Tuesday, April 1, 2014

MỘT SỰ SO SÁNH NHẸ :
ẢNH VỀ CÁC CUỘC BIỂU TÌNH CHỐNG ĐỐI DƯỚI CHẾ ĐỘ CŨ, CÓ SỰ THAM DỰ CỦA CÁC SV THÂN CỘNG NHƯ HUỲNH TẤN MẪM , v.v... VÀ ẢNH HIỆN NAY CỦA CÁC ÔNG NÀY .
"Cuối năm 1970, trong một cuộc xuống đường tại khu Đại học Văn khoa, hơn 100 SVHS bị bắt giam. Một ngày sau, tất cả được trả tự do, cảnh sát chỉ giữ lại ba người là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi và Trần Hoài" .- Lê văn Nuôi .


NGÀY XƯA HÙNG DỦNG BAO NHIÊU , GIỜ ĐÂY KHÉP NÉP RỤT RÈ BẤY NHIÊU !




TÌNH NGHĨA BẮC NAM .
Không biết các SV tranh đấu thân cộng như LÊ VĂN NUÔI , HUỲNH TẤN MẪM , LÊ HIẾU ĐẰNG , HỒ NGỌC NHUẬN , v.v... đã có bao giờ hối hận về những hoạt động của mình trước 1975 . Họ đã bỏ công sức , vào tù ra khám để cố gắng làm sụp đổ chế độ "Mỹ-Thiệu" . . . để ngày 30.4.75 mang lại chiến thắng cho một chế độ TỆ HẠI GẤP TRĂM NGÀN LẦN chế độ cũ . Nếu chế độ hiện nay tốt đẹp thì giờ này các bạn và tôi đã không tham gia Facebook mỗi ngày . . . . hay tranh đấu không ngừng nghỉ để đòi hỏi QUYỀN ĐƯỢC LÀM NGƯỜI , gồm quyền được sống và mưu cầu hạnh phúc . Sau đây là bài viết của SV Lê văn Nuôi nhắc lại những cuộc biểu tình hào hùng - mà ông đã lãnh đạo trên Tuổi Trẻ , đăng lại trên blog của tôi .-- Tài
----

TT - Sài Gòn những năm 1960 - 1970, đường phố luôn dậy lửa bởi những cuộc xuống đường và những cuộc đột kích đốt xe Mỹ của phong trào thanh niên - sinh viên - học sinh và đồng bào các giới đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, đòi độc lập dân tộc, đòi Mỹ rút quân khỏi miền Nam.
Các nhà lãnh đạo văn học nghệ thuật miền Bắc gặp gỡ giới trí thức và sinh viên Sài Gòn tại Hà Nội vào tháng 9-1975. Trong ảnh (từ trái qua): GS Lý Chánh Trung, nhà thơ Tố Hữu, các anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, nhà văn Nguyễn Đình Thi - Ảnh tư liệu

