DI CƯ NĂM 1954 . nguồn : do 1 người bạn viết .
Tháng
6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm
soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cô cùng lo lắng và hoang mang
sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954.
Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng
20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan
truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ
rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt
doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu
nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam
Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định
cho phá hàng loạt đạn súng cối
và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.
>>>
>>>
>>>Bộ
Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình
tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc
chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7
năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông
Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký
tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác
đác ở Nam Định.
>>>
>>>
>>>Ba
ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở
gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu
cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà
Nội.
>>>
>>>
>>>Nam Định bắt đầu
hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối
mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà
Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất
Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng
vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm
trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng
tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ
giới nghiêm.
>>>
>>>
>>>
>>>Đường phố Hà Nội, hình chụp vào tháng 7 năm 1954.
>>>Gia
đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc.
Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa
một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia
đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi
xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải
trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi
người phải có mặt đầy đủ trên xe.
>>>
>>>
>>>Việc
di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi
trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều
ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.
>>>
>>>
>>>Lệnh
di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc
hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8
giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến
sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để
tránh nhiễu loạn giao thông.
>>>
>>>
>>>Hồi
đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần
thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món
nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là
để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi , người nuôi nấng tôi từ nhỏ
không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm
cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”
>>>
>>>
>>>Mẹ
tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay
đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương
vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.
>>>Nàng
đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy
tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió
trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà,
trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn
nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến
đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa
bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình
thế rất khó khăn nguy hiểm.
>>>
>>>
>>>Quân
cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát
Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho
khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải
quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh
đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải
phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.
>>>
>>>
>>>Buổi
trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người
thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công.
Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn
lại.
>>>
>>>
>>>Cuộc rút lui này tuy
tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành
công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ,
cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động
cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn
quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.
>>>
>>>
>>>Kế
hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có
các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy,
chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ
đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có
một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc
các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát
Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt
Minh bắt và giết hại.
>>>
>>>
>>>Hà
Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng
súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những
thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4
tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn
không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.
>>>
>>>
>>>Lúc
ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm
ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến
kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73
người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất
nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về
ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19?
>>>
>>>
>>>Đầu
tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón
ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau
đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ
tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái
chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn
sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ.
Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ
thay thế người Pháp.
>>>
>>>
>>>Nhóm
chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham
gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm,
chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều
nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có
không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.
>>>
>>>
>>>Đường
phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ
trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng
các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc
Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp
đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.
>>>
>>>
>>>Ngày
14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị
Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy
khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước
kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào
luận điệu này.
>>>
>>>
>>>Đám học
sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5
Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7
năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn
luận về tình hình đất nước.
>>>
>>>
>>>Chiều
21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài
Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp
Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng
câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết
trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia
ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.
>>>
>>>
>>>Tân
Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố
rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20
tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc
sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy
từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại
Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.
>>>
>>>
>>>Hà
Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và
dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên
báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh.
Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra
vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có
những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn
cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.
>>>
>>>
>>>Một
số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia
đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4
tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn.
Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp
thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.
>>>
>>>
>>>Những
gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang
làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu
tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao
vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi
nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.
>>>
>>>
>>>Một
trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng
đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Ông
ta không ngờ những người bán chợ trời đều không ưa lá cờ máu ấy.
Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch
đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.
>>>
>>>
>>>
>>>
>>>
>>>
>>>Tin
tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà
giầu đã đi vàoNam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi
danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định
lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán
bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã
Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm
1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh
quanh Hà Nội lần cuối.
>>>
>>>
>>>
>>>Hình
chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS
Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS
Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được
giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam.
>>>
>>>
>>>Sáng
sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung
úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn
cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi
nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng
xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu
hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ
dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.
>>>
>>>
>>>Chúng
tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi
phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm
mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông
vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường
nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây
là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.
>>>
>>>
>>>Sau
những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ
ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về
nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm
sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ
Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của
chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm
1954.
>>>
>>>
>>>Nhờ vào dịp hè,
các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để
đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận
hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp.
Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường
đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia
đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học
Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10
ngàn người.
>>>
>>>
>>>Trợ cấp
tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để
ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3
đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng.
Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương
giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng,
lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn
4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.
>>>
>>>
>>>Đời
sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng
và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn,
tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những
cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya
vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất
sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.
>>>
>>>
>>>Từ
tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội
và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người
mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song
và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong
nhiệm vụ chuyên biệt này.
>>>
>>>
>>>Thời
gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả
lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau
đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh.
Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000
người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.
>>>
>>>
>>>Nếu
tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự
gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai
và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín
đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư
có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.
>>>
>>>
>>>Một
điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng
vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh
giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn
nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số
rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.
>>>Nói
chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của
người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc
khiến họ yên tâm vàoNam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên
cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời
bỏ đất Bắc khiến chính quyền ông Hồ Chí Minh gặp khó khăn lớn trong
mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là
xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật Xã Hội Chủ Nghĩa.
>>>
>>>
>>>Cuộc
di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử
Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét
đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng
thủ đô Sài Gòn.
>>>
>>>
>>>Trước
hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng
buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của
những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng.
Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san
bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả
nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển
và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ
mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong
phú hơn.
>>>
>>>
>>>Trước tháng 10
năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp
Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp.
Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo
chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách
hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ
đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một
tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau
vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành
có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư
đối với chính phủ.
>>>
>>>
>>>Cuộc
đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không
giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông
Dương mà chính quyền Hồ Chí Minh thu gom được ở miền Bắc vì họ không
kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này
cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5
cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc
một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc
mệnh giá trên một đồng.
>>>
>>>
>>>Lúc
ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại
Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ.
Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà
hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi,
mấy thầy cô dô đây làm chi?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ
trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư
một cách có thiện cảm hơn.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Tuesday, February 11, 2014
Monday, February 10, 2014
Sĩ quan/viên chức về Giao tế Công cộng hay Giao tế Dân sự . (dịch từ wiki) .
Sĩ quan/viên chức về Giao tế Công cộng hay Giao tế Dân sự (Public Information Officer , viết tắt là PIO) là điều hợp viên về thông tin hay là phát ngôn viên cũa một số tổ chức của chính quyền (ví dụ : TP , quận hạt , học khu , chính quyền tiểu bang hay sở CS hay cứu hỏa ) . Họ khác với ban GTCC của các tổ chức tư trong đó tiếp thị giử 1 vai trò hạn chế hơn .Trách nhiệm chính của viên chức GTDS là cung cấp thông tin cho giới truyền thông và cho công chúng như yêu cầu của luật pháp và theo những tiêu chuẩn của nghề của họ . Nhiều viên chức GTDS là cựu nhà báo , đem kinh nghiệm độc đáo và thích đáng cho chức vụ của họ .Trong những lúc khủng hoảng hay khẩn cấp , các viên chức này đội nón hay mặt áo có chữ PIO .
Một trong những tổ chức nghề nghiệp về thông tin công cộng lâu đời và lớn nhứt là hiệp hội các viên chức về GTCC của bang Cali còn được gọi là CAPIO ./.
(Dịch từ bài Public Information Officer trên wiki) .
Nhận xét : dưới chế độ VNCH , cấp bộ đều có PIO . Trong quân đội , cấp sư đoàn cũng có PIO .
Vì lúc đó ở VN có mấy ngàn nhà báo nước ngoài , phần lớn là Mỹ . Họ theo dỏi cuộc chiến để tường trình với công chúng Mỹ . Những bài viết của họ ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ . Trong khi đó , VN rất cần sự ủng hộ của CP cũng như công chúng Mỹ . Do vậy các PIO nói trên phải làm việc rất tích cực để giúp cho CP VNCH có được sự hậu thuẩn của CP và công chúng Mỹ .
Phe đối lập trong QH của VN cùng chờ đợi các sơ hở của CP để chĩ trích , v.v..
Tôi có kinh nghiệm này vì trước 1975 làm PIO cho 1 đơn vị cấp SĐ .
