Thursday, February 6, 2014

NẠN PHÁ RỪNG TRỒNG CAO SU . nguồn : RFA

Thêm một tác nhân làm giảm diện tích rừng tự nhiên tại Việt Nam là việc chuyển đổi rừng nghèo để trồng cao su.
Thực tế đó đáng ngại ra sao?
Đây là đề tài trong chuyên mục Khoa học- Môi trường kỳ này.

Thực tiễn

Đối với nhiều người Việt Nam thì hình ảnh những rừng cao su thường được thấy tại các tỉnh miền đông nam bộ trên đường trước khi vào Sài Gòn. Ở Tây Nguyên cũng có những đồn điền cao su, thế nhưng không phải nhiều như hiện nay. Bây giờ ở những tỉnh tại khu vực miền Trung cũng có những khu trồng cao su như thế.
Theo quy hoạch trồng cây cao su toàn quốc mà chính phủ Việt nam đã phê duyệt thì đến năm 2020, Việt Nam sẽ trồng 800 ngàn héc ta cao su. Tuy nhiên thống kê cho thấy mới đến năm ngoái, tổng diện tích cao su tại Việt Nam đã lên đến 915 ngàn héc ta.
Cụ thể ,ngoài những diện tích cao su đã có từ trước, thì từ năm 2009 đến năm 2020, tại Tây Nguyên được trồng thêm 100 ngàn héc ta nữa mà thôi.
Vậy mà, theo tờ Tuổi Trẻ hồi đầu tháng 10 vừa qua cho biết tại tỉnh Gia Lai ở Tây Nguyên đã có gần 100 ngàn héc ta diện tích cây cao su. Diện tích này hồi năm 2009 ở Gia Lai chỉ chừng 70 ngàn héc ta mà thôi.
Vừa rồi có một chu kỳ tăng giá rất tốt cho mủ cao su, 5-7 năm liền giá trị cây cao su rất cao, nhiều người cứ lầm tưởng đó là một loại ‘vàng trắng’ có thể giữ giá lâu dài nên họ tranh thủ trồng. Ngoài ra việc chuyển đổi đất rừng thành đất cao su không phải tốn chi phí bồi thường, thậm chí còn có lợi khi khai thác gỗ
Ông Nguyễn Đình Xuân
Tỉnh lân cận với Gia Lai là Dak Lak cũng có hơn 70 dự án chuyển đổi đất rừng, đất lâm nghiệp sang trồng cây cao su và cải tạo, quản lý, bảo vệ rừng với tổng diện tích trên 70 ngàn héc ta.
Lý do vì sao lại có tình trạng đổ xô nhau đi trồng cao su như thế? Ông Nguyễn Đình Xuân, nguyên giám đốc Vườn Quốc gia Lò Gò- Xá Mát, Tây Ninh đưa ra đánh giá:
Vừa rồi có một chu kỳ tăng giá rất tốt cho mủ cao su, 5-7 năm liền giá trị cây cao su rất cao, nhiều người cứ lầm tưởng đó là một loại ‘vàng trắng’ có thể giữ giá lâu dài nên họ tranh thủ trồng. Ngoài ra việc chuyển đổi đất rừng thành đất cao su không phải tốn chi phí bồi thường, thậm chí còn có lợi khi khai thác gỗ. Ngược lại nếu phải lấy bất kỳ diện tích đất nào của dân hiện nay đều phải bồi thường rất nhiều, phát sinh khiếu kiện… Còn rừng là của Nhà nước, của công nên khi chuyển đổi không phải đền bù gì nên họ rất mê chuyển đổi rất rừng để trồng cao su. Kể cả không trồng cao su mà trồng bất cứ cây gì cũng thuộc về họ. Theo tôi một trong những động cơ là vì lợi ích của họ hơn là lợi ích lâu dài của đất nước.