Từ trong căn cứ địa bí mật, các cán bộ lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và Thành ủy Sài Gòn đã lãnh đạo, định hướng cho phong trào đấu tranh "đuổi Mỹ, lật Thiệu" tại Sài Gòn. Những lần vào rừng học tập đường lối cách mạng và phương pháp hoạt động, ngồi trong lớp với khăn che mặt và bức màn ngăn cách với giảng viên, nghe giọng nói, chúng tôi thầm đoán có nhiều cán bộ đã được Đảng biệt phái, mạo hiểm vượt Trường Sơn, cùng nằm gai nếm mật với miền Nam suốt cuộc chiến tranh 20 năm. Sau này mới biết các thầy chính là Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân), Mai Chí Thọ (Năm Xuân), Trần Bạch Đằng (Tư Ánh)...
Những đồng đội người Bắc
Cuộc chiến đấu của phong trào thanh niên SVHS trên đường phố Sài Gòn cũng có mặt những người trẻ có gốc từ ba miền Bắc - Trung - Nam. Riêng anh em người Bắc tham gia phong trào có gốc từ những gia đình di dân vào miền Nam trong các năm 1945, 1954 có mặt đông nhất trong tổ chức Thanh Sinh Công (thanh niên sinh viên Công giáo) và Thanh Lao Công (thanh niên lao động Công giáo) và nhiều linh mục như Phan Khắc Từ, Nguyễn Ngọc Lan... cùng sát cánh với phong trào SVHS trong cuộc đấu tranh.
Những giây phút lịch sử
Côn Đảo, 1g sáng 1-5-1975, đang cùng bốn người bạn tù nằm chen chúc trong một "chuồng cọp" thuộc trại 7 khu B, tôi chợt nghe lồng lộng trong gió tiếng hô: "Hoan hô Sài Gòn được hoàn toàn giải phóng". Các anh bên trại 6 thoát ra trước, kéo sang, dùng những cây gỗ to phải ba bốn người khiêng, rồi "hò dô ta, 1, 2, 3..." đập phá những bức tường dày ba tấc tạo thành những lỗ hổng để chúng tôi chui ra. Anh em mừng rỡ ôm nhau hò hét, khóc ròng, ngỡ đây là giấc mơ.
Những chàng trai khỏe như chúng tôi được phát súng - lấy từ kho lính gác bỏ lại - ra nằm canh gác dọc bờ đảo. Các chị lo hậu cần, nấu nướng, dùng vải may ruột tượng đựng gạo, phát cho mỗi người một cái thắt quanh bụng đề phòng bị phản công hoặc phải chạy lên núi thì có gạo mà ăn!
Rạng sáng 4-5, bỗng xuất hiện nhiều chiến hạm tiến vào bờ đảo đổ quân, bóng người tiến vào rầm rập. Qua phút bất ngờ, định thần lại mới thấy những người lính chạy đầu đều giương cao lá cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam. Thế là chúng tôi bỏ súng, nhào ra ôm chầm lấy các anh bộ đội hò reo.
Vào khoảng cuối tháng 5-1970, tôi nhận được lệnh từ Thành đoàn yêu cầu phải tìm cách bí mật ra khỏi Sài Gòn, đi xe đò về Mỹ Tho, vào căn cứ Thành đoàn để học tập. Khi đến "bàn đạp" cuối cùng là một căn chòi lá ở giữa đồng, cạnh một con rạch, chợt có một anh du kích chèo một chiếc thuyền nhỏ tấp thẳng vào cửa căn chòi, giục tôi xuống đò. Anh trạc 20 tuổi, người đen tròn chắc nịch, mặc bộ bà ba đen, nói giọng Bắc đặc sệt và khe khẽ hát bài Chiếc gậy Trường Sơn trong lúc hai tay thoăn thoắt chèo đò. Chuyện này thật mới mẻ, xúc động đối với cậu học trò Sài Gòn lần đầu tiên được tiếp xúc trực tiếp với một người con của miền Bắc đã vượt Trường Sơn vào Nam.
Cuối năm 1970, trong một cuộc xuống đường tại khu Đại học Văn khoa, hơn 100 SVHS bị bắt giam. Một ngày sau, tất cả được trả tự do, cảnh sát chỉ giữ lại ba người là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi và Trần Hoài. Đến ngày bị giam giữ thứ 23, ba anh em bàn nhau tuyệt thực, đòi trả tự do. Nhịn ăn đến ngày thứ sáu, chỉ uống nước đường, chúng tôi không đi nổi, đầu óc quay cuồng. Bỗng sáng ngày thứ bảy, một tốp sĩ quan cảnh sát xuất hiện, mở cửa buồng giam chúng tôi ở khu đặc biệt kiên cố trong Bệnh viện Chợ Quán, tuyên đọc lệnh trả tự do. Sở dĩ chúng tôi được thả là nhờ nhiều cuộc biểu tình của SVHS trong và ngoài nước, nhưng tác động mạnh nhất là cuộc tuyệt thực của nhiều giáo sư đại học ngay tại sân Viện đại học Sài Gòn. Trong đó, có những người Bắc như các giáo sư Châu Tâm Luân, Trần Tuấn Nhậm, Nguyễn Văn Trung... và các giáo sư Lý Chánh Trung, Trần
Kim Thạch...
Gần đúng một năm sau, đầu tháng 10-1971, vào một buổi chiều tôi đang lái xe gắn máy trên đường Công Lý thì lại bị vây bắt, bịt mắt, còng tay, ném lên xe Jeep chở đi. Từ đó, tuổi 20 của tôi đã trải qua một hành trình lưu đày dài bốn năm. Ở Chí Hòa, lâu lâu tôi chứng kiến một đoàn tù binh là bộ đội người miền Bắc bị giải tạm qua đây vài hôm, rồi bị chuyển ra Tân Cảng, còng xích trong hầm các chiến hạm hải quân Sài Gòn, đày ra trại giam trên đảo Phú Quốc.
Sau này tôi đã hai lần đến thăm Bảo tàng tù binh Phú Quốc, được xây dựng ngay tại vị trí trại giam năm xưa. Nhìn những chứng tích về sự hi sinh dũng cảm của hàng chục ngàn anh em bộ đội - hầu hết là người miền Bắc - tại ngục tù này, khó ai cầm được nước mắt tiếc thương và cảm phục. Chính quyền Sài Gòn đã không tuân theo Công ước quốc tế về tù binh, họ ngược đãi "tù binh cộng sản", cho lính quân cảnh tha hồ tra tấn tù binh đến chết bằng đủ loại cực hình khủng khiếp nhất thế gian. Ở nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn cùng nhiều nghĩa trang khắp miền Nam, còn có biết bao nấm mộ chiến sĩ chưa tìm ra tên tuổi, mà trong đó biết bao nhiêu là những người trai trẻ từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào Nam.
Cuộc đoàn tụ Bắc Nam
Vào giữa tháng 8-1975, khi đang cùng một cánh quân của Thành đoàn đi chiến dịch X.2 - "xây dựng chính quyền cách mạng" do Thành ủy và Ủy ban quân quản Sài Gòn chỉ đạo, tôi được lệnh khăn gói trở về trụ sở Thành đoàn chuẩn bị lên đường tham gia đoàn đại biểu nhân dân miền Nam bay ra thủ đô Hà Nội dự lễ Quốc khánh 2-9-1975. Toàn đoàn miền Nam - bao gồm Nam bộ và Trung bộ - ước khoảng 500 người. Dẫn đầu là các vị lãnh đạo Đảng, các tướng lĩnh, anh hùng quân đội...
Nhóm thanh niên gồm anh Lê Quang Vịnh, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi được Trung ương Đoàn TNCS xin rước về các trường đại học, các ký túc xá sinh viên, các hội trại để gặp gỡ, kể chuyện đấu tranh... với SVHS miền Bắc. Phút cuối của cuộc giao lưu nào cũng có các cô văn công hoặc sinh viên trong tà áo dài nền nã và bím tóc duyên dáng, hát bài Người ơi, người ở đừng về! khiến các chàng trai Sài Gòn không khỏi ngẩn ngơ...
Các nhà lãnh đạo hàng đầu của đất nước đã có mặt đông đủ trong các cuộc gặp mặt thân mật và trên lễ đài Quốc khánh 2-9-1975. Khi bước vào Lăng viếng Bác Hồ, những dòng nước mắt bỗng ràn rụa thấm đẫm gương mặt phong sương của những anh hùng chiến sĩ miền Nam. Họ khóc vì thấy mình may mắn được sống sót qua cuộc chiến tranh ác liệt trong lúc vô số đồng đội đã ngã xuống, để hôm nay mình được hưởng phần thưởng vô giá là ra thủ đô Hà Nội dự lễ Quốc khánh và viếng Bác Hồ. Lúc đứng trước Bác Hồ, nơi có lá cờ đỏ sao vàng bằng đá hoa cương, bỗng dưng trong tôi văng vẳng câu nhắn gửi của bà má miền Nam:
Con ra thưa với Bác Hồ:
Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao! ...
(thơ Thanh Hải)
LÊ VĂN NUÔI
Đối thoại 30 tháng 4
30-4-1995, ngày kỷ niệm 20 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, là sự kiện thu hút nhiều nhà báo nước ngoài đến VN. Trong dịp này, nữ phóng viên người Mỹ Katherine Wiheim - trưởng Phân xã Hãng thông tấn AP của Mỹ tại VN từ năm 1994, 36 tuổi - đã gặp phỏng vấn Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Lê Văn Nuôi.
* Phóng viên KATHERINE: Đã 20 năm kể từ ngày VN thống nhất đất nước, nhưng đi lại và tiếp xúc nhiều nơi ở VN, tôi vẫn cảm thấy chưa có sự thống nhất thật sự giữa hai miền Nam - Bắc. Còn nhiều khoảng cách về kinh tế, văn hóa, lề lối làm việc, kể cả nhiều người miền Nam không thích giao thiệp với người miền Bắc nữa! Anh có cảm nhận như tôi không?
* Nhà báo LÊ VĂN NUÔI: Đối với một đất nước bị chia cắt lâu dài như đất nước VN chúng tôi - gần 100 năm bởi người Pháp và 20 năm bởi người Mỹ, những vết thương do chia cắt gây ra tất nhiên hằn sâu, đau đớn. Để đi đến một sự thống nhất tuyệt đối ở mọi lĩnh vực tất nhiên phải có quá trình lâu dài và không đơn giản. Nhưng nhìn toàn cảnh đất nước ở thời điểm 1995 này, tôi thấy đất nước tôi đang thống nhất hơn bao giờ hết: thống nhất ý chí bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ trên đất liền và biển cả; thống nhất đường lối đổi mới kinh tế của Chính phủ và người dân đang hưng phấn tìm mọi cơ hội làm ăn, sinh sống. Những khác biệt, nếu còn, là do tập quán, phong cách sống hình thành từ những điều kiện và mặt bằng kinh tế, xã hội, địa lý khác nhau. Theo tôi, đó không phải là vấn đề khác biệt cơ bản để có thể gọi là chưa thống nhất hoặc kỳ thị Nam - Bắc!

