sông Bồ.
qd
Life Magazine Images.
Đứng trên căn cứ Bình Minh nhìn xuống xem còn hơn trong phim. VC lập tuyến phòng thủ dọc theo bên bờ Bắc của sông Bồ, pháo 133 ly dập liên tục dài theo sông, 1 quả rớt trúng ngay bộ chỉ huy của Tiểu Đoàn 1, Tiểu Đoàn Trưởng cùng 1 số sĩ quan ban tham mưu đã tử trận, nhưng mức độ tấn công vẫn không thay đổi, nhìn qua phe ta tôi thấy Thiếu Tá Thoại ( biệt danh Thoại Đế ) đang ở trần mặc quần cụt, chân đi giầy sô mang dây ba chạc, lon lá gắn trên dây đạn đen thui, đầu không nón sắt đứng chỉ huy, nhìn giống như ông Táo Quân. Quan như vậy thì hèn nào lính đánh giặc ngon là đúng rồi. Xếp dám đứng giữa lửa đạn thì Sĩ Quan Trợ Y sợ chi mà không đứng cho oai !. Tôi cũng đứng lên. Gần chiều tối tôi chợt nghe y tá nhìn tôi la lên : ‘’ Ông bị thương rồi kìa! ‘’. Nhìn xuống chân tôi thấy có máu chảy nhưng không thấy đau. May mắn mảnh đạn đi cạn qua bắp chân, chỉ chảy chút máu mà thôi, tiếc là làm rách cái ống quần của tôi. Băng bó sơ rồi tôi lại làm việc tiếp như không hề có chuyện gì xảy ra. Nhờ vậy mà tôi kiếm được cái chiến thương bội tinh đầu tiên trong đời lính.
Sau cùng các đơn vị cũng vượt qua sông, đánh sâu vào trong, truy kích địch đến tận chân núi. Chỉ có binh nhất y tá Thống bị thương nặng phải chuyển về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, còn toàn bộ anh em Quân Y Trung Đoàn 2/14 thì vô sự. Trong trận này riêng Quân Y thu được 1 trung liên RPD do Hạ Sĩ Tống Đình Phước ( dân Thiếu Sinh Quân AET ) đoạt được khi xung phong vào tuyến kháng cự của VC và 1 tiểu liên AK47 do Hạ Sĩ 1 Giao tìm thấy mang về coi như là chiến lợi phẩm của Quân Y giao lại cho tiểu đoàn. Sau trận đánh này Quân Y được 2 chiến thương bội tinh, riêng 1 anh dũng bội tinh thì dành cho Hạ Sĩ Phước. Đầu năm Tết 1973 bộ chỉ huy tiểu đoàn về đóng quân tại cầu An Lỗ ( cây số 19 ) , đến lúc này tôi mới có dịp gặp mặt tất cả anh em y tá thuộc quyền và là lúc chia phiên cho anh em thay nhau đi phép vui Tết cùng gia đình. Thời gian này thì tình hình có vẻ yên tĩnh, đơn vị chỉ hành quân quanh căn cứ Hoà Khánh ( Barbara ), gần động Ông Đô xong lại dời quân về vùng Mái Nhà, Bagstone, Hoàng Đế.
Lúc này chúng tôi được bổ sung thêm 2 y tá là Hạ Sĩ 1 Lê Mịch và Hạ Sĩ 1 Lê Tế thương binh được phân loại yếu kém đưa về đơn vị quân y cùng 1 Hạ Sĩ Quan Quân Y về trung đội 2/14 đó là Trung Sĩ Nguyễn Đình Tám mới mãn khóa từ trường Quân Y. Thực sự quân số tham chiến cuả 1 trung đội quân y thường vào khoảng 16 người, gồm 8 y tá chia ra 4 đại đội, hạ sĩ quan trung đội phó quân y đi theo cánh B hay bộ chỉ huy nhẹ với vị tiểu đoàn phó bộ binh, số còn lại là 4 hoặc 5 y tá cùng tôi theo bộ chỉ huy nặng tiểu đoàn, còn dưới hậu cứ có 2 hạ sĩ quan quân y lo sổ sách, tiếp liệu, công điện, công văn, lương bổng, nhu yếu phẩm tiếp tế, cùng điều hành kho thuốc trạm xá.....
Tuy nhiên, do nhu cầu và tình hình chiến trường tại vùng hành quân, nên ngoài số anh em quân y chuyên nghiệp còn có thêm khoảng hơn 40 y tá cơ hữu của bộ binh tuyển chọn từ các đại đội tác chiến đưa về huấn luyện căn bản về cấp cứu, băng bó và 1 ít kiến thức y tế thông thường, sau đó được trang bị 1 túi cứu thương để có thể vừa chiến đấu vừa cấp cứu tản thương tại mặt trận, do đó hầu như ở bất cứ ở tiểu đội nào của đơn vị cũng có bóng dáng anh em quân y sẵn sàng. Sau Tết cổ truyền 1973, tình hình chiến trường có phần lắng đọng yên tĩnh, vị Tiểu Đoàn Trưởng vừa được thăng cấp, Trung Tá Toại rời tiểu đoàn thuyên chuyển đi làm Quận Trưởng ở Phú Lộc, Huế. Đại Úy Trần Quang Niệm về nhận chức vụ tân tiểu đoàn trưởng cũng vừa đúng lúc chiến sự sôi động trong vùng Quảng Nam/ Đà Nẵng. Các mặt trận bùng lên dữ dội ở Thường Đức, Đức Dục, Quế Sơn, mỏ than Nông Sơn.....
Ngoài Huế nặng nhất là vùng Động Truồi, Cầu Hai, Đá Bạc, Núi Bông, Đồi Nghệ, dãy đồi 300, Đồi Không Tên, Suối Máu..... Hậu cứ trung đội 2/14 quân y có thay đổi nhỏ, Hạ Sĩ 1 Xuân được thuyên chuyển về đơn vị không tác chiến, vì thế tôi phải đưa 1 y tá về thay chỗ ở hậu cứ. Theo đúng nguyên tắc thì người nào thâm niên nhất sẽ được về, Hạ Sĩ 1 Châu đã lội hành quân hơn 7 năm nên được ưu tiên 1 nhưng anh xin nhường lại cho Hạ Sĩ 1 Lê Lự vì Lự có gia đình vợ cùng 6 con nhỏ cần thiết hơn. Anh Châu còn độc thân nên chưa cần lắm và tôi cũng đồng ý. Số không may, Hạ Sĩ 1 Châu ở lại hành quân và đã tử trận sau đó chỉ có 7 ngày trong 1 trận đánh ác liệt trên đỉnh 300. VC tung ra 1 E+ ( trung đoàn ) cộng thêm 1 tiểu đoàn của trung đoàn 3 với quân số áp đảo. Tiểu đoàn 1 và 3 phải lui ra gần quốc lộ 1, riêng tiểu đoàn 2/3 chúng tôi vẫn còn chiến đấu và trụ lại được với tổn thất nặng, cánh B hay bộ chỉ huy nhẹ nằm chung với đại độì bị tan nát, Đại Úy Đơn Tiểu Đoàn Phó cùng Trung Úy Thức Đại Đội Trưởng đã nằm lại chiến đấu để cố gắng chận không cho bọn VC xâm nhập tấn công bộ chỉ huy tiểu đoàn, nhưng vì quân số quá ít so với chiến thuật biển người thí quân của VC nên toàn thể đã hy sinh tại mặt trận. Hạ Sĩ Châu bị trúng 1 quả B40 bên cạnh hông khi anh nhoài người ra ngoài giao thông hào ném lựu đạn. Trung Sĩ Tám Trung Đội Phó Quân Y bị thương chuyển về được tuyến sau và anh đã báo tin buồn này.
Mặt trận càng lúc càng ác liệt nên tôi được lệnh đem số y tá cùng 4 người lính của tiểu đoàn theo bảo vệ, xách theo 1 M79 phóng lựu cùng máy truyền tin PRC 25 liên lạc trên tần số nội bộ di chuyển qua ngọn đồi phía sau để thu gom thương binh lo cấp cứu, tải thương. Trời sáng hẳn, tiếng súng khắp nơi đã phần nào dịu bớt, do không chọc thủng được phòng tuyến và pháo binh bắn chận có hiệu quả. Cộng quân thổi còi chém vè ( chạy làng ), chia thành nhiều toán cố gắng chạy vào rừng có lẽ vì thấy ngọn đồi quân y đóng không có tiếng súng nên 1 toán đông VC nhắm hướng này mà chạy băng qua đồi như 1 bầy chuột.
Thế là quân y, thương binh, lính tráng ai còn ngồi được là nổ súng đánh trả. Sĩ quan trợ y biến thành tiền sát viên lên máy xin cối 81 ly của tiểu đoàn bắn yểm trợ, cũng xa hơn 10 mét, về phải 5 mét ....điều chỉnh cối như thật, tôi học được nghề từ đám bạn tiền sát viên cuả tiểu đoàn 14 pháo binh trước đây. Nhờ phước đức ông bà độ, trận này quân y thắng lớn. Chúng tôi tịch thu được 31 súng đủ loại, có cả đại liên và 16 xác VC. Vụ này Quân Y được thưởng 2 anh dũng bội tinh do trung đoàn cấp, nhưng làm sao vui được khi thương vong quá nhiều. Lúc lên lấy xác Hạ Sĩ 1 Châu, anh chết mà mắt vẫn mở không nhắm, tôi cảm thấy buồn và ân hận rằng nếu để Châu về làm việc tại hậu cứ thì đâu có ra nông nỗi này.
