Friday, March 15, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3119785114701960&set=a.197514143595753&type=3&eid=ARBpZHT6asnR8TJre4PoTi9VTNj23RqSXd7LXSO9Fb-5A6FGIxDBX4zSEKUx5PnvBrtIHNRob8bXLUap

Wednesday, March 13, 2019

ĐÁM CƯỚI CON TRAI CỦA THỨ TRƯỞNG CA PHẠM QUÝ NGỌ .

- Hy sinh đời bố củng cố đời con .
PHẠM QUÝ NGỌ TRONG LỄ CƯỚI CỦA CON TRAI 


Ảnh đám cưới con trai đồng chí Phạm Qúy Ngọ

Đăng bởi: Kiên Phạm on Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014 | 12.2.14


Lễ cưới con trai Phạm Quý Ngọ, thứ trưởng bộ Công An - Sự xa hoa tột cùng của giai cấp quý tộc đỏ

Khi xem những bức ảnh về lễ cưới con trai thượng tướng Phạm Quý Ngọ, thứ trưởng bộ Công An mới được phổ biến trên mạng xã hội Facebook người ta không thể không đặt câu hỏi, các quan chức trong các Lực Lượng Vũ Trang Việt Nam, đặc biệt là giới quan chức lãnh đạo lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam hiện nay họ giàu có xa hoa đến mức độ nào?

Ảnh chụp cậu ấm Nguyễn Đức Quang, con trai tướng CA Nguyễn Đức Nhanh, bên người yêu - Một tầng lớp quý tộc mới xuất hiện, đi lên từ tấm thẻ đảng viên
Còn nhớ, khi những hình ảnh "sinh hoạt đời thường"được phơi bày trên mạng lưới Internet của Nguyễn Đức Quang, con trai tướng Công An Nguyễn Đức Nhanh, khi đó mới chỉ là giám đốc CA thành phố Hà Nội mà đã khiến dư luận "phát sốt" như thế nào vì sự xa hoa của những cậu ấm, cô chiêu của tầng lớp tự xưng là "công bộc của dân" thì chúng ta cũng không thể không nhắc đến trường hợp của nhà báo Lê Nguyễn Hương Trà, tức blogger Cô Gái Đồ Long, đã bị rơi vào vòng lao lý chỉ vì bài viết "Các người đẹp lấy chồng" liên quan đến đám cưới của Nguyễn Khánh Trọng, con trai thượng tướng Công An Nguyễn Khánh Toàn để thấy rằng cái bóng quyền lực đen tối của họ đã phủ trùm xã hội ở mức độ khủng khiếp như thế nào.

Lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam luôn được đảng CSVN đề cao và ca ngợi là thanh kiếm và lá chắn của chế độ. Trong cái thời "Nạn Tham nhũng là Quốc Nạn" như chính các lãnh tụ chế độ cầm quyền hiện nay đã phải cay đắng thừa nhận thì liệu chế độ này có thể dựa vào những tướng tá trong ngành Công An mà một phần cuộc sống xa hoa của họ mới chỉ được thế giới bên ngoài biết đến rất ít kia đến một ngày nào đó bỗng dưng họ có thể tự "rũ bùn đứng dậy" sáng lòa ánh thép được hay không?






