Monday, March 31, 2014

1/ADVANCED SYSTEM CARE SYSTEM SPEEDUP : KHÁCH KHÔNG MỜI .
Đang rửa chén thì có bạn trong building gọi phone , hỏi ra mới biết máy tính - chạy Vista của anh gần đây xuất hiện 2 software sau đây mỗi khi mở máy : Advanced SystemCare và System Speedup .
Đây là những phần mềm thường tự động cài vào máy , còn được gọi là "ăn theo" , mỗi khi ta cài các software MIỄN PHÍ khác .
Tôi vào Control Panel > Programs and Features > Chọn phần mềm đó > Uninstall . Khi một dialogue hiện ra , nhấp > No , I want uninstall .
Nếu ta thấy xuất hiện một web page , thì đóng lại .
2/Anh định cài iCloud - 1 ổ cứng trên trời của Apple với sức chứa 5 GB, nhưng ko được vì iCloud chĩ tương thích với Windows 7 trở về sau .
3/ Một anh bạn khác có laptop chạy Vista nhưng màn hình màu đen dù điện vẫn vào , sau đó tự động mất điện và có điện trở lại . Tôi đã dùng Hard Recess và nối laptop với 1 màn hình rời nhưng chịu thua . Đây là 1 trục trặc rất khó sửa chữa (Black Screen of Death) . Có thể bị hư cục pin RTC battery , xem hình , hay trên Motherboard . 



Thông thường , kể cả hard drive bị chết , máy vẫn hiện Logo và ta vẫn vào BIOS dễ dàng ; (Khi mở máy , ngay cả không có điện , ta vẫn vào BIOS vì nó chạy bằng RTC battery - lớn hơn pin đồng hồ 1 chút) ; nhưng ở laptop này , thì màn hình đen (dù điện vẫn vào máy) .
 HARD RECESS MỘT MÁY TÍNH HP .

