Saturday, October 31, 2020

 


Đại tá Nguyễn Hữu Thông

~  Lê Bá Hùng sưu tầm  ~


(có nhấn mạnh vài chổ bằng dấu gạch ở dưới


hay đổi màu)


*****

image001


Đại Tá Nguyễn-hữu-Thông

 (1937 – 1975)

“Trước mối hiểm nguy sẽ bị địch tràn ngập, Quân Khu II đã bắt buộc phải ra lệnh cho Sư đoàn 22 Bộ binh, đơn vị duy nhất vẫn còn giữ được khả năng chiến đấu, phải tránh đối đầu địch hầu rút về Qui Nhơn. Trong ngày 30 tháng 3, Trung đoàn 41 và 42 chiếu theo lệnh, rút bỏ Bình Khê. Vị chỉ huy của Trung đoàn 42 là Đại tá Nguyễn Hữu Thông,  đã quá ư là phẫn uất; ông đã năn nỉ vị sư đoàn trưởng đừng rút . . . Nhưng lúc đó thì cũng đã quá trể rồi. Khi hai trung đoàn về tới Qui Nhơn vào lúc đêm đã xuống thì tức khắc đã bị các lực lượng địch, mà đã chuẩn bị kiên cố xong rồi ngay trong thành phố,  chận đánh. Lúc đó thì đa số dân cư cùng lực lượng phòng thủ thì cũng đã bỏ trốn chạy đi mất rồi. Bến tàu thì cũng đã bị chúng chiếm đóng; cũng như là đa số các tòa cao ốc. Qui Nhơn đang thật sự nằm dưới quyền kiểm soát của Sư đoàn 3 Bắc cộng. Sau hai ngày chiến đấu thì hai Trung đoàn 41 và 42, với hải pháo hổ trợ, đã giải tỏa được một bãi để di tản ở hướng  Nam của thành phố và cùng nhau tụ tập lại tại một bãi biển cách hải cảng bốn dặm Anh. Lúc 2 giờ khuya ngày 1 tháng 4 thì ba tàu hải quân đã đón được lên tàu các quân nhân còn lại của Sư đoàn 22. Vị Chỉ huy của Trung đoàn 42 đã khước từ di tản và quyết định tự tử”.


theo


Đại Tướng CAO VĂN VIÊN, trong Sụp Đổ Tan Hàng Vào Lúc Cuối (The Final Collapse), https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/dai-tuong-vien-viet-ve-lan-tan-hang-cuoi-cung-2/


 *****

image016

1/

http://www.k16vbqgvn.org/butky-NguyenHuuThong.htm


ĐẠI TÁ THÔNG K16

Lê Đình Thọ K28



REPORT THIS AD


Thưa Quý Niên trưởng và Quý Bạn,


image005


Nhân dịp ngày 2 tháng 4, một số cựu Quân nhân của một đơn vị QLVNCH, đã làm lễ giỗ một cấp chỉ huy của họ. Cấp chỉ huy ấy là Trung đoàn trưởng từng là SVSQ trường VBQGVN.


Thưa Quý vị,


Trong văn hoá Việt Nam chúng ta, hằng năm đến ngày cúng giỗ Ông Bà, Cha Mẹ là bổn phận con cháu phải làm theo truyền thống hiếu nghĩa của dân tộc.  Đó là chuyện tất nhiên ở bất cứ gia đình Việt Nam nào còn giữ được tinh thần lễ giáo. Trừ trường hợp đặc biệt là những vị Anh hùng dân tộc từ các đời vua nước Việt. Những vị đã có công bảo vệ biên cương mà được ghi vào những trang sử oai hùng và mặc nhiên đuợc toàn dân Việt ghi nhận không nói làm gì. Ở đây, những thuộc cấp, những người lính còn sống ở trong nước, họ tổ chức lập bàn thờ, thờ cúng vị Trung Đoàn Trưởng của họ như thờ cúng Cha Mẹ vậy. Đó là điều đáng nói.



REPORT THIS AD


image007


Hằng năm ở trong nước họ vẫn quy tụ lại làm lễ giỗ; còn ở tại San Jose thì một số cựu Quân nhân từng là thuộc cấp của vị trung Đoàn trưởng ấy ngồi lại với nhau cũng bày biện thức ăn, hoa quả, hương đèn để tưởng nhớ về một Trung Đoàn trưởng. Đó là Cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông K16 VBQG, Trung Đoàn trưởng Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 BB, QLVNCH.


Theo lời kể của một ĐĐT trinh sát; những ngày cuối tháng 3 năm 1975, SĐ 22 BB rút về Qui nhơn. Trên đường lui binh Trung đoàn 42 vừa lui, vừa đánh giạt, hay tiêu diệt gọn nhiều đơn vị quân Bắc Việt suốt dọc đường QL19 khi ra khỏi Pleiku di chuyển về đồng bằng, qua khỏi sông Côn thuộc Quận Bình Khê, tỉnh Bình định.



REPORT THIS AD


Sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 42 về gần đến Qui nhơn thi phân làm hai ngả để tiến vào thành phố.


Một ngả là cải lộ tuyến (gọi là xa lộ Quang Trung) cũng từ trục QL19 tách theo hướng tây nam giữa 2 triền núi, đi vào phía nghĩa trang khu 6 rồi chạy về trung tâm thành phố hay ra biển Qui nhơn.

Một ngả vào là trục lộ 19 có Cầu đôi đi vào thành phố theo hướng đông bắc. Ngay gần Cầu đôi, có một tháp Chàm quen gọi là Tháp đôi nhìn ra đầm Thị Nại, biển Qui nhơn, Cộng quân đã xâm nhập từ ven biển thuộc lãnh thổ quận Tuy phước và đã chiếm giữ điểm cao này nhằm khống chế Thành phố Qui nhơn, nhưng lập tức đám giặc Cộng này bị một đơn vị Trung đoàn 42 tiêu diệt.


image009


Trung đoàn 42 đi vào Qui nhơn và ra biển để chờ lên tàu Hải Quân VNCH đang neo tại đây để di chuyển vào Nam. Trong khi hầu hết ba Tiểu đoàn đã lên tàu thì còn một tiểu đoàn khác đang giao tranh đì đùng với Cộng quân ở khu vực nghiã trang hướng tây nam của Thành phố chạy dài xuống hướng trường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật nằm trên đường Nguyễn Huệ, sát biển.

Tuy đã lên tàu HQ, Đại tá Thông vẫn cố gắng liên lạc những Tiểu đoàn thuộc quyền.

Một Tiểu đoàn bị mất liên lạc!

Trong khi đại liên vẫn nổ dòn giã cùng những tiếng M79 nghe rất gần, đã khiến ĐT Thông không thể nào yên tâm đứng trên tàu mà bỏ đi, trong khi chiến hữu của ông còn đang anh dũng chiến đấu với giặc Cộng. Vì quá nóng lòng, ông đã nhảy xuống tàu và bơi trở lại bờ cát, biển Qui Nhơn. Trên khoảng cách từ tàu Hải quân đến bãi biển cũng hơi xa,một phần vì mất ngủ thiếu sức, vì nhiều ngày đêm rút quân từ Tây nguyên về Qui nhơn vừa đánh vừa rút; nên bơi không được nhanh. Khi Đại tá Thông bơi đến gần đến bãi cát thì ông bị pháo giặc. Một số chiến hữu của ông còn trú ẩn trên bờ biển gần đó nhào ra cứu ông nhưng ông cũng đã tắt thở trong cảnh xô bồ của dân chúng đang hỗn loạn.

Những binh sĩ dưới quyền của Đại tá Thông khóc ông như khóc người anh ruột của mình!

Sinh thời còn là Trung Đoàn trưởng Trung đòan 42, Đại tá Thông luôn luôn sống gần gũi, sát với chiến hữu thuộc cấp. Đại tá Thông lo chu đáo cho đời sống của từng người lính và gia đình. Ông đi sát từng tiểu đội để lo về sức khoẻ cho họ. Hỏi về các tiêu chuẩn quân trang, quân dụng như giày trận, poncho. Ai đã lãnh ai, chưa đuợc lãnh? Ai đã đi phép, ai chưa có phép? Lương hướng của từng chiến binh lãnh ra chi tiêu bao nhiêu, còn gởi về cho vợ con được bao nhiêu? Ông buộc lính phải tiêu hạn chế, và gởi lương về cho vợ con từng tháng trông chờ.

Có lẽ đây là một cách an dân của cấp chỉ huy để người lính thuộc quyền yên tâm mà đánh giặc. Có lẽ vì cách sống có nghĩa có tình với thuộc cấp của ông đã khiến những người lính suốt đời thương mến ông.

Sau nhiều năm từ khi mất nước, 1975, lòng thương mến ấy đã khiến lính và thuộc cấp, dù ở trong nước hay lưu lạc tại San Jose này, hàng năm họ ngồi lại với nhau cúng giỗ và tưởng nhớ Đại tá Nguyễn Hữu Thông như một người anh, hay như cha mẹ.