Những cánh rừng mênh mông bị khai thác tận cùng cho cái gọi là dự án trồng cao su.
Những cánh rừng mênh mông bị khai thác tận cùng cho cái gọi là dự án trồng cao su. AFP
Lạm dụng
Chủ trương của chính phủ là cho các đơn vị Nhà nước cũng như tư nhân tham gia triển khai những dự án chuyển đổi rừng nghèo kiệt bằng cách trồng cao su hay những loại cây công nghiệp khác. Thế nhưng chính chủ trương này lại là đường để cho các đơn vị phá rừng.
Ông Chu Quốc Cổn, phòng Khoa học và Công nghệ, Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng, cho tờ Đất Việt biết rằng theo qui định chỉ có rừng nghèo kiệt, tức rừng có dưới 50 mét khối gỗ một héc ta mới được chuyển đổi, thế nhưng nhiều địa phương đã bỏ chữ ‘kiệt’  đi và cho phép thực hiện việc chuyển đổi rừng như lâu nay.
Phấn lớn người ta lợi dụng chủ trương này để trồng cao su trên những diện tích đất rừng, gọi là rừng nghèo nhưng thật ra vẫn còn giữ nhiều giá trị đa dạng sinh học
Ông Nguyễn Đình Xuân
Ông Nguyễn Đình Xuân nói về điều này:
Nói chung chỉ có một phần nhỏ những rừng do quản lý kém quá hiện nay không còn gì nhiều, rồi không phát huy hiệu quả về phòng hộ, về đa dạng sinh học có thể chuyển đổi sang trồng cao su được nhưng rất ít. Phấn lớn người ta lợi dụng chủ trương này để trồng cao su trên những diện tích đất rừng, gọi là rừng nghèo nhưng thật ra vẫn còn giữ nhiều giá trị đa dạng sinh học. Ví dụ rừng Khộp ở Tây Nguyên, trông thưa thớt vậy thôi nhưng nó chưa một hệ đa dạng sinh học riêng, đặc thù của nó. Theo tôi nghĩ nếu chủ trương này làm ở mức hạn chế và có kiểm soát tốt thì không đến nổi đâu, nhưng vừa rồi có dấu hiệu người ta lợi dụng chủ trương này để biến rừng giàu thành rừng nghèo một cách vô tình hoặc cố ý, rồi biến rừng nghèo thành đất trồng cao su gây hại cho môi trường, đặc biệt là khu vực thượng nguồn.
Một viên chức phụ trách nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình thì cho rằng không hề có việc địa phương lách để cho các đơn vị trồng cây cao su:
Không có chuyện đó, việc trồng cao su phải thực hiện đúng theo qui hoạch của tỉnh và được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không có chuyện mà chặt rừng để trồng cao su đâu. Biến đổi rừng kiệt là một chủ trương đúng của bộ cũng như của tỉnh.
Thống kê của Tổ chức Forest Trends cho thấy từ diện tích gần 70 ngàn héc ta rừng tự nhiên trong khuôn khổ trên 200 dự án trồng cao su số gỗ tận thu được cho biết là gần 400 ngàn mét khối.
Theo tổ chức Tropenbos Việt Nam, thì con số thực tế phải còn cao hơn con số vừa nêu.

