Sunday, May 7, 2023

 Tướng Đỗ Kế Giai Tâm Sự: Bại Tướng Không Thể Nói Mạnh

19/02/2004
Lời nói đầu: Tác giả bài phỏng vấn này là Đại tá Phạm Huy Sảnh, Cựu SVSQ Khóa Cương Quyết Đà Lạt 1954 đã phuc vụ trong binh chủng Nhảy Dù, qua Bộ Binh rồi làm Tư Lênh BDQ nam 71;. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm họp khóa, chúng tôi yêu cầu anh Sảnh viết về tiểu sử nhưng anh ngần ngại và đã gửi bài phỏng vấn này viết tặng cho các bạn cùng Khóa Cương Quyết đội mũ nâu của Biệt Động Quân. Qua bài phỏng vấn tướng Đỗ Kế Giai, lịch sử đã mở ra một vài tin tuc vô cùng lý thú. Dù ở trong quân đội, chúng ta ít người biết đưoc là Biệt Động Quân trong những ngày cuối của cuộc chiến đã thành lập 3 sư đoàn tân lập gồm các liên đoàn cũ kết hợp. Tuy nhiên, rất tiếc là mọi chuyện đến quá muộn.
Thêm vào đó trong toàn thể các đại đơn vi tại thủ đô thì gần như chỉ có duy nhất binh chủng Biệt Động Quân còn ở lại giây phút cuối đầy đủ để thi hành lệnh bàn giao của Tổng thống Dương Văn Minh.
Câu chuyện ông Đỗ Kế Giai kể lại về những cú điện thoại vào ngày cuối với Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, và tướng Nguyễn Hữu Hạnh (ông này đã đưoc binh vận cộng sản móc nối) có thể coi là bí ẩn chưa từng được tiết lộ.
Những nhận xét của Thiếu tướng Giai và câu chuyện kẻ đi người ở năm 1975 là quan niệm rất bao dung và thực tế. Sau cùng câu nói của người xưa mà tướng Giai ghi lại để dùng làm kết luận buổi nói chuyện cũng phải được coi là một suy tư can đam.
Con người ra khỏi tù gần như sau cùng, với 17 năm lao cải đếm từng ngày, cho đến chuyến xe chở về nhà cũng là người cuối cùng, thực là câu chuyện ngắn làm chúng ta phải suy nghĩ lâu dài.
"Tướng bại trận, không thể nói mạnh,
Quan mất nước, không thể nói hay."
Ông niên trưởng Đỗ Kế Giai, tôi mong có dịp bắt tay ông một lần. Cảm ơn anh bạn Phạm Huy Sảnh đã đáp lời. Được lắm bạn ơi! Người giới thiệu: Giao Chỉ - Vũ Văn Lộc
Đầu năm 2004: Nói chuyện với Thiếu tướng Đỗ Kế Giai Vị Tư Lệnh cuối cùng của binh chủng Biệt Động Quân.
Bài của Phạm Huy Sảnh
Vào ngày đầu năm tôi thường điện thoại thăm hỏi quý tướng lãnh, niên trưởng, ân nhân, bằng hữu v.v..., trong số các vị tướng lãnh có Thiếu tướng Đỗ Kế Giai. Ông xuất thân khóa 5 Võ Bị Đà Lạt (ra trường tháng 4/1952), về phục vụ Tiểu đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, tôi đáo nhâm TĐ 3 ND tại Đồng Đế Nha Trang, ông đã là Trung uý, giữ chức vụ "Officier Adjoint" cho Thiếu tá Mollo là Tiểu đoàn trưởng. Chức vụ của Trung úy Giai tương tự như Sĩ quan Hành quân Tiểu đoàn thời sau nầy. Mối liên hệ giữa ông với tôi bắt dầu từ đó.
Năm nay, ngoài việc thăm hỏi thường le, mục đích chính của bài viết xoay quanh câu chuyện Biệt Động Quân vào những ngày cuối 30-4-1975. Sau đây là phần phỏng vấn:
Phạm Huy Sảnh: - Xin niên trưởng cho biết về nhiệm vụ và phối trí lực lượng BĐQ trong những ngày chót quanh Thủ đô.
Đỗ Kế Giai: - Vào những ngày tháng cuối truớc khi mất Nam VN, tôi là Tư Lệnh Lực Lượng BĐQ/QL.VNCH dư"oi quyền có 2 Sư Đoàn: SĐ 106BĐQ Đại tá Nguyễn Văn Lộc chỉ huy trách nhiệm bảo vệ Biệt Khu Thủ Đô. BTL Hành Quân và Pháo Binh cơ hữu đặt tại trường đua Phú Thọ. Vào thời điểm nầy, tổ chức của mỗi SĐ BĐQ gồm 3 Liên Đoàn, mỗi LĐ ngoài 3 TĐ tác chiến và 1 ĐĐ Trinh Sát còn có một Pháo Đoi (6 khẩu) 105 ly cơ hữu. Sư Đoàn thứ hai là SĐ 101 BĐQ do Đại tá Nguyễn Thành Chuẩn chỉ huy, nhiệm vụ tổng trừ bị, án ngữ tai phía Bắc TTHL Quang Trung. Sư Đoàn thứ 3 đang hình thành mới được hai Liên Đoàn đóng tại căn cứ Long Bình.
PHS: - Tinh thần quân sĩ BĐQ lúc đó ra sao"
TT/ĐKG: - Trong suốt nhiều tuần lễ trưoc 30-4-1975 tôi liên tục đi thăm các đơn vị trực thuộc. Tại moi nơi tôi đều ra lệnh lực lượng BĐQ tử thủ bảo vệ Sài Gòn theo lệnh của cấp trên. Tinh thần chiến đấu của anh em BĐQ rất cao, cũng như đạn dưoc và tiếp vận đầy đủ. Sau ngày ông Thiệu và ông Khiêm rời khỏi nước cùng voi việc người Mỹ di tản nhân viên Việt Nam của họ và gia đình khỏi Sài Gòn thì tình hình tại Thủ Đô lúc này trở nên xáo trộn. Dân chúng, cán bo, chính quyền hoang mang sợ hãi, những tin tức thất thiệt bất lợi cho VNCH ảnh hưởng tai hại đến số quân nhân và gia đình tại Sài Gòn. Trước hoàn cảnh bi đát đó, cảm thông những lo âu của thuộc cấp. Tôi cho lệnh tập họp các quân nhân mọi cấp tại BTL/BĐQ lúc đó đóng tại Sài Gòn và ra lệnh: (nguyên văn) "Trên cương vị là Tư lệnh BDQ, tôi tuyệt đối tuân hành lệnh của thượng cấp nghĩa là BĐQ chúng ta quyết tâm bảo vệ Thủ Đô và dân chúng Sài Gòn. Tuy nhiên vì tình hình ở ngoài dân chúng quá sợ hãi, ảnh hưởng đến gia đình quân nhân. Truớc tình huống này ai muốn đi (đi Mỹ) và đi được thì cứ di nhưng nhớ rằng tôi không thể ra lệnh cho các anh bỏ đơn vị. Tôi chấp nhận làm ngơ coi như không biết những quân nhân và gia đình muốn rời khỏi VN." Sau lệnh đó, tại BTL/BĐQ chỉ có 1 sĩ quan là Thiếu tá Tạ Thái Hòa, Chánh Văn Phòng của tôi đem gia đình đi Mỹ. Còn tất cả quý vị khác từ Tư Lệnh Phó, Tham Mưu Trưởng đến các Trưởng Phòng đều ở lại cho đến ngày 1-5-1975, bàn giao cho phía bên kia. (Nhân chứng: Trung tá Hoàng Ngọc Liên, Trưong Khối CTCT, và Thiếu tá Tạ Thái Hòa hiện đang ở Hoa Kỳ).
PHS: - Xin cho biết về sự liên lạc giữa BDQ và Bộ TTM hay ở cấp cao hơn mà Thiếu tướng gọi là "thượng cấap""
TT/ĐKG: - Tại Bộ TTM, Trung tướng Vĩnh Lộc là Tổng TMT trong những ngày cuối , hàng ngày tôi vẫn vào Bộ TMT gặp Trung tướng Vĩnh Lộc để thảo luận về tình hình và nhận lệnh. Trước ngày 30-4, có một bữa tôi gặp Đại tá Trần Văn Thăng, nguyên Cục Trưởng Cục ANQĐ. Ong hỏi tôi: "Tình hình nầy, Thiếu tướng đi hay ở"". Tôi trả lời: "Đi đâu" Tôi ở lại chiến đấu với anh em chứ!"
Sáng ngày 30-4, tôi đến Bộ TTM lại gặp Đai tá Thăng đang đứng trước cỗng, tổ chức bố phòng. Tôi dừng xe lại hỏi: "Đại tá Thăng đang làm gì đây"" Ông cho biết ông trách nhiệm phòng thủ bao vệ Bộ TTM. Ong ta nói: " Tôi có lực lượng Lôi Hổ. Hôm trước tôi nghe Thiếu tướng sẽ ở lại chiến đấu với anh em, thú thật tôi không tin nhưng hôm nay còn gặp Thiếu tướng tại đây, tôi mới tin!" Tạm biệt Đại tá Thăng, tôi vào gặp Trung tướng Vĩnh Lộc. Tôi thấy ông dang trò chuyện với Trung tướng Trần Văn Trung ở cầu thang. Tôi hoi ông có lệnh gì cho BĐQ không" Ông trả lời: "Không có gì mới cả, anh về lo đơn vị đi!". Trên đường về đơn vị, tôi đi một vòng quan sát tình hình thành phố Sài Gòn. Về đến BTL/BĐQ vào lúc 10 giờ sáng. Khoang 10 phút sau, Sĩ quan Tuỳ Viên báo có điện thoại của ông Vũ Văn Mẫu. Ong Mẫu bảo tôi mở radio nghe TT Dương Văn Minh nói chuyện. Tôi mở máy. Lời hiệu triệu của ông Minh dài. Tóm tắt, tôi chỉ nhớ 3 điều liên hệ đến tôi và BĐQ.
1- Các đơn vị ở đâu ở đó. 2- Buông súng. 3- Chờ phía bên kia đến để bàn giao.
Độ 10 phút sau, lại có điện thoại của Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hạnh từ Dinh Độc Lập. Ông Hạnh nói, Tổng Thống nhắc lại: Lệnh của Tổng Thống là các đơn vị ở đâu ở đó, buông súng không chiến đấu và đợi phía "cách mạng" đến để bàn giao. Tôi dằn giọng trả lời: "Tôi biết" và cúp máy!