HỌ KHÔNG THỂ BỊ LÃNG QUÊN .
A/ Thiếu tá HQ Đặng hữu Thân
(Viết theo lời kể của ng bạn - cùng học trường Võ Tánh , Nha Trang - của TT Đặng Hữu Thân ) .
1/Theo anh bạn học này , vừa là bạn tù ở trại A-30 Phú Yên , thì sau khi bị bắt trong năm 75 , vì tội tham gia tổ chức phục quốc , anh Thân bị kiên giam (cùm liên tục trong nhiều ngày) ngay tại Nha trang . Sau khoảng 2 năm , 1977 , thì chuyển về trại A-30 Phú Yên trong tình trạng bại liệt . (Anh Thân ko đi tù sau 30/4/75 vì năm 74 anh đã giải ngủ để ứng cử vào hội đồng TP Nha Trang) .
Thấy anh như vậy , anh bạn này, cũng là đội trưởng đội tù , đã đề nghị quản giáo cho anh ra đồng để đuổi chim ; nhờ vậy sau 2 tháng dưới ánh sáng mặt trời , anh đi lại bình thường .
Sau đó , anh và 3 bạn tù đã trốn trại , và 2 bị bắt (trong có anh) ; 2 anh kia sau này qua được Nhật bản .Họ bị xử tử trước mặt hàng ngàn trại viên của trại A-30 .
2/ Cứ 3 CA thì bắn 1 tử tội : riêng anh thì ko chết hẳn , tên chỉ huy kê súng vào đầu để bắn phát ân huệ ; đạn ko nổ , tên này lấy súng khác , bắn phát thứ 2 để kết liễu đời anh ,xác được chôn tại trại .
B/ Chú Trần D.
Một ng khác , quen với tôi , trước 75 chỉ là nhân viên Thuế vụ ở quận 1 Sài gòn . Anh chẳng đi học tập vì là cấp nhỏ ; thế mà sau đó đã về Huế rải truyền đơn , viết khẩu hiệu , kêu gọi bãi thị , v.v...
Anh bị bắt và bị kêu án 16 NĂM TÙ . Sau 1 thời gian dài thăm hỏi qua trung gian nhiều người , chỉ mới cách đây vài năm , tôi mới biết địa chỉ của anh . Do ở tù quá lâu , tánh tình anh đã thay đổi . Tuy nhiên tôi vẫn phục hành động này của anh .
Vì lúc bấy giờ , mạng người rất rẻ rúng , CA lập trại giam khắp nơi trong TP . Bất cứ nhà nào bỏ trống cũng có thể biến thành chỗ giam người . . . so với bây giờ , "nhờ" được nhiều nước theo dõi về nhân quyền nên ng CS không mạnh tay như thời đó . . . đó là chưa kể có những người đấu tranh dân chủ "cuội" , nghĩa là họ cũng vào tù ra khám để có điểm tốt (credit) đối với nhân dân trong 1 cuộc bầu cử QH - có thể diễn ra trong tương lai gần hay xa . Đây là điều ko thể tránh khỏi đối với CS vì đang là trào lưu thế giới .
Người CS đã chuẩn bị như vậy để họ có thể "hạ cánh an toàn" vì họ lo sợ một cuộc tắm máu - sau trên 60 năm đã trị dân Việt bằng BÀN TAY SẮT .
Đây là lối suy nghĩ "suy bụng ta ra bụng người" vì như Myanmar là chứng minh cho thấy đã có sự CHUYỂN ĐỔI QUYỀN LỰC rất êm thắm , không tắm máu , không thanh lọc hay trả thù . . .
Cũng có thể do tôi là người thuộc loại khoan dung , độ lượng , dù đã tù gần 6 năm và mất hết tài sản . Chứ ng khác có thể họ ko xử sự như tôi . Và người CS đã suy luận như vậy .
C/ Trung tá HQ Hà Ngọc Lương
. . .
Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương về Phòng Văn Hoá Vụ đúng vào thời điểm đen tối nhất của TTHLHQ. Có lẽ vì việc di tản xuống Cầu Đá để lên chiếc tàu chót quá đông đảo và nguy hiểm vào đêm 31-3-75 nên Trung Tá Lương đã kẹt lại để rồi anh dũng kết liễu đời mình cùng với vợ con.
. . .
Tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo và Lăng Miếu mới bắt đầu được xây cất vào cuối khóa 23, tiếp tục cho đến khóa 25 mới hoàn tất dưới sự chỉ huy điều động của Trung Tá Nhựt và sự đóng góp tích cực của một số SVSQ "kiến trúc sư" như Nguyễn Hữu Tưởng, Âu Dương Xuyên, Phan Thanh Quang, Mai Chính Bình, Đặng Văn Phát v.v.. Trung Tá Nhựt và các sinh viên ngày đêm miệt mài lăn lộn lo thực hiện một công trình vĩ đại, một công tác khó khăn kéo dài hơn cả năm trời, nhưng khi Tượng đài được khánh thành vào cuối năm 1973 nhân dịp mãn khóa 24, tôi để ý nhưng không thấy một bản ghi tên các điêu khắc gia trên đó. . .
9 giờ đêm 31-3-75, Đề đốc Châu ra lệnh hành quân, nhưng mãi đến 10 giờ cả Trung Tâm mới bắt đầu di chuyển xuống Cầu Đá. Tôi và Đại Úy Minh ngồi cùng xe Jeep với Chỉ Huy Phó Nguyễn Nam Thanh có Thượng sĩ Thừa làm tài xế, nhưng sau đó tài xế lặng lẽ rời xe jeep. Khi tất cả quân nhân Trung Tâm Huấn về tạm trú tại trại Yên Thế trước bệnh viện Grall thì mới biết một số quân nhân cơ hữu đã tự đông ở lại. Sau này nghe nói chính Thượng sĩ Thừa là người đứng ra lo chôn cất vợ chồng và hai con Trung Tá Hà Ngọc Lương dưới bãi cát cạnh tượng Đức Thánh Trần trước Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân. Cầu Đá lúc bấy giờ trông như bãi chiến trường với xác người và súng ống vứt bừa bãi khắp nơi. Chiếc HQ 401 đậu cách cảng khá xa nên thật khó nhọc vất vả lắm mới bám được thành tàu. . .
Đọc đầy đủ ở : 
NAVYGERMANY.GERUSSA.COM

