Tuesday, February 11, 2014

DI CƯ NĂM 1954 . nguồn : do 1 người bạn viết .

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc     mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cô cùng lo     lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm     1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20     tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh     chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và     các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội     vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu,     Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi     Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối
và đạn     pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.
>>>
>>>
>>>Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không     hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn     tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh     Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin      đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký     tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác      ở Nam Định.
>>>
>>>
>>>Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống     liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân     sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ     để đi Hà Nội.
>>>
>>>
>>>Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ      ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua     vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại     và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới     nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên     tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong     bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ      giới nghiêm.
>>>
>>>
>>>
>>>Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm     1954.
>>>Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công     chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người     Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này     và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi     xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng     dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt      đầy đủ trên xe.
>>>
>>>
>>>Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần     lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo      đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn     nhẹ.
>>>
>>>
>>>Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua     trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà     tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe     nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để      tránh nhiễu loạn giao thông.
>>>
>>>
>>>Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần     áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và     phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố      nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ không     chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can     thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”
>>>
>>>
>>>Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với     tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô     bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu      đương.
>>>Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu.     Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu     hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió     về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn     nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi     này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi     phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy     hiểm.
>>>
>>>
>>>Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy      định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính     hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ      giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt     sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá     nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.
>>>
>>>
>>>Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia      đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt     Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì     còn lại.
>>>
>>>
>>>Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp     thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và     thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân     Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất     nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch      đánh chận.
>>>
>>>
>>>Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn     thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc      đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ     đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một      điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng     này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ      rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết     hại.
>>>
>>>
>>>Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh     bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo     với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di     tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng     vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn     vật.
>>>
>>>
>>>Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng     thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không     biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này     năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất     nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về      ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay     19?
>>>
>>>
>>>Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông      đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn     tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ      tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống     Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia     việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm     hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người     Pháp.
>>>
>>>
>>>Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc     Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ      Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc     Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu     có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.
>>>
>>>
>>>Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có     những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi     tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân      Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp      đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.
>>>
>>>
>>>Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn     binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình     nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh     phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn.     Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.
>>>
>>>
>>>Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về      nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng     trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi     tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.
>>>
>>>
>>>Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ      họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời     loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp     cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết     trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở      sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.
>>>
>>>
>>>Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức     ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa     hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương      được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng     chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại     Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.
>>>
>>>
>>>Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ      Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một     số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt     Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào     Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc     máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các     cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.
>>>
>>>
>>>Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi      đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát     ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài     Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời     ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.
>>>
>>>
>>>Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày     bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi     những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ     đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng     trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.
>>>
>>>
>>>Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung     hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không      được xúc phạm. Ông ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ      máu ấy. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch      đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.
>>>
>>>
>>>
>>>
>>>
>>>
>>>Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào      đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vàoNam bằng phương tiện riêng. Đại đa     số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi     từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn     cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội     thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa     bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần     cuối.
>>>
>>>
>>>
>>>Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số      người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp      Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân     Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào     Nam.
>>>
>>>
>>>Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi     trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy     25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe     chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi     giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu     quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này     bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.
>>>
>>>
>>>Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm      được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó     xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng     trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường     nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là     lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.
>>>
>>>
>>>Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất,     cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui     hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội,     ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ      Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính     phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm     1954.
>>>
>>>
>>>Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn,     Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ      quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các     mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều     (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia      đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh     Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn     người.
>>>
>>>
>>>Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12      đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô     hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5      đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương     giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương     cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt      đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.
>>>
>>>
>>>Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng.     Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm,     kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu.     Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya     vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống      động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.
>>>
>>>
>>>Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình     hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và     nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành     song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội     trong nhiệm vụ chuyên biệt này.
>>>
>>>
>>>Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và     các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người     di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp     các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000     người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.
>>>
>>>
>>>Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên     tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi     dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di     cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di     cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.
>>>
>>>
>>>Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di     cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những     cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở      Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số      rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi     ý.
>>>Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm     và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo     người miền Bắc khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức,     chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã     rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong mục     tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của     nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.
>>>
>>>
>>>Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu     rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra     và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại     vùng thủ đô Sài Gòn.
>>>
>>>
>>>Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp     hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia     rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau     chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san     bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào     nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến     tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng     như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú  hơn.
>>>
>>>
>>>Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa     phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở,      phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền     sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh.     Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư,      giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một     tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài     giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả      tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính     phủ.
>>>
>>>
>>>Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam     năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa     hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì     họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này     cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc     (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng.      Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một      đồng.
>>>
>>>
>>>Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất     mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà     không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng     Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập     rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong     tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một     cách có thiện cảm hơn.