Nhưng tôi chợt nghĩ là người nằm xuống có thể là Hạ Sĩ 1 Lự sẽ là nỗi bất hạnh lớn cho gia đình vợ cùng 6 đứa con thơ của anh. Dù sao Hạ Sĩ 1 Châu ra đi cũng nhẹ gánh hơn, anh còn độc thân lại mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, chỉ còn mỗi bà chị ở xa mà thôi. Lúc trao lại kỷ vật của Châu cho gia đình anh, chúng tôi không cầm được nước mắt. Chiến trận vẫn tiếp diễn ác liệt trong khoảng 4 tháng cho đến ngày tổng phản công tái chiếm lại tỉnh Mỏ Tàu, Núi Bông, Đồi Nghệ, Động Truồi cùng các cao điểm 303, 300, đỉnh 1416...
Trong giai đoạn cam go nguy hiểm này mới thấy được tinh thần chịu đựng của người lính quân y, mỗi y tá ngoài cấp số bông băng, thuốc men, quân trang quân dụng hành quân, họ còn ráng mang thêm 10 quả lựu đạn và 1 quả đạn cối 81 ly, hoặc 1 thùng đạn đại liên giùm cho lính bộ binh. Riêng sĩ quan trợ y được miễn vì còn phải mang theo chai Serum hay Dextran nhưng tôi cũng kẹp theo 1 quả mìn định hướng Claymore. Lúc này tôi mới thấy được tài dụng binh và sự phán đoán nhạy bén cuả vị Tiểu Đoàn Trưởng Trần Quan Niệm, có nhiều lúc tình hình gay go, gần như tuyệt vọng, ông đã có những quyết định nhanh và đúng, đảo ngược thế cờ chuyển bại thành thắng thật ngoạn mục , vì thế mặc dù lúc đó chỉ còn mỗi tiểu đoàn 2/3 trụ lại giữa vòng vây địch, các tiểu đoàn bạn phải ra ngoài gần quốc lộ 1 nằm chờ tái phối trí, còn tiểu đoàn điạ phương quân bên cạnh sườn đã bị tan nát, cả vị tiểu đoàn trưởng và 3 đại đội trưởng đều tử trận nên phải rút ra xa. Nhìn lên bản đồ hành quân trận liệt, đơn vị chúng tôi lọt thỏm ở giữa, chung quanh là màu đỏ ghim đầy chỗ đóng của địch quân.
qd
Nhưng sau 2 lần đụng độ, bọn vịt con có vẻ sợ nên chúng tránh chúng tôi tối đa. Một trận đánh oai hùng và đẹp mắt khác dưới chân Động Truồi đã khiến địch quân gờm mặt chúng tôi. Sau trận đánh mở đầu đưa đến thương vong lớn, Tiểu đoàn 2/3 buộc lòng rút ra khỏi dãy đồi 303, 300.... di chuyển trên các đồi trọc và thấp bên dưới. Cả 3 yếu tố thiên, địa, nhân đều kém địch, bọn vịt con với quân số đông hơn nhiều, tinh thần đang lên cao, chiếm lĩnh hầu hết các cao điểm quan trọng nên hung hăng định nuốt sống chúng tôi. Ban ngày lúc di chuyển qua các đồi tranh, trinh sát VC bám theo sát,Tiểu Đoàn Trưởng Niệm đã có lúc ngửa mặt nhìn lên Động Truồi mà than rằng chưa bao giờ ông ở vị thế hạ phong như vậy.
Trời về chiều ông cho lệnh dừng quân, đào hầm hố phòng thủ, gài mìn và lựu đạn, thông báo các toạ độ rào cản tiên liệu mục tiêu cho sư đoàn cùng pháo binh, lính tráng căng poncho làm lều, lo ăn uống xong ông gọi cho 4 đại đội con cái chung quanh dóng súng 60 ly vào đúng tọa độ của bộ chỉ huy tiểu đoàn rồi chờ lệnh khỏang 10 giờ tối lệnh miệng cho toàn bộ chỉ huy lặng lẽ cuốn gói đi nơi khác. Lều vải để nguyên ngoại trừ lều quân y được cuốn theo để dùng cho thương binh sau này, di chuyển mò mẫm trong bóng đêm gần 1 giờ đồng hồ qua đến ngọn đồi gần đó, tất cả nằm yên chóng súng chờ, ông cùng sĩ quan tham mưu ngồi như cọp rình mồi, và đúng như dự đoán lúc khỏang 4 giờ sáng địch ào ạt nổ súng tấn công rồi xung phong vào ngọn đồi trống, tiếng súng tiếng lựu đạn và mìn claymore gài nổ lung tung, ông vẫn ngồi yên cho đến khi hỏa pháo màu xanh báo tin chiến thắng của VC vút lên cao, mới thấy ông cười và ra lệnh khai hỏa cùng lúc 2 cối 81 ly, 4 cối 60 ly, của các đại đội nã súng liên tục như gĩa thịt vào mục tiêu, đồng thời báo cho trung đòan xin pháo binh bắn vào các hỏa tập tiên liệu.
Sáng hôm sau chúng tôi cho lính trở lui thu gom chiến lợi phẩm, súng đạn....... xác địch quân nằm la liệt trên cả đỉnh đồi. Lại di chuyển, phòng thủ, đúng 1 tuần sau lại tái diễn như vậy, ông cũng đoán đúng ý đồ của địch, nhưng lần này bọn vịt con khôn ranh hơn, sau khi nổ súng xung phong lên, đột nhiên chúng thổi tu huýt thu quân bỏ chạy thật lẹ , có lẽ chúng biết bị lừa vì không thấy tiếng súng và đạn bắn trả, kể từ đó lính lên tinh thần thấy rõ, mọi chuyện yêm xuôi cho đến ngày đổi quân, nhưng cũng chỉ về đến hậu cứ của Sư Đoàn1 tại Dạ Lê được 3 tiếng đồng hồ là có lệnh gấp rút lên hành quân lại liền. Tiểu đoàn bạn lên đổi quân bị đánh úp trong lúc còn đang bố trí. Thiệt hại nặng, tiểu đoàn trưởng bị tử thương, binh lính thương vong khá nhiều.
Sĩ Quan Trợ Y tôi lúc đó còn đang du hí dưới phố, chợt nghe tin từ các anh bạn phi công trực thăng phi đoàn 257 tải thương đêm ở Mang Cá cho hay, tôi vội tốc theo lên, vào vùng lên máy liên lạc với bộ binh đang lập bãi đáp để tải thương, nghe trên máy giọng nói của Tiểu Đoàn Trưởng Niệm ( bí số là 63 ) có vẻ bối rối, tôi vội lên tiếng là đại bàng yên tâm, thẩm quyền thuốc đỏ đang có mặt.
Có lẽ đã từ lâu, hầu hết các Pilot trực thăng thuộc Sư Đoàn 1 Không Quân tôi đều quen biết, trong đó có cả ông anh ruột, nên chi mỗi khi có tiếp tế hoặc tản thương bằng trực thăng, đơn vị đều phải nhờ tôi đứng ra liên lạc phụ điều động thì dù thời tiết có bị mù, xấu cách chi cũng đều được trót lọt. Có lần ông anh tôi cùng bạn bè ổng còn chở dùm đạn dược tiếp tế thẳng ra tuyến trước 1 buổi thay vì để lính cõng bằng đường bộ mất đến cả tuần và trong 1chuyến tản thương đêm. Đã có lúc VC dùng PRC 25 thu lượm được để đánh lừa trực thăng cũng tung trái khói, trái sáng tùm lum cứ thấy vậy trực thăng mà nhào xuống là lãnh thẹo liền. Lần đó sau khi liên lạc hướng dẫn trực thăng vào vùng, tôi chợt nghe Đại y Dương Đình Long ( tự Long Dê ) trưởng phi cơ gọi trên máy :
- Bây giờ bạn đốt đuốc và cho khói lên để tôi đáp.
Chợt 1 ý tưởng lóe lên, tôi lặng thinh không cho khói hoặc sáng gì hết và nói :
- Nghe rõ, xong rồi anh thấy chưa ? Tiếng anh Long Dê la lớn :
- Sao mà tùm lum chỗ, biết ở đâu mà xuống !
- Vậy thì nhờ anh kêu Gunship ( trực thăng võ trang ) đánh chết mẹ chúng nó đi, VC đó, tôi chưa có cho trái sáng hay khói gì hết..... nghe rõ trả lời.