Sĩ quan/viên chức về Giao tế Công cộng hay Giao tế Dân sự (Public Information Officer , viết tắt là PIO) là điều hợp viên về thông tin hay là phát ngôn viên cũa một số tổ chức của chính quyền (ví dụ : TP , quận hạt , học khu , chính quyền tiểu bang hay sở CS hay cứu hỏa ) . Họ khác với ban GTCC của các tổ chức tư trong đó tiếp thị giử 1 vai trò hạn chế hơn .Trách nhiệm chính của viên chức GTDS là cung cấp thông tin cho giới truyền thông và cho công chúng như yêu cầu của luật pháp và theo những tiêu chuẩn của nghề của họ . Nhiều viên chức GTDS là cựu nhà báo , đem kinh nghiệm độc đáo và thích đáng cho chức vụ của họ .Trong những lúc khủng hoảng hay khẩn cấp , các viên chức này đội nón hay mặt áo có chữ PIO .
Một trong những tổ chức nghề nghiệp về thông tin công cộng lâu đời và lớn nhứt là hiệp hội các viên chức về GTCC của bang Cali còn được gọi là CAPIO ./.
(Dịch từ bài Public Information Officer trên wiki) .
Nhận xét : dưới chế độ VNCH , cấp bộ đều có PIO . Trong quân đội , cấp sư đoàn cũng có PIO .
Vì lúc đó ở VN có mấy ngàn nhà báo nước ngoài , phần lớn là Mỹ . Họ theo dỏi cuộc chiến để tường trình với công chúng Mỹ . Những bài viết của họ ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ . Trong khi đó , VN rất cần sự ủng hộ của CP cũng như công chúng Mỹ . Do vậy các PIO nói trên phải làm việc rất tích cực để giúp cho CP VNCH có được sự hậu thuẩn của CP và công chúng Mỹ .
Phe đối lập trong QH của VN cùng chờ đợi các sơ hở của CP để chĩ trích , v.v..
Tôi có kinh nghiệm này vì trước 1975 làm PIO cho 1 đơn vị cấp SĐ .
CÔNG VIỆC CỦA PHÒNG THÔNG TIN BÁO CHÍ . theo wiki .
"
Public Information Officers (PIOs) are the communications coordinators or spokespersons of certain governmental organizations (i.e. city, county, school district, state government and police/fire departments). They differ from public relations departments of private organizations in that marketing plays a more limited role. The primary responsibility of a PIO is to provide information to the media and public as required by law and according to the standards of their profession. Many PIOs are former journalists, bringing unique and relevant experience to the position. During crises and emergencies, PIOs are often identified by wearing helmets or vests with the letters "PIO" on them.
Among the oldest and largest public information professional organizations is The California Association of Public Information Officials or CAPIO.
"
Public Information Officers (PIOs) are the communications coordinators or spokespersons of certain governmental organizations (i.e. city, county, school district, state government and police/fire departments). They differ from public relations departments of private organizations in that marketing plays a more limited role. The primary responsibility of a PIO is to provide information to the media and public as required by law and according to the standards of their profession. Many PIOs are former journalists, bringing unique and relevant experience to the position. During crises and emergencies, PIOs are often identified by wearing helmets or vests with the letters "PIO" on them.
Among the oldest and largest public information professional organizations is The California Association of Public Information Officials or CAPIO.
PHÒNG THÔNG TIN BÁO CHÍ DƯỚI CHẾ ĐỘ CŨ.
Trước 1975 , dưới chế độ VNCH , cấp bộ và dưới cấp bộ đều có 1 phòng Thông tin Báo chí . Nhiệm vụ đã ghi nhận mọi ý kiến hay phê bình đối với công việc liên quan quan đến bộ hay nghành của mình để báo cáo lên bộ trưởng hay tư lịnh nghành để kịp thời sửa sai . Những ý kiến hay phê bình này được đăng trên báo trong nước hay ngoài nước , được phát đi từ đài VOA , BBC , v.v... Tóm lại , công việc na ná như viện này .
Vì hồi đó , báo chí là 1 quyền rất mạnh (trong đó có báo chí Mỹ với mấy ngàn phóng viên ở VN) nên công việc của Phòng TTBC không phải dễ dàng . Có 1 lần , PV nước ngoài chụp hình 1 lính gác cầu đang ngủ : ảnh này lọt vào mắt TT Thiệu và tỉnh trưởng bị khiển trách nặng .