Lợi-hại
Việc phá những khu rừng tự nhiên để trồng các loại cây công nghiệp như cây cao su là một việc làm tai hại vì những đồn điền cây trồng như thế không những không thể nào thay thế được rừng tự nhiên mà còn có những tác động gây hại đến cho môi trường.
Ông Nguyễn Đình Xuân trình bày về những vấn đề này như sau:
Khi phá rừng được rồi thì người ta trồng cây gì là tùy họ mặc dù họ nói trồng cây cao su. Nhưng giả sử 5-7 năm nữa nếu cây cao su quá tệ họ có thể chuyển sang cây khác vì (đất) vẫn là của họ. Vấn đề là nay họ được quyền sử dụng mảnh đất mà trước đây không thuộc về họ
ông Nguyễn Đình Xuân
Nhiều người cho rằng cây cao su là cây đa mục tiêu hàm ý nó cũng có thể thay thế cây rừng; tuy nhiên tác dụng như cây rừng của nó rất hạn chế, chủ yếu chỉ có là che bóng mà thôi. Nếu nói về những yếu tố khác như nhiều tầng, nhiều táng chẳng hạn thì cao su không có. Nó chỉ có một tầng thôi. Thứ hai nữa nó không có đa dạng sinh học vì cây cao su là cây ngoại lai nên rất ít sinh vật sống được cộng sinh với nó, sống nhờ nó. Thứ ba nữa đối với cây cao su người ta vẫn phải dùng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và phải cày đất hằng năm để chống cháy, để bón phân… Những yếu tố đó cũng làm cho đất bị sói mòn nhất định, rồi dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật vẫn còn, nên đưa lên thượng nguồn cũng không khỏi ảnh hưởng đến chất lượng nước. Nó khác với rừng, trong rừng không có bón phân, không cày bừa trong rừng. Nên độ bảo vệ, che phủ của rừng tốt hơn.
Và ông Nguyễn Đình Xuân kết luận:
Những cây công nghiệp khác như cây keo, mặc dù nó là cây rừng, nhưng bản chất đó là một cây kinh tế- công nghiệp; hay người ta có thể trồng cà phê, tiêu… Khi phá rừng được rồi thì người ta trồng cây gì là tùy họ mặc dù họ nói trồng cây cao su. Nhưng giả sử 5-7 năm nữa nếu cây cao su quá tệ họ có thể chuyển sang cây khác vì (đất) vẫn là của họ. Vấn đề là nay họ được quyền sử dụng mảnh đất mà trước đây không thuộc về họ.
Nguy hiểm là mất rừng, mất đất. Đất này trước đây là của công, của Nhà Nước. Dù cho thuê hay cấp nhưng đã chuyển sang sở hữu của một cá nhân hay công ty nào đó.
Đặc biệt những khu rừng ở miền trung và miền bắc, có nhiều người chuyển sang trồng cao su là hết sức sai lầm vì những vùng đó bị bão lũ hằng năm và điều kiện, thổ nhưỡng không phù hợp với cây cao su. Nếu có trồng chăng nữa năng suất rất thấp và giá cao su rẻ như thế này chắc chắn sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường không có mà rừng bị mất. Đặc biệt những cơn bão liên tiếp tại miền trung vừa qua gây thiệt hại lớn cho diện tích cao su. Nhưng dường như mọi người vẫn muốn trồng lại cây cao su, theo tôi rủi ro rất lớn.
Hồi cuối tháng 9 vừa qua, tâm bão số 10 đổ bộ vào tỉnh Quảng Bình khiến cho những diện tích trồng cao su mới của người dân bị phá hủy khá lớn.
Một người dân cho biết:
Thiệt hại nhiều nhất về tài sản là cây cao su, tại đó người dân đầu tư rất lớn vào cây cao su. Đợt bão vừa rồi coi như thiệt hại ‘trắng’. Người ta phải phá đi trồng lại. Thiệt hại trên 70 tỷ. Hầu hết người dân đầu tư cho cây cao su phải vay vốn, đầu tư 7-8 năm nay chuẩn bị khai thác thì nay bị gãy đỗ hết.
Tiến sĩ Trần Đại Nghĩa, giám đốc Trung Tâm Thông tin Phát triển Nông Nghiệp Nông Thôn cũng có một số đánh giá về tình trạng phát triển trồng thêm cao su trong những năm gần đây tại Việt Nam và rủi ro của lọai cây này:
Cách đây khỏang chục năm thì những khỏang rừng khộp… có thể chuyển để trồng cây cao su; vì cây cao su nhiều khi nguời ta coi đó là một lọai cây đa dụng tức có nghĩa cây đa dụng có thể coi như rừng. Tuy nhiên không phải rừng tự nhiên; dứt khoát những lọai như thế không thể bằng rừng tự nhiên đuợc vì rừng tự nhiên phải có tầng, có lớp để đảm bảo tính phòng hộ của nó. Thực sự quĩ đất cho cao su bây giờ không còn nữa.
Những chỗ nào trồng được thì nguời ta đã trồng rồi, còn những phần đất còn lại nếu trồng cũng rất khó. Cơn bão vừa rồi cách đây hơn một tháng gây thiệt hại rất lớn cho cây cao su. Cây cao su chỉ cần gãy đọt, ngọn, trốc gốc là không bao giờ có mủ nữa, làm gỗ cũng không đuợc.
Giáo sư- Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Ngọc Lung thuộc Viện Quản lý Rừng Bền vững & Chứng chỉ rừng cho rằng không có cách giải thích nào khác dễ nghe hơn cho tình trạng phát triển vội vàng cây cao su trên những diện tích rừng tự nhiên được chuyển đổi là vì quyền lợi cục bộ địa phương hoặc lợi ích nhóm.
Mục Khoa học- Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại các bạn trong chương trình kỳ tới.