Từ đó rút kinh nghiệm, tôi không bao giờ nói rõ chi tiết trái sáng hay trái khói trên máy truyền tin mà để trực thăng tự nhận diện, khi nào thấy đúng và phù hợp thì OK... xuống đi bạn, và do vậy tôi đương nhiên kiêm nhiệm luôn chức vụ sĩ quan không trợ cho đơn vị mà không có lương. Lại hành quân, từ ngày này qua tháng khác, anh em y tá không 1 tiếng than dù đã lâu không được phép tắc xả hơi. Lương lãnh ra gởi dưới hậu cứ, khi cần nhu yếu phẩm hoặc thứ gì, anh em lập danh sách cho hậu cứ lo đầy đủ rồi gởi lên, chớ để mấy cậu lãnh lương trên hành quân lâu ngày, đến khi về nghỉ dưỡng quân có cậu không chịu về phép thăm gia đình, lý do là thua bài cào hoặc sóc đĩa hết rồi lại phải móc tiền túi ra cho mượn rồi trừ lương sau thì phiền quá.
Ngay chính bản thân của quan tôi cũng đã có lần tập họp cả trung đội, mượn tiền mỗi đứa một ít để xuống phố du hí với đào, sau đó thì è cổ ra mà trả lại. Mặt trận cứ lằng nhằn, lúc nóng lúc nguội, qua hết mùa hè, trời bắt đầu dịu mát thì cũng là lúc chiến sự nóng bỏng hơn, phe ta cố ngăn chận các hành lang xâm nhập, tiếp tế của địch, còn VC thì cố đánh thông đường, chuẩn bị lương thực cho mùa mưa lũ lụt. Trung đoàn 3 được tăng viện thêm Liên Đoàn 11 Biệt Động Quân của Đại Tá Thiệt, Liên Đoàn Trưởng ( biệt danh là Tử Thần hay Tu Thân không rõ ).
qd
Ảnh Nguyễn Ngọc Hạnh
Các pháo 105, 155, 175 ly nằm dài ngoài đường 1 bắn phá các cao điểm mục tiêu. Trước khi tổng phản công tái chiếm, tôi đã dặn dò kỹ lưỡng tất cả các y tá là khi lên đến nơi phải ở dưới giao thông hào làm việc, không được chạy bậy hay đứng lâu trên mặt đất vì quân y mà nằm xuống thì lấy ai cấp cứu băng bó cho thương binh vậy mà chúng tôi vẫn mất thêm 1 thằng em thân thương, Binh Nhất Phục trong lúc vui mừng vì chiến thắng, đứng trên giao thông hào mà hò hét, bị dính 1 viên CKC vô bụng, được chuyển gấp về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, anh may mắn còn sống nhưng bị tàn phế và phải giải ngũ. Ngày về nghỉ dưỡng quân ở Dạ Lê, tôi có xin với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưỏng cho thêm lính để huấn luyện thêm y tá cơ hữu tiểu đoàn, ông nói :
- Mới giao cho cụ mi một mớ rồi xin chi nữa ?
- Trình Thiếu Tá, lớp y tá trước đây có 42 người bây giờ còn có 1, chết 40 và tàn tật giải ngũ 1.
- Đ.M. số mi sát quân.
Tôi chỉ cười chứ không muốn cãi là ông sát quân chớ sao lại tôi !. Đơn vị lại chuyển về vùng La Chữ, Hương Trà rồi đi lên vùng Hải Cát, Hoàng Đế, Mái Nhà, Xích Mích xong trở ra Cảnh Dương , Cầu Hai, Đá Bạc, La Sơn. Lại thay đổi Tiểu Đoàn Trưởng mới là Thiếu Tá Đoàn Thanh Sung, đúng lúc tôi nhận được lệnh thuyên chuyển đi đơn vị khác, đơn vị tỉnh, không tác chiến, tiểu đoàn 14 pháo binh. Trợ y pháo binh thì nhàn nhã vô cùng, có gì đâu mà làm, mặc dù ở đó có bạn bè của tôi như Hiệp Xì Ke ( Thiếu Uý tiền sát viên xuất sắc Trần Thanh Hiệp ) gầy nhom giống như hút xì ke. Vinh, Mới, Cân sữa....
Tôi về ghé qua xem đơn vị mới xong là quay trở lại đơn vị cũ Trung Đoàn 2/24 và xin ở lại không thuyên chuyển dù nguy hiểm cực khổ hơn, nhưng quen nếp sống rừng rú rồi, không muốn về ngồi cạo giấy, dù sao ở đơn vị cũ anh em có nhau và hơn nữa là lúc đó vị Bác Sĩ Trưởng Đại Đội 14 Quân Y Phạm Quý Giao ( nay ở San Jose ) , Bác sĩ Phó Nguyễn Đình Ái đã đối xử với mọi người và tôi rất tốt, vui vẻ không hề có bất cứ sự khó dễ, sách nhiễu, hống hách nào cho nên tôi đi nơi khác làm chi, sống chết có số mạng chẳng phải lo nghĩ gì.
Từ đó cho đến cuối năm 1974 tình hình trở lại yên tĩnh, dễ chịu, công việc quân y chỉ là ngừa sốt rét lặt vặt, khám bệnh phát thuốc cho dân chúng như kiểu dân sự vụ. Đúng là nhàn cư vi bất thiện ! Lính tráng rảnh rang ra nghỉ phép dưỡng quân thường xuống ngủ đò sông Huơng bị bệnh phong tình, lậu liệt tùm lum. Nhiều lúc tôi chích trụ sinh Peniciline cho bọn lính mỏi cả tay, chúng còn than đau nữa, đúng là sướng chả thấy thằng nào kêu mình, bây giờ đau mới kêu !.
Dưới các đại đội, y tá cứ gọi xin thêm trụ sinh, tôi chạy bở hơi tai năn nỉ bạn bè có dư cho xin mới tạm đủ chích cho anh em. Ngày Tết cuối năm lại hành quân, nhưng chủ yếu chỉ ứng chiến giữ an ninh cho hậu phương được yên ổn để ăn Tết. Ở Huế hầu như gia đình nào cũng có giỗ kỵ người thân vào dịp này, hậu quả của cuộc tàn sát ghê rợn của VC năm Mậu Thân, gia đình lính tráng cũng vậy, nên tôi chia ra cho anh em thay nhau về mà ăn Tết với gia đình, dù sao tôi là dân Sài Gòn, lỡ xa nhà lâu qúa rồi nên gồng luôn cả 3 cái Tết 72, 73, 74 trực bệnh xá, chúc tết khu gia binh.... cho anh em vui vẻ. Trong năm lỡ mình có dzọt thì cũng không ai trách cứ chi cả.
Đầu năm 1975 tiếng súng bắt đầu nổ lại, VC quậy phá đánh chiếm 1 vài chốt lẻ tẻ vùng Tây Nam Huế, bên trong đồi Xích Mích, Mái Nhà, cao điểm 400, tấn công bộ chỉ huy tiểu đoàn 1/3 đồng lúc bắn 106 ly trực xạ, pháo 130 ly nên đơn vị này phải rút ra ngoài, chúng tôi trống lưng nên cũng phải bỏ cao điểm 400 về căn cứ hỏa lực của pháo binh 14 và tiếp tục đi về tập trung quân ở căn cứ Birmingham, án ngữ trước mặt bộ chỉ huy nhẹ trung đoàn 3 bộ binh tại căn cứ Hải Cát lúc đó do Trung Tá Huỳnh Như Xuân chỉ huy ( khóa 19 võ bị Đà lạt ). Sau khi tái phối trí ta lần lượt đánh chiếm lại tất cả các cứ điểm. Ngày 18-03-1975 tình hình yên tĩnh, tôi được đi phép thường niên, theo trực thăng về Đà Nẵng để từ đó đáp C130 vận tải cơ về Sài Gòn, tại đây tôi nghe bạn bè cho hay tình hình ở Quảng Trị báo động đỏ đồng thời Sư Đoàn 1 Không Quân đang kiểm kê bom đạn, có vẻ là sắp có gì đây. Về đến Sài Gòn ngày 19 tháng 3 tôi ghé thăm gia đình cha mẹ xong là lo trở ra Huế, may mắn là có chuyến bay quen nên tôi đã có mặt ở Huế ngày 20-3, đó là chuyến bay cuối cùng đáp ở phi trường Phú Bài Huế.
Thật lòng lúc đó tôi không nghĩ là mình yêu nước hay chi cả, chỉ e rằng sẽ có đánh lớn như năm 1972 mà thôi. Tôi trở ra để báo cho anh em thuộc quyền biết đồng thời ký phép cho 2 Hạ Sĩ 1 lớn tuổi là Lê Mịch, có vợ và 6 con ở Duy Xuyên Đà Nẵng. Lê Tế có vợ 4 con ở Hương Điền, Huế. Mỗi ông 15 ngày phép về lo thu xếp cho gia đình và chuẩn bị chiến trưòng có thể bùng nổ lớn như năm 1972. Tôi căn dặn Mịch và Tế, nếu cần thiết 2 ông có thể trễ thêm 15 ngày và tìm về đơn vị, nếu trễ hơn tôi bắt buộc phải báo cáo đào ngũ. Hạ Sĩ 1 Lê Tế xuống núi về luôn, từ đó đến nay không gặp lại, còn Hạ Sĩ 1 Lê Mịch quay trở lên hành quân ngày hôm sau vì sợ không ai lo cơm nước cho tôi.