Monday, February 10, 2014

Sĩ quan/viên chức về Giao tế Công cộng hay Giao tế Dân sự . (dịch từ wiki) .
Sĩ quan/viên chức về Giao tế Công cộng hay Giao tế Dân sự (Public Information Officer , viết tắt là PIO) là điều hợp viên về thông tin hay là phát ngôn viên cũa một số tổ chức của chính quyền (ví dụ : TP , quận hạt , học khu , chính quyền tiểu bang hay sở CS hay cứu hỏa ) . Họ khác với ban GTCC của các tổ chức tư trong đó tiếp thị giử 1 vai trò hạn chế hơn .Trách nhiệm chính của viên chức GTDS là cung cấp thông tin cho giới truyền thông và cho công chúng như yêu cầu của luật pháp và theo những tiêu chuẩn của nghề của họ . Nhiều viên chức GTDS là cựu nhà báo , đem kinh nghiệm độc đáo và thích đáng cho chức vụ của họ .Trong những lúc khủng hoảng hay khẩn cấp , các viên chức này đội nón hay mặt áo có chữ PIO .
Một trong những tổ chức nghề nghiệp về thông tin công cộng lâu đời và lớn nhứt là hiệp hội các viên chức về GTCC của bang Cali còn được gọi là CAPIO ./.
(Dịch từ bài Public Information Officer trên wiki) .
Nhận xét : dưới chế độ VNCH , cấp bộ đều có PIO . Trong quân đội , cấp sư đoàn cũng có PIO .
Vì lúc đó ở VN có mấy ngàn nhà báo nước ngoài , phần lớn là Mỹ . Họ theo dỏi cuộc chiến để tường trình với công chúng Mỹ . Những bài viết của họ ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ . Trong khi đó , VN rất cần sự ủng hộ của CP cũng như công chúng Mỹ . Do vậy các PIO nói trên phải làm việc rất tích cực để giúp cho CP VNCH có được sự hậu thuẩn của CP và công chúng Mỹ .
Phe đối lập trong QH của VN cùng chờ đợi các sơ hở của CP để chĩ trích , v.v..
Tôi có kinh nghiệm này vì trước 1975 làm PIO cho 1 đơn vị cấp SĐ .
CÔNG VIỆC CỦA PHÒNG THÔNG TIN BÁO CHÍ . theo wiki .
"
Public Information Officers (PIOs) are the communications coordinators or spokespersons of certain governmental organizations (i.e. city, county, school district, state government and police/fire departments). They differ from public relations departments of private organizations in that marketing plays a more limited role. The primary responsibility of a PIO is to provide information to the media and public as required by law and according to the standards of their profession. Many PIOs are former journalists, bringing unique and relevant experience to the position. During crises and emergencies, PIOs are often identified by wearing helmets or vests with the letters "PIO" on them.
Among the oldest and largest public information professional organizations is The California Association of Public Information Officials or CAPIO.
PHÒNG THÔNG TIN BÁO CHÍ DƯỚI CHẾ ĐỘ CŨ.
Trước 1975 , dưới chế độ VNCH , cấp bộ và dưới cấp bộ đều có 1 phòng Thông tin Báo chí . Nhiệm vụ đã ghi nhận mọi ý kiến hay phê bình đối với công việc liên quan quan đến bộ hay nghành của mình để báo cáo lên bộ trưởng hay tư lịnh nghành để kịp thời sửa sai . Những ý kiến hay phê bình này được đăng trên báo trong nước hay ngoài nước , được phát đi từ đài VOA , BBC , v.v... Tóm lại , công việc na ná như viện này .
Vì hồi đó , báo chí là 1 quyền rất mạnh (trong đó có báo chí Mỹ với mấy ngàn phóng viên ở VN) nên công việc của Phòng TTBC không phải dễ dàng . Có 1 lần , PV nước ngoài chụp hình 1 lính gác cầu đang ngủ : ảnh này lọt vào mắt TT Thiệu và tỉnh trưởng bị khiển trách nặng .
Tất cả mọi sai lầm , lớn nhỏ , của CP VNCH , nếu ko sửa chữa kịp thời sẽ bị Quốc Hội VN , QH Mỹ (vì Mỹ giúp VN chống Cộng) điều tra ra lẽ , v.v...
Hiện nay , QH VN chĩ là bù nhìn nên ko có vai trò như các QH của nước pháp quyền . Cho nên mọi ghi nhận , mà Viện - được nói trên Viet-Studies - cũng chĩ là giấy gói xôi .
"PTT Tàu Hoàng Trung Hải "dâng" phần lớn các mỏ khoáng sản của Việt Nam cho Trung Quốc" của Lê Anh Hùng có đoạn :
. . .
"Bất chấp lời cảnh báo đầy tâm huyết của nhiều cán bộ đảng viên cao cấp lo lắng cho vận mệnh dân tộc trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đặt ông Hoàng Trung Hải vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ khoá mới: Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” (từ ngày 2.8.2007).
PTT Hoàng Trung Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao trực tiếp phụ trách các bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Giao thông - Vận tải, và Tài nguyên - Môi trường. Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao đảm nhiệm một loạt chức vụ trọng yếu: 1/Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; 2/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; 3/Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; 4/Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; 5/Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; 6/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; 7/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải; 8/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; 9/Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; 10/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; 11/rưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; 12/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; 13/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, 14/Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; 15/Trưởng ban ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức) Quốc gia; 16/Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; 17/Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v. Nghĩa là ngài PTT gốc Tàu này gần như nắm trọn toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong tay, dĩ nhiên là cả ngành khai khoáng với hàng loạt mỏ khoáng sản béo bở. Không chỉ “dâng” cả ngành điện lực Việt Nam cho Trung Quốc mà trong nhiều năm qua ngài PTT này còn âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam, và dĩ nhiên ngành khai khoáng cũng không thoát khỏi điều đó.
. . . "
Nhận xét : với chức vụ PTT về KT , ông coi 5 bộ và phụ trách ít nhứt là 17 ban . Đúng là 1 ông vua không ngai của nền KT VN .