Thưa anh Đ. ,
Tôi đã nối laptop với 1 một màn hình/display rời nhưng ko thấy hình gì hết . Như vậy ko phải do màn hình bị hư mà do dây điện bị lõng hay trục trặc trên Motherboard . Tôi đã áp dụng Hard Recess nhưng ko kết quả . Tôi thấy điện lúc ON lúc OFF , có thể dây điện bị lỏng .

 Hard recess sẽ xóa tất cả thông tin trong memory của memory của máy tính (giúp máy chạy) .  Hard Recess buộc máy tính xóa và tái lập sự nối kết phần mềm giửa BIOS và phần cứng  .
A/ Performing a hard or forced reset might fix the following conditions/Hard Recess có thể chữa các bịnh sau :
Windows stops responding /Hệ điều hành ngưng đáp ứng .
Computer stops before Windows loads - no boot, blinking cursor on a black display, and errors relating to OS not found or a missing drive/Máy tính ngừng trước khi HĐH tải xuống - như ko có vạch chớp trên màn hình , và thông báo lỗi như 'OS not found' hay 'missing drive' 
Display suddenly goes blank and stays blank/Màn hình đột nhiên trống .
Software freezes/Phần mềm bị đơ .
Keyboard stops responding/Bàn phím ko đáp ứng .
The computer does not return from sleep or suspend mode. Máy tính không thể trở lại Sleep và Suspend .
 An external device stops responding. Một thiết bị ngoại vi (như máy in) không đáp ứng .
B/ Các bước phải làm .
 Turn off the computer/Tắt máy tính.
 Disconnect all external connected peripheral devices such as USB storage devices, external displays, and printers/Tháo các thiết bị ngoại vi như USB , màn hình rời , máy in .
Unplug the AC adapter from the computer/ Tháo AC adapter .
Remove the battery/Tháo pin .
Press and hold down the Power button for about 15 seconds to drain any residual electrical charge from the capacitors that protect the memory/Ấn và giử phím Power trong 15 giây .
Insert the battery and plug the AC adapter back into the notebook computer, but do not connect any of the peripheral devices/Lắp pin và nối lại AC adapter , nhưng ko nối các thiết bị ngoại vi .
Press the Power button to turn on the computer/Bấm phím Power .
If a startup menu opens, use the arrow keys to select Start Windows Normally , and then press the Enter key/Nếu Menu khởi động mở ra , dùng phím mủi tên để chọn Start Windows Normally .
After reconnecting each of the peripheral devices, run Windows Update and HP Support Assistant to update all device drivers/Sau khi nối các thiết bị ngoại vi , chạy Windows Update và HP Support Assistant để cập nhật các driver .
Nguồn :
http://h10025.www1.hp.com/ewfrf/wc/document?docname=c01684768&cc=us&dlc=en&lc=en

Saturday, March 29, 2014

(VTC News) - Các nhà khoa học đã kinh ngạc khi phát hiện tất cả các gian phòng đều chứa ăm ắp cổ vật, toàn vũ khí, vật dụng và châu báu.

Vào tháng 8/1980, trong quá trình san lấp quả đồi Tượng Cương (Quảng Châu, Trung Quốc), để xây cao ốc, khi đào sâu vào núi đá khoảng 20m, đã phát hiện lăng mộ khổng lồ. Theo tường thuật, thì hôm đó, chiếc máy múc xúc đất sâu vào núi, tạo ra lỗ thủng lớn. Dưới lỗ thủng là những phiến đá khổng lồ, máy múc không phá nổi. Doanh nghiệp đã dừng công việc, báo cáo chính quyền. Khi điều tra, các nhà khảo cổ khẳng định đây là ngôi mộ đá, được tạc vào trong lòng núi. Như vậy, chắc chắn phải có lối vào. Mở rộng khai quật, các nhà khảo cổ đã phát hiện một lối vào, sâu đến 20m. Lối vào đã bị lấp bởi những tảng đá lớn. Ngôi mộ nằm sâu trong núi đá, nên đã được bảo quản toàn vẹn suốt hơn 2.000 năm.
alt
Bộ quần áo bằng vàng và ngọc 
Ngay lập tức, công tác khai quật bắt đầu. Các nhà khoa học đã gặp nhiều khó khăn khi tìm đường vào ngôi mộ, bởi lối vào được bố trí bởi các cơ quan bí mật. Phía sau cánh cửa đá có một bộ phận, mà khi đóng cửa, bộ phận đó tuột ra, làm vòm cửa đóng xuống. Khi cửa được đóng lại, thì ngôi mộ vĩnh viễn chìm vào quên lãng, không ai vào ra được nữa. Các nhà khoa học đã phải phá đá mới vào được bên trong. Phần chính lăng mộ có diện tích 100 mét vuông, gồm 7 gian phòng, tường ốp đá xanh, trần được lắp ghép bằng những phiến đá lớn, dày, nặng cả chục tấn. Các nhà khoa học đã kinh ngạc khi phát hiện tất cả các gian phòng đều chứa ăm ắp cổ vật, toàn vũ khí, vật dụng và châu báu.
alt
 