Khoảng 1 giờ sau, tôi lại được báo điện thoại của ông Vũ Văn Mẫu gọi. Trên đầu giây, ông Mẫu bảo tôi là lệnh củ;a Tổng thống, tôi lên ngay Bộ TTM thay thế Trung tướng Vĩnh Lộc dể bàn giao cho phía bên kia. Tôi trả lời ông Mẫu, tôi không thi hành lệnh nay và nhờ ông Mẫu trình với Tướng Dương Văn Minh, đây là lan đầu tiên tôi không thi hành lệnh của thượng cấp! Và nếu tôi biết trước rằng quý vị sẽ hành động như ngày hôm nay mà quý vị vừa ra lệnh cho tôi thì... (Tuớng Giai nói với người viết bài, tôi xin lỗi anh cho tôi khỏi lập lại những điều mà tôi đã nói với ông Vũ Văn Mẫu bởi có lap lại thì cũng chỉ là chuyện cũ và chẳng mang lại lợi ích gì cho dại cuộc hiện nay!). Ong tiếp, tuy nhân chứng Vũ Văn Mẫu đã qua dời nhưng còn các sĩ quan khác của tôi đang có mặt tại Hoa Kỳ đã ch"ung kiến cuộc điện đàm của tôi và ông Mẫu vào hôm 30-4-1975 lúc 12giờ 30.
PHS: - Trong bữa cơm họp mặt các chiến hữu tại Seattle, tôi có dịp tiếp xúc với cựu Đại uý Lê Văn Khởi nguyên Tiểu Đoàn Phó TĐ 42 BĐQ từ Pleiku rút về Dục Mỹ rồi trạm chót là căn cứ Long Bình để bổ sung quân số. Anh cho biết vào ngày 26 hay 27-4-1975, Thiếu tuớng có lên thăm đơn vị anh tại Long Bình. Trước hàng quân, Thiếu tướng đã ra lệnh BĐQ sẽ ở lại tử thủ bảo vệ Thủ Đô. Cựu Đại úy Khởi thắc mắc rằng khi thi hành lệnh đó, Thiếu tướng có biết rằng ông Dương Văn Minh sẽ đầu hàng CSBV"
TT/ĐKG: - Như đã nói ở phần trên về việc tôi ra lệnh lực lượng BĐQ tử thủ bảo vệ Thủ Đô, tôi xác nhận là đúng. - Tôi không hề hay biết trực tiếp hay gián tiếp rằng ông Dương Văn Minh sẽ đầu hàng CS cho đến khi ông ta đọc lệnh trên đài phát thanh vào sáng ngày 30-4-1975. Tôi là một sĩ quan gốc nhảy dù, một tướng lãnh. Truyền thống của Quân Lực là thi hành lệnh tuyệt đối. Trong tinh thần đó, tôi ra lệnh cho BĐQ phải tử thủ để chu toàn trách nhiệm. Riêng cá nhân tôi cùng các vị TL/SĐ 106, SĐ 101, các Liên Đoàn Trưởng, các cán bộ chỉ huy, các đơn vị tác chiến cũng như những sĩ quan trong BTL/BĐQ đều đã ở lại cho đến phút chót. Những điều tôi yêu cầu các chiến hữu BĐQ phải làm, cá nhân tôi cũng thực thi đúng như vậy. Cho nên sau này gap lại các đồng đội trong trại tù CS tôi không hổ thẹn với lương tâm.
PHS: Thiếu tướng trình diện hay bị CS đen nhà bắt và kể từ lúc nào"
TT/ĐKG: - Sáng ngày 1-5-1975, sau khi bàn giao BĐQ cho cộng sản xong, tôi vào phòng riêng thay quần áo dân sự, đang tính đi bộ về nhà thì họ nói để họ lấy xe đưa về. Ngày 15-5-1975, đột nhiên CS đem xe đến nhà mời tôi đi đến Quận 11 rồi sau đó chở thẳng vào khám Chí Hòa. Tôi chính thức bị nhốt từ ngày đó cho đến ngày 5-5-1992 được thả ra, thiếu 10 ngày thì đủ 17 năm tưc là 6.095 ngày tôi ở tù CS.
PHS: - Là một tướng lãnh, đương nhiên Thiếu tướng có những liên hệ mật thiết với các giới chức Hoa Kỳ toi Sài Gòn khi đó - Vậy có giới chức Hoa Kỳ nào tiếp xúc đề nghị Thiếu tướng rời khỏi VN"
TT/ĐKG: - Có, Tướng Times của Tòa Đại Su Hoa Kỳ, liên tiếp vào các ngày 28 và 29 tháng 4-1975 đến gặp tôi và hỏi nếu tôi và gia đình muốn đi Mỹ, ông ta sẵn sàng giúp đỡ, lo liệu. Cả hai lần tôi đều cám ơn tướng Times và từ khước đề nghị đó. Nại cớ tôi còn trách nhiệm, tôi còn quân sĩ, tôi không thể ra đi trong hoàn cảnh nầy được. Tướng Times hiện còn sống tại Hoa Kỳ, anh có thể phối kiểm điều đó.
PHS: - Hôm nay, cảm nghĩ của Thiếu tướng về những ngày tháng cũ"
TT/ĐKG: - Bởi những lý do trên, tôi tự nhận dã làm tròn bổn phận, trách nhiệm của một Tướng Lãnh đối với đồng đội, với Tổ Quốc khi tại ngũ. Và suốt gần 17 năm tù đày, trước mặt kẻ thù trong mọi hoàn cảnh tôi luôn cố gắng gìn giữ tác phong để bảo vệ Danh Dự của Quân Lực. - Đối với người CS dù họ không thích tôi nhưng họ không thể khinh tôi! Những người CS bắt giữ tôi vẫn còn đó.
PHS: - Có phải Thiếu tướng là một trong những tướng lãnh được CS thả vào đợt cuối cùng"
TT/ĐKG: - Đúng. Trong đợt chót, chúng tôi gồm 4 người còn lại tôi, Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo. Thật ra đây là 100 nguời chót CSVN không muốn thả ra vì chúng chủ trương nhốt cho đến chết. Chúng tôi không hy vọng gì được về vào thời điểm đó. Nhung cũng nhờ sự tranh đấu, đòi hỏi của quý chiến hữu, đoàn thể chính trị, đong hương tại hải ngoại đã tạo thành áp lực để CSVN phải thả gấp rút hon. Tuy nhiên việc thả 100 người vừa kể, CS cũng chia làm 8 đợt và 4 người chúng tôi là đợt cuối cùng. Tôi còn nhớ, hôm đó tại trại Hàm Tân, cán bộ nhà tù nói quý vị chuẩn bị chuyển trại, 30 phút nữa sẽ đi. Nhung sau đó họ cho biết là 4 người chúng tôi sẽ được thả về và xe sẽ đến đưa từng người ve nhà. Trong lúc đợi xe đến, anh em bàn với nhau, dề nghị tôi lớn tuổi nhất sẽ được đưa về trước, kế đến là TT Trần Bá Di, TT Lê Văn Thân, chót hết là TT Lê Minh Đảo, là người nhỏ tuổi nhất. Anh em đồng ý. Nhưng khi xe của CS đưa về thì họ lại làm nguợc lại, có nghĩa là họ đưa tướng Đảo về trước, cuối cùng là tôi.
PHS: - Thiếu tướng và gia đình đến Mỹ năm nào"
TT/ĐKG: - Tôi và nhà tôi cùng 6 cháu đến Mỹ ngày 26-10-1993, hiện định cư tại thành phố Garland, Texas.
PHS: - Thiếu tướng nghĩ thế nào về nhung người đi trước"
TT/ĐKG: - Tôi quyết định ở lại vì tôi cho là hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích nhung những người ra đi năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam VN thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các Đơn Vị Quân Đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chay trước Cộng Quân. Quân Đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng cua ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị có ở lại thì trước sau cũng vô tù CS như tụi tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát đưuc ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cho quyền lợi của những người còn kẹt lại. Về mặt kinh tế đi trước xây dựng được cuộc sống ổn định sau này có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên bàn về vấn đề trước, sau, mà mọi người phải cùng chung lưng gầy dung một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.
PHS: - Qua cuộc đối thoại, tôi thấy Thiếu tướng có một trí nhớ đặc biệt. Thiếu tướng có định viết hoi ký"
TT/ĐKG: - Không! Tôi dứt khóat là không. Vài năm trưoc đây và ngay bây giờ, có nhiều nhà xuất bản Mỹ và Việt đề nghị tôi viết hồi ký và họ sẽ giúp xuất bản. Tôi trả lời là dối với tôi điều nầy khó quá. Bởi nếu đã viết, thì phải nói hết, nói thật, mọi sự việc mà tôi nghe, tôi biết, tôi thấy. Như vậy e rằng sẽ làm mat lòng nhiều người. Hơn nữa, vấn đề nầy tôi xin bày tỏ quan niệm tôi qua hai câu của người xưa:
BẠI BINH CHI TƯỚNG, BẤT KHẢ NGÔN DŨNG.
VONG QUỐC CHI ĐẠI PHU, BẤT KHẢ NGÔN TRÍ.
PHS: - Cám ơn Thiếu tướng đã dành gần 3 giờ đồng hồ điện đàm trong ngày đầu năm.
Seattle ngày 1 tháng 1 năm 2004
Phạm Huy Sảnh
Ghi chú: Hai câu danh ngôn bằng chữ Hán, tạm dịch nghĩa như sau: Tướng bại trận, không thể nói mạnh. Quan mất nước, không thể nói hay.

 HOÀNG = 57153 = 21 = 3

MINH = 4155 = 15 = 6

THẢO = 17 = 8

Ông tên thật là Tạ Thái An, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1921 tại xã Bảo Khê, huyện Kim Động (nay thuộc thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên, con ông Tạ Quang Khai và bà Nguyễn Thị Tành.

TẠ = 41 = 5

THÁI = 4511 = 11 = giữ nguyên

AN = 15 = 6

Saturday, May 6, 2023

 

"As far as the 1st Battalion 92nd Artillery History is concerned, the Dak To, Ben Het, Dak Seang area is perhaps the most heavily fought over piece of terrain that the Battalion occupied."

Bohdan Prehar, COL(R)
A Battery Commander
9/68-5/69


The following is from the Operational Report of the 1st Battalion 92nd Artillery for period ending 31 July 1969, (Unclassified) I have tried to limit the information to the time that is documented in the Award of the Valorous Unit Citation.

See also Map Number: 6538-3

Towards the end of April and the beginning of May 1969, intelligence indicators pointed to a build up of NVA Forces in the Dak To/ Ben Het Area. It was discovered that two NVA Infantry Regiments and major portions of an NVA Artillery Regiment were present to the south of Ben Het, FSB 6 and Dak To. The target appeared to be Dak To. On 24 May 1969, the 24th Special Tactical Zone established a Combined Tactical Operations Center at FSB 1 Dak To, in order to control the troops being inserted into the area to counter the NVA threat. The Commander of the 1st Battalion 92nd Artillery, LTC Nelson Thompson was designated the Fire Support Coordinator for the Dak To/ Ben Het area of operations. The Dak To Combined Fire Support Coordination Center under his command was to control the fires of not only US but also all ARVN artillery in the area. This would eventually evolve into the equivalent of one Battalion Group; forty-one tubes of Field Artillery and six Air Defense Artillery twin 40mm M-42’s. The Fire Support Coordination Center also coordinated all air fires, to include B-52 strikes, sky spots and helicopter gun ships. During the period 04 May to 08 July this force coordinated over 150,000 rounds of artillery, 1100 sorties of Forward Air Control directed Tactical Air Strikes, 533 combat sky spots and 142 B-52 strikes. Also in this period, the 24th Special Tactical Zone employed nineteen maneuver battalions, with as many as nine battalions committed at one time. This same period saw friendly element kill more than eighteen hundred NVA troops.

Due to the growing complexity of the organization and situation, a Battalion Group was established on 09 June 1969. The Forward Command Post remained at Dak To while the 6th Battalion, 14th Artillery established a Forward Command Post at Ben Het. The Commanding Officer of the 1st Battalion 92nd Artillery was designated the Battalion Group Commander. During the period of operations, both Command Posts were subjected to intense enemy fire, B-40 rockets, 75mm recoilless rifle and sapper attacks.

During the month of June 1969, Ben Het was surrounded by a large number of well-armed and well dug-in NVA. The NVA had the firing data for the airfield and for all established helicopter pads. When an aircraft attempted to land, it not only received small arms and automatic weapons fire, but also immediately upon landing was subjected to mortar and recoilless rifle fire. Large NVA Forces effectively cut the road to Ben Het, and aerial resupply was essential.

May-July 1969 the 1st Battalion 92nd Artillery Forward Observer Teams were assigned to the following Units: 3rd Cavalry Squadron, 1stSquadron 10th Cavalry, 1st and 4th Battalions 42nd Regiment, 2nd and 5th Mobile Strike Force, 2nd and 3rd Battalion 47th Regiment, 1st and 3rd Battalions 53rd Regiment, 11th, 22nd and 23rd Ranger Battalions ARVN. A Forward Observer Team was sent to Dak To District, to fire defensive targets for friendly villages. Two Aerial Observers were used on a daily basis using two C-1 Aircraft (headhunters).