Tình hình vẫn yên tĩnh nhưng Huế bị pháo kích, ngày 24 tháng 3 đột nhiên có lệnh rút quân về căn cứ Hải Cát. Tám giờ tối, quân của 3 tiểu đoàn 1, 2, 3 đang trên đường rút ra chỉ chạm súng lẻ tẻ, nhưng khi nghe máy truyền tin báo cho biết Hạ Sĩ Lê Mịch tử trận thì tôi thật bàng hoàng và vô cùng thương tiếc...
Sau đó chúng tôi lại được lệnh rút về Huế. Căn cứ Hải Cát bị phá huỷ trước khi rút bỏ, lửa cháy đỏ, cầu phao công binh qua sông cũng cho nổ. Trên đường về Huế tôi bảo lính thông báo cho dân biết chúng tôi rút đi. Tội nghiệp họ khóc lóc bồng bế chạy theo, gần 1 giờ khuya về đến Huế, quang cảnh thật điêu tàn, Huế đã di tản trước, số còn lại đổ dồn về Thuận An 1 hải cảng lớn của Huế, chúng tôi lại tiếp tục rút bỏ về Thuận An, nơi đây có đủ các đơn vị từ Tiểu Khu Quảng Trị, Thừa Thiên, các đơn vị của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 147 TQLC, Liên Đoàn Biệt Động Quân, Thiết Giáp, Điạ Phương Quân.... họ chỉ có rút mà không có đánh đấm gì, tất cả đang chui vào 1 cái bẫy vĩ đại.
giangdinh
Giang Đỉnh VNCH.
Tại đây trung đội 2/14 Quân Y lại mất thêm 1 đồng đội là Trung Sĩ Phúc, Trung Đội Phó Quân Y, anh tử trận vào giờ chót trên bãi biển Thuận An, 1 trận đánh cuối cùng mà chúng tôi cố gắng mở đường máu hy vọng nhập vào tuyến kháng cự của anh em TQLC trong khi quanh tôi 1 số các đơn vị khác đã bỏ súng dơ tay đầu hàng. Dưới tay tôi lúc đó ngoài Trung Đội 2/14 Quân Y còn có khoảng 40 binh sĩ của Tiểu Đoàn 2/3 Bộ Binh. Bao nhiêu cố gắng, máu đã đổ, bạn bè gục ngã, đến khi qua được tuyến TQLC thì nơi đây cũng bị tan hàng.
Tôi tuyệt vọng ngồi xuống dưới bãi biển, sau khi bắn vỡ các máy truyền tin PRC 25, súng ống tháo cơ bẩm liệng xuống nước để không lọt vào tay địch, với ý định không hàng giặc, tôi đưa điạ chỉ gia đình tôi ở Sài Gòn, và nhờ anh em sau này nếu có dịp đến đó báo lại cho cha mẹ tôi là tôi đã làm xong phận sự, tử trận tại đây ngày này.Tuy nhiên anh em y tá khóc và khuyên tôi ráng sống chờ ngày trả về, có lẽ cũng do là mình qúa hèn nên tôi đành buông thả và rồi kết quả là bị bắt và bị giam 6 năm tù đày còn gọi là cải tạo.
Thời gian 2 năm đầu trong tù, anh em y tá cũ còn ở Huế cố gắng gom góp tiền đi thăm nuôi tôi, dần dần kiệt quệ qua năm 1977 Hạ Sĩ 1 Quang thay mặt anh em lên thăm lần chót, xin phép về quê kiếm sống. Năm 1981 tôi được thả về, mẹ tôi ở lại cố gắng tìm tôi nên tôi còn có chỗ mà về. Giấy tờ bảo lãnh của anh tôi ở Canada đã gởi về. Năm 1982 tình cờ Trung Sĩ Tám vào Sài Gòn tìm theo địa chỉ mà tôi viết giờ chót trên bãi biển Thuận an, gặp lại tôi mừng rỡ và cho biết anh em vẫn còn gắn bó nhau đang tổ chức 1 chuyến vượt biên nên vào tìm và đưa tôi đi theo.
- Xin cám ơn tất cả anh em vì tôi sắp cưới vợ.
Năm 1985 anh em từ Huế vào gặp lại cho biết lần đó bất thành, kỳ này làm ở Quảng Nam và muốn tôi đi theo.
- Lại 1 lần nữa tôi xin lỗi anh em, tôi mới có đứa con đầu lòng. Đây chính là niềm vinh dự và hãnh diện của tôi với mọi người, gia đình vợ con cùng thân nhân, sau bao nhiêu năm trời qua mà lính tráng cũ vẫn còn nhớ thương đến mình. Qua đến Mỹ diện H.O.7, tôi gặp lại các vị bác sĩ trưởng năm xưa vẫn được họ thương mến và giúp đỡ hết lòng. Cám ơn bác sĩ Hoàng Trọng Tuấn cựu Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Quân Y, bác sĩ Phạm Quý Giao cựu Đại Đội Trưỏng Đại Đội 14 Quân Y và bác sĩ Nguyễn Đình Ái cựu Đại Đội Phó Đại Đội 14 Quân Y đã giúp đỡ tôi trong thời gian ở trại tù Cồn Tiên Ai Tử..
Có 1 điều quan trọng mà tôi muốn biết : Tại sao Huế mất ngày 26 tháng 3 năm 1975 ? trong lúc chúng ta thắng trên tất cả các mặt trận, không mất 1 chốt nhỏ nào, tự nhiên bỏ chạy, rút và rút.
Theo tôi được biết lúc đó lực lượng ta còn tại Huế rất mạnh : Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 147 TQLC, 2 Liên Đoàn Biệt Động Quân 11 và 12, Thiết đoàn 1 Kỵ Binh Thiết Giáp, toàn bộ Điạ Phương Quân Tiểu Khu Quảng Trị cùng Tiểu Khu Thừa Thiên ( quân số như sư đoàn nên còn gọi là Sư Đoàn Thuận Hóa ), Không Quân, Hải Quân, Cảnh Sát..... Tại sao lại phải rút xuống ngã Thuận An để đến nỗi khi vượt qua phà, qua sông phải bỏ lại toàn bộ vũ khí nặng, thiết giáp.... cuối cùng bị lùa vào rọ và rồi tất cả đều bị bắt !!. Tại sao không dùng đường bộ về Đà Nẵng ? Với bao nhiêu quân đó, thêm pháo binh, thiết giáp, không quân, hải quân yểm trợ. Nếu VC muốn chặn được đoàn quân đó ít nhất chúng phải cần có 4 hoặc 5 sư đoàn hay nhiều hơn nữa mới có thể làm chậm bước tiến của quân ta nhưng chắc chắn chúng phải chấp nhận 1 sự thiệt hại nặng nề, có thể dẫn tới sự sụp đổ toàn diện kể cả miền Bắc, 1 lũ quỷ gian manh xạo hết chỗ nói.
Thành phố Huế mất ngày 26 tháng 3 năm 1975, nhưng đến ngày 27 và 28 tháng 3 các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến vẫn còn đóng quân trên đèo Phước Tượng và đèo Phú Giá trên quốc lộ 1 cách Huế chưa đến 30 cây số. Sau đó họ rút về Đà Nẵng mà không có 1 cuộc chạm súng nào dù lớn hay nhỏ, để rồi lại tái diễn cảnh tự động tan hàng trên bãi biển Sơn Chà Mỹ Khê ? Nếu các đại đơn vị tại Huế về được Đà Nẵng thì làm sao mất Quân Đoàn 1 và vùng 1 chiến thuật được, làm sao có chuyện tháng tư đen năm 1975.
Đó là 1 bí ẩn của lịch sử, sẽ không có bất cứ ai nghe được trận đánh nào đưa đến Huế bị thất thủ. Lúc ra đến bãi biển Thuận An, nhìn ra biển khơi tôi vẫn còn nhìn thấy 27 chiến hạm của Hải Quân nằm uy nghi trên mặt biển. Tôi còn nghe tin đồn là binh sĩ sẽ tập trung quân xuống tầu đổ bộ để tấn công ra Bắc. Lúc đó tinh thần binh sĩ lên rất cao, để rồi cuối cùng bị tan hàng và bị bắt làm tù binh trong khi lực lượng cộng phỉ chiếm Huế chỉ có 1 trung đoàn mà thôi. Nếu có phải đánh ‘’ bằng tay không chúng ta cũng thắng !! ‘’...... chứ đâu đến nỗi này.
Gần 30 năm trôi qua, tôi sống ở vùng Alambra thuộc Los Angeles, mỗi khi nhìn lên đỉnh núi San Gabriel và căn cứ của đài truyền hình Mỹ cùng các cột anten cao ngất, tôi lại chạnh nhớ đến căn cứ Tea Point của Trung Đoàn 3 Bộ Binh uy nghi năm nào.
Tôi vẫn nhớ đến Trung Đội 2/14 Quân Y của anh em chúng tôi. Những mong có 1 ngày nào đó sẽ gặp lại các anh em y tá trong trung đội cũ và tôi vẫn tự nghĩ là mình chưa hề giải ngũ, tôi vẫn là Sĩ Quan Trợ Y như xưa, vẫn nhớ ‘’ Danh Dự - Trách Nhiệm - Tổ Quốc ‘’ mà mình còn nặng nợ chưa hoàn thành.
Hồ Minh Đức
Cựu Sĩ Quan Trợ Y 2/14 Quân Y