Tất cả mọi sai lầm , lớn nhỏ , của CP VNCH , nếu ko sửa chữa kịp thời sẽ bị Quốc Hội VN , QH Mỹ (vì Mỹ giúp VN chống Cộng) điều tra ra lẽ , v.v...
Hiện nay , QH VN chĩ là bù nhìn nên ko có vai trò như các QH của nước pháp quyền . Cho nên mọi ghi nhận , mà Viện - được nói trên Viet-Studies - cũng chĩ là giấy gói xôi .
Trước 1975 , dưới chế độ VNCH , cấp bộ và dưới cấp bộ đều có 1 phòng Thông tin Báo chí . Nhiệm vụ đã ghi nhận mọi ý kiến hay phê bình đối với công việc liên quan quan đến bộ hay nghành của mình để báo cáo lên bộ trưởng hay tư lịnh nghành để kịp thời sửa sai . Những ý kiến hay phê bình này được đăng trên báo trong nước hay ngoài nước , được phát đi từ đài VOA , BBC , v.v... Tóm lại , công việc na ná như viện này .
Vì hồi đó , báo chí là 1 quyền rất mạnh (trong đó có báo chí Mỹ với mấy ngàn phóng viên ở VN) nên công việc của Phòng TTBC không phải dễ dàng . Có 1 lần , PV nước ngoài chụp hình 1 lính gác cầu đang ngủ : ảnh này lọt vào mắt TT Thiệu và tỉnh trưởng bị khiển trách nặng .
Tất cả mọi sai lầm , lớn nhỏ , của CP VNCH , nếu ko sửa chữa kịp thời sẽ bị Quốc Hội VN , QH Mỹ (vì Mỹ giúp VN chống Cộng) điều tra ra lẽ , v.v...
Hiện nay , QH VN chĩ là bù nhìn nên ko có vai trò như các QH của nước pháp quyền . Cho nên mọi ghi nhận , mà Viện - được nói trên Viet-Studies - cũng chĩ là giấy gói xôi .
"PTT Tàu Hoàng Trung Hải "dâng" phần lớn các mỏ khoáng sản của Việt Nam cho Trung Quốc" của Lê Anh Hùng có đoạn :
. . .
"Bất chấp lời cảnh báo đầy tâm huyết của nhiều cán bộ đảng viên cao cấp lo lắng cho vận mệnh dân tộc trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đặt ông Hoàng Trung Hải vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ khoá mới: Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” (từ ngày 2.8.2007).
PTT Hoàng Trung Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao trực tiếp phụ trách các bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Giao thông - Vận tải, và Tài nguyên - Môi trường. Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao đảm nhiệm một loạt chức vụ trọng yếu: 1/Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; 2/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; 3/Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; 4/Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; 5/Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; 6/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; 7/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải; 8/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; 9/Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; 10/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; 11/rưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; 12/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; 13/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, 14/Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; 15/Trưởng ban ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức) Quốc gia; 16/Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; 17/Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v. Nghĩa là ngài PTT gốc Tàu này gần như nắm trọn toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong tay, dĩ nhiên là cả ngành khai khoáng với hàng loạt mỏ khoáng sản béo bở. Không chỉ “dâng” cả ngành điện lực Việt Nam cho Trung Quốc mà trong nhiều năm qua ngài PTT này còn âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam, và dĩ nhiên ngành khai khoáng cũng không thoát khỏi điều đó.
. . . "
Nhận xét : với chức vụ PTT về KT , ông coi 5 bộ và phụ trách ít nhứt là 17 ban . Đúng là 1 ông vua không ngai của nền KT VN .
. . .
"Bất chấp lời cảnh báo đầy tâm huyết của nhiều cán bộ đảng viên cao cấp lo lắng cho vận mệnh dân tộc trước kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn đặt ông Hoàng Trung Hải vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ khoá mới: Phó Thủ tướng “phụ trách kinh tế” (từ ngày 2.8.2007).