alt
 
Vét hết lớp đất mịn, lộ ra quan tài gỗ và bộ quần áo được dệt bằng hàng ngàn mảnh ngọc, kết bởi sợi vàng. Bên trong bộ quần áo là dấu vết xương cốt đã mủn hết. Trong quan tài có 10 thanh kiếm khảm vàng. Xung quanh chủ nhân ngôi mộ là vố số vật dụng bằng vàng, ngọc cực kỳ tinh xảo. Tiếp tục bới lớp đất phủ ở phần ngực, thì phát hiện chiếc ấn vàng, núm rồng cuộn. Đáy ấn vàng khắc chữ “Văn Ðế Hành Tỷ”, theo lối tiểu triện. Qua chiếc ấn này, các nhà nghiên cứu đã xác định người nằm trong mộ chính là Triệu Văn Vương (Triệu Muội, Triệu Mạt, hoặc Triệu Hồ, lên ngôi 137 TCN), là cháu gọi bằng ông của Triệu Vũ Đế (Triệu Đà), đời vua thứ 2 của nhà Triệu nước Nam Việt. Trong sử sách, thời Tam Quốc, Tôn Quyền biết trong lăng mộ của nhà Triệu có rất nhiều châu báu, bảo vật, nên sai các tướng xua quân xuống Giang Đông tìm kiếm nhiều năm ròng. Tuy nhiên, quân Ngô chỉ tìm được mộ của Anh Tề, cháu gọi Triệu Đà bằng ông cố. Mặc dù vậy, quân Ngô cũng lấy được vô số vật báu, toàn là vàng, ngọc. Tuy nhiên, lăng mộ Triệu Đà, Triệu Muội ở đâu không ai biết, mặc dù giới khảo cổ, giới trộm cổ vật săn lùng ráo riết suốt hơn 2.000 năm qua.
alt
 
Việc phát hiện lăng mộ Triệu Văn Vương vào thời kỳ đó, khiến các nhà khảo cổ Việt Nam quan tâm đặc biệt. Theo sử Việt, Triệu Đà được coi là một triều đại của Việt Nam trước công nguyên. Ông cùng với tướng Lữ Gia đã quật cường chống lại sự xâm lược của nhà Hán. Theo sử Việt, Triệu Đà sống tới 121 tuổi, ở ngôi gần 70 năm. Vì sống thọ, nên truyền ngôi cho cháu là Triệu Văn Đế, chứ không truyền cho con. Lăng mộ có kiến trúc tiền triều hậu tẩm, tức phía trước là triều đình, phía sau là cung điện, nơi vua ở. Tổng cộng có 7 căn phòng. Tiền thất không có cổ vật, mà chỉ có những biểu tượng văn hóa. Nhưng từ căn phòng này, có 4 cửa thông sang các phòng bên. Hai phòng phía đông và tây, bên hông mộ, gọi là nhĩ thất, chứa nhiều món đồ đồng, gồm chuông, nhạc nhí, binh khí và vô số món ngọc.
alt
 
Đằng sau phòng chính, tức địa cung, nơi đặt quan tài, là một căn phòng làm kho chứa. Đây là nơi chứa hàng ngàn cổ vật, là vật dụng vua dùng, toàn bằng vàng hoặc nạm vàng, đồ ngọc, đồ sứ, sành, đồng, sắt. Các nhà khoa học đã lấy được tới hơn 200 món ngọc khí. Tất cả các món ngọc đều được chạm khắc tinh xảo, khiến các nhà điêu khắc ngày nay cũng phải kinh ngạc bởi sự sáng tạo, cầu kỳ. Hơn 500 món đồng gồm đủ các loại, từ vật dụng đến binh khí. Phần lớn các món đồng đều nạm vàng. Đặc biệt quý là bộ áo bằng ngọc khâu bằng tơ vàng, gọi là ti lũ ngọc y. Đây là ti lũ ngọc y sớm nhất được tìm thấy ở Trung Hoa. Trong mộ, quý nhất là 23 chiếc ấn, toàn bằng ngọc và vàng, một số ít bằng đồng mạ vàng. Như đã nói ở trên chiếc ấn Văn Đế Hành Tỷ là ấn vàng lớn nhất tìm thấy ở đời Hán. Hành Tỷ lớn, bằng vàng, lại núm rồng, chứng tỏ Triệu Vũ Đế, đến Triệu Văn Vương, dù thần phục nhà Hán, nhưng vẫn coi mình là vua, xã hội Nam Việt hoàn toàn độc lập với Trung Hoa. Ngoài ra, còn có 36 đỉnh đồng, khắc chữ Phiên Ngung. Vô số vật dụng có nguồn gốc từ Trung Đông, Châu Phi. Những vật dụng phương Tây này chủ yếu là trang sức vàng, hạt châu, hộp bạc, hộp vàng, ngà voi.
alt
 