On 14 May 1969, SP4 Eric J Greco, Headquarters Battery and member of one of the 1st Battalion 92nd Artillery Forward Observer Teams was killed in action. He was killed when his Forward Observer position was attacked by the NVA.
Radars were employed to assist the battalion in its operations. Two AN/MPQ-4 and one AN/PPS-4 counter mortar radars, one AN/MPQ-10 counter mortar, one AN/IPS-4 and one AN/PPS-5 was employed. These Units gave counter mortar and personnel movements respectively.
1/92nd Artillery Forward Command Post was located at FSB 1, Dak To at Grid ZB005217. While Battalion Headquarters and Service Batteries remained at Artillery Hill in Pleiku, with the mission of General Support Reinforcing (GSR) to the Battalion and the 52nd Artillery Group.
A Battery 1/92nd Artillery was located at the following locations: A Battery (-) was located at LZ Mary Lou (ZA223829), vicinity of Kontum with a mission of GSR. The 6th Battalion 14th Artillery. A Battery Platoon was at Ben Het, with the mission of GSR with priority of fires to Ben Het counter battery.
B Battery was located at FSB 6 (YA863265) 7 km southwest of Dak To. C Battery (-) was located at LZ Bass (ZA028935) 22 km west of Kontum and C Battery Platoon was located at FSB 12, Ben Het, 15 km northwest of Dak To.

On 04 May A Battery (-) moved to FSB 1, Dak To (ZB003215) with the mission of GSR 1/92nd Artillery. A Battery supported 24th Special Tactical Zone Operations in the Dak To/Ben Het area. On 09 May, FSB 1 began receiving daily incoming enemy fire. During the next month 703 rounds of incoming 122mm rockets were received at FSB 1. On 11 May 1969, PFC Ronald J. Carter of A Battery was killed in action when the firing bunker he was in received direct hits from both a B-40 rocket and mortars. Due to the daily aerial attacks by the NVA, some bunkers were built with an overhang. This one had an opening on top with two howitzers inside and aiming west. The bunker withstood the attack but shrapnel came through the opening on top, killing PFC Carter and wounding several other men. On 13 May, a 122mm rocket landed approximately five feet from a manned howitzer, resulting in four men killed in action, and eleven men wounded in action. The four men who were killed were: SP4 Thomas M. Connell, SP4 Thomas W. Davis, SSGT Donald R. Kraft and PFC Lynn J. Wieser.

As was true throughout the War, there was no shortage of brave men in the 1/92 Artillery. Thirteen men volunteered from Artillery Hill, Headquarters and Service Battery, to replace the dead and wounded. These men went in to harms way and airlifted into FSB 1 that evening. A Battery continued to heroically operate under fire, supporting the maneuver elements and returning accurate and effective counter battery fire whenever Dak To was attacked. In addition to a large number of 122mm rockets fired into the Dak To compound, recoilless rifle fire was received against the A Battery position. On 27 May, A Battery (-) was assigned the mission of GSR with priority of fires to the 2nd Ranger Group (ARVN), which was in continuous contact with the enemy.

The mission of A Battery Platoon continued to be GSR with priority of fires to Ben Het counter battery. On 28 May a CV-2 aircraft resupplying Ben Het by airdrop, accidentally dropped a 55-gallon drum of fuel oil, on one of A Battery’s gun bunkers. No casualties resulted, but the flash wall on the right side of the bunker was destroyed. On 02 June, the mission of A Battery (-) was changed to GSR with priority of fires to the 4th Mobile Strike Force Battalion. On 04 June, the mission was also changed to GSR of A Battery Platoon to support 4th Mobile Strike Force Battalion. On this day, A Battery had two men killed in action, PFC William C. Burgess and PFC David R. Porter. Three men were wounded as a result of incoming 75mm recoilless rifle fire. During periods of incoming 122mm rocket fire, the NVA began to direct recoilless rifle fire against A Battery positions when the men manned the howitzers to fire counter battery fire. On 05 June, A Battery Platoon, 1/92nd Artillery, took a direct hit on a gun section bunker. No casualties resulted, but one bunker was destroyed and needed to be rebuilt while A Battery was under fire. On 06 June, A Battery Platoon received a direct hit on the powder bunker, resulting in the loss of 560 canisters of powder. On 07 June, a NVA B-40 Rocket hit A Battery’s 3rd gun section bunker at Dak To and a flash wall was destroyed.

On 09 June, A Battery’s mission was changed to GSR with priority of fires for one Platoon of 2nd Mobile Strike Force Battalion. From 08 June, to 12 June, one A Battery Platoon conducted a daily hipshoot, in order to be capable of firing counter battery while Dak To was receiving incoming enemy fire. On 08 June, the FDC at Ben Het received a direct hit resulting in only minor damage. On 09 June, A Battery Platoon had six men wounded in action, a result of incoming 75mm recoilless rifle fire. On 17 June, one man was wounded in action from mortar fragments. On 19 June, the mission of A Battery (-) became GSR with priority of fires for a Platoon of the 4th Mobile Strike Force Battalion. The other Platoon was assigned to the 5th Mobile Strike Force Battalion. On 19 June, the mission of A Battery (-) reverted to GSR. A Battery Platoon sustained three hits on gun bunkers on 22 and 23 June, resulting in only superficial damage. On 23 June, A Battery Platoon’s powder bunker sustained a direct hit, resulting in five men wounded in action. This resulted in a loss of 350 canisters of white bag powder and destruction of the bunker. On 26 June, the crews of A Battery Platoon exchanged positions with the crews of C Battery Platoon, 1/92nd Artillery Dak To. The howitzers remained in place. A Battery 1/92nd Artillery was once again together as a Battery. On 14 July, A Battery moved four howitzers to Artillery Hill to support the 3rd Battalion 6th Artillery. On 15 July, A Battery (-) was road marched to LZ Oasis, and from there to LZ Elaine where it had the mission of GSR with priority of fires to the 1st Squadron, 10th Cavalry. Throughout this period, A Battery 1/92nd Artillery was under daily attack. Each time the battery had a fire mission; the NVA would attack the battery with all weapons at its disposal.

B Battery 1/92nd Artillery was located at FSB 6 (YA933188) throughout the reporting period. On 04 May, the 24th Special Tactical Zone Force began operations in the area. B Battery 1/92nd Artillery supported these operations throughout this reporting period. On 09 May, B Battery while engaged in a Battalion Time on Target (TOT) and massing of fires on an NVA position close to FSB 5 suffered an explosion of the breech end of a howitzer, killing one man PFC Arturo S. Sisneros.and wounding six others. The wounded men were medically evacuated. PFC Arturo S. Sisneros was Promoted Posthumously to Corporal. On 11 May, the damaged howitzer was replaced with one from C Battery 1/92nd Artillery. On 26 May, B Battery’s mission changed to GSR with priority of fires to the 1/42nd Regiment. On 04 June, the mission was changed with one platoon direct support of 3/42nd Regiment. On 08 June, FSB 6 received 16 incoming 75mm recoilless rifle rounds. One round hit the mess hall and several hit an ammunition bunker. There were no casualties in this attack. A UH-1 helicopter was hit during the first attack and crashed into its landing area. Counter battery fire from Batteries A, B, and C, 1/92nd Artillery destroyed the NVA’s positions. On 11 June, FSB 6 came under attack by an NVA Infantry company with sappers. The attack consisted of small arms fire, satchel charges, concussion grenades, B-40 rockets, 75mm recoilless rifle rounds, and mortar fire. Four satchel charges exploded near B Battery’s 6th howitzer section. This did not deter the B Battery gun crew who continued to fire their howitzer throughout the attack. No B Battery men were wounded in this attack. Although, two men from the Civilian Irregular Defense Group (CIDG) were wounded. Twenty-five NVA were killed in this attack and many weapons were captured. On 19 June, B Battery‘s mission became the GSR with priority of fires to the 2/47th Regiment.

On 01 May 1969, C Battery 1/92nd Artillery, moved by road from Artillery Hill to Plei Ring De (ZA218351). On 02 May, C Battery moved to the Asphalt Plant (ZA896118) with the mission of GSR. On 01 June, C Battery moved to FSB Mary Lou (ZA223829) with the mission of defense of Kontum. On 24 June, C Battery Platoon moved by road to Dak To (ZB004217) with the mission of GSR for the Dak To/Ben Het area. On 26 June, C Battery Platoon’s crew was airlifted into Ben Het to exchange places with the crew of A Battery’s Platoon. On 07 July, C Battery (-) moved to LZ Bass to support the 4th Infantry Division.
Service Battery besides sending volunteers to replace the WIA and KIA kept the supplies flowing to A, B, and C, Battery’s; and fulfilled all requests by the 52nd Artillery group to bring supplies to other Units. The 1/92nd Artillery was the only airmobile 155mm howitzer towed unit in the 52nd Artillery Group.

Service Battery moved the following supplies by air, to the other batteries during this reporting period. A Battery under daily stand off attacks, were still able to receive 198 tons of supplies by helicopter. B Battery received 1740 tons of supplies by helicopter. C Battery received 703 tons of supplies by Helicopter. Supplies were also brought in for the other units by Service Battery, via air and road.
During this reporting period, the 1/92nd Artillery’s, Battalion Surgeon not only took care of the sick and wounded of the Battalion, but also with personnel from Headquarters Battery made fourteen MEDCAP visits. Six hundred and sixty six villagers were also provided general medical care.


Personnel of the 1st Battalion 92nd Artillery received the following Awards:
One Legion of Merit Medal
Fourteen Bronze Star Medals with V for Valor
Ten Bronze Star Medals
One Air Medal
Sixty-seven Army Commendations Medals with V for Valor
Ten Army Commendation Medals
Forty-four Purple Heart Medals


Personnel who were assigned to other Units, both U.S. and ARVN, may not have Awards listed here.

1st Battalion 92nd Artillery was awarded: The Valorous Unit Citation with streamer embroidered Dak To/Ben Het. For service from 04 May 69 thru June 69.
The following list of Battery A's KIA and WIA from Dak To/ Ben Het is from the Diary of Judge Bobbie Joe Pope. Judge Pope retired from the Army with the rank of Sgt. Major. He was seriously wounded at Dak To when he was SFC Battery A 1/92.
(Note: Between May 69 to Oct. 69, Battery A had over a 60% casualty rate, some were Awarded multiple Purple Hearts.)