PTT Hoàng Trung Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao trực tiếp phụ trách các bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Giao thông - Vận tải, và Tài nguyên - Môi trường. Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao đảm nhiệm một loạt chức vụ trọng yếu: 1/Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; 2/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; 3/Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; 4/Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; 5/Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; 6/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; 7/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải; 8/Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện Hạt nhân Ninh Thuận; 9/Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; 10/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; 11/rưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; 12/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; 13/Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, 14/Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; 15/Trưởng ban ODA (Viện trợ Phát triển Chính thức) Quốc gia; 16/Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; 17/Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v. Nghĩa là ngài PTT gốc Tàu này gần như nắm trọn toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong tay, dĩ nhiên là cả ngành khai khoáng với hàng loạt mỏ khoáng sản béo bở. Không chỉ “dâng” cả ngành điện lực Việt Nam cho Trung Quốc mà trong nhiều năm qua ngài PTT này còn âm mưu “Hán hoá” nền kinh tế Việt Nam, và dĩ nhiên ngành khai khoáng cũng không thoát khỏi điều đó.
. . . "
Nhận xét : với chức vụ PTT về KT , ông coi 5 bộ và phụ trách ít nhứt là 17 ban . Đúng là 1 ông vua không ngai của nền KT VN .
Hoàng Sa, Trường Sa: pháp lý và chính trị
TS. Dương Danh Huy
Quỹ Nghiên cứu Biển Đông
Cập nhật: 18:25 GMT - chủ nhật, 9 tháng 2, 2014, đăng trên bbcvietnamese

VN vẫn chưa đưa các vấn đề tranh chấp chủ quyền với TQ trên Biển Đông ra tòa án quốc tế.
Trong một bài trên BBC,Bấm
TS Trần Công Trục phản biện ý kiến Việt Nam cần “chính thức
tuyên bố hủy bỏ công hàm do cựu Thủ tướng (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa -
VNDCCH) Phạm Văn Đồng ký năm 1958”.
Mặc dù trong Bấm
một bài khác trên BBC, tôi có cùng kết luận với TS Trần Công
Trục, tôi cho rằng một số lập luận khác của TS Trần Công Trục là chưa đủ
để biện luận cho chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa trước Tòa hay dư luận luật học.
Thủ tướng VNDCCH có thẩm quyền?
Lập luận“Các Hiệp ước, Hiệp định này phải được Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất phê chuẩn theo thủ tục pháp lý rất chặt chẽ mới có hiệu lực thi hành ... các tuyên bố, các văn bản của một nhân vật nào đó, dù là những quan chức nhà nước cao nhất, có nội dung về biên giới lãnh thổ đều không có giá trị pháp lý tuyệt đối trong quan hệ quốc tế” dường như có ý cho rằng công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) chưa được Quốc hội phê chuẩn cho nên không có đủ giá trị pháp lý.Trong phiên tòa xử tranh chấp Đông Greenland, Na Uy cho rằng Ngoại trưởng Na Uy Nils Claus Ihlen đã không có thẩm quyền khi nói với Bộ trưởng Đan Mạch rằng kế hoạch của Đan Mạch về chủ quyền Đan Mạch trên toàn bộ Greenland sẽ không gặp khó khăn gì từ Na Uy, và theo luật Na Uy thì Quốc hội mới có thẩm quyền. Nhưng Tòa đã bác bỏ lập luận này, với lý do trong luật quốc tế Ngoại trưởng có thẩm quyền để đại diện cho quốc gia trong vấn đề lãnh thổ.
Như vậy, lập luận “Quốc hội chưa phê chuẩn” chắc chắn sẽ bị bác bỏ, vì trong luật quốc tế Thủ tướng cũng là người có thẩm quyền để đại diện cho quốc gia trong vấn đề lãnh thổ.
Hướng lập luận “TT Phạm Văn Đồng không có thẩm quyền” là đúng, nhưng có lẽ sẽ phải dựa trên lập luận lúc đó Hoàng Sa, Trường Sa không nằm dưới thẩm quyền lãnh thổ của VNDCCH, mà dưới thẩm quyền của một quốc gia Việt khác. “Quốc gia” ở đây là khái niệm pháp lý được định nghĩa trong Công ước Montevideo 1933 là một chủ thể có lãnh thổ, dân cư, chính phủ và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác. Quốc gia là khác với Tổ quốc, đất nước, nhà nước hay chính phủ.