Tuesday, March 12, 2019

Công ơn trời biển của TC đối với CSVN
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3114931521853986&set=pcb.3114924481854690&type=3&__tn__=HH-R-R-R&eid=ARBDGAECZ8EnFckI5Dp8d8pVEdUHat6NbOoX-nXy7NKSXsNM9FrY_Pt0yv1RId1s3qB9avFkB3b8Y_Kh
Chừng nào giới trí thức VN ra thư ngỏ như vầy ?
(Sau khi quân đội ủng hộ TT Yeltsin tấn công vào tòa nhà QH - đã chiếm cứ bởi những người định phục hồi chủ nghĩa CS . . . -Tài) .
. . .
"Ngày 5/10/93 , báo Izvestiya (Tin Tức) đăng thư ngỏ , gửi tới CP và Tổng thống , mang tên "Các nhà văn yêu cầu CP có các hành động dứt khoát" , được ký bởi 42 nhà trí thức Nga và vì vậy được gọi Lá thư của Bốn Mươi Hai Người
. Lá thư được viết do phản ứng với những sự kiện trước đó và chứa đựng 7 yêu cầu :
1/ Mọi loại đảng , mặt trận , hay hội của cộng sản hay chủ nghĩa dân tộc phải bị giải tán và cấm bởi 1 sắc luật của TT .
2/ Mọi nhóm hay hội đoàn bán quân sự hay võ trang bất hợp pháp , dù với danh nghĩa nào (a fortiori) , phải bị nhận dạng và giải tán , kể cả chịu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm pháp luật .
3/ Nên bắt đầu soạn thảo các văn bản luật pháp nhằm chế tài mạnh mẽ : a/ đối với sự tuyên truyền cho CN phát-xít , CN sô-vanh , thù hận chũng tộc , b/ đối với những kêu gọi bạo động , hành động hung ác (brutality) . Các công tố viên , điều tra viên , thẩm phán liên quan đến các các tội ác nguy hiểm đến xã hội này phải bị đuổi việc ngay lập tức .
4/ Các cơ quan báo chí , trước đây hàng ngày cổ vỏ sự thù hận , kêu gọi bạo động và , theo quan điểm của chúng tôi , là 1 trong những người tổ chức hay thủ phạm (perpetrator) chính của thảm kịch vừa qua (và là thủ phạm tiềm năng của nhiều thảm kịch trong tương lai) , như là báo Den (Ngày) , Pravda (Sự Thật) , Sovetskaya Rossiya (Sô viết của Nga) , Literaturnaya Rossiya (Văn học của Nga) (cũng như CT truyền hình mang tên 600 Giây) và 1 số khác , phải bị đóng cửa cho khi có phiên tòa mở ra .
5/Các hoạt động của các cơ quan thuộc thẩm quyến Soviet đã từ chối tuân lịnh của thẩm quyền lập pháp của nước Nga phải bị đình chỉ .
6/Chúng ta cùng nhau ngăn ngừa phiên tòa xử những người tổ chức và tham gia thảm kịch đẩm máu này tại Moscow để nó trở thành trò hề nhục nhã được gọi là "phiên xử của Bè lủ Tám tên" .
7/ Chẳng những chúng tôi không công nhận Đại hội Đại biểu Nhân dân , Hội đồng Tối cao , mà ngay cả các cơ quan (bao gồm Tòa Hiến pháp) được tạo bởi ĐH và HĐ này đều là bất hợp pháp ".
Tạm dịch từ : On October 5, 1993, the newspaper Izvestiya published the open letter "Writers demand decisive actions of the government" to the government and President signed by 42 well-known Russian literati and hence called the Letter of Forty-Two. It was written in reaction to the events and contained the following seven demands:[48]