Anh Đoàn Nguyên Đức có phá rừng? 

Nguồn : Hiệu Minh Blog

Trong bài trên có 1 'còm' rất hay mà tôi đã đặt lại tựa như sau : NHỮNG NGƯỜI XỬ DỤNG BÀN GHẾ , TRANG TRÍ NỘI THẤT BẰNG GỖ QUÝ ĐÃ VÔ TÌNH TIẾP TAY VỚI BẦU ĐỨC PHÁ RỪNG ! Tôi vẫn biết rằng một số gổ quý  đã được xuất khẩu nhưng theo tôi nghĩ phần lớn được tiêu thụ nội địa , theo như nhận xét của còm sĩ dưới đây .

" fairfaxva says:
Bài viết đọc “đã” thiệt. Cảm ơn bác Cua.
Bầu Đức tội to tội nhỏ trong chuyện phá rừng thì đã bàn cả rồi. Điều đọng lại là tại sao bầu Đức phá rừng?
Phá rừng để trồng cao su? Phá rừng để trồng cây khai thác gỗ? Phá rừng để làm thủy điện ư? Xin thưa, có hết. Nhưng nếu phá rừng không có hay ít giá trị thì chưa chắc bầu Đức đã chịu phá. Có biết bao nhiêu cánh rừng trọc cần trồng cây, sao bầu Đức không trồng cây lên đó, đỡ chi phí phá rừng.
Nguyên do chính của việc phá rừng là giá trị cực kỳ lớn của khu rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn. Những nhóm gỗ 1A, 1B bao nhiêu tiền một mét khối? Còn những loại gỗ khác thì sao? Hàng trăm hecta rừng sau khi trừ đi chi phí đút lót, khai thác, phần còn lại đều lọt vô túi riêng của bầu Đức. Làm sao mà không tham.
Mọi người ném đá bầu Đức trong chuyện phá rừng, có khi nào tự nhìn mình hay xung quanh mình có “đóng góp” công sức trong việc phá rừng hay không?
Nhìn những bộ bàn ghế, tủ, giường bằng gỗ lim, trắc, gụ bóng loáng ở công sở, ở nhà riêng của cả quan chức lẫn dân thường, tôi thắt lòng vì biết rằng rừng đã vĩnh viễn mất đi biết bao cây gỗ quý. Tệ hại hơn nữa khi nhìn thấy những ngôi nhà sàn bằng gỗ 100% của các đại gia, tiểu gia, dù họ cho rằng mình sống hòa hợp với môi trường, tôi cho rằng những hành vi xây nhà kiểu ấy cần bị lên án mạnh mẽ.
Nếu những người dân tộc thiểu số làm nhà toàn bằng gỗ, hay họ đốt rừng làm rẫy, họ đáng bị trách một thì những người có chút kiến thức, có tiền bạc tiêu thụ gỗ tốt từ rừng đáng bị trách đến mười.
Nếu những nhận thức về thiên nhiên còn hời hợt, kiểu cha chung không ai khóc, thì không chóng thì chầy những khu rừng cuối cùng sẽ đội nón ra đi.
Ông Đoàn Nguyên Đức – chủ phạm, còn chúng ta – phần nào đóng vai trò tòng phạm, trong việc phá rừng.
P.S: “Chúng ta” để chỉ những người tiêu thụ, sở hữu gỗ quý, không phải mọi người dân Việt."