Sự thương mến kính trọng thể hiện việc thờ phượng, cúng giỗ hàng năm như một bổn phận này của những người chiễn hữu thuộc quyền đối với cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông, cựu SVSQ K16 trường VBQG, quả là hiếm.


image011

Đây chỉ là tình cờ được ăn giỗ và nghe thuật lại về cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông. Chắc có thể không được khách quan. Nếu Quý Niên trưởng nào từng chiến đâu dưới quyền Cố Đại tá Thông thấy những chi tiết kể thiếu khách quan về trường họp cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông nên điều chỉnh. Riêng tôi nhìn thấy lòng mến mộ của lính đối với Đại tá Nguyễn Hữu Thông như thế này thì suy nghĩ rằng, Ông quả là người lãnh đạo chỉ huy giỏi và đạo đức nên mới được một kết quả tốt để an ủi Anh Linh của ông.

Lê Đình Thọ K28

*****

2/

https://www.facebook.com/CONGHOATHOIBAO/posts/1713813218857166


Cộng Hòa Thời Báo


April 3, 2016


Đại-tá Nguyễn Hữu Thông được an táng dưới cột cờ Trung Đoàn Trưởng 42 BB – SĐ 22 BB

Tự sát 31-3-1975 tại Quy Nhơn.Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

QUY NHƠN – Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.


Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42/SÐ 22BB, tự sát vào cuối tháng 3, 1975 bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.


Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Ðức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.


Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.


Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện.


Thấy tình cảnh y chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Ðại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.


Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Ðại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Ðại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.


Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Ðồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.


Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Ðầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Ðại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.


Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.


Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.


Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại.


Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm VC càng căm thù Bác Sĩ Trứ.


Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học….


Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng.


Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.


Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Ðại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Ðại Tá Thông.


Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Ðại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.


Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.


*****

3/

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-235_4-5904_15-2/


Anh-hùng, tướng thần Nguyễn-hữu-Thông

 (1937 – 1975)

Thần Việt Điện_Thập Bát Đại Thần Tướng Việt Nam


image014 


Điện Thần Việt tôn thờ chư tướng thần,


Sinh ra là Tướng chết đi thành thần,


Thế, Đông, Ân, Thanh, Đạt, Vinh, Thà, Phúc, Tùng, Thông, Hiếu, Long, Phú, Vỹ, Hai, Hưng, Nam, Cẩn,


Ngàn năm sau ghi nhớ gương anh hào.


***


Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính

(trích Thần Việt Điện tức Tân U Linh Việt Điện)


10/ Anh-hùng, tướng thần Nguyễn-hữu-Thông (1937 – 1975)

 


Anh-hùng Nguyễn-Hữu-Thông nguyên Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 Sư đoàn 22 Bộ binh QLVNCH.


Ông sinh năm 1937, xuất thân khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.


Trong cuộc rút quân của Trung đoàn 42, SĐ 22 BB, thành công đưa gần trọn vẹn Trung Đoàn 42 BB lên tàu của Hải quân VNCH ở Qui Nhơn. Chỉ huy trưởng cuộc rút quân ở Qui-Nhơn kiêm Tư lịnh Vùng 2 Duyên Hải, tư lịnh mặt trận Qui-Nhơn là Phó đề đốc Hoàng-cơ-Minh.


Tuẫn-quốc ngày 02-04-1975 trên bờ biển Qui-Nhơn thuộc Vùng 2 Duyên Hải.


Lúc còn sống, là một vị chỉ huy xuất sắc, tài đức vẹn toàn được toàn thể binh sĩ thuộc quyền kính trọng thương yêu.


Tài đức vẹn toàn, phong độ chỉ huy xuất sắc, ông được tôn xưng là vị tướng thần thứ mười trong mười tám vị tướng thần lớn của Việt-Nam thời cận đại.


Trúc-Lâm Nguyễn-việt phúc-Lộc


*****

TIN VỀ HUYỆT MỘ 47 TỬ SĨ TRONG Quân Y Viện QUI NHƠN – Liên quan đến anh hùng Nguyễn Hữu Thông – ĐIỆN ĐÀM VỚI BÀ Đại Tá Nguyễn Hữu Thông.


Tôi (Lý trung Tín) vừa điệm đàm với Chị Phùng Thị Ngọc Hiếu, phu nhân của cố Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, chị cho biết: sau ngày 30.04.1975, rất nhiều nguồn tin về Đại Tá Thông, nhưng hoàn toàn không có tin về việc Đại Tá Thông được chôn cất trong QYV Qui Nhơn, Chị Thông đã ra tận Qui Nhơn hỏi thăm tin tức và không ai biết gì cả, sau đó Chị đã cho con vượt biển tìm tự do, đến năm 1990, Chị đoàn tụ với các con tại Hoa Kỳ. Chị có 5 mặt con với Đại Tá Thông, 4 trai, 1 gái, cả 5 cháu đều thành đạt trên đất Mỹ. Đại Tá Thông xuất thân khóa 16 VBQGVN, là một SQ tác chiến nổi tiếng tại Vùng 2. Cá nhân tôi cũng có những liên hệ với các đàn anh khoá 16 Đà Lạt, “ông thầy“ Nguyễn Duy Sự (Nam Cali) là Đại Đội Trưởng của tôi trong Trường SQTĐ, anh Nguyễn Minh Chánh (Nam Cali), đương kim Tổng Hội Trưởng BĐQ, và Anh Vi Kim Sinh (Floria) là anh rể tôi. Chị nói với tôi, Anh Chị lấy nhau tại Quảng Trị, họ hàng nhà chồng đông lắm, hơn nữa đời chiến binh, nay đây mai đó nên không còn nhớ BS Nguyễn Công Trứ nữa, và Chị cũng không biết bà con với anh Thông như thế nào? Tôi thuật lại lời BS Trứ: „Mẹ ĐT Thông là Chị của Ba BS Trứ (ANH EM Cô Cậu), Chị Thông sẽ liên lạc ngay với BS Trứ để có những dữ kiện chính xác về ĐT Thông cũng như HUYỆT MỘ trong QYV Qui Nhơn.


Ước nguyện cuối cùng của Chị Thông là, cải táng Anh và thiêu, rồi đem tro cốt về Mỹ vì con cháu anh Nguyễn Hữu Thông sống tại Hoa Kỳ.


Tôi cũng cho chị hay, anh Dương Công An, đang sống tại Đức, là một trong 20 Anh Em Quân Nhân phụ với BS Trứ đào huyệt chôn cất 47 tử sĩ, trong đó có thi hài Đại Tá Thông, Trung Đoàn Trưởng TĐ 42, SĐ 22BB, thà chết chứ không để rơi vào tay quân thù.


Tôi làm công việc này như là một nén nhang đốt lên để tưởng niệm đến 47 chiến hữu của tôi đã nằm xuống, may mắn được đồng đội chôn cất nhưng từ hơn 35 năm nay, không một nén nhang, không một lời cầu nguyện, ngày nay chúng tôi đã tìm được thân nhân của „Đại Bàng“ các Anh, hy vọng trong những ngày tới, các Anh sẽ được về với thân nhân, gia đình…


 


Germany, 30 tháng 12 năm 2010


Chủ Nhiệm Tạp Chí Dân Văn,


Lý Trung Tín


(Quân nhân QL/VNCH)


 image016


*****

 


 


 


 


 


 


Quảng cáo



==========================

Đại tá Nguyễn Hữu Thông

~  Lê Bá Hùng sưu tầm  ~

(có nhấn mạnh vài chổ bằng dấu gạch ở dưới

hay đổi màu)

*****

image001

Đại Tá Nguyễn-hữu-Thông

 (1937 – 1975)

“Trước mối hiểm nguy sẽ bị địch tràn ngập, Quân Khu II đã bắt buộc phải ra lệnh cho Sư đoàn 22 Bộ binh, đơn vị duy nhất vẫn còn giữ được khả năng chiến đấu, phải tránh đối đầu địch hầu rút về Qui Nhơn. Trong ngày 30 tháng 3, Trung đoàn 41 và 42 chiếu theo lệnh, rút bỏ Bình Khê. Vị chỉ huy của Trung đoàn 42 là Đại tá Nguyễn Hữu Thông,  đã quá ư là phẫn uất; ông đã năn nỉ vị sư đoàn trưởng đừng rút . . . Nhưng lúc đó thì cũng đã quá trể rồi. Khi hai trung đoàn về tới Qui Nhơn vào lúc đêm đã xuống thì tức khắc đã bị các lực lượng địch, mà đã chuẩn bị kiên cố xong rồi ngay trong thành phố,  chận đánh. Lúc đó thì đa số dân cư cùng lực lượng phòng thủ thì cũng đã bỏ trốn chạy đi mất rồi. Bến tàu thì cũng đã bị chúng chiếm đóng; cũng như là đa số các tòa cao ốc. Qui Nhơn đang thật sự nằm dưới quyền kiểm soát của Sư đoàn 3 Bắc cộng. Sau hai ngày chiến đấu thì hai Trung đoàn 41 và 42, với hải pháo hổ trợ, đã giải tỏa được một bãi để di tản ở hướng  Nam của thành phố và cùng nhau tụ tập lại tại một bãi biển cách hải cảng bốn dặm Anh. Lúc 2 giờ khuya ngày 1 tháng 4 thì ba tàu hải quân đã đón được lên tàu các quân nhân còn lại của Sư đoàn 22. Vị Chỉ huy của Trung đoàn 42 đã khước từ di tản và quyết định tự tử”.