All kinds of сommunist and nationalist parties, fronts, and associations should be disbanded and banned by a decree of the President.
All illegal paramilitary and a fortiori armed groups and associations should be identified and disbanded (with bringing them to criminal responsibility when it is bound by a law).
Legislation providing for heavy sanctions for propaganda of fascism, chauvinism, racial hatred, for calls for violence and brutality should finally begin to work. Prosecutors, investigators, and judges patronizing such socially dangerous crimes should be immediately removed from their work.
The organs of the press, which from day to day inspire hatred, call for violence and are, in our opinion, one of the main organizers and perpetrators of the tragedy (and potential perpetrators of a multitude of future tragedies), such as Den, Pravda, Sovetskaya Rossiya, Literaturnaya Rossiya (as well as the television program 600 Seconds) and a number of others, should be closed until the judicial proceedings start.
The activities of bodies of the Soviet authority which refused to obey the legitimate authority of Russia should be suspended.
We all together must prevent the trial of the organizers and participants of the bloody drama in Moscow from becoming similar to that shameful farce which is called "the trial of the Gang of Eight."
Recognize not only the Congress of People's Deputies, the Supreme Council but also all bodies (including the Constitutional Court) formed by them as nonlegitimate.
Tạm dịch từ nguồn : 1993 Russian constitutional crisis trên Wikipedia
.
Tại sao bây giờ VN có nhiều quan tham ? ( bài 1) . 
- Con người là sản phẩm của xã hội . 
- Vì cha mẹ của họ không giáo dục họ , không dạy cho họ phân biệt điều hay lẽ xấu . 
Một gđ mà ngay từ nhỏ cha mẹ đã thường xuyên dạy các con NHÂN - LỄ - NGHĨA - TRÍ - TÍN thì tôi nghĩ sau này các con khó trở thành người xấu .
Ngoài GIÁO DỤC của gđ như trên , ảnh hưởng của TÔN GIÁO đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành bản tính của con người . Công giáo dạy "làm điều xấu sẽ xuống địa ngục" , Phật giáo dạy " làm điều xấu sẽ tạo nghiệp ác , sẽ sa xuống địa ngục hay đầu thai vào các cảnh giới xấu" .
Sau 1954 , gần như các tôn giáo đều bị dẹp ở miền bắc : các chùa nếu còn thì phần lớn là của các sư hổ mang ăn thịt chó , có vợ ( vì CS thi hành chủ nghĩa TAM VÔ coi tôn giáo là ma túy , ăn bám , ko sản xuất) ; các nhà thờ công giáo càng ngày thu hẹp , hoạt động cầm chừng cho đến năm 1975 . (Dân tư sản , trí thức gốc HN bị đưa đi KTM ở rừng núi . Hồi đi tù ở rừng núi miền bắc tôi gặp họ rất nhiều) .
Trên nền tảng (văn hóa) hoang dại như vậy thì đừng trách cỏ dại mọc tràn lan , vô kiểm soát . Các HỦ TỤC như giật ấn hay giật phết , cầu tài , cầu lộc , v.v... ở miền bắc nhân dịp tết Â. L. chỉ có dưới chế độ CS .
Trước 1954 , dân miền Bắc "đất ngàn năm văn vật" đâu có như vậy . Than ôi !
(còn tiếp) .