Hoàng Sa, Trường Sa: pháp lý và chính trị

Cập nhật: 18:25 GMT - chủ nhật, 9 tháng 2, 2014, đăng trên bbcvietnamese
Biển Đông
VN vẫn chưa đưa các vấn đề tranh chấp chủ quyền với TQ trên Biển Đông ra tòa án quốc tế.
Trong một bài trên BBC,Bấm TS Trần Công Trục phản biện ý kiến Việt Nam cần “chính thức tuyên bố hủy bỏ công hàm do cựu Thủ tướng (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - VNDCCH) Phạm Văn Đồng ký năm 1958”.
Mặc dù trong Bấm một bài khác trên BBC, tôi có cùng kết luận với TS Trần Công Trục, tôi cho rằng một số lập luận khác của TS Trần Công Trục là chưa đủ để biện luận cho chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trước Tòa hay dư luận luật học.

Thủ tướng VNDCCH có thẩm quyền?

Lập luận“Các Hiệp ước, Hiệp định này phải được Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất phê chuẩn theo thủ tục pháp lý rất chặt chẽ mới có hiệu lực thi hành ... các tuyên bố, các văn bản của một nhân vật nào đó, dù là những quan chức nhà nước cao nhất, có nội dung về biên giới lãnh thổ đều không có giá trị pháp lý tuyệt đối trong quan hệ quốc tế” dường như có ý cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) chưa được Quốc hội phê chuẩn cho nên không có đủ giá trị pháp lý.
Trong phiên tòa xử tranh chấp Đông Greenland, Na Uy cho rằng Ngoại trưởng Na Uy Nils Claus Ihlen đã không có thẩm quyền khi nói với Bộ trưởng Đan Mạch rằng kế hoạch của Đan Mạch về chủ quyền Đan Mạch trên toàn bộ Greenland sẽ không gặp khó khăn gì từ Na Uy, và theo luật Na Uy thì Quốc hội mới có thẩm quyền. Nhưng Tòa đã bác bỏ lập luận này, với lý do trong luật quốc tế Ngoại trưởng có thẩm quyền để đại diện cho quốc gia trong vấn đề lãnh thổ.
Như vậy, lập luận “Quốc hội chưa phê chuẩn” chắc chắn sẽ bị bác bỏ, vì trong luật quốc tế Thủ tướng cũng là người có thẩm quyền để đại diện cho quốc gia trong vấn đề lãnh thổ.
Hướng lập luận “TT Phạm Văn Đồng không có thẩm quyền” là đúng, nhưng có lẽ sẽ phải dựa trên lập luận lúc đó Hoàng Sa, Trường Sa không nằm dưới thẩm quyền lãnh thổ của VNDCCH, mà dưới thẩm quyền của một quốc gia Việt khác. “Quốc gia” ở đây là khái niệm pháp lý được định nghĩa trong Công ước Montevideo 1933 là một chủ thể có lãnh thổ, dân cư, chính phủ và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác. Quốc gia là khác với Tổ quốc, đất nước, nhà nước hay chính phủ.