REPORT THIS AD

theo

Đại Tướng CAO VĂN VIÊN, trong Sụp Đổ Tan Hàng Vào Lúc Cuối (The Final Collapse), https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/dai-tuong-vien-viet-ve-lan-tan-hang-cuoi-cung-2/

 *****

image016

1/

http://www.k16vbqgvn.org/butky-NguyenHuuThong.htm

ĐẠI TÁ THÔNG K16

Lê Đình Thọ K28

REPORT THIS AD

Thưa Quý Niên trưởng và Quý Bạn,

image005

Nhân dịp ngày 2 tháng 4, một số cựu Quân nhân của một đơn vị QLVNCH, đã làm lễ giỗ một cấp chỉ huy của họ. Cấp chỉ huy ấy là Trung đoàn trưởng từng là SVSQ trường VBQGVN.

Thưa Quý vị,

Trong văn hoá Việt Nam chúng ta, hằng năm đến ngày cúng giỗ Ông Bà, Cha Mẹ là bổn phận con cháu phải làm theo truyền thống hiếu nghĩa của dân tộc.  Đó là chuyện tất nhiên ở bất cứ gia đình Việt Nam nào còn giữ được tinh thần lễ giáo. Trừ trường hợp đặc biệt là những vị Anh hùng dân tộc từ các đời vua nước Việt. Những vị đã có công bảo vệ biên cương mà được ghi vào những trang sử oai hùng và mặc nhiên đuợc toàn dân Việt ghi nhận không nói làm gì. Ở đây, những thuộc cấp, những người lính còn sống ở trong nước, họ tổ chức lập bàn thờ, thờ cúng vị Trung Đoàn Trưởng của họ như thờ cúng Cha Mẹ vậy. Đó là điều đáng nói.

REPORT THIS AD

image007

Hằng năm ở trong nước họ vẫn quy tụ lại làm lễ giỗ; còn ở tại San Jose thì một số cựu Quân nhân từng là thuộc cấp của vị trung Đoàn trưởng ấy ngồi lại với nhau cũng bày biện thức ăn, hoa quả, hương đèn để tưởng nhớ về một Trung Đoàn trưởng. Đó là Cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông K16 VBQG, Trung Đoàn trưởng Trung đoàn 42, Sư đoàn 22 BB, QLVNCH.

Theo lời kể của một ĐĐT trinh sát; những ngày cuối tháng 3 năm 1975, SĐ 22 BB rút về Qui nhơn. Trên đường lui binh Trung đoàn 42 vừa lui, vừa đánh giạt, hay tiêu diệt gọn nhiều đơn vị quân Bắc Việt suốt dọc đường QL19 khi ra khỏi Pleiku di chuyển về đồng bằng, qua khỏi sông Côn thuộc Quận Bình Khê, tỉnh Bình định.

REPORT THIS AD

Sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975, Trung đoàn 42 về gần đến Qui nhơn thi phân làm hai ngả để tiến vào thành phố.

Một ngả là cải lộ tuyến (gọi là xa lộ Quang Trung) cũng từ trục QL19 tách theo hướng tây nam giữa 2 triền núi, đi vào phía nghĩa trang khu 6 rồi chạy về trung tâm thành phố hay ra biển Qui nhơn.

Một ngả vào là trục lộ 19 có Cầu đôi đi vào thành phố theo hướng đông bắc. Ngay gần Cầu đôi, có một tháp Chàm quen gọi là Tháp đôi nhìn ra đầm Thị Nại, biển Qui nhơn, Cộng quân đã xâm nhập từ ven biển thuộc lãnh thổ quận Tuy phước và đã chiếm giữ điểm cao này nhằm khống chế Thành phố Qui nhơn, nhưng lập tức đám giặc Cộng này bị một đơn vị Trung đoàn 42 tiêu diệt.

image009

REPORT THIS AD

Trung đoàn 42 đi vào Qui nhơn và ra biển để chờ lên tàu Hải Quân VNCH đang neo tại đây để di chuyển vào Nam. Trong khi hầu hết ba Tiểu đoàn đã lên tàu thì còn một tiểu đoàn khác đang giao tranh đì đùng với Cộng quân ở khu vực nghiã trang hướng tây nam của Thành phố chạy dài xuống hướng trường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật nằm trên đường Nguyễn Huệ, sát biển.

Tuy đã lên tàu HQ, Đại tá Thông vẫn cố gắng liên lạc những Tiểu đoàn thuộc quyền.

Một Tiểu đoàn bị mất liên lạc!

Trong khi đại liên vẫn nổ dòn giã cùng những tiếng M79 nghe rất gần, đã khiến ĐT Thông không thể nào yên tâm đứng trên tàu mà bỏ đi, trong khi chiến hữu của ông còn đang anh dũng chiến đấu với giặc Cộng. Vì quá nóng lòng, ông đã nhảy xuống tàu và bơi trở lại bờ cát, biển Qui Nhơn. Trên khoảng cách từ tàu Hải quân đến bãi biển cũng hơi xa,một phần vì mất ngủ thiếu sức, vì nhiều ngày đêm rút quân từ Tây nguyên về Qui nhơn vừa đánh vừa rút; nên bơi không được nhanh. Khi Đại tá Thông bơi đến gần đến bãi cát thì ông bị pháo giặc. Một số chiến hữu của ông còn trú ẩn trên bờ biển gần đó nhào ra cứu ông nhưng ông cũng đã tắt thở trong cảnh xô bồ của dân chúng đang hỗn loạn.

REPORT THIS AD

Những binh sĩ dưới quyền của Đại tá Thông khóc ông như khóc người anh ruột của mình!

Sinh thời còn là Trung Đoàn trưởng Trung đòan 42, Đại tá Thông luôn luôn sống gần gũi, sát với chiến hữu thuộc cấp. Đại tá Thông lo chu đáo cho đời sống của từng người lính và gia đình. Ông đi sát từng tiểu đội để lo về sức khoẻ cho họ. Hỏi về các tiêu chuẩn quân trang, quân dụng như giày trận, poncho. Ai đã lãnh ai, chưa đuợc lãnh? Ai đã đi phép, ai chưa có phép? Lương hướng của từng chiến binh lãnh ra chi tiêu bao nhiêu, còn gởi về cho vợ con được bao nhiêu? Ông buộc lính phải tiêu hạn chế, và gởi lương về cho vợ con từng tháng trông chờ.

Có lẽ đây là một cách an dân của cấp chỉ huy để người lính thuộc quyền yên tâm mà đánh giặc. Có lẽ vì cách sống có nghĩa có tình với thuộc cấp của ông đã khiến những người lính suốt đời thương mến ông.

Sau nhiều năm từ khi mất nước, 1975, lòng thương mến ấy đã khiến lính và thuộc cấp, dù ở trong nước hay lưu lạc tại San Jose này, hàng năm họ ngồi lại với nhau cúng giỗ và tưởng nhớ Đại tá Nguyễn Hữu Thông như một người anh, hay như cha mẹ.

Sự thương mến kính trọng thể hiện việc thờ phượng, cúng giỗ hàng năm như một bổn phận này của những người chiễn hữu thuộc quyền đối với cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông, cựu SVSQ K16 trường VBQG, quả là hiếm.

REPORT THIS AD

image011

Đây chỉ là tình cờ được ăn giỗ và nghe thuật lại về cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông. Chắc có thể không được khách quan. Nếu Quý Niên trưởng nào từng chiến đâu dưới quyền Cố Đại tá Thông thấy những chi tiết kể thiếu khách quan về trường họp cố Đại tá Nguyễn Hữu Thông nên điều chỉnh. Riêng tôi nhìn thấy lòng mến mộ của lính đối với Đại tá Nguyễn Hữu Thông như thế này thì suy nghĩ rằng, Ông quả là người lãnh đạo chỉ huy giỏi và đạo đức nên mới được một kết quả tốt để an ủi Anh Linh của ông.

Lê Đình Thọ K28

*****

2/

https://www.facebook.com/CONGHOATHOIBAO/posts/1713813218857166

REPORT THIS AD

Cộng Hòa Thời Báo

April 3, 2016

  • Đại-tá Nguyễn Hữu Thông được an táng dưới cột cờ Trung Đoàn Trưởng 42 BB – SĐ 22 BB
  • Tự sát 31-3-1975 tại Quy Nhơn.Thêm một mộ tập thể 47 tử sĩ VNCH những ngày cuối cuộc chiến.

QUY NHƠN – Trong những ngày cuối của cuộc chiến, có một vị đại tá trung đoàn trưởng đã không chịu xuống tàu chạy loạn mà chịu ở lại với lính, và dùng súng tự sát. Xác ông được chôn trong một ngôi mộ tập thể khổng lồ, dưới chân cột cờ bên ngoài Quân Y Viện Quy Nhơn, trong đó có 47 thi hài tử sĩ. Câu chuyện này được một hạ sĩ quan pháo binh kể lại, đồng thời gợi lại ký ức đau buồn nơi một vị bác sĩ hiện đang hành nghề ở New York.

Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42/SÐ 22BB, tự sát vào cuối tháng 3, 1975 bị chôn trong nấm mộ tập thể tại Quy Nhơn.

Vào đầu năm 1975, anh Dương Công An nguyên là một hạ sĩ quan Pháo Binh thuộc tiểu đoàn 223 Pháo Binh, nay anh đang sống tại Ðức. Anh An cho biết, vào những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1975, đơn vị của anh bị tan hàng trên bờ biển Quy Nhơn, anh và một số anh em binh sĩ khác đã lẩn trốn nhiều ngày trong Quân Y Viện Quy Nhơn.

REPORT THIS AD

Ở đấy, khi đó chỉ còn có một bác sĩ duy nhất, là Trung Úy Nguyễn Công Trứ. Ông Trứ hiện là bác sĩ quang tuyến tại một trường đại học ở New York. Khi tin về nấm mộ tập thể tại Quân Y Viện Quy Nhơn được tôi đưa lên net, nhiều người đã điện thoại cho Bác Sĩ Trứ. Những cú điện thoại này nhắc nhở cho ông quá nhiều chuyện kinh hoàng trong quá khứ, khiến ông nhiều đêm mất ngủ.

Sau nhiều lần gọi và nhắn trong máy là chúng tôi sẽ gọi lại, Bác Sĩ Trứ mới bốc máy. Ông kể, vào những ngày sau cùng, một buổi sáng ông được tiếp Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 đi trực thăng đến thăm Quân Y Viện.

Thấy tình cảnh y chỉ còn một bác sĩ và hằng trăm thương binh trong tình trạng thiếu ăn, thiếu thuốc, cũng như nhiều thương binh chết chưa được chôn cất, Ðại Tá Thông đã khóc trước mặt Bác Sĩ Trứ.

Và chỉ một ngày sau đó, Quân Y Viện tiếp nhận một tử thi nữa, và đó chính là tử thi Ðại Tá Thông. Binh sĩ đưa xác ông tới, và cho biết ông đã tự sát. Nhiều nguồn tin sau này cho biết, Ðại Tá Thông đã từ chối xuống tàu vì binh sĩ dưới quyền ông còn kẹt lại quá nhiều, không di tản được.

Khi đó, tại quân y viện này, có cả hàng trăm bệnh nhân cho một mình Bác Sĩ Trứ. Ðồng thời cũng có rất nhiều binh sĩ tử trận được mang về nằm từ trong nhà xác và rải rác ra khắp hành lang. Các thi hài tại nhà xác QYV đã bốc mùi, và chó đã vào nhà xác ăn, gặm các tử thi này, nên Bác Sĩ Trứ đã nhờ khoảng 20 anh em quân nhân còn sức khỏe phụ với Bác Sĩ Trứ đào một huyệt mộ rất lớn dưới cột cờ, gần khu quân xa của Quân Y Viện.

REPORT THIS AD

Ở đây gần biển các nên việc đào đất tương đối dễ dàng. Ðầu tiên là những tử sĩ đã được khâm liệm trong quan tài có phủ quốc kỳ được sắp xuống trước, tiếp theo là những người chết nằm trên băng ca được đặt lên trên những quan tài, cứ thế mà sắp xếp. Tất cả là 47 thi hài tử sĩ, trong số này có Ðại Tá Thông, là cấp chỉ huy trực tiếp của anh An.

Lúc bấy giờ Saigòn chưa thất thủ, ngay cả sinh mạng của anh em binh sĩ bại trận cũng không biết sẽ ra sao nên sự việc chôn cất anh em tử sĩ lúc đó chỉ được thực hiện rất sơ sài hầu như là lén lút và vội vàng. Sau đó vài ngày tất cả bị bắt làm tù binh.

Anh An cho biết câu chuyện đã đeo đuổi theo anh suốt bao nhiêu năm nay, tâm nguyện của anh là ước sao, có ai đó, có khả năng để cải táng được ngôi mộ tập thể này, đó cũng là dịp mà mình an ủi được phần nào linh hồn của những tử sĩ này, nhưng những hy vọng càng ngày càng bị thu nhỏ lại, vì qua tin tức báo chí đất đai ở Việt Nam đã bị lạm dụng xây cất bừa bãi, hay khu đất này thuộc phạm vi của bộ đội Cộng Sản thì không thể làm gì được.

Khi VC vào Quy Nhơn, họ bắt Bác Sĩ Trứ. Nhưng ông không chỉ bị bắt làm tù binh, mà còn bị buộc tội làm việc cho CIA vì mọi người đi hết sao chỉ còn một mình Bác Sĩ Trứ ở lại.

ADVERTISEMENT
REPORT THIS AD

Trong Quân Y Viện lúc ấy, có một lính Việt Cộng bị thương được một đơn vị đem gởi điều trị, nhưng lại bị khóa tay vào thành giường, Bác Sĩ Trứ không có chìa khóa mở còng nên nhóm VC càng căm thù Bác Sĩ Trứ.

Ông bị tù 4 năm 11 tháng, ra tù ông vượt biển đến Mỹ từ năm 1981, lúc còn độc thân, hiện nay đã có ba con theo học đại học….

Trong những ngày qua, có nhiều điện thoại hỏi đến ông về câu chuyện cũ gần 36 năm về trước khiến cho ông có nhiều đêm bị mất ngủ vì những cơn ác mộng.

Bác Sĩ Nguyễn Công Trứ nói rằng ông đã làm theo lương tâm và với tình đồng đội, đã chôn 47 tử sĩ dưới chân cột cờ của Quân Y Viện. Ông đã nhiều lần về lại Quy Nhơn, qua lại trước khu Quân Y Viện cũ, ngày nay đã là doanh trại của bộ đội Cộng Sản, mà không thể làm gì hơn.

Tin về ngôi mộ tập thể cũng đến tai bà quả phụ cố Ðại Tá Thông, nhũ danh Phùng Ngọc Hiếu. Liên lạc được qua điện thoại hôm Thứ Năm, bà cho biết mấy ngày hôm nay, nhiều bạn bè đã chuyển cho bà về tin tức ngôi mộ tại Quân Y Viện Quy Nhơn, cũng là nơi yên nghỉ của Ðại Tá Thông.

Từ 35 năm nay, bà cũng nghe nhiều tin tức về chồng và bà cũng có nghe tin ông tự sát. Bà cũng đã về Quy Nhơn tìm kiếm nhưng không có tin tức, và không biết xác ông được chôn cất ở đâu. Bà kể, trước khi mất liên lạc, Ðại Tá Thông có liên lạc với vợ và than phiền rằng trung đoàn của ông đang chiến thắng, vì sao lại có lệnh rút bỏ Pleiku.

Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông sinh năm 1937, nguyên quán tại Thạch Hãn, Quảng Trị, tốt nghiệp khóa 16 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ông được vinh thăng đại tá năm 1972. Hiện nay bà quả phụ cố Ðại Tá Nguyễn Hữu Thông cư ngụ tại Sacramento và ông bà có 5 người con đã thành đạt.

*****

3/

http://www.quansuvn.info/D_1-2_2-235_4-5904_15-2/

Anh-hùng, tướng thần Nguyễn-hữu-Thông

 (1937 – 1975)

Thần Việt Điện_Thập Bát Đại Thần Tướng Việt Nam

image014 

Điện Thần Việt tôn thờ chư tướng thần,

Sinh ra là Tướng chết đi thành thần,

Thế, Đông, Ân, Thanh, Đạt, Vinh, Thà, Phúc, Tùng, Thông, Hiếu, Long, Phú, Vỹ, Hai, Hưng, Nam, Cẩn,

Ngàn năm sau ghi nhớ gương anh hào.

***

Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính
(trích Thần Việt Điện tức Tân U Linh Việt Điện)

10/ Anh-hùng, tướng thần Nguyễn-hữu-Thông (1937 – 1975)

 

Anh-hùng Nguyễn-Hữu-Thông nguyên Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 Sư đoàn 22 Bộ binh QLVNCH.

Ông sinh năm 1937, xuất thân khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Trong cuộc rút quân của Trung đoàn 42, SĐ 22 BB, thành công đưa gần trọn vẹn Trung Đoàn 42 BB lên tàu của Hải quân VNCH ở Qui Nhơn. Chỉ huy trưởng cuộc rút quân ở Qui-Nhơn kiêm Tư lịnh Vùng 2 Duyên Hải, tư lịnh mặt trận Qui-Nhơn là Phó đề đốc Hoàng-cơ-Minh.

Tuẫn-quốc ngày 02-04-1975 trên bờ biển Qui-Nhơn thuộc Vùng 2 Duyên Hải.

Lúc còn sống, là một vị chỉ huy xuất sắc, tài đức vẹn toàn được toàn thể binh sĩ thuộc quyền kính trọng thương yêu.

Tài đức vẹn toàn, phong độ chỉ huy xuất sắc, ông được tôn xưng là vị tướng thần thứ mười trong mười tám vị tướng thần lớn của Việt-Nam thời cận đại.