Monday, March 11, 2019

Ký ức vụn về chuyện học ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (kỳ 4)

VIỆC THI CỬ

1. Trước kỳ thi

Đơn vị chính trong các kỳ thi trên toàn miền Nam trước 1975 là cấp Tỉnh. Trường trung học công lập chính thức của tỉnh là nơi trực tiếp thực hiện những thủ tục cần thiết dưới sự sắp xếp của Nha Khảo thí và các cơ quan liên hệ của Bộ Giáo dục như Nha Trung học, Nha Tiểu học, đoàn Thanh tra.
Mấy tháng trước ngày thi, các trường tư thục trong tỉnh phải nộp học bạ của tất cả thí sinh thuộc trường mình cho trường Trung học công lập tỉnh kiểm nhận, và chỉ khi nào học bạ được kiểm nhận hợp lệ, học sinh liên hệ mới được cấp số báo danh để dự kỳ thi sắp tới.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một trang học bạ của học sinh lớp Đệ Tứ (lớp 9) trường tư được trường công lập của tỉnh kiểm nhận mấy tháng trước kỳ thi. Đó là điều kiện bắt buộc của học sinh trường tư để được cấp số báo danh cho kỳ thi sắp mở.
Cũng mấy tháng trước kỷ thi, các giáo sư công lập đang dạy chính môn nào thì được Nha khảo thí yêu cầu đề xuất một số đề thi thuộc môn đó (thường từ 3 đến 5 đề thi). Những đề thi này chỉ có tính tham khảo, nếu có được chọn đi nữa thì xác suất được chọn cũng rất nhỏ, so với số đề thi đề xuất trên cả nước.

2. Trước ngày thi

Việc chọn đề thi do một tiểu ban của Bộ Giáo dục gồm phần lớn là các Thanh tra trung học đảm trách. Khoảng một tuần lễ trước ngày thi, bộ phận này bị cấm trại 24/24 tại trụ sở cho đến ngày thi xong. Không một ai, kể cả Bộ trưởng Giáo dục được phép tiếp xúc với những người này. Họ có những nhiệm vụ quan trọng sau:
– Thảo luận kỹ, chọn ra những đề thi cho từng môn thi, căn cứ vào đề xuất của các giáo sư từng bộ môn đã tập trung về Bộ cách đó mấy tháng.
– Quyết định xong toàn bộ các đề thi, họ đánh máy trên giấy stencil (giấy sáp) và tự tay quay roneo các đề thi đã chọn xong. Vì trong ngày thi, đề thi được phát tận tay mỗi thí sinh, nên số đề được quay roneo vô cùng to lớn, nhiều hơn tổng số thí sinh cho kỳ thi đó. Sau khi công việc khó nhọc này hoàn tất, họ dựa vào số thí sinh do các tỉnh báo cáo, cho toàn bộ đề thi vào những thùng kín có hai ống khóa, được niêm phong cẩn thận, chờ đại diện hội đồng thi các tỉnh lên nhận về.
– Trước khi kỳ thi diễn ra, mỗi tỉnh có một Hội đồng thi tập trung tại trường trung học công lập của tỉnh, gồm phần lớn các giáo chức trong tỉnh. Một ngày trước ngày thi, Hội đồng cử người về Bộ để đưa đề thi về tỉnh, tùy mỗi địa phương mà đi bằng đường bộ hay đường hàng không. Nếu đi đường bộ, họ được xe cảnh sát hộ tống chặt chẽ. Trong suốt những năm trước 1975, chưa hề nghe có một scandal vào về việc tiết lộ đề thi, đủ biết sự bảo mật được thực hiện chặt chẽ như thế nào.
Khi về đến tỉnh, thùng đựng đề thi được đưa ngay đến trụ sở Tòa hành chánh tỉnh. Viên chức giữ chức vụ Phó Tỉnh trưởng sẽ thay mặt ông Tỉnh trưởng sở tại, chủ trì một tiểu ban tiếp nhận và bảo quản đề thi. Họ niêm phong và ký tên trên tất cả giấy niêm phong, cho hết vào một tủ sắt trong phòng Phó Tỉnh trưởng, niêm phong tủ sắt với chữ ký của các thành viên trong tiểu ban (đại diện trường trung học công lập tỉnh, đại diện Ty cảnh sát, tòa án, Hội đồng tỉnh…).
Sáng ngày thi, chỉ một khoảng thời gian ngắn đủ để mang đề thi đến mỗi trường thi, người của hội đồng thi và đại diện mỗi trường thi đến Tòa hành chánh tỉnh, phá niêm phong, nhận đề thi về các trường thi. Khi họ về đến nơi thì chỉ còn một thời gian tối thiểu để các giám thị phát đề thi đến tận tay thí sinh.
– Thường là một ngày trước ngày thi, các trường thi có thông lệ viết bằng phấn số báo danh của thí sinh trên từng bàn học trong phòng thi. Điều này không quan trọng đối với thí sinh Tú Tài, song rất cần thiết đối với thí sinh Trung học Đệ nhất cấp (cấp 2), nhất là thí sinh Tiểu học, giúp họ đến trường thi trước ngày thi, xem và biết trước sẽ ngồi ở phòng nào trong ngày thi. Trước khi có cách làm này, nhiều em gần đến giờ thi, chạy cuống quýt, không biết tìm phòng thi ở đâu, nếu tìm được phòng trễ quá, theo nội qui trường thi, sẽ không được vào phòng thi nữa. Tác giả bài viết này từng là một cậu học sinh như thế trong kỳ thi Tiểu học năm 1954.