Tuesday, February 23, 2021

TÍNH TÌNH CỦA NHÓM SỐ 7*

* Nhóm số 7 là những ai có ngày sinh là 7, 16, và 25 tây của bất cứ tháng này. Điều này cũng áp dụng cho những ai có tên cộng lại bằng 7, 16, và 25.  

Số 7 rung động với sao Hải Vương (Neptune). Số này tượng trưng cho tâm linh (spirituality), sự nhạy cảm, thông cảm (sympathy), và bí ẩn (mystery). 7 là số của ảo giác (illusion) và ảo tưởng (delusion), đôi khi là đánh lừa (deception)--nhưng cũng là số của chữa bịnh và phép lạ, niềm tin--những giấc mơ biến thành sự thật. 

Một người hay thực thể chịu ảnh hưởng bởi số 7 khi họ ra đời vào ngày 7, 16, hay 25 của bất cứ tháng nào. Người hay thực thể ra đời ngày 7 chỉ chịu tác động riêng biệt của số 7. Những ai ra đời ngày 16 hay 25, thì ngoài tác động của số 7, còn chịu thêm tác động của số 16 và 25, đối với cuộc đời của họ. Điều này cũng đúng với tên họ bằng các số 7, 16, và 25. 

===================================

Ý nghĩa của rung động của số 7

Định nghĩa sau đây của số 7 áp dụng cho người và thực thể (entity). Người số 7 có khuynh hướng có những giấc mơ đáng chú ý. Đôi khi họ nói về những giấc mơ này--và đôi khi họ ko nói với ai hết. Nhưng họ có nhiều giấc mơ hơn phần lớn chúng ta. Một cách kín đáo, họ có thích thú mãnh liệt về những bí mật thuộc về bí truyền (esoteric), thần thoại, phi thuyền không gian hay vật lạ bay trong không gian (UFO)... và toàn bộ khu rừng của điều chưa biết (the unknown). Họ thuờng có khả năng trực giác và tiên tri và phần nào đó sự hấp dẫn làm cho nguời khác cảm thấy dễ chịu/giảm đi sự nóng giận (and a certain quieting, calming magnetism which has a great influence over others). Thuờng thuờng, sự xuất hiện đơn thuần của họ cũng có tác dụng làm cho nguời đang bị rối loạn cảm thấy dễ chịu. Sự rung động này của số 7 liên quan đến những ý tưởng kỳ lạ (peculiar) về tôn giáo, hay ko thích đi theo con đường đã có người đi, và một khuynh hướng chấp nhận những tin tưởng (belief) chính trị độc nhứt và phần nào (somewhat) ko chính thống. Cũng ko hiếm khi một người số 7 khám phá, đã tìm thấy, hay tin tưởng một quan điểm tôn giáo mới.

Nguời số 7 hoặc là sẽ du lịch rất nhiều vào một thời gian nào đó trong cuộc đời hay là đọc rất nhiều sách về những dân tộc và đất nuớc xa lạ. Nhiều người ảnh hưởng bởi số 7 thu hút mạnh mẽ bởi biển cả và vào một lúc nào đó có liên quan (at some time are associated) với thuyền buồm (sailing), thể thao nước, hay Hải quân... Họ có khuynh hướng lo âu về tương lai, do đó tại sao người số 7 cần biết họ có nền tảng về an toàn tài chánh nơi nào đó trong bối cảnh (backgroud), để cho (lest) làn sóng của định mạng ko quét sạch. 

Tuy vậy, họ quan tâm rất ít về sở hữu vật chất hoặc tích lũy nhiều của cải. Người số 7 có thể kiếm nhiều tiền qua những ý tưởng độc đáo, nhưng họ có thể (are likely) đóng góp lớn lao cho việc từ thiện. Khi họ hướng (gravitate) tới nghệ thuật, họ trở thành vũ công, ca sĩ, thi sĩ, văn sĩ, tài tử giỏi. 

Trong cách yên tĩnh/trầm lặng của riêng họ, người ảnh hưởng bởi số 7 có những tham vọng mà họ ko thảo luận với kẻ khác, và những tham vọng này luôn luôn nhuộm (tinged) quan điểm triết học. 

Họ ban ân/giúp đỡ cho kẻ khác với thiện ý xuất phát từ sự thấu hiểu về tình cảm của họ truớc nỗi đau khổ của kẻ khác, đó là lý do các bạn bè, bà con, đồng nghiệp trút bỏ gánh nặng của những rắc rối của họ xuống người số 7. (They bless others with the grace of their sympathetic understanding of pain and suffering, which is why friends, relatives, and business associates unburden their troubles to the 7 person.) 

Có một khuynh hướng mạnh mẽ nghiêng về riêng tư ở người số 7, và những người này thích giữ kín những vấn đề của họ. Họ co người lại trước những câu hỏi bươi móc, và có sự kinh sợ (horror) trước bất cứ những gì mà họ xem là can thiệp vào riêng tư của họ. 

Cách xử thế tinh tế, khí chất (temperament) nghệ sĩ, và bản tính (nature) nhạy cảm tạo nên bản sắc (essence) của số 7, và bạn đừng để những người này đánh lừa (fool) bạn với bản tính đôi khi trầm mặc của họ. . . bạn sẽ ngạc nhiên nếu bạn biết tất cả những ý nghĩ lạ lùng trong đầu họ khi bạn đang giao tiếp với họ. Nếu bạn có thể tâng bốc hay nịnh hót (coax) họ để nói về điều họ đang nghĩ, bạn ko những ngạc nhiên mà còn mê hoặc (fascinate) khi bạn biết những bí mật của thế giới sao Hải Vương của họ. Nhưng người số 7 phải tìm thấy bạn đáng tin tưởng trước khi họ chia xẻ những chiêm nghiệm (contemplation) nội tâm này. . . và bạn sẽ phải có được tin tưởng này bằng cách chứng tỏ rằng bạn ko thành kiến.

Tạm dịch từ trang 188-189 của quyển Linda Goodman's Star Signs. 

Cập nhật ngày 23/2/2021. 

Monday, February 22, 2021

Bánh xe Định Mạng (The Wheel of Fortune)

Số 10 được tượng trưng bởi Isis và Osiris. Một số của thăng trầm, tùy theo ước muốn cá nhân. Sự việc có thể tốt hay xấu, tùy theo hành động đã chọn. Số 10 có thể kích thích (arouse) những đáp ứng (response) quá mức trong tình yêu hoặc thù hận – kính trọng hay sợ hãi. Không có biên giới rõ rệt giữa danh dự và tủi nhục. 10 là tượng trưng của Tình yêu và Ánh sáng, có thể tạo ra tất cả những gì bạn có thể tưởng tượng hoặc hình dung (imagined). Hãy tưởng tượng (image) một điều gì đó và ra lịnh/quyết định (ordain), nó sẽ thành hiện thực (materialize). Quyền lực để bày tỏ những quan niệm có tính sáng tạo (creative concepts) trở thành thực tế là cố hửu (inherent), nhưng quyền lực này phải được dùng với sự khôn ngoan, bởi vì quyền lực của sự sáng tạo tuyệt đối này cũng chứa đựng quyền lực đối nghịch ( polarity power) của sự hủy diệt tuyệt đối. Tự làm chủ mình (self-discipline) và lòng thương người vô hạn (infinite compassion) phải đi kèm quyền lực thứ nhứt để tránh thảm kịch của quyền lực thứ hai. Kỷ luật (Discipline) phải đi trước Thực thi quyền hành (Dominion). Bất hạnh thay, một số người thuộc nhóm 10 đã không thực hiện được quyền lực đầy tiềm năng này, và kết quả là đã ấp ủ (harbor) những cảm xúc thất vọng khó lay chuyển (deep-seated), đã làm cho họ cảm thấy không thỏa mản (unfulfilled), và thỉnh thoảng đã bày tỏa sự hơi hãnh diện và kiêu căng để che dấu những cảm giác tự ty không cần thiết./.
Tạm dịch từ:


 TRẬN ĐÁNH QUYẾT TỬ CỦA 500 CHIẾN SĨ TRUNG ĐOÀN 53

. . .