May 11-PFC Ronald J. Carter-KIA
May 11-PFC Smith-WIA
May 12-PFC Louis C. Bustamante-WIA
May 12-SSGT Donald Kraft-KIA (died on May13)
May 13-Bell-WIA
May 13-Dunbarr-WIA
May 13-PFC Theodore Chmieloweic-WIA
May 13-SP4 Thomas M. Connell-KIA
May 13-PFC Thomas Davis-KIA
May 13-PFC William L. Gould-WIA
May 13-SP4 Hearld-WIA
May 13-PFC Leland K. Payne-WIA
May 13-PFC Roy C. Pharr-WIA
May 13-SGT. John S. Plonka-WIA
May 13-SP4 Pope-WIA
May 13-PFC Michael Shingleton-WIA
May 13-PFC Charles H. Webster-WIA
May 13-PFC Lynn J. Wieser-KIA
May 15-PFC Lawrence G. Howard-WIA
May 15-Kinney-WIA
June 4-PFC William Burgess-KIA

June 4-SP4 Guadalupe Guerrero-WIA
June 4-PFC David L. Hanson-WIA
June 4-PFC David Porter-KIA
June 4-PFC Jeffry D. Wood-WIA
June 9-PFC Franklin Austin-WIA
June 9-PFC Donald Hettervik-WIA
June 9-PFC David A. Hughes-WIA
June 9-SP4 Joaquin M. Martinez-WIA*
June 9-SP4 Jose A. Pagan-WIA
June 9-Richardson-WIA
June 17-Talbot-WIA
June 23-Bailey-WIA
June 23-Bober-WIA
June 23-Chamber-WIA
June 23-Connell-WIA
June 23-LT. Johnson-WIA
June 23-PFC Joe Martinez-WIA *(two men named Martinez may have wrong date)
June 23-SP5 Wayne T. Mitchell-WIA
June 23-PFC David W. Metz-WIA
June 23-SFC Bobbie Joe Pope-WIA

ARTILLERY, PLANES BEAT OFF REDS ATTACKING DAK TO
*Stars and Stripes Tuesday June 3, 1969

SAIGON (AP)-- Fighting flared Sunday in Dak To, the central highlands district capital where Americans fought one of the Vietnam War's most vicious battles in 1967. In the latest fighting, North Vietnamese troops moving under cover of a mortar barrage, attacked the South Vietnamese district headquarters at Dak To, defended by about 125 militiamen. Bombs and artillery beat off the attackers after an hour. Initial reports said two South Vietnamese were killed. And four woun

 

TRẬN MẬU THÂN ĐỢT HAI Ở ĐÀ LẠT.


"ĐỊCH QUÂN TẤN CÔNG KHU NGHỈ MÁT MIỀN NÚI TẠI NAM VIỆT NAM.

Dịch từ bài báo đăng trên tờ New York Times ngày thứ sáu Q31/5/1968.

"SAIGON, Nam Việt Nam. 30/5/1968-- Địch quân đã tấn công thành phố nghỉ mát Đà Lạt của Cao nguyên Trung phần và bao vây những đồn bót chung quanh vào sáng sớm hôm nay. Đây là cuộc tấn công nghiêm trọng kể từ Tổng tấn công Tết vào đầu năm 1968.

Nổ súng rải rác đã được ghi nhận tại Đà Lạt suốt ngày này và lúc chiều ít nhứt 100 lính địch được tin đã chiếm các tòa nhà của viện đại học, một chũng viện (để đào tạo tu sĩ) và một nhà thờ ở trung tâm thành phố. (Quân VC đã bị đẩy lui khỏi đại học trong buổi tối, thông tấn xã AP loan tin ngày chủ nhựt tại Sài Gòn).

Phát ngôn viên quân sự của Nam Việt Nam nói rằng địch quân đang chiếm giữ các vị trí này đã bị bao vây. Vài TĐ bộ binh và các chiến xa hạng nhẹ chạy bánh V-100 của địa phương quân, xem hình, đã nhanh chóng tiến vào thành phố một thời gian ngắn sau khi cuộc tấn công bắt đầu lúc 2g sáng.

Học viện Quân sự đã bị tấn công.

Có tất cả 13 địa điểm bị tấn công, bao gồm Trường Võ bị Quốc gia tại TP và sân bay Liên Khương 14 dặm ở phía nam.

Phát ngôn viên cho biết có 22 địch quân bị giết trong trận đánh và thương vong của Nam quân là 8 chết và 24 bị thương.

Đà Lạt là tp lớn hàng thứ chín của Nam VN, với dân số khoảng 77 ngàn; và cách thủ đô Sài Gòn 145 dặm về phía đông bắc.

Trận tấn công đã xảy ra giữa các tin về đụng độ dữ dội tại Cambodia giữa địch quân và TQLC VNCH gần Preyveng, một tỉnh lỵ 30 dặm đông nam thủ đô Pnom Penh.

Có tin TQLC VNCH và quân chính phủ Cambodia đang tiến về tp này, nơi quân phòng thủ vẫn còn làm chủ sau hai ngày chiến đấu trong đường phố.

Quân Nam VN cho biết khoảng 2.500 địch quân ở trong và ngoài Preyveng. Họ nói đã giết 250 địch quân vào hôm qua và hôm nay trong các trận đánh ở Banam cách tp 12 dặm.

Tin cho biết những trận đánh nhỏ và rải rác tại các khu khác của Cambodia hôm qua và hôm nay.

Trận tấn công tại Đà Lạt tức thời ko có vẻ là một phần của bất cứ tấn công phối hợp tại Nam VN. Có tổng cộng 25 cuộc pháo kích khắp nước vào tối qua và sáng nay, hơi ít hơn là bình quân của hai tuần qua. 

Trong vài tháng, các đv địch được tin đã xâm nhập vào những đồi núi gần Đà Lạt và quấy rối đã gia tăng. Cuộc tấn công nghiêm trọng vừa qua vào tp này đã đến trong tổng tấn công 1968 (đợt một), khi phần lớn các tp lớn ở Nam VN bị tấn công. 

Không có đv nào lớn đóng quân tại Đà Lạt. Chỉ có Trường Võ bị Quốc gia và một trung tâm huấn luyện cho ĐPQ và nghĩa quân. Từ nhiều năm nay, Đà Lạt đã được xem bởi dân Nam VN là một nơi ko có chiến tranh để các cặp mới cưới hưởng tuần trăng mật và các gia đình nghỉ mát.

Một phát ngôn viên quân sự nói có khoảng 400 địch quân tham gia cuộc tấn công.

Nhiều tên được cho đã xâm nhập vào tp theo từng toán nhỏ trong vài ngày qua. Một số đã chiếm một số vị trí ở rìa của tp. Chín trong 13 địa điểm bị tấn công đều nằm bên trong tp.

Cuộc tấn công đầu tiên lúc 2g sáng, đánh vào Trường Võ Bị, trong đó có 800 SVSQ và nhân viên của trường cũng có quân số tương tự. Trường Võ Bị ko có tổn thất, nhưng đã bắn hạ 12 tên và bắt sống 2 tên. Trường đã bị tấn công bằng cối và hỏa tiển, nhưng thiệt hại vật chất ko đáng kể.

Khoảng nửa giờ sau, thêm tám địa điểm khác trong tp bị tấn công, cũng như sân bay Liên Khương và một trung tâm huấn luyện gần đó. 22 địch quân bị giết và ba bị bắt.

Phát ngôn viên nói rằng trung tâm huấn luyện bị tấn công mạnh, đã hứng 40 đạn cối và tấn công bằng bộ binh.

"Rất khó để đẩy lui địc quân vì chúng tôi vừa chiến đấu và vừa bảo vê doanh trại," một phát ngôn viên nói.

 Ban Mê Thuột was the province capital and not the name of the airfield/installation. Camp Coryell was the Army Air Field whose primary occupant was the 155 Assault Helicopter CO, but also located there was a small 100 yard X 150 yard compound which was the USAF Control Squadron Detachment that kept aircraft and ordnance safely apart. It is not clear to me now so many years later whether it was an American compound or VNAF. It seemed to me the USAF were in charge but it could have been that it was actually VNAF with the Americans as advisors (there was a RSVN flag flying over the compound).The airfield was located on the edge of town and it was only a short walk to "downtown." Although there was another Air Field some five miles to the east called East Field that may have actually been bigger, but I don't think there were any SPs there. Barry McLean's description seems to suggest by the 155 Compound reference that we were both at Camp Coryell. So, my point is the installation where the SPs served should be called Detachment 9 of the 619th Tactical Control Squadron (USAF), located on Camp Coryell (USArmy). There was never a Ban Mê Thuột Air Field [Ban Mê Thuột City Field] and I don't recall anyone referring to Camp Coryell as Ban Mê Thuột Air Field probably in part because of the need to distinguish between the two. There was East Field or City Field (Camp Coryell).

Ken de Russy

Friday, May 5, 2023

 Trận đánh đồn Phước Quả


                                                            

          Chị Tố Lan thân mến,

Đây là anh bạn của tôi kể lại trận đánh đồn Phước Quả. Nếu có thể chị post cho các bạn đọc biết đâu có bạn biết.

Lý Mỹ Hạnh 

                         ************************************ 

Nguyễn Ngọc Thạch 

                        

 Ghi lại để tưởng nhớ đến các chiến hửu thuộc Tiểu đoàn 3/9 Sư đoàn 5 Bộ Binh




Vào năm 1967 Tiểu đoàn được lệnh hành quân lên vùng Phước Long, lúc đó tôi là sĩ quan Ban 3 Tiểu đoàn, chuyên lo về hành quân và huấn luyện. Sau khi đặt chân xuống sân bay Phước Bình, Tiểu đoàn được lệnh di chuyển vào vùng hành quân với nhiệm vụ được giao phó là thực hiện kế hoạch Bình định Xây dựng vùng phía đông quận lỵ Phước Bình qua các xã Phước Sơn, Phước Quả, Phước Lộc và Hiếu Phong. Tiểu đoàn được phối trí như sau: BCH/TĐ + ĐĐCHCV + ĐĐ11 đóng tại đồn Phước Quả, ĐĐ10 đóng tại đồn Phước Lộc cách Phước Quả ba cây số, và ĐĐ9 hoạt động lưu động trong vùng trách nhiệm.

Tỉnh Phước Long nằm về hướng Đông Bắc của Sài Gòn. Đường quốc lộ 13 chạy về phía Bắc sẽ qua Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, Bến Cát rồi tới quận Chơn Thành. Ở đây là ngả ba nếu rẽ về phải thì sẽ đi Đồng Xoài, Phước Bình, Phước Long và từ Đồng Xoài có ngả rẽ để đi Bù Đăng và Ban Mê Thuột. Còn nếu từ ngả ba Chơn Thành chạy thẳng thì sẽ đến An Lộc, Bình Long, Lộc Ninh. Khi đến gần biên giới Việt Miên xã Lộc Tấn, nếu chạy thẳ̉ng thì sẽ qua biên giới và tới thị trấn Snuol của Campuchia, còn ở ngả ba Lộc Tấn rẽ phải thì sẽ đi qua Bù Đóp (Bố Đức), con đường này nằm xong xong và cách biên giới 3 cây số. Đi tiếp tới sẽ đến quận lỵ Phước Bình và quẹo trái sẽ lên tỉnh lỵ Phước Long. Đây là vùng biên giới Việt Miên nằm trong hai tỉnh Bình Long và Phước Long với những đồn điền cao su bạt ngàn, đồn điền Michelin Dầu Tiếng, đồn điền Terre Rouge Hớn Quản, Lộc Ninh, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch, Bồ Com, Văn Hiến v.v...

Phước Long là một tỉnh lỵ mới được thành lập từ thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nằm cách quận lỵ Phước Bình 8 cây số và gần núi Bà Rá. Đây là môt vùng rừng xanh đất đỏ sương lam chướng khí rừng thiêng nước độc, sốt rét rừng, ngày xưa ai mà bị đổi lên Bà Rá tức là coi như bị đày. Theo kinh nghiệm của dân địa phương cho biết là không nên ăn măng le, uống nước suối và ngủ̉̃ trưa, nên ăn nhiều ớt để tránh bệnh sốt rét rừng.  

Tình hình chiến sự tỉnh Phước Long lúc đó rất là căng thẳng, bị áp lực rất nặng vì cách mật khu Bù Gia Mập của VC không xa về phía Đông Bắc núi Bà Rá. Mật khu của VC ở bên kia biên giới Việt Miên rất là an toàn vì quân lực VNCH cũng như Hoa Kỳ không được quyền xâm phạm vào lảnh thổ của Miên. Nhưng trái lại thì quân CSBV lợi dụng thế trung lập thân cộng của Miên và Lào để làm hành lang xâm nhập qua đường mòn Hồ Chí Minh và xây dựng các mật khu an toàn của chúng ở bên kia biên giới. Quân CSBV tập trung ở các mật khu an toàn ở bên kia biên giới, đợi thời cơ thuận tiện để xâm nhập đánh phá, với mục tiêu và thời điểm là hoàn toàn do chúng lựa chọn, quân ta không có quyền gì khác hơn là ra sức chống đở tự vệ mà thôi.