3. Trong ngày thi

Trong phòng thi, thường ban tổ chức bố trí một bàn hai thí sinh ngồi ở hai đầu bàn, mỗi phòng có hai giám thị là giáo viên (tiểu học) hay giáo sư (trung học), thường là một nam, một nữ.
Đến giờ thi, thí sinh được phát riêng cho mỗi người:
– Đề thi in trên giấy in roneo dày, màu vàng, chữ rất rõ ràng.
– Giấy làm bài thi khổ to, có rọc phách giữa phần khai báo của thí sinh và bài làm.
– Giấy làm nháp thường có ba màu: xanh lục, vàng nhạt, hường. Thí sinh ngồi chung một bàn được phát giấy nháp khác màu nhau.
Khoảng 5 đến 10 phút trước khi hết giờ làm bài, các giám thị thông báo cho thí sinh biết để xem lại bài. An ninh phòng thi rất chặt chẽ, những người không có nhiệm vụ trong trường thi không được phép đến gần trường thi.

4. Sau ngày thi

* Việc học và thi tại miền Nam những năm 1954-1963 (và sau đó) dựa trên những ý niệm căn bản sau:
– Chỉ có ưu tiên trong học tập, hoàn toàn không có ưu tiên trong thi cử. Thành phần học sinh được ưu tiên trong học tập là con của quân nhân, công chức “hi sinh vì nhiệm vụ” (tử trận, tử nạn trong lúc thi hành nhiệm vụ, chết vì bệnh do công vụ gây nên…) hoặc của những thường dân hi sinh mạng sống để cứu người… Họ được thu nhận vào trường Quốc gia Nghĩa tử, được tạo những điều kiện học tập tốt nhất, bù đắp với sự bất lợi do thiếu cha hay thiếu mẹ so với các học sinh bình thường khác. Họ được miễn học phí, được cấp học bổng và nhiều phương tiện khác trong học tập. Với những điều kiện ưu đãi đó, họ phải cố gắng học tập như mọi người và trong kỳ thi, không được hưởng bất cứ sự ưu đãi nào.
– Tuy nhiên, có một trường hợp duy nhất được cộng điểm. Để khuyến khích học sinh rèn luyện thể lực, khoảng 2-3 tháng trước kỳ thi, Ty thể dục thể thao tỉnh tổ chức kỳ thi thể dục cho toàn thể học sinh trong tỉnh. Kỳ thi gồm nhiều môn phối hợp: chạy xa, nhảy xa, nhảy cao, ném tạ…, ai được từ 11/20 điểm trở lên thì được cộng số điểm sau khi trừ 10 vào tổng số điểm thi đã nhân với hệ số. Ví dụ một học sinh đạt điểm thi thể dục 13/20, cậu ta được cộng thêm 3 điểm vào tổng số điểm thi. Việc cộng thêm điểm này không đáng kể lắm nếu ta biết rằng tổng số điểm trung bình cần để đậu trong kỳ thi thường vượt quá con số 100, sau khi đã nhân với hệ số từ 2 đến 4, tùy theo môn thi.
– Những năm 1954-1963, tại miền Nam, bài thi được cho điểm trên cơ sở tối đa 20 điểm. Tùy theo tính cách quan trọng nhiều hay ít của các môn học và thi, mỗi môn được nhân với một hệ số khác nhau, ví dụ ở kỳ thi Tú Tài II (Tú Tài toàn phần) ban C, môn Triết học hệ số 3; Pháp văn sinh ngữ 1 hệ số 3; Anh văn sinh ngữ 2 hệ số 2; Sử Địa hệ số 2. Như vậy tổng số điểm tối đa các môn thi là 200, số điểm trung bình tối thiểu để đậu kỳ thi viết là 100/200.