Trúc-Lâm Nguyễn-việt phúc-Lộc

*****

TIN VỀ HUYỆT MỘ 47 TỬ SĨ TRONG Quân Y Viện QUI NHƠN – Liên quan đến anh hùng Nguyễn Hữu Thông – ĐIỆN ĐÀM VỚI BÀ Đại Tá Nguyễn Hữu Thông.

Tôi (Lý trung Tín) vừa điệm đàm với Chị Phùng Thị Ngọc Hiếu, phu nhân của cố Đại Tá Nguyễn Hữu Thông, chị cho biết: sau ngày 30.04.1975, rất nhiều nguồn tin về Đại Tá Thông, nhưng hoàn toàn không có tin về việc Đại Tá Thông được chôn cất trong QYV Qui Nhơn, Chị Thông đã ra tận Qui Nhơn hỏi thăm tin tức và không ai biết gì cả, sau đó Chị đã cho con vượt biển tìm tự do, đến năm 1990, Chị đoàn tụ với các con tại Hoa Kỳ. Chị có 5 mặt con với Đại Tá Thông, 4 trai, 1 gái, cả 5 cháu đều thành đạt trên đất Mỹ. Đại Tá Thông xuất thân khóa 16 VBQGVN, là một SQ tác chiến nổi tiếng tại Vùng 2. Cá nhân tôi cũng có những liên hệ với các đàn anh khoá 16 Đà Lạt, “ông thầy“ Nguyễn Duy Sự (Nam Cali) là Đại Đội Trưởng của tôi trong Trường SQTĐ, anh Nguyễn Minh Chánh (Nam Cali), đương kim Tổng Hội Trưởng BĐQ, và Anh Vi Kim Sinh (Floria) là anh rể tôi. Chị nói với tôi, Anh Chị lấy nhau tại Quảng Trị, họ hàng nhà chồng đông lắm, hơn nữa đời chiến binh, nay đây mai đó nên không còn nhớ BS Nguyễn Công Trứ nữa, và Chị cũng không biết bà con với anh Thông như thế nào? Tôi thuật lại lời BS Trứ: „Mẹ ĐT Thông là Chị của Ba BS Trứ (ANH EM Cô Cậu), Chị Thông sẽ liên lạc ngay với BS Trứ để có những dữ kiện chính xác về ĐT Thông cũng như HUYỆT MỘ trong QYV Qui Nhơn.

REPORT THIS AD

Ước nguyện cuối cùng của Chị Thông là, cải táng Anh và thiêu, rồi đem tro cốt về Mỹ vì con cháu anh Nguyễn Hữu Thông sống tại Hoa Kỳ.

Tôi cũng cho chị hay, anh Dương Công An, đang sống tại Đức, là một trong 20 Anh Em Quân Nhân phụ với BS Trứ đào huyệt chôn cất 47 tử sĩ, trong đó có thi hài Đại Tá Thông, Trung Đoàn Trưởng TĐ 42, SĐ 22BB, thà chết chứ không để rơi vào tay quân thù.

Tôi làm công việc này như là một nén nhang đốt lên để tưởng niệm đến 47 chiến hữu của tôi đã nằm xuống, may mắn được đồng đội chôn cất nhưng từ hơn 35 năm nay, không một nén nhang, không một lời cầu nguyện, ngày nay chúng tôi đã tìm được thân nhân của „Đại Bàng“ các Anh, hy vọng trong những ngày tới, các Anh sẽ được về với thân nhân, gia đình…

 

Germany, 30 tháng 12 năm 2010

Chủ Nhiệm Tạp Chí Dân Văn,

Lý Trung Tín

(Quân nhân QL/VNCH)

 image016

*****

 

 

 

REPORT THIS AD

 

 

 

Quảng cáo
REPORT THIS AD

 NƯỚC MẤT THÌ NHÀ TAN

Biệt thự 6-8 đường Đỗ thành Nhơn quận 4 của gia đình tôi.

Chuyện tôi đi lính, cầm súng, đánh nhau với VC, thua trận phải đi tù là chuyện thường. Cái đáng nói là những chính sách ĐỘC ÁC mà VC đã áp dụng đối với những ai giàu có hay tiểu thương dù họ ko dính líu đến chế độ cũ.
Tôi xin đưa vài VD.
1/ Sau 30.4.75, là một trong những hảng thầu (construction firm) rất lớn ở VN, toàn bộ các kho bãi và máy móc cơ giới (máy trộn hồ, cần cẩu, v.v...) của ba tôi đều bị tịch thu hay xung công. Nhờ có chuyên môn về XD nên ông được cử làm PGĐ về kỹ thuật của xí nghiệp xây lắp 5 (hình như trước 75 của thầu khoán Trần qưới Thiên), đường Ngô Đức Kế. Trong khi đó, ba tôi liên miên bị điều tra về tài sản của mình dù đã hiến hết. Theo chú Cầu, một kế toán dưới quyền, ba tôi định tự tử vài lần vì ko chịu nỗi sự o ép của chúng.
Khi quản lý các ngân hàng, đặc biệt NH Việt nam Thương Tín, chúng thấy ba tôi mượn tiền của NH (nghĩa là tiền mà ba tôi mượn của chế độ cũ để làm ăn), chúng bắt ba tôi phải trả! Trong khi tiền ba tôi gửi NH thì bị phong tỏa, ko cho rút ra. Thế là ba tôi phải bán ngôi nhà đang ở (3 tầng, bề ngang bằng 3 căn phố), vừa là văn phòng của hảng thầu cũ của ba tôi ở đường Đỗ thành Nhơn Q4. Vì ba tôi hiến 2 biệt thự (có hồ bơi) ở làng ĐH Thủ Đức (do KTS Ngô viết Thụ nhượng lại) và một số hảng xưởng khác nên chính quyền mới đã cho ba tôi chọn nhà để ở: 1 tại đường Nguyễn Huệ và 1 tại đường Yersin gần CA quận 1. Vì nghĩ rằng ko còn buôn bán như trước nên ba tôi chọn nhà Yersin: đây là nhà 2 tầng, tầng lầu có trải thảm, có toilet trên tầng lầu, chủ cũ người Hoa đã vượt biên (ko rõ đã tới bến tự do hay làm mồi cho cá).
Ba tôi cho biết, đã dự định năm 1975 sẽ lập hảng hàng không, cạnh tranh với Air Vietnam vì có sẵn vốn, và quen biết rộng rải nên dễ vay vốn làm ăn. (Ngoài hảng thầu XD, ba tôi còn hùn hạp làm thụ thác hàng hải (stevedore), làm đại lý cho hảng K-Line, có phần hùn ở Trung Nam NH - văn phòng đặt tại rạp Cathay cũ).
Những chuyện trên đây là do ba tôi kể lại vì từ 15/6/75, tôi đã đi tù đến đầu năm 1981 mới về .
2/ Ông Trần Ngọc Trình, đàn anh của ba tôi, chủ của building Phước Lộc Thọ-8 từng đường Hai Bà Trưng và là TGĐ của cty Nhà Tiền chế Cty (Nhatico). Ông bị tịch thu tài sản, được cấp 1 phòng ở lầu 8. Trong thời gian ổng đi tù, vợ ông nhảy từ lầu 8 tự tử.
3/ Ông Nguyễn đình Nhơn, cũng là thầu khoán , năm 75 vừa khách sạn sang trọng nhứt Vũng Tàu:10 tầng, tầng trệt là nhà hàng, tầng 2 làm vũ trường, 8 tầng còn lại là phòng ngủ có phone riêng, tủ lạnh, TV cho mỗi phòng. Sau 75, VC vẫn để ổng làm chủ KS nhưng sau đó cho ng mang lựu đạn vào thuê phòng, sau đó chúng kiểm tra hộ khẩu, cho ông đi tù 6 tháng , giam chung với đĩ điếm trộm cắp về tội "chứa chấp phản động, âm mưu chống phá nhà nước , v.v..." và tịch thu KS. Sau này, nhờ có con du học ở Canada trước 75 nên ông định cư ở đây.
Hình 1, hảng sữa Foremost do hảng thầu của ba tôi xây ở Thủ đức; hình 2, ba tôi có xây vài tòa nhà ở cư xá Thanh Đa.