Không công nhận, nhưng không bảo lưu
Đúng là tuyên bố 5/9/1958 của Trung Quốc có đưa ra ba nguyên tắc chính: (1) lãnh hải 12 hải lý, (2) đường cơ sở thẳng và nội thủy cho Hoa Lục và các đảo gần bờ, (3) tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải phải tuân thủ luật Trung Quốc, tàu thuyền máy bay quân sự nước ngoài vào lãnh hải phải xin phép. Nhưng tuyên bố đó cũng ghi rằng nguyên tắc thứ nhất được áp dụng cho “tất cả lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm... Hoàng Sa, ...Trường Sa và các đảo khác của Trung Quốc”, và nguyên tắc thứ nhì và ba được áp dụng cho “...Hoàng Sa, ...Trường Sa và các đảo khác của Trung Quốc.”
CH PVĐ ghi “Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.” CH PVĐ tuy không nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa nhưng đã ghi rằng CP VNDCCH ghi nhận và tán thành như trên mà không bảo lưu gì về hai quần đảo đó.
Có thể dựa vào “không nhắc đến” để biện luận “không công nhận”, và như vậy là cần thiết, nhưng không đủ. Lý do là sự không bảo lưu trên có nghĩa VNDCCH đã không khẳng định chủ quyền Việt trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Quốc. Vấn đề còn nghiêm trọng hơn vì từ 1954 đến 1976 VNDCCH đã không khẳng định chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Theo luật quốc tế, nổi bật nhất là theo phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế về tranh chấp đảo Pedra Branca, nếu trong một thời gian dài mình không khẳng định chủ quyền trong khi nước khác đòi chủ quyền thì mình có thể mất.
Trong kịch bản giả tưởng chính phủ VNDCCH đã là đại diện pháp lý cho toàn Việt Nam, với hành vi của VNDCCH, Việt Nam sẽ khó thắng cuộc tranh biện pháp lý. Điều làm cho Việt Nam thua trong kịch bản này sẽ không ở việc công nhận hay không công nhận, mà ở việc không khẳng định chủ quyền của mình trong khi nước khác đòi chủ quyền.
Một trong những phương hướng lập luận cho Việt Nam là chứng minh rằng trong giai đoạn 1954-1975 đã có một quốc gia Việt khác với VNDCCH duy trì chủ quyền Việt trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Chủ quyền đã được một quốc gia duy trì?

Công hàm 1958 do Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ký tiếp tục là chủ đề cần xử lý khi VN đòi chủ quyền HS-TS.
Do đó, và lưu ý đến thực tế, để cho các tuyên bố và hành động chủ quyền lãnh thổ của VNCH có giá trị pháp lý, cần vận dụng quan điểm cho rằng từ 1956 đến 1976 có hai quốc gia Việt trên một đất nước Việt Nam, mỗi quốc gia một bên vĩ tuyến 17. Thêm vào đó, cần vận dụng quan điểm cho rằng từ 1956 đến 30/4/1975 chính phủ VNCH là đại diện pháp lý của quốc gia phía Nam, và sau 30/4/1975 CP CMLT CHMNVN là đại diện pháp lý của quốc gia đó cho đến khi Việt Nam thống nhất năm 1976.
Lập luận “... theo Hiệp định quốc tế Geneva 1954 bàn về vấn đề Đông Dương ... Việt Nam Cộng Hòa là một thực thể chính trị, một chủ thể trong quan hệ quốc tế được quốc tế công nhận. Vì vậy, Việt Nam Cộng Hòa là đại diện cho nhà nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam để quản lý và thực thi chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ...” đi theo hướng cần thiết: “VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNCH có”, nhưng nó có đi xa đủ và và nó có mạnh đủ chưa?
Theo Hiệp định Geneva, chính quyền VNDCCH quản lý miền Bắc, và Liên Hiệp Pháp quản lý miền Nam. Vấn đề là “quản lý” có nghĩa gì? Nó chỉ có nghĩa quản lý dân sự nội địa bên trong duy nhất một quốc gia Việt, hay nó bao hàm cả thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế?