– Mỗi kỳ thi Trung học Đệ I cấp, Tú Tài I và Tú Tài II đều có một kỳ thi viết và một kỳ vấn đáp. Thí sinh nào đạt điểm trung bình từ 10/20 trở lên được chấm đậu trong kỳ thi viết. Việc công bố kết quả thi viết diễn ra tại một trường học có sân rộng, loa được bắc nhiều nơi, một người trong ban tổ chức kỳ thi đọc trên loa tên và số báo danh của những người đậu kỳ thi viết, theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, cũng là thứ tự mẫu tự của tên. Những thí sinh đậu trong kỳ thi viết mới được tham dự kỳ thi vấn đáp mở ra sau đó vài ngày.
ADVERTISEMENT
Những người không đủ 10/20 điểm để đậu trong kỳ thi viết được chia làm hai hạng:
. Ai có từ 8 đến dưới 10/20 điểm trung bình được thi kỳ 2 mở cách kỳ 1 khoảng 2 tháng. Công việc nấu sử sôi kinh diễn ra ngay sau đó, trong kỳ nghỉ hè.
. Ai dưới 8/20 điểm trung bình không được dự thi kỳ 2, đợi sang năm sau thi tiếp
– Tùy theo số điểm trung bình trong kỳ thi, tính cả thi viết lẫn thi vấn đáp, người ta chia số người đậu theo các hạng sau:
. Hạng Thứ (passable): Từ 10 đến dưới 12/20 điểm
. Hạng Bình Thứ (Assez bien): Từ 12 đến dưới 14/20 điểm
. Hạng Bình (Bien): Từ 14 đến dưới 16/20 điểm
. Hạng Ưu (Très bien): Từ 16 đến dưới 18/20 điểm
. Hạng Tối ưu (Excellent): Từ 18 đến 20/20 điểm.
Trong kỳ thi Tú Tài, thường chỉ có hai ban A (chủ yếu các môn Lý Hóa-Vạn vật) và B (chủ yếu các mônToán-Lý Hóa) là có thí sinh đậu hạng Bình hay Ưu, vì các bài Toán, Lý Hóa, Vạn vật chấm điểm theo đúng, sai, ai làm bài đúng hoàn toàn dễ kiềm được 16-18 điểm. Riêng ban C với các môn chính: Triết học, Pháp (dissertation morale: luận đề luân lý), Anh (dịch), Sử Địa, kiếm được từ 10 đến 12/20 điểm trung bình đã rất vất vả nên hầu như chưa thấy ai học ban C mà đậu hạng Bình trở lên.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Tú Tài II cấp năm 1962
– Hàng năm, những kỳ thi tuyển vào các trường đào tạo công chức và có học bổng như Đại học Sư phạm, Quốc gia Hành chánh, Kỹ thuật Phú Thọ đều được mở ra giữa hai kỳ 1 và 2 của kỳ thi Tú Tài II, ai thi rớt kỳ 1, chờ thi kỳ 2, sẽ không có cơ hội tham gia các kỳ thi tuyển vào Đại học năm đó.
– Tỉ lệ thi đậu hàng năm của 3 kỳ thi trung học dao động từ 25% đến 45%, thấp nhất thường là ở kỳ thi Tú Tài I, chỉ khoảng 30%-35%, cao nhất là kỳ thi Tú Tài II, từ 35% đến 45%. Điều này dễ hiểu: trình độ học sinh lớp Đệ Nhị (để thi Tú Tài I) không đồng đều bằng học sinh lớp Đệ Nhất (để thi Tú Tài II) vừa đậu xong Tú Tài I năm trước.