Friday, October 30, 2020

 

RAU TẬP TÀNG Ở KON BRAIH YU



Nguyên Ngọc: Khi nồi canh tập tàng vừa sôi trên bếp thì bỗng xuất hiện một người với chiếc gùi lớn đứng choáng cả khung cửa: vị chủ nhà, Bok Tơ.
Thoạt đầu tôi không đoán nổi tại sao lại có người Bana Alakông ở vùng này, thuộc huyện Kon Rẫy (đúng ra là Kon Braih) của tỉnh Kontum. Kon Rẫy chủ yếu chỉ có người Xơ Đăng; đi xa hơn chút nữa về hướng đông, quá đèo Mang Đen, xuống sát Kon Plong, thì có thể gặp người Ca Dong, cũng là một nhánh Xơ Đăng. Vậy mà làng Kon Braih Yu cách huyện lỵ Kon Rẫy chỉ vài cây số đúng là một làng Bana Alakông không thể nhầm, nghe giọng nói nhận ra được ngay. Người Bana Alakông chỉ có thể tìm thấy ở mạn An Khê nay thuộc tỉnh Gia Lai, cách nơi này ngót trăm cây số và những dãy núi cao ngất.  
Bỏ xe lại ở gần huyện vì trời mưa đường lầy, qua một cầu treo nhỏ đong đưa, thì đến nhà rông của làng, gặp già làng Bok Deh, và thắc mắc liền được giải tỏa. Các già làng là lịch sử sống của làng. Bok Deh kể: Đây là chuyện tôi được nghe cha của cha tôi truyền lại, còn cha của cha tôi thì được nghe từ cha của cha ông. Thời ấy còn chiến tranh bộ lạc, liên miên; đúng ra thì không phải chiến tranh bộ lạc, không phải các bộ lạc đánh nhau đâu, mà các làng đánh nhau, để bắt tù binh bán sang Lào, sang Xiêm làm nô lệ. Làng nào yếu thì thua, hoặc bị sáp nhập vào làng kia hoặc bỏ chạy. Làng này đã chạy từ An Khê lên đây, tương truyền do một người đàn bà tên là Ya Braih dẫn đầu, đến trốn trong một thung lũng ngày ấy còn rất kín đáo tên là Đak Yu. Làng mang tên Kon Braih Yu từ đó. Kon có nghĩa là người, Braih là tên người đàn bà thủ lĩnh nọ, Đak có nghĩa là nước, là con suối. Con suối các anh chị vừa qua cầu treo chính là suối nước Yu…
Vậy đó, Tây Nguyên, dường như chỉ cần ngồi nhích qua một chút, thay đổi góc nhìn vài độ, lập tức có thể bất ngờ rơi ngược vào một quá khứ hằng mấy trăm năm, huyền ảo mà hiển hiện đâu đó sau đôi mắt chưa mờ của vị già làng đang ngồi trước mặt ta kia. Đúng ra già làng Bok Deh cũng chưa thật già lắm đâu, chưa có chút vẻ gì là người của một thời đã qua ít nhiều huyền thoại ở Tây Nguyên vốn là cái chất còn rất gần. Hỏi kỹ thì đúng vậy: ông từng là cán bộ xã rồi huyện, thậm chí đã đi bộ đội đánh nhau ở Cămpuchia, về hưu thì làm già làng. Tôi hỏi ông: Làng mình ở đây là làng mới phải không? Dời ra đây từ bao giờ? Ông hỏi lại: Sao anh biết? Rồi ông cười: Thôi, không cần hỏi nữa, anh đã nhận ra ngay chúng tôi là người Bana Alakông tức anh sống trên này đã lâu lắm. Anh tinh đấy. Đây đúng là làng mới…
Thật ra không khó phân biệt một làng mới bị dời và được lập lại, gọi là tái định cư: có một sự ngăn nắp chỉn chu mà giả tạo thế nào đó khiến một cái làng Tây Nguyên mới không còn thật là làng Tây Nguyên. Tôi bỗng nhớ một chương rất hay trong một tác phẩm viết về các bộ lạc Nam Mỹ của Claude Lévi-Strauss. Làng của người Nambikwara bao giờ cũng được bố trí theo hình vòng tròn, có một đường kính vô hình chia làng làm đôi, không nhìn thấy nhưng lại hết sức hiển hiện đối với người bản địa. Trai gái ở nửa làng bên này chỉ được lấy vợ lấy chồng thuộc nửa làng bên kia… Các nhà truyền giáo châu Âu đến, chỉ cần làm mỗi một việc: họ xây những làng mới tái định cư cho người Nambikwara, không còn theo hình vòng tròn nữa mà thành hai hàng song song. Lập tức văn hóa Nambikwara bị phá vỡ tan tành, và rồi dân tộc Nambikwara chẳng bao lâu cũng biến mất luôn… Tôi cứ ước gì những người đang làm công tác tái định cư ở Tây Nguyên - và cả ở những nơi khác nữa - chịu khó đọc Lévi-Strauss đôi chút, cuốn sách ấy của ông đã được dịch và in ở Việt Nam rồi, nó tên là Nhiệt đới buồn. Sẽ có thể hiểu vì sao Strauss bảo Nhiệt đới là buồn! Việt Nam mình, Tây Nguyên mình cũng nhiệt đới mà...
Tôi hỏi Bok Deh: Bây giờ mình muốn đi vô thăm lại chỗ làng cũ được không? Ông già phân vân một chút, nhìn sâu vào mắt tôi, rồi bảo: Cũng được chớ. Mà cũng chẳng còn gì trong đó đâu, chỉ có mấy cái chòi rẫy của bà con… Nhưng anh còn leo dốc được không? Trời mưa, đường dốc trơn, nhiều vắt đấy… Vào đấy thì thấy gì mà vào cho nhọc. Ở ngoài này hay hơn chứ, ngoài này chúng tôi đang chuẩn bị trồng cao su, đã quy hoạch cả rồi. Cả vùng này sẽ tràn cao su. – Mình muốn vào thăm bà con thôi mà, mình có biết Bok Tơ, gặp lâu rồi, Bok Tơ bây giờ vẫn ở trong ấy phải không? Mình đi thăm được chớ? – Được thôi, tùy anh, giọng Bok Dek chợt hơi trầm xuống…
Quả đường khá dốc, lắm đoạn trèo đến bở hơi tai, lại lầy lội, mưa lớn nên một con suối nhỏ cũng đã thành lũ dữ, và vắt thì tất nhiên rồi, nhiều vô kể. Hơn 2 tiếng đồng hồ. Rừng mỗi lúc một dày hơn. Đã bớt cái cằn cỗi của núi non bị bóc trụi. Đã mát mắt, và dịu lòng nữa, đôi chút vì màu xanh đậm đà của rừng già… Tưởng chừng dốc cứ lên bất tận. Và đột ngột trong một khoảng rừng thưa hiện lên căn nhà đầu tiên, đứng một mình bên một con suối nhỏ. Chừng năm phút sau, ba căn nhà khác. Bok Deh đã không nói đúng: không phải chòi rẫy. Người Tây Nguyên vẫn có tục: mùa lao động, vào làng bao giờ cũng rất vắng, chỉ gặp được đôi người già và trẻ con. Người lớn đều ở ngoài rẫy, rẫy thường xa làng nên trong suốt mùa lao động người ta sống ở đấy, trong những chiếc chòi cất tạm, để đỡ phải đi lại. Mấy ngôi nhà chúng tôi gặp lúc này đây hoàn toàn không phải là chòi rẫy. Người có đôi chút kinh nghiệm sống ở Tây Nguyên có thể nhận ra ngay: những ngôi nhà này nghèo nhưng rõ ràng là nhà ở trong làng, kín đáo và tươm tất; và rải rác đây đó vẫn còn dấu vết một số cây ăn quả, đặc biệt một số bụi ớt hiểm và cà đắng rất đặc trưng của các làng Tây Nguyên. Đây chính là ngôi làng Kon Braih Yu cũ, đã bị bỏ đi để tái định cư ở làng mới ngăn nắp ngoài kia nơi chúng tôi vừa gặp Bok Deh. Để làm gì? Bok Deh đã tiết lộ một chút rồi: để chuyển cả vùng này sang trồng cao su. Những ngôi nhà còn sót lại giữa rừng sâu này là của những gia đình chưa hay không chịu đi. Họ còn trụ lại. Với rừng. Níu lấy rừng.
Chúng tôi vào một nhà có người. Nhà Bok Tơ. Đã xế chiều nhưng trời đột ngột dứt mưa và như thường vẫn vậy trên núi cao, chợt có nắng, nắng xế làm ửng lên vàng óng vạt rẫy hình tam giác lúa đã chín ở sườn núi bên kia; còn ở trong nhà này thì nắng cũng vàng như sơn mài đan qua các liếp tre giúp chúng tôi nhận ra được một bếp lửa đang âm ỉ khói và trong góc nhà bốn đứa bé xúm xít vào nhau, ngơ ngác nhưng không hề sợ sệt, mở to mắt nhìn chúng tôi. Đứa lớn nhất chừng năm tuổi, đứa bé nhất chắc chưa lên một. Tôi hiểu: ở trên này, năm tuổi thì đã là người lớn. Bố mẹ đi vắng suốt ngày, chắc làm rẫy xa, có thể đến năm bảy cây số, chăm lo cho các em, đảm đang mọi việc trong nhà, kể cả việc đối ngoại, giữ vai trò người chủ thật sự của gia đình chính là cậu bé năm tuổi đó. Cậu chững chạc bước ra chào chúng tôi, chỉ cho chúng tôi chỗ xếp tạm đồ đạc, rồi rất thản thiên trở lại tiếp tục cuộc chơi với các em. Chúng chơi trò oẳn tù tì, chắc là suốt từ sáng đến giờ, không chán, chốc chốc lại cười ré lên. Đứa nào mệt thì lăn ra ngủ một lúc, tỉnh dậy lại chơi, đói thì tự tìm đến bếp, đã có sẵn cơm nguội, rau, đôi chút thịt rừng ở đấy. Thỉnh thoảng cậu bé năm tuổi có việc bỏ chạy đi đâu đó một lúc, sẽ thấy ngay cậu em sát nó, chắc chỉ đến ba hay bốn tuổi, liền thay vai trò của anh, điều khiển cuộc chơi và chăm cho các em. Nó trở thành người chủ, đàng hoàng chẳng hề kém anh…