LỜI NÓI ĐẦU: tp Ban Mê Thuột đã bị tấn công vào sáng sớm ngày 10/3/1975 và mọi kháng cự có tổ chức đã chấm dứt vào ngày 11/3. Tuy nhiên, hậu cứ của trung đoàn 53 sđ 23 đóng tại sân bay Phụng Dực, cách tp này 6,4 km về phía đông, dù bị tấn công trong sáng sớm ngày 10/3 bởi đặc công và các ngày kế bởi trung đoàn 149 sđ 316 csbv, vẫn còn cầm cự bởi 500 chiến sĩ của trung đoàn này. Họ đã chiến đấu trong BẢY NGÀY và tan hàng vào sáng ngày 17/3 khi chỉ còn khoảng 100 tay súng với đạn dược đã hết.

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 189-196 của sách Black April.

=====

. . .

"Khoảng chiều ngày 12/3 năm 1975, hai TĐ đầu của trung đoàn 45 sđ 23 VNCH (mà trung đoàn trưởng là  ĐT Phùng văn Quang) được trực thăng đổ xuống bên ngoài Ban Mê Thuột (BMT) và sau đó chiếm Đồi 581, khoảng 1,6 km cách hậu cứ của trung đoàn 53 sđ 23, nơi các chiến sĩ VNCH đang tử thủ. Trung tướng csbv Hoàng Minh Thảo đã lập tức biết tin này. Điều này đã đúng như y tiên đoán: tướng Phú chỉ có thể tái chiếm BMT bằng cách đổ bộ viện binh xuống phía đông của tp và tấn công từ hướng này. Khi hay tin đại đội trinh sát của trung đoàn 45 đang cố gắng bắt tay với trung đoàn của mình, Thảo đã lập tức ra lịnh tấn công hai đv này của VNCH. Nói thêm: Đại đội này đã có mặt tại vùng rừng núi phía tây của BMT trước ngày tp này bị tấn công, sau đó được lịnh tăng phái cho trung đoàn 53 tại sân bay Phụng Dực.-- người dịch. 

Hậu cứ của trung đoàn 53, khoảng 6,4 km ở đông của BMT, nằm trên một mảnh đất bằng phẳng ở giữa QL-21 và một đường khác đi về phía nam. Để bảo vệ một chu vi phòng thủ dài hơn 800 m, chỉ huy trung đoàn 53 chỉ dựa vào khoảng 500 chiến sĩ--gồm TĐ 3/53 và đại đội chỉ huy của trung đoàn. Rất may mắn, các chỉ huy cũ đã chuẩn bị việc phòng thủ rất vững chắc. Trại này được bao quanh bởi bảy vòng rào kẽm gai, một hào chống tăng rất sâu, và, cuối cùng, một thành lũy bằng đất kiên cố với những hầm trú ẩn hay bunker có trang bị súng đại liên. Một số xe M-113 và những toán súng cối tăng cường cho lực lượng phòng thủ. Đây là một phòng tuyến mạnh mẽ (stout), và được chỉ huy bởi trung tá Võ Ân--đã từng đánh bại những đặc công CSBV tấn công trại vào sáng ngày 10 tháng ba. 

Cũng có một cuộc tấn công khác vào ngày 11/3, khi trung đoàn 149 của sđ 316 csbv, tấn công lần đầu vào trại này. Sau khi loạt đại bác mở đường, lính csbv tấn công. Hai giờ sau, hàng chục xác lính csbv nằm rải rác trên chiến trường. Những người lính của trung đoàn 53 vnch đã đẩy lui đợt tấn công lần thứ hai này, nhưng tình hình ngày càng bấp bênh (precarious): người bị thương ko được di tản và đạn dược đang giảm dần (dwindle). Một số đạn dược và lương thực đã đến với họ qua thả dù, nhưng việc này ngày càng khó khăn vì csbv đã cố gắng đưa súng phòng không đến sát trại. Lính trong trại bị tổn thất do pháo kích, cũng như bởi đột kích vào ban đêm của bộ binh csbv. Tin càng xấu hơn vào ngày 13/03 khi một tù binh đã khai là lính của sđ 316 csbv. 

Cuộc tấn công của csbv tại đây chia làm hai mủi: một nhắm vào trại và một nhắm vào sân bay Phụng Dực gần đó. Cũng như phần lớn các căn cứ vnch, căn cứ này của trung đoàn 53 có một điểm yếu quan trọng: ko có chướng ngại vật ở cổng chánh, ý nói  hào sâu để chống chiến xa. Lẽ đương nhiên, đây là nơi bắc quân đã chọn để tấn công. Mỗi mủi có ba xe tăng dẫn đầu, theo sau là một TĐ bộ binh. Do nghĩ rằng tinh thần của quân vnch đã sụp đổ, mủi tấn công có chiến xa dẫn đầu này đã ko có pháo binh dọn đường và bắc quân đã trả giá cho việc này, như mô tả sau đây.

Vào bình minh của ngày 14/3, trung đoàn 149 của sđ 316 csbv, dẫn đầu bởi sáu xe tăng, tấn công doanh trại của trung đoàn 53 và sân bay. Họ đã nhanh chóng phát hiện sân bay ko có ai bảo vệ nhưng mủi tấn công vào doanh trại đã vấp phải chống trả quyết liệt. Một xe tăng đi lạc (got lost), và hai chiếc khác đã lầm lẫn quẹo trái ở cổng chánh, đưa sườn cho các tay súng của trung đoàn 53. Một xe tăng bị tiêu diệt, và đv bộ binh tùng thiết bị thiệt hại nặng. Chiếc kia tiếp tục đi qua căn cứ và cũng đi lạc (also got lost). 

Dù bị thất bại trong lần tấn công thứ ba, bắc quân vẫn ko nhụt chí (undetered). Chỉ huy trung đoàn 149 xin viện binh và cần thời gian để tấn công lần nữa. Tướng Thảo từ chối: ông ra lịnh trung đoàn 149 phải chiếm căn cứ này vào tối ngày 13/3 bằng mọi giá. Thảo tăng cường thêm năm xe tăng cho bốn xe tăng đã tham chiến vào buổi sáng. Đợt tấn công mới này sẽ gồm một mủi vào cổng chánh của căn cứ, cùng với một mủi thứ hai từ hướng tây nam, trong khi ba xe tăng sẽ yểm trợ cho mủi ở phía bắc và sẽ bắt đầu vào buổi chiều. 

Điểm yếu của bắc quân là thiếu linh hoạt. Họ chỉ xuất sắc khi nghiên cứu chiến trường và tập dượt kỹ lưỡng. Khi họ ko có yếu tố này, họ dễ thất bại. TĐ bộ binh đi theo mủi tây bắc đã ko đến đúng giờ, những đv khác cũng vậy. Thấy mặt trời sắp lặn, vị trung đoàn trưởng csbv ra lịnh tấn công. 

Cánh quân đánh vào cổng chánh đã nhanh chóng sa lầy (bog down) bởi hỏa lực dữ dội (withering fire) của lính vnch. Lính bắc quân ngồi trên xe tăng đã rơi rụng do đại liên của lính phòng thủ. Tệ hơn nữa, khi trời trời tối, các xe tăng này chạy lung tung. Một chiếc đã rơi xuống hào sâu chống tăng và trúng hỏa tiển M-72. Nòng súng của một chiếc khác đâm vào một thân cây. Chiếc thứ ba vướng vào kẽm gai và phải ngừng lại. 

Mủi tấn công khác cũng ko tốt hơn: Một xe tăng bị trúng đạn và những chiếc khác đã ko thể vượt qua chu vi phòng thủ. Dù cuối cùng bộ binh cũng tới, nhưng trời đã tới. Do ko có thám sát trước, lính csbv gặp bối rối và bị kềm chân bởi hỏa lực mạnh. Lúc nửa đêm, trung đoàn trưởng csbv ra lịnh rút lui vì bị thiệt hại nặng. 