Mặt khác, số thí sinh trường tư thường đậu thấp hơn thí sinh trường công, chiếm khoảng 70% -90% số thí sinh thi đậu của trường công. Lý do: Trình độ học sinh trường tư rất không đồng đều, phải chờ nhau, nên không tiến nhanh được. Cần nhớ là trong kỳ thi Tú Tài I, 100% thí sinh trường công đều có bằng Trung học Đệ nhất cấp, trong khi thí sinh trường tư thi Tú Tài I không cần có bằng Trung học Đệ nhất cấp. Chỉ riêng sự khác biệt này đủ làm nên sự chênh lệch về tỉ lệ thi đậu ở mỗi loại trường.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Trung học Đệ nhất cấp cấp năm 1959.
Việc thi cử ở miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa
Một chứng chỉ thi đậu Tú Tài I cấp năm 1961. Người ký là Phó Tổng Giám Đốc Trung Tiểu học và Bình dân Giáo dục Phan Thế Roanh, con trai danh sĩ Phan Mạnh Danh, tác giả tập Bút Hoa.
– Trong kỳ thi Tú Tài (và cả Trung học Đệ nhất cấp), có một thành phần “thí sinh tự do” là những người không có điều kiện học thường xuyên tại trường học. Họ là những quân nhân, công chức hoặc người thi rớt nhiều năm liền. Quân nhân, công chức thường ghi danh học các lớp ban đêm và ban mà họ chọn nhiều nhất là ban C. Họ được miễn điều kiện học bạ, nhưng vẫn phải thi như bất cứ thành phần nào khác, không có chuyện “chuyên tu” hay “tại chức” như sau 1975.
– Sau khi có kết quả thi cả viết lẫn vấn đáp, những thí sinh đã đậu chính thức được cấp sớm một chứng chỉ bằng một tờ giấy A4, có khi chỉ bằng nửa tờ A4. Họ sao y tờ chứng chỉ này dùng cho mọi việc cần thiết: thi tuyển, ghi danh vào đại học, xin việc làm… Phải mấy năm sau họ mới được cấp văn bằng chính thức, khổ to, viết chữ đẹp, giấy cứng, thường chỉ có tác dụng lộng kính treo trong nhà, mọi việc đều nhờ vào tờ chứng chỉ.
– Hàng năm, nhiều nước cấp học bổng cho học sinh, sinh viên Việt Nam, thường là học bổng toàn phần, gồm học phí, chi phí ăn, ở trong suốt mấy năm học. Bộ Giáo dục đăng thông báo trên các báo vài tháng trước khi có kỳ thi tuyển chọn, ai muốn đi du học nộp đơn và hồ sơ dự tuyển. Đến lúc này, thứ hạng trong kỳ thi Tú Tài mới phát huy tác dụng, thường những người đậu từ hạng Bình trở lên được du học miễn thi, có năm phải từ hạng Ưu. Những người đậu hạng Bình Thứ hay Thứ phải dự kỳ thi tuyển, thường là về môn ngoại ngữ (Anh hay Pháp) liên quan đến nước cấp học bổng. Nhiều nhân tài miền Nam nên danh từ những học bổng toàn phần này.
– Sau Đệ nhất Cộng hòa (1963), các kỳ thi vấn đáp được bỏ dần, đến giữa thập niên 1960, bắt đầu thử nghiệm việc thi trắc nghiệm, được gọi vui là “A,B,C khoanh”. Đến đầu thập niên 1970, việc thi được đẩy mạnh về mặt khoa học kỹ thuật, tiến dần đến cách chấm thi bằng kỹ thuật xuyên phiếu với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các chuyên viên thuộc hãng IBM. Lúc đó, một ngạch công chức mới ra đời, đó là ngạch xuyên phiếu viên.
Lê Nguyễn
29.11.2018