Có 9 chiếc bình đồng khảm vàng lấp lánh tuyệt đẹp. 9 cái thạp đồng, với những hoa văn thuyền, người đội mũ lông chim, đi chân đất… là thứ đặc trưng của người Việt, giống hệt hoa văn trên các trống đồng, thạp đồng ở Việt Nam. Điều khiến các nhà sử học Việt quan tâm, là rất nhiều món đồ tinh xảo bằng đồng như nữu chung, gương đồng, bình hương liệu… có nguồn gốc từ Lĩnh Nam, gồm cả phần miền bắc Việt Nam và nam Trung Quốc bây giờ. Nhiều món đồ đến từ miền trung của Việt Nam. Điều đáng lưu tâm nữa trong lăng mộ Triệu Văn Vương, là có tới 15 người bị chôn sống. Những người bị tuẫn táng gồm người gác cửa, nhạc công, 4 cung phi và 7 người trong nhà bếp cùng các vật dụng, để phục vụ việc ăn uống. Ngoài ra còn có 2 người ở cạnh mộ chủ, có thể là vệ sĩ. Tục chôn sống theo người chết phổ biến thời phong kiến cổ đại, từ đời Tần về trước. Đến thời Hán, tục này không còn, nhưng rõ ràng vẫn duy trì ở Nam Việt. Qua giám định pháp y, thấy rằng, những người này đều bị đánh mạnh vào ngực cho chết rồi mới chôn theo. Qua nghiên cứu những di vật trong ngôi mộ này, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng, từ hơn 2000 năm trước, vùng Lĩnh Nam đã phát triển rực rỡ cả về kinh tế lẫn văn hóa. Vùng đất này không bị lệ thuộc vào Trung Nguyên. Các nền văn hóa tồn tại song hành, giao lưu, trao đổi với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, chứ không phải một chiều từ phương bắc đi xuống như người phương Bắc vẫn tuyên truyền. Những vật dụng ở vùng Lĩnh Nam có niên đại trước thời Nam Việt, cũng đã khẳng định nền văn minh rực rỡ từng tồn tại ở vùng đất này. Nhiều vấn đề lịch sử cần được tiếp tục nghiên cứu và nhìn nhận lại từ lăng mộ Triệu Văn Vương.


__._,_.___

Thursday, March 27, 2014

10 "ngôi nhà" kỳ lạ trên thế giới . 
HOW ON EARTH???
 
 
#1
DON'T WANT VISITORS?
JUST UNHOOK THE CABLE.

 
#2

MOST PEOPLE USE TREES FOR A
WINDBREAK

 
#3

CONSIDER THE PANIC IF YOU HEAR
A BRANCH CRACK . . .

 

 
#4

#6

TREE BELOW...FLOWERS ABOVE...SOME
PEOPLE ARE JUST WEIRD!






HOW DID THEY GET THAT CAR IN THERE?

 

#5

LONG CLIMB AFTER A DAY'S WORK!
See the ladder hanging from the structure?

 


 

#7



NOT DURING HURRICANE SEASON, THANK
YOU

 
#8


GOT A LITTLE PROBLEM WITH DAMPNESS
AT YOUR HOUSE?


 
#9

I'VE HEARD OF PEOPLE'S BRIDGEWORK
BUT THIS IS RIDICULOUS!

 
#10

BETTER TELL THEM ABOUT GLOBAL
WARMING
The Chinese have a saying that goes
something like this:
'When someone shares with you something
of value,
You have an obligation to share it with others!'
I just did . . . Your turn.

Ai chằm áo tơi...