Hân hoan trước tin này, tướng Phú đã thăng cấp đại tá cho trung tá Võ Ân và nói ông này giữ vững tinh thần, và tiếp viện đang tới. Chẳng bao lâu máy bay thả tiếp tế cho lực lượng phòng thủ, các oanh tạc cơ tấn công các vị trí tình nghi của bắc quân, và Phú ra lịnh cho lực lượng đặc nhiệm của ĐPQ trên Ql-21 phá vỡ các nút chận bằng mọi giá. 

Trong khi trung đoàn 53 đã đẩy lui các tấn công này của bắc quân, tướng Thảo lập kế hoạch tấn công hai tđ của trung đoàn 45 tại đồi 581. Trung đoàn 45 được xem như trung đoàn giỏi nhứt của sđ 23, nhưng ở đồi này, thực tế đã trái ngược với trung đoàn 53. Lý do chánh là họ ko có hệ thống phòng thủ kiên cố và lính bỏ đơn vị để tìm gia đình. Trung đoàn 24 sđ 10 csbv, được hỗ trợ mạnh mẽ bởi thiết giáp và một TĐ phòng không, đã bí mật di chuyển tới vị trí vào đêm 13 tháng ba. Trong khi các máy bay hỏa long C-119 bay liên tục trên vị trí của trung đoàn 45, thả hỏa châu và bắn vào các nơi nghi ngờ bắc quân tập trung quân, bắc quân đã vào vị trí để chờ lịnh tấn công (jump-off position). 

Lúc 7 g sáng ngày 14 tháng ba-- khi tướng Phú bay tới Vịnh Cam Ranh để gặp TT Thiệu--Bắc quân đã tấn công. Một TĐ VNCH đã giữ được đồi, trong khi TĐ thứ hai đang tái phối trí ở cách đó 800 m. Hỗ trợ cho họ chỉ là một pháo đội gồm sáu khẩu 105 ly của ĐPQ gần đó, và yễm trợ ko thường xuyên của không quân. Khi thấy bộ binh và xe tăng csbv tràn lên Đồi 581 để tấn công, lính vnch tản mát ra. Sau khi chiếm đồi, bộ binh và xe tăng bắc quân tràn xuống mặt bên kia của đồi và giao chiến với TĐ thứ hai của vnch. Súng phòng không đã hạ thấp nòng để phối hợp với hỏa lực của T-54 tấn công lính vnch. Lúc 11 g sáng, bắc quân đã đè bẹp TĐ thứ hai này và đổ xuống QL-21.  

Chẳng bao lâu họ đã tới cây cầu đầu tiên ở đông của BMT. Một đại đội đpq giữ cầu, nhưng khi thấy xe tăng, lính phá cầu và rút lui. Lính công binh của sđ 10 nhanh chóng lập một cầu ngầm (ford) để xe tăng tiếp tục đuổi theo. Sau khi qua cầu cạn này, bắc quân đã gặp một pháo đội đpq ở cách cầu khoảng 600 m. Thiết giáp nổ súng và bắc quân chiếm 4 khẩu 105 ly và hàng trăm đạn đại bác. 

Bắc quân tiếp tục trên ql-21, nơi họ tấn công một tđ đpq bảo vệ một tp nhỏ. Tính đến trưa ngày 14 tháng ba, sđ 10 csbv đã đánh tan 3 TĐ, giết 200 lính vnch và bắt sống nhiều tù binh và tịch thu hàng trăm vũ khí. Tóm lại, trong một trận chiến ngắn ngủi, trung đoàn thứ hai, ý nói trung đoàn 45, của sđ 23 đã bị thiệt hại nặng, và bàn đạp chánh của Phú để tái chiếm BMT đã thất bại. 

Trong khi đó, TL của sđ 23, chuẩn tướng Tường, ra lịnh cho những thành phần còn lại của trung đoàn 45 phải bắt tay với liên đoàn 21 bđq tại làng Nông Trại nằm trên ql-21, khoảng 19 km đông của BMT. Nói thêm: Làng này có tên là Nông Trại, vì có lẽ là nông trại của phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ, còn được gọi là Rẫy Ông Kỳ--người dịch. Bất hạnh thay, bắc quân đã nghe được lịnh này. Họ liền gửi trinh sát để theo dỏi các cố gắng của vnch lập một phòng tuyến quanh Nông Trại. Cách đó khoảng 8 km về phía đông là quận lỵ Phước An, nơi đặt BTL tiền phương của sđ 23 vnch. 

Trong khi Tường cố gắng tập hợp những đv còn lại, kế hoạch của Phú lại lần nữa bị gián đoạn do trục trặc kỹ thuật của các trực thăng khổng lồ CH-47: số máy bay khả dụng ngày càng ít hơn. Tin tưởng của Phú rằng ông có thể thực hiện việc vận chuyển theo kiểu Mỹ một trung đoàn giờ đây đã sai lầm. Dù có trực thăng tăng phái từ các quân khu khác, tính tới chiều 14/3, chỉ có trung đoàn 45, đã kể ở trên, một TĐ và BCH của trung đoàn 44, của trung tá Ngô văn Xuân, được thả xuống. Theo ĐT Xuân, đó là một TĐ và đại đội trinh sát của trung đoàn--người dịch. Trung đoàn 44 được thả gần Phước An. Phần còn lại của trung đoàn này sẽ được vận chuyển vào ngày kế; nhưng điều này ko xảy ra vì các trực thăng được dùng để tải BTL của QĐ 2. Hai TĐ còn lại của trung đoàn này sau đó đã tan rả trên TL-7-- người dịch.  

Tình hình còn tệ hại hơn khi csbv đã tạo nút chận trên ql-21 giữa Phước An và bờ biển khiến phải tiếp tế bằng trực thăng. Với số chuyến bay ngày càng giảm do hạn chế xăng dầu và thiếu phụ tùng, không quân ko thể chỡ xe tăng và pháo binh. Hơn nữa, thời tiết xấu và đe dọa thường trực từ hỏa tiển SA-7 đã giảm thiểu hoạt động của máy bay. Lính VNCH giờ đây đã chiến đấu ko có yểm trợ của không quân và pháo binh. 

Sau thất bại của trung đoàn 45, Phú nhận ra rằng tình hình quanh BMT đã thay đổi đột ngột (dramatically). Dù có lịnh mới của TT Thiệu, tướng Phú đã quyết định rằng sẽ vô ích nếu định tái chiếm BMT mà ko phá vỡ các nút chận trên ql-21. Ngày 15/3, Phú ra lịnh cho Tường ko phản công. Thay vào đó, Tường sẽ đánh các nút chận này từ phía tây trong khi đpq đánh từ phía đông. Phú cũng hủy bỏ việc vận chuyển phần còn lại của trung đoàn 44 và dùng số trực thăng này để chuyển BTL của QĐ về Nha Trang. 

Tuy nhiên, Hoàng minh Thảo, ko để cho Phú củng cố lực lượng. Trung đoàn cuối cùng của sđ 10 đang ở Đức lập, phía tây của BMT, được lịnh tiến về BMT và đến vào sáng 15/3. Hai trung đoàn khác, trung đoàn 24 và 66, được lịnh tiến ở phía bắc và nam của ql-21 và gặp nhau ở Nông Trại. Họ phải đi bộ 24 km xuyên núi rừng vào cuối mùa khô để tới vị trí. Trời nóng, địa thế hiểm trở, thiếu nước uống gây khó khăn cho bắc quân, nhưng giúp họ tránh được máy bay vnch. Mủi tấn công chánh gồm một TĐ bộ binh, có thiết giáp và một TĐ phòng không, sẽ đánh vào phòng tuyến vnch tại Nông Trại. 

Vào sáng 16/3, sđ 10 tấn công. Mây mù che phủ khu vực đã khiến máy bay gặp khó khăn. Thiết giáp csbv chạy nhanh trên ql-21 và dễ dàng xuyên thủng phòng tuyến của trung đoàn 45. Hai gọng kèm này của bắc quân đã tràn vào Nông Trại. Lính VNCH đầu hàng và một số rút chạy về phía sau và thiết giáp csbv tiến về Phước An. Đến khi trời ko còn mây mù, máy bay VNCH đã xuất hiện và bắn cháy vài xe tăng và giúp cho các đv VNCH tại Phước An rút lui kịp thời. 

Sau đó, trong khi bay gần mặt trận, tướng Tường đã bị thương nhẹ trên mặt bởi mảnh đạn phòng không bắn trúng máy bay. Ông bay về bịnh viện ở Nha Trang. Phú nổi giận. Ổng khiển trách Tường hèn nhát , và cất chức y . Kế đó, ông bay tới phòng tuyến đang tan rả gần Phước An. Ông chỉ định ĐT Lê hữu Đức, phụ trách về bình định của QĐ, chỉ huy sđ 23. Đến chiều 16/3, sđ 10 csbv đã hoàn toàn kiểm soát Phước An. 