Trong thời gian này chúng tôi đã chứng kiến một sự tàn ác dã man của VC khi chúng tấn công vào làng Dakson của người Thượng, ở phía đông bắc thị xã Phước Long và cách mật khu Bù Gia Mập không xa lắm. Khi Tiểu đoàn chúng tôi đến nơi thì VC đã rút đi để lại một cảnh hết sức đau lòng, VC đã giết sạch, đốt sạch nguyên cả làng sau khi toán nghĩa quân giữ làng bỏ chạy. Nhìn những thân hình mà đa số là đàn bà con trẻ bị đâm bị giết một cách hết sức dã man bị đốt cháy đen nằm trong các đống than hồng còn đang bốc khói làm liên tưởng đến bọn giặc Tàu phương Bắc đã từng đối xử với dân tộc ta trong thời kỳ Bắc thuộc: “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

Ngày 26 tháng 10, 1967 CSBV mở cuộc tấn công đại quy mô vào đồn Phước Quả. Vào khoảng 11 giờ đêm tôi nghe một loạt súng bắn báo động, lập tức tôi nhảy xuống hầm Trung tâm Hành quân để liên lạc với các toán tiền đồn phục kích bên ngoài. Phản ứng của tôi rất là nhanh, chổ tôi nằm trong căn nhà tranh sát cạnh hầm nên tôi phóng nhanh vô hầm. Vừa ngay lúc đó VC bắt đầu pháo kích dử dội, pháo như mưa đều khắp mọi nơi trong đồn. Ngay chổ tôi nằm, ở phía đầu nằm tôi có treo một tấm poncho để che mưa che nắng, sau này nhìn lại tấm poncho rách nát, không còn một chổ nào lớn hơn bàn tay. Trung úy Nhơn, Tiểu đoàn phó, có nuôi một con két nhỏ xíu cũng bị đứt đầu, nếu như tôi chỉ chậm chân chừng vài giây đồng hồ thì chắc đã nát thây. Những người chạy xuống hầm sau tôi đa số đều bị thương, trong số đó có Trung sĩ Võ Đà ban 5 Tiểu đoàn bị thương rất nặng, bị đứt mạch máu ở cổ quị ngay dưới chân tôi, máu phun ra có vòi, y tá đến băng nhưng không cứu kịp vì máu ra quá nhiều, ngồi chết dưới chân tôi. Số người bị thương nằm la liệt trong hầm, trong toán cố vấn Mỹ cũng có người bị thương nặng nằm ở một góc hầm.

Trong lúc đó thì các đại đội trưởng báo cáo tình hình ở các phòng tuyến đang bị tấn công với một hỏa lực rất là mạnh. Tôi gọi báo về Tiểu khu để xin pháo binh yểm trợ, nhưng tình hình ở BCH/Tiểu khu lúc đó cũng đang lúng túng vì đang bị pháo kích. Bởi vì khi địch mở một cuộc tấn công lớn, thường thì nó pháo kích khắp nơi để cho ta không biết đâu là điểm đâu là diện, chổ nào là mục tiêu chính, chổ nào là mục tiêu phụ. Và vì tôi nắm vững tình hình ở đây nên tôi quyết chắc là nó đánh điểm chính là ở đây, đồn Phước Quả. Tôi báo cho Tiểu khu biết rõ tình hình đang nghiêm trọng để tập trung yểm trợ về đây và đồng thời báo về BCH/Trung đoàn 9 ở Chơn Thành biết để theo dỏi.

Có một sự việc đáng nhớ là trước đó chừng một tháng có một Lao công Đào binh bỏ trốn. LCĐB là những quân nhân đào ngủ bị phạt đưa ra chiến trường để làm lao dịch, cho nên Thiếu tá Tôn Văn Lượng, Tiểu đoàn trưởng, liền cho thay đổi ngay kế hoạch phòng thủ. Lúc trước súng đại liên đặt ở các pháo đài góc, sau thay đổi lại đặt vào giửa các cạnh tuyến. Vì vậy khi VC mở các cuộc tấn công biển người vào giửa các cạnh tuyến, liền bị hỏa lực hùng hậu của các khẩu đại liên của ta chận đứng. Một điều đáng nói là vào năm 1967, quân đội ta vẫn còn dùng súng Garant, Carbine, Thompson, Trung liên đầu bạc, Đại liên 30 có từ thời Đệ nhị Thế chiến. Trong khi đó thì phía VC đã có súng AK47, B40, B41, Thượng liên nồi, súng phun lửa rất là tối tân.

Quân ta chống trả quyết liệt, nhưng vì hỏa lực địch quá mạnh nên độ nửa giờ sau thì một pháo đài góc đã bị tràn ngập. Không chần chờ Thiếu tá Lượng liền quyết định tung ra Trung đội Quân báo để tái chiếm lại pháo đài góc đó. Trung đội Quân báo là một lực lượng để bảo vệ BCH và là lực lượng trừ bị duy nhất của Tiểu đoàn, chỉ được sử dụng trong tình huống thật lâm nguy. Sau khi Quân báo đi rồi thì thành phần còn lại trong hầm TTHQ lo bố trí phòng thủ lại cho kỹ, những thùng lựu đạn cho mở nắp sẵn sàng để sử dụng khi địch tới gần và tôi cũng đã gọi pháo binh để chuẩn bị sẵn các loại đạn đầu nổ cao. Nếu trong trường hợp bị địch tràn ngập thì sẽ xin pháo binh bắn đạn nổ cao ngay trên đầu, tiêu diệt địch ở bên ngoài, còn bên ta tất cả ở trong hầm sẽ vô hại. Tuy nhiên đây là một quyết định cuối cùng khi đã lâm vào tình thế tuyệt vọng.

Chừng 10 phút sau Trung đội Quân báo báo cáo là đã chiếm lại được pháo đài góc, chận đứng sự xâm nhập của địch, giữ vững được phòng tuyến. Chúng tôi rất mừng, nhưng với áp lực địch quá mạnh tôi sợ các đợt xung phong kế tiếp sẽ dữ dội hơn nên tôi nói với Cố vấn Mỹ xin phi cơ chiến đấu phản lực lên yểm trợ. Cố vấn Mỹ đi theo Tiểu đoàn thường là họ chỉ lo giúp đở xin phương tiện tản thương hay yểm trợ hỏa lực, họ gọi rất là nhanh qua hệ thống liên lạc tối tân và trực tiếp bên phía Mỹ.

Một lúc sau Đại úy Cố vấn cho biết là máy bay đã cất cánh và yêu cầu ngưng tác xạ các loại súng bắn vòng cầu để máy bay vào vùng. Tôi gọi ngưng các loại súng cối và pháo binh và cho đốt mũi tên lửa lên để cho máy bay thấy. Mũi tên lửa là một tấm ván lớn cắt theo hình mũi tên, trên đó có gắn các lon sửa bò trong nhét vải bố tẩm dầu cặn và quay trên một trục. Khi đốt lửa lên và quay mũi tên chỉ về hướng địch đang tấn công, thì máy bay sẽ thấy rõ vị trí của địch mà đánh. Tôi xin dội bom theo hướng mũi tên và cách xa 500 thước. Sau khi dội trái bom đầu tiên, Đại đội trưởng ở ngoài tuyến báo cáo cho biết là xa quá vì địch quân đang bám sát hàng rào rồi, phải đánh gần lại. Tôi liền yêu cầu gần lại 200 thước và các quả bom sau đã đánh trúng mục tiêu. Sáng ra thấy các bộ phận con người bay văng tung tóe lên nóc nhà trông rất là ghê rợn.            

VC tiếp tục mở thêm nhiều đợt tấn công nữa nhưng không thành công nên đành phải chịu rút lui trước khi trời rạng sáng. Chiếc máy bay trực thăng tản thương đã đáp xuống khi trời còn chưa sáng hẳn. Chúng tôi vô cùng biết ơn và cãm phục những người phi công chiến đấu cũng như phi cơ trực thăng tản thương đã can đãm băng mình trong lửa đạn, trong đêm tối cực kỳ nguy hiểm để cứu nguy cho quân bạn, một điều rất khó khăn và nguy hiểm cho không quân yểm trợ là vị trí đồn Phước Quả nằm gần chân núi Bà Rá.

Sáng ra thu dọn chiến trường địch quân chết quá nhiều trên 200 xác trong và ngoài hàng rào đầy mìn bẩy và tịch thu được một số rất lớn vũ khí tối tân đủ mọi loại như K54, AK47, CKC, B40, thượng liên nồi và đặc biệt là hai cây súng phun lửa với hai bình hơi trông rất là lạ. Có một lính Quân báo chui ra hàng rào để lấy chiến lợi phẩm bị mìn nỗ cụt chân. Và vì không thể nào lấy hết xác để chôn cất được, cho nên sau cùng phải dùng dầu tưới lên để thiêu đốt tất cả.

Sau chiến thắng to lớn này tưởng đâu là sẽ được yên ổn trong một thời gian dài nhưng không ngờ chỉ vài ngày sau là chúng liền mở ngay một trận kế tiếp để phục thù. Đại đội 9 đang hoạt động lưu động bên ngoài giữ nhiệm vụ an ninh lộ trình từ Phước Quả ra Phước Bình. Thì vào lúc 12 giờ trưa bị VC dùng vận động chiến mở cuộc tấn công chớp nhoáng tràn ngập Đại đội 9. Tôi nghe tiếng thều thào trong máy của Lê Sĩ Linh khóa 20 Đà Lạt ĐĐT/ĐĐ9 cho biết là VC đông lắm yêu cầu cho bắn ngay trên đầu, rồi im bặt. Chúng tôi tức tốc điều động lực lượng ra tiếp cứu nhưng vì địch quá mạnh nên báo cáo lên Tiểu khu xin tiếp viện.

Sau đó Khu 32 Chiến thuật liền cho tăng viện Tiểu đoàn 31 Biệt Động Quân do Đại úy Trắng chỉ huy, đổ quân từ nhà thờ Phước Sơn đi xuống. Khi đến cua Phước Quả thì chạm địch rất mạnh, chiếc commando car bị bắn cháy, TĐ31/BĐQ bị áp đão vì địch quân quá đông và vì chiến trận là do họ sắp đặt phục kích sẳn. Vì vậy sau cùng TĐ31/BĐQ phải dạt ra, rút về phía chân núi Bà Rá khi trời tối và tìm đường về đến đồn Phước Quả. Qua ngày hôm sau được tăng viện thêm TĐ36/BĐQ mới giải tỏa xong. Khi ra thu dọn chiến trường, Trung úy Linh đã hy sinh bên hố chiến đấu kiến bu đầy người và bên cạnh đó còn có mâm cơm với ba quả trứng luột còn nguyên chưa kịp ăn. Ngoài ra còn có hai sĩ quan Trung đội trưởng đã anh dũng hy sinh đó là Thiếu úy Sến, khóa 21 Đà Lạt và một Chuẩn úy mà tôi quên tên, là cháu ruột của Đại tá Woong A Sáng, Tư lệnh phó Sư đoàn 5 Bộ Binh lúc đó.

Một tuần sau VC lại mở một cuộc tấn công kế tiếp nhằm vào đồn Phước Lộc do ĐĐ10 trấn giử, Trung úy Trần Hửu Tâm khóa 21 Đà Lạt làm ĐĐT. Tâm mới vừa được thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận. Trước kia Tâm học khóa Biên tập viên Cảnh sát, nhưng sau đó đổi ý, không thích ngành Cảnh sát mà tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia. Đồn Phước Lộc nằm trên ngọn đồi  bên cạnh liên tỉnh lộ Phước Bình – Quảng Đức, cách đồn Phước Quả ba cây số.