Nếu chỉ là trường hợp thứ nhất thì khó thể cho rằng theo Hiệp định Geneva chính quyền VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và chính quyền VNCH có. Trường hợp này sẽ có nhiều rủi ro cho Việt Nam trước Tòa và dư luận luật học.
Nếu là trường hợp thứ nhì, thí dụ như sau 1954 hay 1956 sự quản lý được quy định trong Hiệp định Geneva đã tiến hóa để bao hàm cả thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế, thì chính quyền VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế đối với Hoàng Sa, Trường Sa, và chính quyền VNCH có. Đó là điều cần thiết cho lập luận về Hoàng Sa và Trường Sa.
Nhưng trong luật quốc tế thì “có thẩm quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế” và “là một quốc gia” đi đôi với nhau. Như vậy, lập luận cần thiết để bảo vệ chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa đi đôi với quan điểm khi VNCH còn tồn tại thì chính thể đó đã từng là một quốc gia, và với quan điểm trước 30/4/1975 chính quyền VNCH là đại diện của quốc gia đó trong luật quốc tế.
'Lãnh vực nhạy cảm?'
Mặt khác, nếu cho rằng VNDCCH và CHMNVN đã thống nhất một cách hợp pháp thành CHXHCNVN năm 1976, Bấm và do đó CHXHCNVN đã thừa kế Hoàng Sa, Trường Sa, thì dễ bị cho là “thân Cộng”, thậm chí là “biện minh cho CS xâm chiếm miền Nam”, nhưng đó cũng là chụp mũ.
Thật ra khi VNDCCH và CHMNVN còn tồn tại thì quan điểm chính thức của hai chính thể đó là có hai quốc gia trên đất nước Việt Nam, mỗi quốc gia một bên vĩ tuyến 17. Quan điểm đó cũng bao hàm quan điểm trước 30/4/1975 có hai quốc gia. Nhưng ngày nay quan điểm đó bị lãng quên nhiều và truyền thông Việt Nam ít dám đụng đến nó.
Về quan điểm cho rằng từ 1956 đến 30/4/1975 chính phủ VNCH là đại diện pháp lý của quốc gia phía Nam, có thể phi nhạy cảm hóa nó phần nào bằng cách lưu ý rằng đại diện của một quốc gia trong luật quốc tế là một vấn đề trong phạm trù luật quốc tế tương đối độc lập với các vấn đề chính trị, chính nghĩa của các chính quyền VNCH, chính quyền VNDCCH và chính quyền CHMNVN.
Nếu không phi nhạy cảm hóa việc thảo luận giữa người Việt và việc trình bày với quốc tế về những vấn đề quốc gia, đại diện pháp lý của quốc gia, thống nhất đất nước, thì sẽ bất lợi cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền.
Từ trước đến nay, người Việt thường nhận định về cuộc chiến 1954-1975 từ những góc độ ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa của bên mình. Phải chăng nhu cầu tranh biện pháp lý về Hoàng Sa, Trường Sa đang đòi hỏi người Việt phải đi đến một nhận định về lịch sử có thêm tính chất luật quốc tế và bớt bị kẹt trong các lề ý thức hệ, chính trị và chính nghĩa?
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một thành viên sáng lập của nhóm Nghiên cứu Biển Đông
Sunday, February 9, 2014
TRẬN ĐỒNG XOÀI , NGÀY 10 06 1965 . THEO LIFE JULY 2 1965 .
![]() |
| TRỰC THĂNG ĐỔ QUÂN XUỐNG SÂN BANH , KẾ QUẬN ĐÔN LUÂN . BINH SĨ TỪ ĐÂY TIẾN LÊN DƯỚI LÀN ĐẠN CỦA CS . |
![]() | ||||||
"CỨ 10 GIÂY CÓ 1 NGƯỜI GỤC NGẢ ! "
|
![]() |
| DÂN CHÚNG BỒNG BẾ NHAU , RỜI BỎ VÙNG LỬA DẠN . |
Subscribe to:
Posts (Atom)