Khoảng năm giờ chiều chúng tôi chuẩn bị nấu ăn. Vừa thấy chúng tôi soạn gạo và các thức ăn mang theo sẵn, cậu bé năm tuổi lập tức đứng dậy, chạy đi lấy cái nồi lớn, mấy cái soong nhỏ, chén bát, khệ nệ mang xuống rửa ở vòi nước đầu làng. Nặng quá, thằng bé bưng khòm cả lưng. Chúng tôi định chạy ra giúp thì nó khua tay bảo: Không, không, cháu làm được! Cứ kệ cháu!… Nó bứt một nhúm lá của một loại cây dại mọc ngay bên vòi nước - hồi chiến tranh chúng tôi gọi đấy là “cây cộng sản”, loài cây dại mọc tràn lan khắp rừng, có sức sống dai dẳng, không gì diệt được, kể cả chất độc hóa học Mỹ - Nồi chảo chén bát được đánh bằng lá “cây cộng sản” sạch bong. Không cần chút miếng mút nào như lũ người văn minh dại dột chúng ta, anh bạn tôi cười.
Rồi cậu bé năm tuổi ấy, cùng với đứa em sát nó, bốn tuổi, dẫn chúng tôi đi hái rau rừng. Đứa thứ ba, chắc chỉ hai tuổi lại thay hai anh ở nhà chăm đứa út.
Đêm nay chúng tôi sẽ có một nồi canh tập tàng, đã lâu lắm không được thưởng thức. Đặc sản tuyệt diệu của rừng. “Tập tàng”, ta biết rồi, là gồm nhiều loại rau rừng khác nhau trộn lại, là đủ các mùi vị của rừng chưng cất, là toàn bộ cái hay cái ngon cái độc đáo, cái chỉ có, tuyệt đối chỉ có của rừng hỗn hợp và lên men. Rừng cộng lại và nhân lên. Và từ trong máu, trong li ti huyết quản, hẳn truyền lại từ đời này sang đời khác bằng một hệ gen riêng biệt, được rừng dạy cho và học được của rừng từ trong bụng mẹ, mỗi đứa bé Tây Nguyên, năm tuổi, bốn tuổi, ba tuổi, thậm chí hai hay chỉ một tuổi thôi đều thuộc nằm lòng. Hôm nay hai cậu bé bốn tuổi và ba tuổi con trai của Bok Tơ, người còn trụ lại giữa rừng xanh, muốn đem chiêu đãi chúng tôi. Không chờ đến tối nay, trong bữa ăn; ngay cả bây giờ nữa, trong khi dẫn chúng tôi lang thang len lỏi trong rừng già mà cha mẹ chúng còn cố níu lấy, chỉ cho chúng tôi  từng loại lá ăn được, cái vị ngon riêng biệt của từng thứ, từng món, cái nghệ thuật tạo nên bởi việc trộn lẫn tài tình loại lá này với loại lá nọ chứ không phải một loại lá nào khác, cả cái nào trước cái nào sau nữa, một thứ tự tài hoa mà rừng vô tận hiền minh đã dạy cho con người… Ở trong rừng, hai đứa bé là những người thầy từng trải, dày dạn, thông minh. Hai nhà bác học của rừng. Cứ như chúng với rừng, với cây, với lá ấy là một, từ những bao giờ, bao giờ, không có khởi đầu, cũng sẽ chẳng có kết thúc. Chúng là con đẻ của rừng. Rừng tự nhiên. Vĩ đại. Đa tạp. Còn chúng tôi thì quả đúng là một lũ học trò vụng dại, ngớ ngẩn. Chúng tôi đang trở thành những đứa con hoang của một thứ mà chúng ta cũng gọi vống lên là rừng: rừng cao su. Cao su thì độc canh. Dưới tán cao su không còn bất cứ cây gì sống được. Tuyệt không có, không còn rau tạp tàng! Cao lương mỹ vị mấy cũng có thể có, nhưng một nồi canh rau tập tàng thì nhất định không. Không chỉ một văn hóa ẩm thực khác đâu; một văn hóa sống khác, độc canh, đơn nhất, khô cằn…
Khi nồi canh tập tàng vừa sôi trên bếp thì bỗng xuất hiện một người với chiếc gùi lớn đứng choáng cả khung cửa: vị chủ nhà, Bok Tơ. Trời đã tối, nhưng ánh lửa trong bếp lúc này đã bùng to cũng đủ soi rõ một khuôn mặt tuyệt vời, không, không phải một khuôn mặt, một cái cười có thể lập tức cho ta hiểu được tất cả về con người đang đứng đó. Cái cười làm bừng sáng cả khuôn mặt, thôi bây giờ thì tôi biết rõ rồi, của một người Bana điển hình, người Bana, dân tộc nghệ sĩ nhất ở Tây Nguyên. Hình như tôi đã có lần nói về điều này: người Ba Na có một triết lý sống đặc biệt: làm đủ ăn thôi là được rồi, giàu có dư thừa mà làm gì, còn thì để thời giờ mà chơi, mà tận hưởng cuộc đời! Và chơi gì, ở đâu? Chơi trong rừng, lang thang trong rừng, đi tìm con cheo, con chồn, con dúi, con chuột, con cá, cây nứa và quả bầu khéo làm đàn gong, đoạn trúc đẹp làm cây sáo hay, khúc giang mướt nướng cơm lam ngon… Bất chấp hết mọi thứ khác trên đời, bất chấp hiện đại, bất chấp công nghiệp, bất chấp cao su, bất chấp tất cả… Bây giờ thì người đàn ông bất chấp ấy đã từ rẫy về, đứng đó đầy ngưỡng cửa trong buổi chiều đang xuống sẫm và toét miệng cười chào chúng tôi. - Chào cả nhà, anh nói lơ lớ tiếng Kinh, mấy đứa nhỏ đã đi hái đủ rau tập tàng chưa, các con? Rau tập tàng rừng Kon Braih Yu ngon nhất đời. Hái rau đãi khách chớ… - Đủ rau rồi, Bok Tơ ơi, ngồi xuống đây đã… Nhưng anh đã đặt gùi xuống và cầm mấy cái lờ vội quay ngay ra cửa: Để mình ra suối tìm có con cá nào không… Và rượu cần cho đem nay nữa chớ!…
Vài phút sau thì bà chủ nhà cũng về. Đường xa, mệt và ướt, chị đổ người xuống bên bếp lửa. Và bốn đứa trẻ, kể cả thằng lớn nhất, suốt ngày chững chạc chăm lo cho các em, bây giờ bỗng đua nhau ùa vào lòng mẹ, chen nhau để được mẹ ôm một cái, vuốt nhẹ một một bàn tay lên mái đầu…
Bên ngoài đã hơi trở gió và đêm rừng đã se se rét. Ánh lửa chập chờn soi một gia đình hạnh phúc. Và chúng tôi, đến từ thế giới chen lấn điên cuồng của hiện đại hóa, chúng tôi được những người chủ của rừng hào phóng chia sẻ một đêm hạnh phúc mà họ dư thừa…    
Cơm và canh rau núi tập tàng đã được dọn ra. Bây giờ thì chúng ta có thể hiểu vì sao Georges Condominas lại đặt tên cuốn sách của mình là “Chúng tôi ăn rừng”. Quả thật, đi rừng, không được ăn một nồi canh rau tập tàng của rừng thì cũng coi như chưa đi.  Đêm nay Bok Tơ còn đãi chúng tôi một món đặc sản cũng tuyệt không kém: cơm lam chấm với lá é giã ớt, cay xé lưỡi mà nuốt rồi, thêm một húp canh rau tập tàng thì thấm mãi ở cuống họng một vị ngọt đắng cay khó tả và không thể quên. Thực đơn kỳ diệu của rừng…
 Rồi rượu cần được buộc vào cây cột giữa nhà. Và đêm la đà bất tận của Tây Nguyên bắt đầu. Bok Klơh ở nhà bên cạnh cùng sang. Bok Klơh là chuyên gia đàn gong, và cũng là người chưa chịu bỏ làng cũ trong rừng sâu ra với dự án cao su ở làng định cư mới của Bok Deh. Tôi đã được gặp ông một lần nhưng chưa bao giờ được nghe tiếng đàn của ông. Đêm nay cũng vậy, ông mang cây đàn sang nhưng khó tính đến gàn dở như một nhạc công trưởng của triều đình, ông chỉ ngồi trịnh trọng, chăm chú chỉnh đi chỉnh lại dây đàn, mất đến gần nửa tiếng, mặc cho chúng tôi sốt ruột. Rồi ông trao đàn lại cho Bok Tơ. – Đúng với tiếng rừng rồi đó, ông bảo.
Bạn đã nghe người Bana hát trong rừng sâu đêm khuya bao giờ chưa? Đêm nay chúng tôi được hưởng cái hạnh phúc ấy. Rừng già. Đêm thăm thẳm. Một căn nhà nhỏ lạc giữa mênh mông chừng vô tận và vĩnh cửu của rừng, hoàn toàn tách ra khỏi toàn bộ thế giới và nhân quần, mặc kệ hết cái thế giới và nhân quần hỗn tạp ấy. Một bếp lửa chập chờn, lúc soi tỏ từng khuôn mặt người, lúc phủ nhòa đi tất cả, khiến tất cả bổng trở nên huyền ảo, huyền hoặc. Và một người đàn ông ngồi đó, đẹp lạ lùng, một vị tiên giản dị và nghèo hèn, một nghệ sĩ chỉ có rừng biết, cây cỏ của rừng và muôn thú trong rừng biết và quen thân, với cây đàn gong hờ hững trên tay, ông cất tiếng hát. Tiếng hát sao chẳng duyên cớ gì mà bỗng thống thiết đến thế, ông vuốt từng chữ, từng âm, từng tiếng, từng lời, mỗi tiếng, mỗi lời dường như từ gan ruột mà trào ra. Buông thả mà nắn nót. Dân dã mà sang trọng. Trong veo mà nặng trĩu tâm tình sâu kín dường không thể thổ lộ. Trao gửi và giữ gìn. Là tiếng hát của người, mà cũng là tiếng hát của rừng. Ở đây con người với rừng đã tuyệt đối là một. Lời hát vừa như có nghĩa vừa như chẳng có nghĩa gì cả, chẳng có duyên cớ gì hết, thống thiết buồn, vô cớ, cũng vô cớ và vô cùng như rừng vậy…
Dang ei thoi gio oh oi
Nhong au hel jt
Jing thoi de royup
Papuk to so ngon
Gon oh bi vao …