Wednesday, February 5, 2014

Bộ luật Dân sự Pháp (tiếng Pháp: Code Civil) còn gọi là Bộ luật Napoléon là bộ luật về dân sự được kiến lập bởi Napoléon Bonaparte vào năm 1804. Với Code Civil có lẽ Napoléon đã tạo nên một tác phẩm luật quan trọng nhất của thời kỳ Hiện đại. Tại Pháp, về nhiều phần cơ bản, bộ luật Napoléon này vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay.
Lịch sử
Các phác thảo đầu tiên cho một bộ luật dân sự đã được tiến hành ngay từ trong những năm 1793 đến 1797 của cuộc Cách mạng Pháp. Năm 1800 Napoléon chỉ định một ủy ban bốn người dưới sự lãnh đạo của Jean-Jacques Régis de Cambacérès để tạo thống nhất trong luật pháp. Cho đến thời điểm đó trong miền Nam nước Pháp Luật La Mã vẫn còn hiệu lực, trong miền Bắc là luật theo tập quán được truyền lại cũng như là luật tạm thời của Cách mạng Pháp trong một vài năm. Mục đích của ủy ban là tạo nên một gạch nối giữa Luật La Mã và luật theo tập quán và đặc biệt là giữa Luật La Mã và luật cách mạng. Tư tưởng của cuộc Cách mạng Pháp thể hiện trước tiên là trong nguyên tắc tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, bảo vệ và sự tự do của cá nhân và của sở hữu cũng như là chia cắt nghiêm ngặt giữa nhà thờ và quốc gia. Một tác phẩm 5 tập của luật sư Jean Domat được xem như là nguồn quan trọng cho bộ luật.
Bộ luật cũng được đưa vào áp dụng trong các quốc gia chịu ảnh hưởng lớn của Pháp trong thời gian từ 1807 đến 1814 (thí dụ như Đại công quốc Warszawa (tiếng Anh: Warsaw), Đại công quốc Luxembourg, Mexico, Ai Cập, một số bang của Hoa Kỳ hay Vương quốc Hà Lan). Tại Đức bộ luật này có hiệu lực trực tiếp trong các vùng tả ngạn sông Rhein do nước Pháp chiếm đóng, trong một số quốc gia của Liên minh Rhein (tiếng Đức: Rheinbund) (Vương quốc Westfalen, Frankfurt am Main, Berg, Anhalt-Köthen) bộ luật được đưa vào sử dụng không có thay đổi lớn.
Chỉ trong vòng vài năm bộ luật đã có hiệu lực từ Lissabon đến Vacsava và từ Hà Lan cho đến bờ biển Adria. Thất bại của Napoléon tại Waterloo đã không kìm hãm được việc truyền bá bộ luật này: đặc biệt là ở Tây Âu và Nam Âu cũng như là ở Bắc Mỹ và Nam Mỹ các bộ luật đều hướng về Code Civil. Tuy vậy một vài quy định có nguồn gốc từ cuộc cách mạng cũng là điểm yếu: tại nhiều vùng quyền kế thừa ngang nhau của tất cả các người con dẫn đến việc chia cắt sở hữu đất đai thành những mảnh đất nhỏ không còn mang lại lợi tức; phụ nữ bị đặt dưới quyền của một người giám hộ và vì vậy đã bị đặt vào một vị trí bất lợi chưa từng có, việc li dị ưu tiên một phía cho người đàn ông.
Tại Pháp trong số 2.285 điều khoản hiện đang có hiệu lực của bộ luật là vẫn còn 1.200 điều khoản phù hợp với tác phẩm nguyên thủy.
Năm 2004 tại 22 quốc gia đã có lễ kỷ niệm 200 năm ngày thành lập tác phẩm này.