Trong đêm đó VC kéo đại lực lượng tới tấn công, Tâm cho biết là địch rất đông, hỏa lực địch rất mạnh, cho nên tôi đã gọi Pháo binh yểm trợ ngay. Sau đó vì địch mở các đợt xung phong quá dử dội cho nên tôi phải nhờ Cố vấn Mỹ gọi chiến đấu cơ lên yểm trợ gấp. Nhờ vào sự yểm trợ vô cùng hửu hiệu của các phi tuần phản lực mà đã chận đứng được các đợt xung phong biển người của địch. Và vì theo lời Tâm yêu cầu cho yểm trợ sát cạnh cho nên có một quả bom rớt quá gần, gây cho bên ta một số bị thương, trong số đó tôi nhớ có Thượng sĩ Hồ Hến Lòng, là một Trung đội trưởng người Nùng rất dày dạn chiến trường, đã bị thương nặng và sau này phải bị giải ngủ.

ĐĐ10 đã chống trả vô cùng anh dũng, giử vững phòng tuyến cho đến sáng buộc địch quân phải rút lui để lại trên 100 xác chết và la liệt súng đạn đủ loại. Sau đó phải dùng xe ủi đất mới thu dọn sạch hết được. Một đặc điểm của đồn Phước Lộc là nằm trên đỉnh đồi cao, phía trước bằng phẳng gần liên tỉnh lộ, còn mặt sau là triền dốc cao rất khó tấn công. Vì vậy hệ thống mìn bẩy cũng như các hỏa tập tiên liệu của súng cối và pháo binh đều tập trung vào mặt trước của đồn. Khi VC tấn công vào phía trước chúng đã bị lọt vào vòng vây hỏa lực rất mạnh của đồn.

Đây là những chiến thắng lẩy lừng của Quân đoàn III, đã ghi lên những chiến tích vẽ vang trong quân sử của QL/VNCH. Và đã có bản nhạc để ca ngợi 72 tay súng oai hùng giử đồn Phước Lộc, cũng như bài ca Phước Quả và trước đó là bài ca Chiến thắng Lộc Ninh của Trung đoàn 9 Sư đoàn 5 Bộ Binh trong trận tái chiếm quận lỵ Lộc Ninh vào năm 1966. Chiến thắng Phước Quả cũng đã được nhắc lại trong quyển "Chiến thắng bị bỏ lở" của giáo sư Stephen Young và trong bộ sách "Một thời nhiễu nhương" của Bạch Hạc Trần Đức Minh ./.

Nguyễn Ngọc Thạch khóa 20 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam


Thursday, May 4, 2023

 BÀI 1: TRẬN MẬU THÂN 1968 TẠI BAN MÊ THUỘT.

- Người giỏi đánh, địch ko biết đâu mà giữ. Người giỏi giữ, địch ko biết đâu mà đánh -- Tôn Tử (thiên Thực Hư). 

Lời nói đầu

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, vì thấy tầm quan trọng chiến lược của tỉnh Darlac, TT Ngô Đình Diệm đã đặt Tòa Đại biểu Chánh phủ Cao nguyên Trung phần tại tỉnh lỵ Ban Mê Thuột để quản lý vùng đất sau này là Vùng 2 Chiến thuật. Về kinh tế, tỉnh có nhiều tài nguyên giá trị như cao su, cà phê, trà, gỗ quí, các cây ăn trái như mít, v.v... vì trồng trên đất ba-zan màu mỡ. (Đây là một loại đá magma phun trào từ núi lửa, được hình thành từ sự làm nguội nhanh của dung nham ba-zan khi tiếp xúc rất gần bề mặt của trái đất).

Trong trận Mậu Thân 1968, nhằm gây tiếng vang về chính trị, CSVN đã cố gắng chiếm giữ thành phố này trong 4 ngày trước khi bị đẩy lui. Nhưng năm 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa, thành phố này đã ko bị tàn phá như Kon Tum hay bị pháo kích như Pleiku--nơi đặt BTL của Quân đoàn 2. Cũng vì vậy mà lực lượng bảo vệ TP này rất yếu, thường chỉ có hai tiểu đoàn thuộc sđ 23 bộ binh, dù nơi đây là hậu cứ của sđ này cũng như của thiết đoàn 8. 

Do đó, thay vì tấn công Pleiku nơi có BTL quân đoàn 2 hay Kontum, năm 1975 CS đã chọn Ban Mê Thuột vì ở đây phòng thủ yếu, chung quanh lại là rừng rậm và địa thế phần lớn khá bằng phẳng, nên đại quân của họ dễ dàng tiến sát mà ko bị phát hiện. Trước đó họ đã cưa các cây lớn trên các đường tiến sát về Ban Mê Thuột, nhưng các cây ko được cưa đứt nên chiến xa chỉ cần đụng nhẹ là đổ ngã. 

Trong khi đó, chung quanh Pleiku hay Kontum ko có nhiều đồi núi và rừng rậm bao la nên đại quân của họ khó tiến sát mà ko bị phát hiện, chưa kể rất nhiều đv lớn của VNCH đang bảo vệ hai tp này. 

Sau đây là chuyển ngữ từ trang 294-298 và từ trang 658-662 của sách Staying The Course Oct 1967 to Sep 1968 của Erik Villard.

. . .

"Không như tướng Chu huy Mân được lịnh tấn công hơn 12 thành phố ở bờ biển của vùng 2 chiến thuật, tướng Hoàng minh Thảo chỉ có 4 mục tiêu lớn ở Mặt Trận B3, cho phép y có thể tập trung lực lượng nhiều hơn Mặt Trận B1 của tướng Mân. Trận tấn công bắt đầu vào đêm 29-30/1/1968, khi Thảo gửi bốn trung đoàn bộ binh, bốn TĐ đặc công, ba TĐ quân địa phương, hai TĐ pháo, và ít nhứt chín đại đội quân địa phương tấn công các tỉnh lỵ của cao nguyên miền Trung gồm tp Kontum, tp Pleiku, và tp Ban Mê Thuột. Y đã ra lịnh cho trung đoàn 66 và 174 của sđ 1 tiếp tục bao vây trại LLĐB Ben Het và căn cứ hỏa lực 25, và tấn công thị trấn Tân Cảnh gần đó để nhằm cắt đứt QL14 giữa Dak To và Kontum.

Tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, Ban Mê Thuột, từ lâu vẫn được xem là chốt để giữ bánh xe vào trục (lincpin), một thành phần rất quan trọng của hệ thống phòng thủ của VNCH tại phía nam cao nguyên trung phần. Một cộng đồng người Thượng và Việt Nam khoảng 67 ngàn người sống ở gần cuối QL14, cách biên giới Cambodge khoảng 40 km. (Đây chỉ là dân số của tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, vì theo bản đồ tỉnh Darlac của VNCH mà tôi có, thì dân số của quận Ban Mê Thuột tính tới tháng 12/1970 là 149.994 người, và dân số của cả tỉnh là 230.475--người dịch). Các đồn điền trà và rừng rậm (scrub forest) che phủ khu vực chung quanh thành phố, trên một địa thế phần lớn bằng phẳng (flat landscape). QL14 đi ngang rìa cuối của thành phố này, theo hướng đông bắc tây nam. Ngay phía bắc tp, QL21 xuất phát từ QL14, chạy về hướng đông ra biển và cuối cùng chấm dứt ở quận lỵ Ninh Hòa.                 

Bản đồ khu vực Ban Mê Thuột, Đức Lập, Kiến Đức, xuống tới Đồng Xoài của quân khu 3.

Tướng Trương Quang Ân, TL của sđ 23 của Nam quân, trách nhiệm bảo vệ tỉnh lỵ này. BTL đặt ở rìa phía nam của tp. TP này cũng có hậu cứ của trung đoàn 45 của sđ này và Thiết đoàn 8 cũng như doanh trại của MACV địa phương. (Nói thêm: MACV là viết tắt tiếng Anh của BTL Yểm trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam, có mặt tại tất cả các tỉnh hay thành phố lớn của VN, nhằm giúp đỡ trong lãnh vực quân sự-- người dịch). 

Doanh trại của MACV tại Ban Mê Thuột và trại Coryell và sân bay trực thăng cùng tên ở phía sau.

Doanh trại của MACV tại Mỹ Tho, cố vấn cho sđ 7 bộ binh VNCH

BCH tiểu khu Khánh Hòa bên trái hình, và doanh trại của MACV, bên phải tại Nha Trang.

Lính của lữ đoàn 2 sđ 9 bộ binh Mỹ đổ bộ lên bờ sông. Các cây trong ảnh có lẽ là cây dừa bị cụt ngọn


Một sân bay có tên
Trại Coryell nằm ở phía đông của tp, nằm ở phía bắc của QL14. Tại đây có đại đội 155 trực thăng tấn công của Mỹ, gồm các gunship và Cobra.  
Các viên chức ở Ban Mê Thuột đã ko nhận bất cứ tin tức tình báo rõ ràng nào về địch có thể tấn công TP nhân dịp Tết. Do đó tướng Ân đã ko rút bất cứ TĐ nào của trung đoàn 45 về giữ tp, và ông đã cho phép 2/3 quân nhân các đv trong tp được đi phép. 
Cuộc tấn công đã bắt 1:30 g sáng ngày 30/1/68 khi bốn TĐ của trung đoàn 33 CSBV, hai TĐ 301 và 401 quân địa phương, và 4 đại đội quân địa phương--tất cả khoảng 3.000 người--tràn vào tp từ hướng nam. 

Tại Ban Mê Thuột, mục tiêu chánh của CS là BTL của tướng Ân, một căn cứ pháo binh ở phía tây của tp, tòa hành chánh tỉnh, và BCH cảnh sát quốc gia của tỉnh. Địch quân chỉ chiếm được tòa hành chánh và BCH cảnh sát, kho bạc (treasury office) và biệt điện của vua Bảo Đại, và đã dùng các nơi này làm nơi xuất phát để tấn công trong suốt trận chiến.

Trong lúc đó, một TĐ của trung đoàn 33 csbv được lịnh chuyển mục tiêu vào đài phát thanh của tp, nằm ở tây nam. Lính ĐPQ bảo vệ đài chỉ cố thủ trong vài giờ trước khi bị tràn ngập. Hỏa lực rất mạnh của địch đã khiến một nhóm lính DSCĐ từ một trung tâm huấn luyện của lính Thượng gần đó không thể kéo về tp. Sau khi chiếm đài, địch đã ra lịnh cư dân phải ra khỏi tp. Sau đó, chúng phá hủy đài và bao vây trung tâm huấn luyện kể trên.

Suốt buổi sáng, xe tăng nhẹ M-41 và thiết vận xa (TVX) M-113 của thiết đoàn 8 đã nhiều lần xuất kích để phản công. Bốn xe đã bị hư hại hay phá hủy bởi súng B-40, B-41, nhưng các kỵ binh Nam VN đã giữ vững tay súng cho tới khi các TĐ 2 và 3 của trung đoàn 45 kéo vào tp khoảng 12 g trưa. Cuộc phản công của Nam quân đã gia tăng sức mạnh vào cuối ngày khi các đại đội 23, 44, 45 và 53 trinh sát và một đại đội ĐPQ kéo vào tp. Khi màn đêm rơi xuống, địch quân chỉ còn kiểm soát vài khu phố quanh kho bạc và biệt điện Bảo Đại.

Chiến trận ác liệt vẫn tiếp tục suốt ngày kế, 31/1/1968, khi kho bạc và biệt điện đã đổi chủ vài lần, với địch quân làm chủ vào buổi tối. Lo âu vì phản công chậm chạp, tướng Ân đã yêu cầu tướng Vĩnh Lộc, TL của QĐ, tăng thêm quân.