Em ơi, sao giờ đây anh buồn quá
Giọng anh như người mất trí mất rồi
Muốn đi đến chỗ em nhưng lòng lại buồn
Biết cái tai em có còn muốn nghe…
Mới gặp mà anh nhớ luôn luôn
Làm sao để cho quên được em
Hỡi em
Sao bỗng thương tiếc như tiếc hoa héo tàn
Hoa đẹp Ro sang
….
Em đẹp quá em ơi
Đẹp tựa con trời
Hỏi nhìn em anh làm sao còn chịu nổi
Ơi em…
Vậy đó, tình yêu, hạnh phúc, đau khổ, ước mong, thất vọng, hy vọng, vô vọng, có nghĩa và không có nghĩa, như cuộc đời con người, như rừng…
Có lẽ đã đến ba hay bốn giờ sáng. Người Tây Nguyên thường nói: Uống cho đến nhạt một ché rượu cần. Cho đến cạn chất say ở đáy ché. Bok Tơ dành cho tôi cần rượu cuối, cần rượu ở đáy ché ấy. Chia đôi.
Rồi chúng tôi lăn ra ngủ.
Cho đến khi bừng thức thì bên ngoài rừng đã ửng sáng. Bên bếp lửa đã thấy người mẹ cùng bốn đứa con chen trong lòng.
Bok Tơ bảo: Hôm nay tôi cùng đi với các anh ra chỗ Bok Deh. - Để làm gì thế? chúng tôi hỏi. Bơk Tơ đeo gùi lên vai: Mình đi sớm đi, bữa nay nắng, leo dốc mệt đấy. Mình ra gặp Bok Deh để nghe phổ biến việc dời luôn hết ra làng mới. Dự án cao su đã bắt đầu rồi. Dồn hết về làng mới để làm cao su mà…
Bỏ rừng già sao? Tôi buột miệng.
Rừng già và rau tập tàng, Bok Tơ bảo.
Đi hết cả mấy nhà này à?
Chắc mình phải đi trước. Còn bok Klơh chưa chịu. Bok ấy bảo chết ở đây thôi. Chết với rau tập tàng mà. Khi cao su vào đến đây nữa thì còn gì rau tập tàng. Lần sau anh lên biết có còn không…  Mà không còn thì anh lên làm gì nữa. Chỉ có cao su thôi. Hết tập tàng…
Lần này nữa, người đàn ông ấy vẫn cười. Vẫn cái cười ấy, hiền, sâu, và thăm thẳm buồn. Hiền, sâu, thăm thẳm đến thế, mà vẫn bất lực.
Như rừng.
12/2010
Nguyên Ngọc

 Trại LLĐB GIA VỰC , QUẢNG NGẢI 

I/ Trại LLĐB Gia Vực ở Quảng Ngải.
Ảnh 1: Trại LLĐB Gia vực từng là một đồn Pháp , được LLĐB Mỹ xử dụng từ tháng 1/1962 để bảo vệ dân Thượng Hre sống trong khu vực. Vào năm 1967 lực lượng của trại là 515 dân sự chiến đấu người bản địa (CIDG native - tức người Hre - Tài) tổ chức thành bốn đại đội, hai trung đội viễn thám (combat recon), và một toán TLC dưới sự chỉ huy của Phân đội (Detachment A-103). Sự lẻ loi của trại đã đc nhấn mạnh bởi vị trí của nó gần sông Re, một sông quá nông để di chuyển trong mùa khô nhưng nước chảy như lũ (raging torrent) trong lúc gió mùa (monsoons).
Ảnh 2: Trại GV tỉnh Quảng Ngải là trại ở tận cùng phía nam (southernmost) của Vùng I CT. Lính của trại đi tuần theo thung lũng sông Re về phía bắc thường đụng độ dữ dội (were aggressively screened) với VC vì thung lũng này là hành lang tiếp tế và xâm nhập bắc nam chánh của địch.
Ảnh 3: LL phòng thủ thiếu pháo binh nhưng đã giữ vài khẩu 106 không giựt để phản công khi cần.

Ảnh 4: Hào chiến đấu tại trại GV được tăng cường để chống cối và chống sói mòn do mưa.









Add caption







II/ Trại LLĐB Minh Long, Quảng Ngải.
1/ Trại Minh Long đã đc hoàn thành tại một vùng của dân Thượng Hre ở Quảng Ngải trong giữa tháng 11/1966, và phân đội A-108 bắt đầu hoạt động để bảo vệ khu vực này và con đường bộ (overland route) tới trại. Lực lượng trại đã chịu thiệt hại năng trong một nhiệm vụ phản ứng (reaction mission) ngày 6/3. VC kiểm soát đường bộ khiến trại phải dựa vào hai sân bay (cho máy bay thường và trực thăng) để tái tiếp tế. Sau này BTL Mỹ tại VN đã chỉ định LĐ 11 bộ binh của SĐ Americal trông nom trại này (nghĩa là trại gặp nguy hiểm thì cầu cứu LĐ) . Trong ảnh cho thấy trại ML đang đc xây dựng.
2/ Trại đc xây dựng bởi LL Ông Biển của hải quân Mỹ: mọi cơ giới nặng đều đc chỡ tới bằng trực thăng khổng lồ CH-54 để làm sân bay cũng như các công sự giữa đồi núi.
Image may contain: mountain, outdoor and nature
Nga Doan
Share

Tánh tình của TT Trump qua tử vi dân Mỹ bản địa
Theo tử vi của dân Mỹ bản địa (American Indian/Native American), những người sinh ngày 21/3 - 19/4 thuộc tuổi Diều Hâu Đỏ (Red Hawk). Vì ông Trump sanh 14 tháng 6 năm 1946 nên có tánh của Diều Hâu Đỏ.
(Phần dưới đây dịch từ sách tử vi của dân Mỹ bản địa có tựa The Medicine Man của Sun Bear và Wabun, trang 47-48).
. . .
"Người tuổi Diều Hâu Đỏ (Red Hawk) có khuynh hướng không sợ hãi, thường bay đuổi theo những con rắn chuông (rattlesnale) của thế giới mà ko để ý đến an toàn của bản thân. Những người tuổi này ít hay ko kiên nhẩn với ai mà họ xem là ĐẠO ĐỨC GIẢ (hypocrisy) hay KHÔNG SÒNG PHẲNG (unjust). Họ sẽ nói thẳng với những người như vậy khi gặp họ, dù cho kẻ kia có nghe hay ko. Đôi khi, diều hâu bắt được rắn quá lớn, và, trong trường hợp này, chúng, cũng có thể thành nạn nhân hơn là kẻ chiến thắng. Trong những thần thoại xưa, rắn được xem như tượng trưng cho THẾ GIỚI NGẦM (underworld), trong khi chim ó (eagle) hay diều hâu (hawk) tượng trưng cho THIÊN ĐÌNH (zenith)...
Cũng như diều hâu ngắt đầu rắn để bảo vệ nó, người tuổi này sẽ đánh gục những ai mà họ xem là kẻ thù tiềm năng. Chúng hành động như vậy vì tấn công là phòng thủ tốt nhất. Vì diều hâu thường bị tấn công bởi chim nhỏ hơn trong khi bay, người tuổi này bị tấn công bởi ai ko hiểu họ khi họ có những ý nghĩ mới. Tuy nhiên những tấn công này thường ko gây thương tích và đôi khi dẫn đến những thảo luận mà kết quả là bất đồng được giải tỏa..."
(còn tiếp)
Ảnh minh họa cho Diều Hâu Mỹ đang quyết đấu với Quái Xà TC.