Vì các phần tử của sđ 23, ĐPQ của tỉnh Darlac và liên đoàn 21 bđq đều thất bại, Phú lần nữa ra lịnh cho ĐT Lý bá Phẩm, tỉnh trưởng Khánh Hòa dẹp bỏ nút chận trên ql-21. Ông chỉ thành công phần nào: dù ông đã dẹp nút chận ở phía nam của ql-21, vị trí chánh ở Chu Cúc vẫn còn trong tay trung đoàn 25 csbv. Cuộc tấn công này của tỉnh Khánh Hòa đã bị trở ngại vì một TĐ trưởng ĐPQ của tỉnh là nội tuyến cs. 

ĐT Đức đã nhận một nhiệm vụ gần như bất khả thi. Đêm đó, 5.000 dân tị nạn từ BMT đã tới phòng tuyến vnch ở đông Phước An. Khi xuống kiểm tra các đv, ông phát hiện quân số giảm nghiêm trọng, hoặc do địch hay do đào ngũ vì lính bỏ đv tìm gia đình. Nói thêm: trung đoàn 45 và LĐ 21 BĐQ có trại gia binh ở BMT nên khi được lịnh tiến về BMT, họ đã tự động bỏ đv để tìm gia đình.--người dịch. LĐ 21 BĐQ chỉ còn chưa tới 240 người trên quân số bình thường là 1.000 (LĐ chỉ có 2 TĐ). Trung đoàn 45 chỉ còn khoảng 200 người trên 2.500. BTL sđ chỉ có 42 người. Phần lớn các đv như truyền tin, vận tải, công binh đã tan rả. Chỉ có một TĐ của trung đoàn 44 còn đầy đủ quân số. Nói thêm: lính của trung đoàn 44 có trại gia binh ở Sông Mao Bình Thuận--người dịch.

Với cuộc phản công của VNCH bị phá sản, Thảo ra lịnh phải tiêu diệt căn cứ của trung đoàn 53 ở Phụng Dực, phía đông BMT. Ông gửi thêm 4 xe tăng và thêm pháo, và rút trung đoàn 66 sđ 10, từ Nông Trại tăng cường cho trận đánh này. Họ chia thành hai mủi: trung đoàn 66 từ phía bắc và trung đoàn 149 sđ 316 từ phía nam. Pháo binh bắn mãnh liệt để mở đường, kế đó công binh dùng chất nổ để mở lổ hổng trên các hàng rào kẽm gai. 

Lúc 3 g chiều ngày 16/3, pháo bắn dọn đường. Trong 90 phút, đạn rơi như mưa xuống phòng tuyến, phá hủy xe cộ và khiến căn cứ bốc cháy. Lúc 4:30 chiều, xe tăng tiến sát và bắn vào các bunker trên thành lũy bằng đất của căn cứ. Kế đó, công binh tiến vào hàng rào, dùng chất nổ để tạo lối đi cho bộ binh tiến vào. 

Dù đã bị pháo kích dữ dội, ngay khi công binh csbv xuất hiện, lính vnch đã dùng đại liên và cối chống trả. Hai mủi tấn công này của csbv bị thiệt hại, và sau khi cố gắng xuyên phòng tuyến VNCH, họ hết chất nổ. Thiết giáp cũng sa lầy. Một xe tăng trúng hỏa tiển M-72, chiếc khác rơi vào hào chống tăng. Sau CHÍN GIỜ, hai mủi tấn công đều ko chọc thủng thành lũy bằng đất này. Dù bị thiệt hại càng lúc gia tăng, bắc quân tiếp tục tấn công. 

Khi đêm xuống, các xe tăng tiến sát thành lũy này của trung đoàn 53. Suốt đêm họ bắn vào các vị trí vnch, bắn vào bất cứ gì chuyển động hay bắn trả. Trong lúc đó, lính hậu cần chuyển đạn và chất nổ ra tuyến đầu. Sau khi mở một con đường qua các hàng rào kẽm gai trong đêm, vào lúc bình minh, công binh đã phá vỡ bức tường đất này. Xe tăng tràn vào căn cứ, theo sau là bộ binh. Lúc 8 g sáng 17/3, ĐT Ân cùng với khoảng 100 LÍNH MỞ ĐƯỜNG MÁU, rút về Phước An. Tóm lại họ đã tử thủ trong BẢY NGÀY chống lại các tấn công của csbv có pháo binh bắn ồ ạt và xe tăng mở đường; họ đã hạ NĂM xe tăng và hạ hàng trăm bắc quân. Vào ngày 24/3, Ân và 30 binh sĩ đã tới Nha Trang. 

Trên QL-21, tư lịnh của sđ 10 tập họp bộ tham mưu để dứt điểm sđ 23 vnch. Họ chỉ còn phải tiêu diệt đv còn lại và cuối cùng của sđ 23, đó là trung đoàn 44. Trung đoàn 28 sđ 10 sẽ thay thế trung đoàn 24 quá mệt mỏi. Một TĐ hỗ trợ bởi thiết giáp và phòng không tiến theo ql-21. Hai TĐ sẽ bao vây và vây chặt trung đoàn 44. 

Sáng sớm ngày 17/3, trung đoàn 28 tấn công. Dù trung đoàn 44 có kháng cự phần nào, bắc quân đã chọc thủng phòng tuyến và tiếp tục về hướng đông. Trong tuyệt vọng, Phú lập tức chuyển trung đoàn 40 của sđ 22, đang là trừ bị ở Bình Định, tới quận lỵ Khánh Dương để lập phòng tuyến mới. Phú đã gọi Thiệu và cầu khẩn viện binh. Lữ đoàn 3 Dù, đang xuôi nam từ quân khu 1, đã đổ bộ lên Nha Trang và lập phòng tuyến ở Đèo M'Drak, nằm giữa Khánh Dương và bờ biển. Vào trưa 18/3, sđ 10 đã tới sát Khánh Dương và bắt sống hơn 2.000 quân chủ lực và đpq. SĐ 23 đã bị tiêu diệt và ko thể phục hồi. Nói thêm: sđ này ko thể bổ sung quân số và vũ khí để tiếp tục chiến đấu như sđ 22, cũng của quân đoàn 2. Vì sau đó, sđ 22 đã được gửi tới Long An và chiến đấu tới ngày 30/4, khi có lịnh đầu hàng của Dương văn Minh.-- Người dịch.

Dịch từ trang 189-196 của sách Black April.

San Jose ngày 22 tháng 2 2021. 

Tài Trần

Sunday, February 21, 2021

 THẢM KỊCH GIA ĐÌNH hay LÒNG THAM VÔ ĐÁY

- Cuộc đời sắc sắc không không,

Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi.

- Trong phúc ẩn chứa họa và ngược lại.-- Kinh Dịch.

Hồi tôi còn ở VN, gđ tôi ở một căn nhà nhỏ hai tầng trong một hẻm nhỏ, nhà có bề ngang 3,8 m sâu khoảng 12-13m. Trong nhà có ba má tôi, em gái và tôi. Lúc đó tôi làm đội trưởng một đội xây dựng và vì biết một công nhân homeless nên tôi chứa nó trong nhà tôi. Một hôm một bà người quen đến nhà thấy vậy nói: "Mày ko biết gốc gác của nó mà chứa chấp, có ngày nó giết mày!" Tôi trả lời, tôi tử tế với nó như vậy, nó ko nở nào giết tôi để cướp của.

Năm 1994, tôi đi Mỹ, thằng bụi đời này kiếm chỗ khác mà ở. Nghe nói, trước đây nó trộm cướp gì đó nên đi tù, ko có hộ khẩu gì cả. Nó vào công trường của tôi xin việc nên tôi nhận.

Lúc đó, vợ chồng bà này ở với vợ chồng con gái út, ba đứa con còn lại ở nước ngoài, tất cả đều khắm khá và hòa thuận. Cách đây vài ba năm, bả bán căn nhà mặt tiền ở một khu sầm uất ở quận Nhứt Sài Gòn, chia tiền bán nhà làm sáu phần và cùng gia đình con gái út định cư tại Mỹ. Đứa con út đã mua hai căn, mỗi căn trị giá cả triệu đô. 

Gần đây tôi nghe tin bà liên lạc với một người cháu ở VN để về ở luôn. Hay tin này, tôi liên lạc với một người con của bà thì được biết: gần đây bà xích mích với vc con gái út nên bảo tụi nó trả phần tiền của bà, mà trước đây tụi nó giữ, để về VN mà ở nhưng tụi nó ko trả. Ba đứa kia đành khuyên bà tiếp tục ở với con gái út trong những năm tháng cuối đời.

Gia đình này, cũng vì đồng tiền mà chia rẻ và thù địch--đây là điều họ ko ngờ tới khi họ chưa giàu có như bây giờ!