TĐ 23 BĐQ đã được trực thăng vận xuống trại Carrol, nơi có sân bay, vào khoảng sau 12 g đêm và tham gia cuộc phản công khi hừng đông. Dù thêm quân, nhưng phản công vẫn chậm chạp. Lính bắn sẻ của địch có vẻ ở mọi nơi, đôi khi xuất hiện ở nơi từng được coi là an toàn. Quân CS có vẻ còn nhiều đạn liên thanh và B-40. Nam quân ít khi dùng vũ khí nặng, do sợ gây thêm thiệt hại ko cần thiết cho tp này. 

Địch quân đã tung lá bài cuối cùng (make a last bid) để lấy lại thế thượng phong vào sáng 2/2/1968, khi tấn công một trại pháo binh nam quân bằng lựu đạn cay và bộ binh. Lúc 3g sáng, một toán địch đã vượt qua hàng rào phòng thủ. Trực thăng Mỹ đã tấn công chúng bằng đại liên M60 dưới ánh sáng của hỏa châu và lửa từ các đám cháy. Địch đã rút lui sau 20 phút.

Cuộc tấn công của địch vào tp đã bắt đầu tan vỡ vào ngày 3/2. Quân của tướng Ân đã tái chiếm đài phát thanh, biệt điện Bảo Đại, và kho bạc. Địch đã bắt đầu phân tán mỏng (filter out) để rút lui. Cán cân quân sự càng cải thiện hơn vào buổi chiều khi TĐ 1/503 của lữ đoàn 173 nhảy dù Mỹ đổ xuống sân bay. Buổi sáng ngày kế, quân dù Mỹ đã lục soát tp trong khi địch rút về phía nam; họ đã tìm thấy một nơi đóng quân của địch với nhiều thiết bị. 

Trận đánh 4-ngày này đã tàn phá rất nhiều tp Ban Mê Thuột, làm hư hay hủy hoại 3.300 căn nhà, và khiến khoảng 20 ngàn, hơn 1/3 dân số, tạm thời ko có chỗ ở. Khoảng 560 dân chết và 800 người bị thương. Nam quân có 74 chết. Địch có khoảng 900 chết hay bị thương nặng".

. . .

============

BÀI 2: TRẬN MẬU THÂN 1968 TẠI PLEIKU.

. . .

"Mục tiêu thứ 2 của tướng Thảo là Pleiku, tỉnh lỵ của tỉnh Pleiku (theo bản đồ của tỉnh này mà tôi có, tính tới tháng 12/1970, dân số của toàn tỉnh là 200.767 người--người dịch). Với dân số khoảng 33 ngàn gồm Thượng và Kinh, tỉnh lỵ Pleiku ở giao điểm của QL14 và 19, và là trung tâm quân sự quan trọng nhứt ở cao nguyên. BTL của QĐ 2 của tướng Vĩnh Lộc đặt tại phía bắc tp, kế cận nhiều doanh trại Việt Mỹ như sân bay mới của Pleiku, căn cứ chánh của liên đoàn 52 pháo binh Mỹ, BCH của liên đoàn 2 BĐQ VNCH, một trung tâm huấn luyện lính Thượng, và một căn cứ của LLĐB Mỹ. Lữ đoàn 3 kỵ binh VNCH đặt ở đông của tp, và kế đó là Trại Holloway, đây là một sân bay lớn có BCH của TĐ 52 không quân Mỹ và bốn đại đội trực thăng tấn công (gồm đại đội 119, 170, 179, và 189). Đơn vị bộ binh Mỹ gần nhứt là Trại Enari, nơi đặt BTL của sđ 4 bộ binh Mỹ.

Quân đồng minh đã nhận nhiều chỉ dấu suốt tháng rằng địch quân sẽ tấn công tp trước Tết. Tuy nhiên, TL của quân đoàn 2, tướng Vĩnh Lộc đã về Sài Gòn. Người trách nhiệm bảo vệ TP Pleiku là thiếu tá Lê Thân, phó tỉnh trưởng nội an, đã coi trọng những cảnh báo này. Ông cho ĐPQ và TĐ 11 BĐQ (mà người hùng trung úy Vương Mộng Long, trong bài "Mậu Thân Hưu Chiến" chỉ huy đại đội 1--người dịch) đặt trong tình trạng báo động, và bố trí chiến xa của thiết đoàn 3 quanh BTL quân đoàn. Cố vấn trưởng của quân đoàn, đại tá John Barnes, cho một chi đội chiến xa của chi đoàn 1/69 thiết kỵ, đang đóng ở trại Holloway làm lực lượng trừ bị. 

90 phút quá nửa đêm của những giờ đầu ngày 30/1/1968, TĐ K31, và trung đoàn 40 pháo, đã nổ súng vào 2 sân bay, căn cứ hỏa lực, và doanh trại BĐQ. Cuộc tấn công của bộ binh đã diển ra 90 phút sau đó khi các đặc công VC thăm dò trung tâm huấn luyện của lính Thượng ở bắc của tp. Chẳng bao lâu cả tp và hai sân bay đã bị tấn công bởi TĐ 408 đặc công, phân nửa của TĐ H15 địa phương, các thành phần của TĐ 407 đặc công, một đại đội của TĐ 28 đặc công, và hơn 100 du kích địa phương. Nhờ đã báo động và chuẩn bị kỹ, ko có nơi nào ở Pleiku lọt vào tay địch. Một số nhỏ đặc công đã cố gắng vào nhà tướng Vĩnh lộc, đã bị lính gác đẩy lui. Thiết đoàn 3 VNCH, giống như lính chữa cháy, đã chứng tỏ đặc biệt xuất sắc khi bẻ gẫy mủi tấn công của địch, dù đã bị tổn thất 3 chiến xa M-41 và hai M-113 trong vài giờ đầu của trận đánh.

Quân đồng minh đã phản công khi trời vừa sáng. Lúc 0715, hai đại đội DSCĐ đã bắt đầu tiến quân từ trung tâm huấn luyện vào trung tâm tp. Cùng lúc, một chi đội (platoon) chiến xa Mỹ từ trại Holloway tới căn cứ pháo binh đông nam của tp để chắc chắn đại bác ko lọt vào tay đối phương. Ba mươi phút sau, TĐ 11 BĐQ đã tiến vào trung tâm tp từ hướng đông trước khi bắt đầu lục soát từng nhà một. Sau đó vào buổi sáng, TĐ 22 BĐQ và BCH của liên đoàn 2 bđq vào tp từ hướng tây để tham gia lục soát trung tâm tp. Khi trời sắp tối, hai đại đội của tđ 4 công binh Mỹ được đổ xuống ở ngoại ô phía nam để ngăn địch rút từ hướng này.

Khi trời tối, phần lớn VC đã rút về góc tây nam, nơi quân đồng minh dàn mỏng. Một số trốn trong những tòa nhà đổ nát để chờ cơ hội trốn thoát, trong khi số khác, bỏ võ khí và mặc đồ dân sự để giả thành dân thường. Do đó đã khiến quân VNCH đã phải lục soát lần nữa các nơi họ đã lục soát.

Quân đồng minh đã tiếp tục siết chặc vòng dây để tìm bắt đặc công csbv và lính vc đến sáng 31/1. Lực lượng của TĐ 4 công binh Mỹ, khi lục soát trường học chánh ở Pleiku đã giết 21 địch. Khi màn đêm rơi xuống, phần lớn địch quân đã rút. Cuộc lục soát kéo dài sang ngày kế, nhưng chỉ bắt được một ít địch quân.

Vào sáng 2/2, tưởng rằng trận chiến kết thúc, quân đồng minh lại phát hiện vài đại đội của TĐ H15 địa phương đang đào công sự ở ngoại ô phía tây tp. Hóa ra chỉ có một phần của TĐ này vào được tp để tham chiến; số còn lại, bao gồm TĐ trưởng vẫn còn ở ngoài.

Sáu trực thăng võ trang Mỹ đã tấn công họ, sau đó là các chiến xa M-41 và M-113 của thiết đoàn 3. Chỉ trong 1g, đơn vị vc này đã bị quét sạch. Tổng kết địch có 606 chết và 156 bị bắt trong đợt 1 của Mậu Thân 1968 tại Pleiku, phe đồng minh chết 28". 

. . . 

======

BÀI 3: TRẬN ĐỨC LẬP THÁNG 8/1968.

Lời mở đầu.

- Người giỏi đánh, kẻ địch ko biết chỗ nào mà giữ; người giỏi giữ, kẻ địch ko biết chỗ nào mà đánh.-- Tôn Tử (thiên Hư Thực).

Trước 1975, Đức Lập là một quận ở tây bắc của tỉnh Quảng Đức của VNCH, có vị trí rất quan trọng về quân sự vì nằm sát biên giới Cambodia và cũng nằm trên các đường tiến sát hướng đông bắc tới Ban Mê Thuột, tỉnh lỵ của tỉnh Darlac--một thủ phủ rất quan trọng về kinh tế và quân sự của VNCH, xem bản đồ của hội địa lý quốc gia Mỹ in tháng 2/1967. Vì nằm trên QL14, Đức Lập cũng là cửa ngõ đi xuống tỉnh Phước Long và Vùng 3 Chiến thuật. 

Sau năm 1973, khi CS đã xây xong phần lớn đường Trường Sơn Đông, nên nếu họ chiếm được quận lỵ Đức Lập, sẽ khai thông QL14 đi về Vùng 3 Chiến thuật, ko cần phải đi trên đường mòn Trường Sơn Tây chạy trên đất Cambodia. QL14 đã có từ thời Pháp bắt đầu từ Chơn Thành, Đồng Xoài, đi về phía bắc qua Đức Phong, Bù Đăng, Kiến Đức, Tuy Đức, Dak Song, Bon Sar Par, Đức Lập, Ban Mê Thuột, Buôn Hô, Pleiku, Kontum, Dak To, Dak Peh, Khâm Đức, Thượng Đức, xem bản đồ. Từ đây có tỉnh lộ 4, chạy dọc sông Vu Gia tới Điện Bàn trên QL1. 


Sau chính biến 1963, do an ninh suy sụp, đoạn đường từ Dak Peh tới Thượng Đức ko thể xử dụng. Sau khi ký HĐ Paris 1973, CS đã sửa chữa đoạn Thượng Đức Dak Peh và nối dài với những hương lộ, có từ thời Pháp, xuất phát từ QL9 ở Quảng Trị để chuyển quân vào nam. 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 658 - 662 của quyển Staying The Course.

. . . 

"Tại quân đoàn (QĐ) 2, cuộc tổng tấn công đợt ba đã bắt đầu ngày 18/8/1968 khi một TĐ của trung đoàn 101D tấn công trại LLĐB Dak Seang ở tây bắc tỉnh Kontum. Các người lính Thượng đã đẩy lui cuộc tấn công, giết chết 35 địch, và bắt sống 11. Ngày kế, pháo của quân CSBV đã nả vào trại ít nhứt 125 viên đạn cối và không giựt. Xa hơn về phía nam, pháo địch đã bắn vào một tiền đồn Mỹ gần Dak To với 21 hỏa tiển. Trận chiến đã lan tràn tới tỉnh Pleiku vào 20/8 khi một TĐ của trung đoàn 24 tấn công một căn cứ hỏa lực (CCHL) của Nam quân, nằm trên QL-14 khoảng 22 km bắc tỉnh lỵ. Quân trú phòng đã đẩy lui cuộc tấn công thiếu phối hợp này, giết 87 địch trong khi chết 9. 

Cuộc tấn công đã lan khắp quân khu (QK) 2 vào đêm 23-24/8 khi cối địch và hỏa tiển đã rơi vào hơn 30 địa điểm, trong đó có An Khê, Bồng Sơn, Phan Thiết, và Phan Rang. Buổi tối 24/8, trung đoàn 66 của sđ 1 và TĐ 20 đặc công và vài đơn vị (ĐV) vũ khí nặng đã tấn công Đức Lập, một làng nhỏ ở phía tây Quảng Đức, cách biên giới Cambodia khoảng 7km. Trung đoàn 320 của sđ này lập một nút chặn trên QL14, ở đông bắc Đức Lập để ngăn viện quân từ Ban Mê Thuột. Trung đoàn 95C vẫn ở gần biên giới Cambodia với BTL của sđ và các đv hỗ trợ. 