Không công nhận, nhưng không bảo lưu

Lập luận “[CH PVĐ] chỉ ủng hộ và thừa nhận phạm vi lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc vừa tuyên bố, không có chữ nào nhắc đến 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ...” khó có thể biện luận đầy đủ cho chủ quyền Việt Nam.
Đúng là tuyên bố 5/9/1958 của Trung Quốc có đưa ra ba nguyên tắc chính: (1) lãnh hải 12 hải lý, (2) đường cơ sở thẳng và nội thủy cho Hoa Lục và các đảo gần bờ, (3) tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải phải tuân thủ luật Trung Quốc, tàu thuyền máy bay quân sự nước ngoài vào lãnh hải phải xin phép. Nhưng tuyên bố đó cũng ghi rằng nguyên tắc thứ nhất được áp dụng cho “tất cả lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm... Hoàng Sa, ...Trường Sa và các đảo khác của Trung Quốc”, và nguyên tắc thứ nhì và ba được áp dụng cho “...Hoàng Sa, ...Trường Sa và các đảo khác của Trung Quốc.”
CH PVĐ ghi “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.” CH PVĐ tuy không nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa nhưng đã ghi rằng CP VNDCCH ghi nhận và tán thành như trên mà không bảo lưu gì về hai quần đảo đó.
Có thể dựa vào “không nhắc đến” để biện luận “không công nhận”, và như vậy là cần thiết, nhưng không đủ. Lý do là sự không bảo lưu trên có nghĩa VNDCCH đã không khẳng định chủ quyền Việt trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn vì từ 1954 đến 1976 VNDCCH đã không khẳng định chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Theo luật quốc tế, nổi bật nhất là theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp đảo Pedra Branca, nếu trong một thời gian dài mình không khẳng định chủ quyền trong khi nước khác đòi chủ quyền thì mình có thể mất.
Trong kịch bản giả tưởng chính phủ VNDCCH đã là đại diện pháp lý cho toàn Việt Nam, với hành vi của VNDCCH, Việt Nam sẽ khó thắng cuộc tranh biện pháp lý. Điều làm cho Việt Nam thua trong kịch bản này sẽ không ở việc công nhận hay không công nhận, mà ở việc không khẳng định chủ quyền của mình trong khi nước khác đòi chủ quyền.
Một trong những phương hướng lập luận cho Việt Nam là chứng minh rằng trong giai đoạn 1954-1975 đã có một quốc gia Việt khác với VNDCCH duy trì chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Chủ quyền đã được một quốc gia duy trì?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Công hàm 1958 do Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ký tiếp tục là chủ đề cần xử lý khi VN đòi chủ quyền HS-TS.
Lập luận chính thức của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của VNCH. Nhưng trong luật quốc tế các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ phải là do đại diện cho một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý. Vì vậy, để cho các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của chính quyền VNCH có giá trị pháp lý, lúc đó chính quyền đó phải là đại diện pháp lý cho một quốc gia.
Do đó, và lưu ý đến thực tế, để cho các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của VNCH có giá trị pháp lý, cần vận dụng quan điểm cho rằng từ 1956 đến 1976 có hai quốc gia Việt trên một đất nước Việt Nam, mỗi quốc gia một bên vĩ tuyến 17. Thêm vào đó, cần vận dụng quan điểm cho rằng từ 1956 đến 30/4/1975 chính phủ VNCH là đại diện pháp lý của quốc gia phía Nam, và sau 30/4/1975 CP CMLT CHMNVN là đại diện pháp lý của quốc gia đó cho đến khi Việt Nam thống nhất năm 1976.
Lập luận “... theo Hiệp định quốc tế Geneva 1954 bàn về vấn đề Đông Dương ... Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể chính trị, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được quốc tế công nhận. Vì vậy, Việt Nam Cộng Hòa là đại diện cho nhà nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam để quản lý và thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ...” đi theo hướng cần thiết: “VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNCH có”, nhưng nó có đi xa đủ và và nó có mạnh đủ chưa?
Theo Hiệp định Geneva, chính quyền VNDCCH quản lý miền Bắc, và Liên Hiệp Pháp quản lý miền Nam. Vấn đề là “quản lý” có nghĩa gì? Nó chỉ có nghĩa quản lý dân sự nội địa bên trong duy nhất một quốc gia Việt, hay nó bao hàm cả thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế?
Nếu chỉ là trường hợp thứ nhất thì khó thể cho rằng theo Hiệp định Geneva chính quyền VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và chính quyền VNCH có. Trường hợp này sẽ có nhiều rủi ro cho Việt Nam trước Tòa và dư luận luật học.
Nếu là trường hợp thứ nhì, thí dụ như sau 1954 hay 1956 sự quản lý được quy định trong Hiệp định Geneva đã tiến hóa để bao hàm cả thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế, thì chính quyền VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và chính quyền VNCH có. Đó là điều cần thiết cho lập luận về Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhưng trong luật quốc tế thì “có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế” và “là một quốc gia” đi đôi với nhau. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.