Theo câu ca tôi tìm về Yên Lạc, Quang Lộc, Can Lộc (Hà Tĩnh) tìm hiểu về làng tơi duy nhất ở vùng “ chảo lửa, túi mưa” để giải đáp băn khoăn: Giữa thời công nghệ polyme hiện đại, áo bạt, áo ni lông đủ kiểu, ô tím, xanh, vàng đỏ đủ sắc màu, thì tơi đã là bảo tàng, là câu chuyện cổ tích xa xưa!?
Phận tơi
Nhưng tôi đã nhầm. Quần tụ quanh dãy đồi bát úp, nép vào dưới rặng tre xanh, làng tơi Yên Lạc vẫn tồn tại qua năm tháng, bất chấp thị trường chao đảo, bất chấp dè bỉu của “mốt” hiện đại vẫn lặng lẽ âm thầm bảo lưu một làng nghề truyền thống đã gắn bó lâu đời với mảnh đất cha ông.
Ai chằm áo tơi...
Áo giáp lá” trên đồng
“ Còn nắng, còn mưa, thì còn tơi”. Ông Đặng Văn Đức (80 tuổi) khẳng định. Cũng nắng, mưa, nhưng nắng mưa ở dải đất hẹp miền trung khủng khiếp. Nắng quăn tàu cau. Đất quăn diệp cày. Ruộng đồng nứt nẻ. Mênh mông bạc trắng . Lại thêm gió Lào táp lửa vào mặt.
Mưa thối đất, mưa chém vào mặt, quất vào da thịt.
Bao đời nay vẫn thế!
Giữa đồng không mông quạnh, nón, mũ, ni lông không thể che đậy thịt da. Chỉ có cái tơi mới là “áo giáp lá” chống lại mưa nắng nghiệt ngã thất thường.
Khi ti vi truyên hình quảng cáo kem dưỡng da, chống nắng vv… thì ở Yên Lạc nói riêng và xứ sở miền trung nói chung nhân dân tự tạo ra một “vũ khí” tiện lợi là chiếc tơi.
Người làng Yên Lạc không biết nghề chằm tơi có từ bao giờ. Chỉ biết rằng tơi là một phần cuộc sống tất yếu của người dân nơi đây.
Ông Đặng Văn Quang – Xóm trưởng xóm Yên Lạc cho biết: “ Xóm Yên Lạc có 78 / 180 hộ , thu hút trên 200 lao động ngoài độ tuổi làm nghề chằm tơi. Trung bình mỗi năm sản xuất 20.000 chiếc tơi và tạo một nguồn thu nhập gần 500 triệu đồng / mùa”.
Nghề tơi lấy công làm lời. Lá tơi, dây mây lấy ở Truông Bát (Hương Khê). Dụng cụ chỉ có một bàn tơi đắp bằng đất hay ken bằng gỗ. Một chiếc kim sắt uốn cong dài 35cm, dăm sợi dây, nuộc lạt là có thể hành nghề.
Nghề chằm tơi ai cũng làm được miễn là chăm chỉ và kiên trì. Đàn ông, đàn bà, con gái, con trai, tranh thủ nông nhàn có thể chằm tơi để tạo nên nguồn thu nhập.
Buổi trưa không ngủ, đưa bàn tơi ra ken lá. Buổi tối vừa uống nước vừa trò chuyện vừa chằm tơi. Các cháu học sinh, sau buổi học về nhà, mỗi buổi chằm dăm chiếc tơi cũng tự giải quyết được tiền sách, vở bút giấy.
Nói thế, nhưng không đơn giản thế! Lá tơi trên rừng, nhưng mang được về Yên Lạc mất một ngày. Sáng
Ai chằm áo tơi...
tinh mơ, cơm gói, cơm đùm vào rừng. Tối mịt mới về. “ Lấy lá xong, chúng tôi đốt lửa thui qua cho héo, rồi chở về. Về phải phơi sương qua đêm để lá được ngậm sương. Lá tơi gặp nắng mới thơm, mới bền. Nếu không gặp nắng thì lá úng, bợt, dễ mục. Lá ngậm sương đưa ra vuốt, xếp mới không quăn ”. Ông Nguyên Đăng Nhuận (65 tuổi) cho biết.
Chúng tôi đến nhà anh Đặng Văn Quang (46 tuổi), giữa lúc các cháu đang chằm tơi. Cháu Đặng Thị Quỳnh (Lớp 12), Đặng Thị Nga (lớp 11), Đặng Thị Giang (lớp 5) cháu nào cũng đạt học sinh tiên tiến. Đặc biệt cháu Giang năm học 2010-2011 đạt HSG. Các cháu được tặng rất nhiều giấy khen. Cháu Quỳnh cho biết: “ Để chằm một cái tơi mất hơn một tiếng đồng hồ. Trong chằm tơi khó nhất là gấp cổ, làm sao khít, bền, chặt và phải đẹp. Mùa tơi vừa rồi mấy chị em cháu chằm được hơn một trăm chiếc. Cũng đủ trang trải tiền học”.
Mỗi năm mùa tơi ở Yên Lạc chỉ có 2 tháng: Tháng 3 và tháng 4. Những tháng đó, sân ngõ phơi đầy lá tơi. Chiều chiều, những chiếc xe của người đi lấy lá tơi nối đuôi nhau về làng. Tối tối, xóm làng lại vào mùa sản xuất. Tơi sản xuất xong, khách ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc, Nghi Xuân, Đức Thọ đến lấy. Cũng có khi mang bán ở chợ Nhe, chợ Tổng, chợ Chùa và các chợ lân cận. Năm nay , tơi được giá, mỗi chiếc từ 35 đến 40 ngàn đồng. Gia đình Chị Nguyễn Thị Thanh, gia đình anh Đặng Văn Quang chằm, bán được 700 chiếc thu về hơn hai chục triệu đồng. Cũng là một nguồn thu giải quyết được nhiều vấn đề của đời sống. “ Tiền giống má, nước, thuốc trừ sâu, máy bơm, tiền học của con trông chờ vào đó cả chú ạ”. Anh Quang trao đổi.
Ai chằm áo tơi...
Cháu Quỳnh, Nga, Giang tranh thủ chằm tơi lấy tiền mua sách
Nhưng điều lạ là những cô gái làng Yên Lạc lấy chồng làng khác, không mang theo nghề; ngược lại các cô gái về làm dâu Yên Lạc lại học nghề, giữ nghề. Chắc là do Yên Lạc đất hẹp, người đông? Hay do Yên Lạc xa núi, xa sông không được thiên nhiên ban tặng những thuân lợi khác phải bám lấy nghề để tạo nguồn thu nhập ổn định cuộc sống? Hay do nhân dân Yên Lạc chăm chỉ cần mẫn, lấy lao động làm gốc mà gắn bó chung thủy với nghề?