Bản đồ trận tấn công vào trại LLĐB Đức Lập từ 24-25/8/1968. Đường đỏ đứt đoạn là phòng tuyến của địch. Khu vực có sọc đỏ do địch kiểm soát. Nguồn: từ sách Staying The Course.

Ở khoảng 5km đông nam của ấp lớn nhứt của làng Đức Lập là trại LLĐB Dak Sak (có cao độ 722 m, tên trên bản đồ là Yok R'Looung -- theo bản đồ), được bảo vệ bởi hai đại đội Mike Force, một toán LLĐB của Nam Việt Nam, toán A-239 của LLĐB Mỹ, và vài cố vấn Úc.
                                 

 (Nói thêm: Theo quyển Green Berets at War, trại này được lập tháng 11 1966 gần địa điểm cũ của Bon Sar Par, đã bị đóng cửa sau vụ nổi loạn của FULRO. Trại Đức Lập nằm trên 2 ngọn đồi gồm một đồi nhỏ ở phía bắc và đồi lớn ở phía nam, nhìn xuống một cao nguyên rộng rãi, phì nhiêu cách biên giới 9 dặm, và vị trí chiến lược này bao phủ những đường tiến sát đông bắc tới Ban Mê Thuột. Những người lính DSCĐ gốc Rhade và Mnong này sống với gia đình của họ trong những hầm trú ẩn và hang ở sườn đồi, ngay dưới giao thông hào. Có 2 đại đội DSCĐ ở đồi bắc nhưng ko có các cố vấn LLĐB Mỹ và VN chỉ huy).
QL14 đã tách đôi khu vực này, một hướng chạy về tây nam tới biên giới và một hướng về đông bắc tới Ban Mê Thuột. Bên trong ấp lớn này của làng là BCH của chi khu Đức Lập-một doanh trại không lớn hơn một sân đá banh, bảo vệ bởi khoảng 6 cố vấn LLĐB Mỹ và một đại đội ĐPQ. (Theo sách đã dẫn, BCH chi khu cách trại Đức Lập 4 dặm-người dịch). Một đại đội ĐPQ khác giữ tiền đồn Bon Sar Par, cách trại 3 km về phía tây nam trên một ngọn đồi nhìn xuống QL14. 

Cuộc tấn công đã bắt đầu vào sáng sớm ngày 24/8 khi 2 tiểu đội của TĐ 20 đặc công đã len lỏi vào BCH chi khu Đức Lập sau khi cắt vài lớp kẻm gai phòng thủ mà lính gác ko biết. Họ đã tấn công doanh trại (compound) và bắt đầu ném các túi chất nổ, trong khi một đại đội bộ binh csbv ở bên ngoài hàng rào bắn yễm trợ. Một túi chất nổ đã làm sập một phần nơi ở của cố vấn Mỹ, làm 5 cố vấn bị thương khi đang ngủ. Khi họ phóng ra ngoài để tập hợp lính Thượng, hỏa lực mạnh của địch đã giết chết một cố vấn và đẩy lui họ. 

Các cố vấn của chi khu đã gọi trại Dak Sak cứu viện, nhưng ở đây cũng bị tấn công. Quân csbv đã xuyên qua hàng rào và chiếm một phần đồi bắc của trại Dak Sak. Tuy nhiên, trại Dak Sak đã hứa sẽ gửi một đại đội Mike Force giúp chi khu khi trời sáng. Trong khi đó, một máy bay Hỏa Long AC-47 đã tới để khống chế các vị trí cối và liên thanh của địch nằm ngoài tầm bắn của quân phòng thủ.

Tại BTL của sđ 23 VNCH tại Ban Mê Thuột, tướng Ân đã gặp tướng Peers, TL của lực lượng 1 dã chiến và tướng Stone, tư lịnh của sđ 4 bộ binh để thảo luận việc cứu viện Đức Lập và an ninh cho tỉnh lỵ. (Nói thêm, 14 tháng sau, tướng Peers thăng trung tướng, chỉ huy 50 ngàn quân Mỹ thuộc lực lượng 1 dã chiến, trong đó có các đv như sđ 1 không kỵ, sđ 101 nhảy dù và lữ đoàn 173 nhảy dù -- người dịch). Để bảo vệ Ban Mê Thuột, Peers đã ra lịnh cho tướng Allen, chỉ huy của lữ đoàn 173 dù, không vận TĐ 4/503 nhảy dù từ Tuy Hòa lên Ban Mê Thuột để tham gia lực lượng đặc nhiệm SPOILER vừa mới thành lập. Chỉ huy bởi đại tá McChrystal, lực lượng này gồm lữ đoàn 2 của sđ 4 bộ binh, chi đoàn 1/10 thiết kỵ, hai chi đội của chi đoàn 7/17 không kỵ, và bảy pháo đội. Tướng Ân đã rút một TĐ của trung đoàn 47 từ Phú Yên về Ban Mê Thuột. Quân đội Nam Hàn sẵn sàng tham chiến nếu tình hình đòi hỏi.

Để cứu Đức Lập, tướng Ân đã gửi hai TĐ của trung đoàn 45 thuộc sđ 23 đang bảo vệ QL-14 và 21 gần Ban Mê Thuột. Tướng Stone đã ra lịnh cho chi đoàn 1/10 thiết kỵ bảo vệ các quốc lộ này trong lúc 2 đv trên vắng mặt. Tướng Ân cũng xin phép quân đoàn để dùng vài đại đội Mike Force từ vùng duyên hải. Họ và 2 TĐ trên đây sẽ được yểm trợ trực tiếp từ pháo binh 105-ly của lữ đoàn 2 sđ 4 bộ binh. Sau khi lập CCHL mới ở 3km tây nam trại Dak Sak, đại tá McChrystal đã lập lực lượng đặc nhiệm LANCE gồm pháo đội A của TĐ 4/42 pháo binh, và hai trung đội của TĐ 2/35 bộ binh. Để yễm trợ cho Đức Lập, Peers cũng xin 5 phi xuất B-52, ném bom những đồi chung quanh vào cuối ngày đó.

Vào buổi sáng 24/8, trực thăng Mỹ đã bốc một đại đội Mike Force vào Đức Lập, đổ họ xuống bên ngoài hàng rào của đồi nam hay đồi chánh của trại Dak Sak. Vừa đánh vừa tiến tới Dak Sak, những đv người Thượng này đã tấn công ngọn đồi nhỏ hơn mà địch quân chiếm giữ ở phía bắc trại Dak Sak. Cuộc tấn công thất bại với thiệt hại nặng. Trực thăng Mỹ đã cố gắng đáp xuống sân bay, xem hình, để tải thương hàng chục lính Thượng, nhưng súng của quân csbv trên đồi đã bắn rơi bốn chiếc, làm trì hoản cuộc hành quân.

Tình hình ở Đức Lập đã bắt đầu cải thiện vào chiều khi trực thăng đổ TĐ 2/45 bộ binh VNCH, vào một bãi đáp gần BCH chi khu trong làng Đức Lập. Dù 2 chiếc bị bắn rơi, nhưng cả TĐ đã xuống đất trước khi trời tối. Vào khoảng nhá nhem tối, trực thăng đã đổ 2 đại đội Mike Force vào một khu rừng thưa 3 km nam của trại LLĐB này, làm an ninh cho địa điểm mà lực lượng đặc nhiệm LANCE sẽ tới ngày kế. 

Ngày 25/8 đã chứng tỏ là bước ngoặt của trận Đức Lập. Bắc quân đã tiếp tục tấn công chi khu Đức Lập, mà quân số chỉ còn 61 so với 118 lúc ban đầu, nhưng quân phòng thủ chi khu đã cố thủ tới khi TĐ 2/45 tới. TĐ này sau đó đã tấn công về phía bắc nơi bắc quân còn cố thủ và đẩy lui họ hoàn toàn ra khỏi làng Đức Lập. 

Tình hình ngày hôm đó tại trại Dak Sak bấp bên hơn. Quân csbv chiếm hoàn toàn ngọn đồi nhỏ phía bắc của trại, khiến quân phòng thủ gồm ba đại đội Mike Force đã cạn kiệt quân số và võ khí với cố vấn Mỹ, Việt và Úc -- phải rút tới ngọn đồi thứ hai, lớn hơn ở phía nam trại, nơi có BCH chánh và phần lớn nhà ở của cố vấn.

Viện quân đã tới kịp thời. Sau khi pháo đội của lực lượng đặc nhiệm LANCE được triển khai ở bãi đáp chỉ định ở 3km phía nam của Dak Sak (nơi mà hai đại đội Mike Force đã đổ xuống vào đêm trước), quân Mike Force đã bắt đầu tiến về phía bắc để tới trại Dak Sak khoảng 1g trưa 25/8. Lính Thượng đã phá vở cuộc tấn công của csbv khi đánh vào cạnh sườn lúc địch quân vượt phi đạo để tiến về đồi nam. Sau khi đẩy lui địch về đồi bắc, hai đại đội này, phối hợp với một đại đội vừa đến từ Pleiku, chờ phi pháo dọn bãi trước khi xung phong lên đỉnh đồi. Bắc quân đã bắn gục hàng chục lính Thượng, giết 3 cố vấn LLĐB Mỹ, nhưng thành phần còn lại của Mike Force đã chiếm được đỉnh đồi. Lúc 7g tối, trại Dak Sak đã được tái chiếm.

Cường độ của trận đánh đã giảm trong ngày 26/8. TĐ 2/45 của nam quân đã tiếp tục đánh nhau với địch quân trên những ngọn đồi ở phía bắc, sát với BCH chi khu, nhưng trung đoàn 66 csbv đã ko còn tiếp tục vây hãm trại LLĐB Dak Sak. Vào ngày 27/8, cuộc khủng hoảng tại khu vực Đức Lập có vẻ đã qua. Tướng Ân đã đưa thêm TĐ 1/45 vào vùng, nhưng quân chánh phủ đã tìm thấy rất ít dấu vết của sđ 1 csbv trong những ngày sau đó.

Tổn thất của liên quân Việt Mỹ ở trận Đức Lập là 114 chết và 238 bị thương. Có bảy cố vấn Mỹ chết. Lực lượng 1 Dã Chiến đã ước lượng hơn 700 lính csbv đã chết, phần lớn do phi pháo. Sau này các TL Việt-Mỹ đã biết rằng sđ 1 csbv đã chấm dứt trận đánh trước dự tính do tân binh mới bổ sung thiếu kinh nghiệm, thiếu lương thực, bịnh tật gia tăng do mùa mưa, cũng như khan hiếm vũ khí đạn dược. 

Các TL Mỹ đã khen ngợi thành tích chiến đấu của Nam quân tại Đức Lập. Tướng Peers đã đặc biệt khen ngợi TĐ 1 và 2 của trung đoàn 45 đã "chứng tỏ tính chuyên nghiệp và một tinh thần chiến đấu ko thua bất cứ đơn vị nào trong lịch sử chiến tranh VN." Tướng Abrams, TL quân đội Mỹ tại VN đã gọi thành tích của Nam quân  "tuyệt vời" và rằng tướng Ân đã chỉ huy (handle) trận Đức Lập "với tài năng tuyệt vời" (consummate skill). Bất hạnh thay, một tai nạn máy bay đã cướp đi cuộc sống của ông và phu nhân vào ngày 8/9/1968. Ông đã được truy thăng thiếu tướng và trao tặng huy chương cao quý nhứt của QLVNCH."

. . . 

San Jose ngày 4 tháng 5 2023.

Tài Trần