'Lãnh vực nhạy cảm?'

Dễ thấy vì sao hai quan điểm trên dễ bị cho là “nhạy cảm”, thậm chí là “phản động”. Thậm chí còn có thể có những chuyện chụp mũ kiểu "Anh nói có 2 quốc gia và chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý. Vậy là anh muốn khôi phục VNCH, anh là phản động, anh muốn chia đôi đất nước lần nữa." Nhưng nếu cho rằng trước 1976 và 1975 có hai quốc gia, hay cho rằng trước 30/4/1975 chính quyền VNCH đã từng là đại diện pháp lý của một quốc gia thì đó chỉ là một nhận định về quá khứ, không có nghĩa muốn chia đôi đất nước đã thống nhất năm 1976, và không có nghĩa muốn khôi phục VNCH.
Mặt khác, nếu cho rằng VNDCCH và CHMNVN đã thống nhất một cách hợp pháp thành CHXHCNVN năm 1976, Bấm và do đó CHXHCNVN đã thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, thì dễ bị cho là “thân Cộng”, thậm chí là “biện minh cho CS xâm chiếm miền Nam”, nhưng đó cũng là chụp mũ.
Thật ra khi VNDCCH và CHMNVN còn tồn tại thì quan điểm chính thức của hai chính thể đó là có hai quốc gia trên đất nước Việt Nam, mỗi quốc gia một bên vĩ tuyến 17. Quan điểm đó cũng bao hàm quan điểm trước 30/4/1975 có hai quốc gia. Nhưng ngày nay quan điểm đó bị lãng quên nhiều và truyền thông Việt Nam ít dám đụng đến nó.
Về quan điểm cho rằng từ 1956 đến 30/4/1975 chính phủ VNCH là đại diện pháp lý của quốc gia phía Nam, có thể phi nhạy cảm hóa nó phần nào bằng cách lưu ý rằng đại diện của một quốc gia trong luật quốc tế là một vấn đề trong phạm trù luật quốc tế tương đối độc lập với các vấn đề chính trị, chính nghĩa của các chính quyền VNCH, chính quyền VNDCCH và chính quyền CHMNVN.
Nếu không phi nhạy cảm hóa việc thảo luận giữa người Việt và việc trình bày với quốc tế về những vấn đề quốc gia, đại diện pháp lý của quốc gia, thống nhất đất nước, thì sẽ bất lợi cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền.
Từ trước đến nay, người Việt thường nhận định về cuộc chiến 1954-1975 từ những góc độ ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa của bên mình. Phải chăng nhu cầu tranh biện pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa đang đòi hỏi người Việt phải đi đến một nhận định về lịch sử có thêm tính chất luật quốc tế và bớt bị kẹt trong các lề ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa?
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một thành viên sáng lập của nhóm Nghiên cứu Biển Đông

Sunday, February 9, 2014



TRẬN ĐỒNG XOÀI , NGÀY 10 06 1965 . THEO LIFE JULY 2 1965 .


TRỰC THĂNG ĐỔ QUÂN XUỐNG SÂN BANH , KẾ QUẬN ĐÔN LUÂN . BINH SĨ TỪ ĐÂY TIẾN LÊN DƯỚI LÀN ĐẠN CỦA CS .
"CỨ 10 GIÂY CÓ 1 NGƯỜI GỤC NGẢ ! "
Add caption

CHỈ HUY LỰC LƯỢNG BẢO VỆ QUẬN ĐÃ KHÓC KHI BIẾT RẰNG GĐ ÔNG ĐÃ CHẾT HẾT . ẢNH PHẢI : GIA ĐÌNH NÀY KHÓC VÌ MỌI NGƯỜI CÒN SỐNG .  

VỚI THÁNH GIÁ ĐONG ĐƯA NƠI NGỰC , BÉ GÁI 12 TUỔI NÀY ĐI BẰNG CÁCH NHẢY CÒ CÒ ĐỂ CHỜ TRỰC THĂNG TẢI THƯƠNG . NHÀ BỊ TAN TÀNH , CHA VÀ 1 ANH , 1 CHỊ CHẾT . MẸ VÀ HAI ANH SỐNG SÓT ĐÃ GẶP BÉ TẠI 1 BV Ở SÀI GÒN .
DÂN CHÚNG BỒNG BẾ NHAU , RỜI BỎ VÙNG LỬA DẠN .