Câu chuyện của ông Nguyễn Danh Ân đã ám ảnh chúng tôi trong lần về điều tra viết bài về làng tơi Yên Lạc.
Ai chằm áo tơi...
Choàng áo tơi phơi lá tơi
Sinh năm 1939. Mười tuổi đã biết chằm tơi. Ông Ân đã có “ thâm niên” chằm tơi hơn 60 năm. Hai lần gia nhập quân ngũ. Lần 1 vào năm 1959 bộ đội quân tình nguyện Việt Lào, trở về quê Yên Lạc lại tiếp tục nghề chằm tơi. Năm 1967 tái ngũ. Hai năm sau xuất ngũ lại gắn bó với bàn tơi. Đến năm 1972, buông tơi tham gia vào đội quân xe đạp thồ. Hết ra rồi vào trên các cung đường ác liệt. Ra quân lại về Yên Lạc vót mây, chuốt lá, chằm tơi. “ Có lẽ nghề tơi với tôi là duyên phận chăng nên cứ bám vào tôi đeo đẳng đến tận bây giờ!”.
Tôi ngước mắt nhìn lên tường nhà đầy Huân, Huy chương, Bằng, Giấy khen ghi công những đóng góp của người chiến sỹ năm nào. Đó là niềm kiêu hãnh, niềm vui tinh thần nhưng cuộc sống còn cơm áo gạo tiền, nên nghề chằm tơi trở thành duyên phận.
Một ông già 75 tuổi, mà sáng tinh mơ, cơm đùm xe đạp vào tận khe Giao lên rú Truông Bát hái lá tơi, tối mịt mới về. Về chuốt lá, vót mây, bện triêng cho bà nhà chằm tơi. Năm nào cũng thế. Bền bỉ. Cơm, gạo, mắm, muối, trầu, cau đầu tay, đầu chân. Tịnh không một tiếng kêu ca, phàn nàn.
“Bà nhà” là cụ Đặng Thị Cháu, năm nay đã “ thất thập cổ lai hy”. Ở tuổi 70, bà Cháu vẫn bám ruộng sản xuất . “ Hai ông bà làm hai sào. Tiền giống, nước, thuốc trừ sâu, phân bón tăng vùn vụt. Hai sào thu hoạch gần 5 tạ, trừ trầm chẳng lãi bao nhiêu. Cho nên hai ông bà phải còng lưng chằm tơi góp nhóp thêm đồng trả tiền nước, tiền thuốc chú ạ!”.
Thế là hóa ra, nghề chằm tơi lại nuôi nghề làm ruộng!?
Theo ông Ân, nghề chằm tơi với người già đau gối, mỏi lưng, nhưng với hai ông bà không thể không làm, vì đó là nguồn sống. Ông cho biết, con trai ông là anh Nguyễn Danh Thủy và cháu là Nguyễn Thị Thùy hiện ở xóm Yên Lạc vẫn lấy chằm tơi làm nghề phụ. Như thế, nhà ông Ân, nghề tơi là nghề cha truyền con nối.,
Vẫn biết nghề mọn này chẳng thể giàu có, nhưng là nghề lao động, mồ hôi, nước mắt làm cho con người thánh thiện ra, nên ông khuyến khích con cháu không bỏ nghề.
Mai sau, con cháu học hành đỗ đạt, có thể làm nghề khác, sinh sống bằng nghề khác, nhưng nghề chằm nón đã dạy cho bài học giản dị, chất phác, bài học yêu lao động để từ đó hình thành nên cốt cách của người lao động thì không thể phụ bạc và khinh nhờn.
Áo tơi và nghề chằm tơi: Chuyện không bao giờ cũ
Vào vụ gặt hay vụ cày cấy (khoảng tháng 5 hay tháng 6) nhìn xuống cánh đồng ở Cẩm Xuyên hay Thạch Hà, Can Lộc, những chiếc áo tơi đã làm dịu đi những nắng lửa.
Tơi không chỉ dùng cho người có tuổi mà trẻ em, thanh nữ cũng khoác áo tơi quê nhà.
Trẻ em choàng áo tơi chăn trâu, chăn vịt hay nhổ mạ trên đồng. Quây tròn lại, đố gió thổi vào được.
Thanh nữ giưa đồng không, mông quạnh, chụm tơi trên bờ là có một WC di động.
“ Trên nắng, dưới nước như đun sôi, lại gió Lào quần quật quạt lửa nữa, không có áo tơi làm răng có thể cúi xuống gặt, cấy hái được chú”. Bà Đặng Thị Cháu trao đổi.
Cái áo tơi lại tiện lợi ở chỗ, buổi trưa giờ nghỉ lên bờ, mấy cái tơi chụm lại thành bóng râm để ăn uống tại chỗ rồi tiếp tục xuống ruộng
“ Tôi lái máy cày, máy bừa mang tơi chống được nắng nóng. Đúng là hiện đại đồng hành cùng thô sơ”. Anh Thân Viết Thi (38 tuổi) nói.
“ Mùa mưa bão, ni lông, ni liếc mang cảnh, nhằm nhò chi. Cái áo tơi, gió bề nào che bề nấy, mưa có táp vào, bão có quất tơi bời cũng chẳng làm cóc khô chi được!”. Ông Đặng Văn Quang khẳng định.
Cái áo tơi bao đời nay bạc sờn qua năm tháng, dầm mưa dãi nắng là người bạn thấm hết nỗi gian lao của người nông dân.
Khi tả tơi, những chiếc áo tơi áy, ngã mình, khum lại lót ổ cho gà ấp trứng hay lại hiến mình che đậy những vại cà, vại nhút mà không chịu là vô ích.
Chiếc áo tơi cùng người nông dân đã thăng hoa thành ca dao, lục bát, thành tranh ảnh, thơ văn và cất lên không chỉ ở “Hà Tĩnh mình thương”…
Vì lẽ đó, còn mưa nắng, còn đồng ruộng, còn nông dân là còn nghề chằm tơi.
Về Yên Lạc, nhân dân đang hồ hởi xây dựng nông thôn mới. Chiếc áo tơi với nghề chằm tơi câu chuyện không cũ bao giờ!
Bài và ảnh : Lê Văn Vỵ
Đọc thêm :  http://danso.giadinh.net.vn/xa-hoi/lang-ao-toi-20110919110641757.htm