Nội dung

Từ khi có hiệu lực vào năm 1804 Bộ luật Dân sự Pháp được chia thành 3 quyển:
  • Livre I: Des personnes (Cá nhân)
  • Livre II: Des biens et des différentes modifications de la propriété (Tài sản và thay đổi khác của sở hữu)
  • Livre III Des différentes manières dont on acquiert la propriété (Các cách khác nhau để đạt được sở hữu)
Năm 2000 quyển thứ tư (Dispositions applicables à Mayotte) được thành lập quy định về việc áp dụng của bộ luật trên lãnh thổ hải ngoại Mayotte.

Đọc thêm

Tham khảo

  • K.D. Wolff: Code Napoléon - Napoleons Gesetzbuch (Code Napoléon - Bộ luật của Napoléon), Stroemfeld Verlag, 2001 (Faks. der deutschen Übersetzung von 1808), ISBN 3878775733
  • Elisabeth Fehrenbach: Der Einfluß des "Code Napoléon" auf das Rechtsbewußtsein in den Ländern des rheinischen Rechts (Ảnh hưởng của "Code Napoléon" đến nhận thức về luật pháp trong các nước của luật vùng Rhein), in: Joseph Jurt (Hg.), Wandel von Recht und Rechtsbewußtsein in Frankreich und Deutschland, Berlin 1999, S. 133-141
  • Werner Schubert (Hg.), 200 Jahre Code civil: Die napoleonische Kodifikation in Deutschland und Europa (200 năm Code civil: Bộ luật Napoleon trong nước Đức và châu Âu), Köln u.a. 2005

Liên kết ngoài

  • Legifrance của chính phủ Pháp có toàn văn Bộ luật Dân sự Pháp (tiếng Pháp, Anh, Tây Ban Nha)
  • Nguon : Wikipedia 
THUYẾT THIÊN ĐỊA VẠN VẬT NHẤT THỂ TRONG KHOA HỌC HIỆN ĐẠI
http://nhantu.net/TrietHoc/VVDNT/VVDNT18.htm
Xưa nay, nhiều người thường cho rằng Khoa Học có cái nhìn khác biệt với các nhà Huyền học, Đạo học. Đã đành, không phải là các khoa học gia đều có cùng một đường lối như nhau, nhưng cũng đã có những khoa học gia chứng minh được rằng các nhà huyền học (Mystics) và khoa học gia đã nhận ra rằng Vũ trụ này có một bản thể duy nhất. Người đã làm được chuyện này là nhà vật lý Fritjof Capra. Năm 1976, ông cho in quyển The Tao of the physics. Sách này đã được nhiều nhà xuất bản in lại. Mới đầu là nhà xuất bản Shambala, rồi đến Quality Book Club rồi đến Bantam Edition. Từ 1976 đến 1977, Shambala in lại sách 4 lần. Quality Book in lại 1 lần năm 1977. Bantam từ 77 đến 84 in lại tất cả 9 lần.

Fritjof Capra viết rằng khoảng năm 1970, một hôm ông ngồi ngoài bãi biển đã chứng kiến thấy vũ trụ chuyển hóa trong ông và quanh mình ông, như một vũ điệu vũ trụ. Ông thấy cát, đá, nước và không khí là những phân tử, nguyên tử rung động, va chạm lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, tiêu diệt lẫn nhau. Ngoài ra còn thấy những luồng vũ trụ tuyến thường xuyên phả qua làn không khí, gây nên những va chạm, những sự hủy diệt lẫn nhau. Trước đây, ông chỉ biết chuyện này trên lý thuyết, trên toán học. Bây giờ ông mới thấy thế giới quanh ông và trong thân thể ông nhảy nhót theo nhịp điệu vũ trụ. Ông cảm động đến rơi lệ và ghi chép những cảm giác ông có được xuống giấy tờ. [1]

Ông không những là một khoa học gia mà còn mê say triết học và huyền học Ái Châu. Ông càng ngày càng nhìn thấy rõ sự tương đồng giữa những cái nhìn của các nhà huyền học Bà La Môn, Phật giáo, Kinh Dịch và Lão giáo với những khám phá mới nhất của khoa Vật Lý Lượng tử (Quantum Physics) hiện đại. Ôïng chủ trương vạn vật trong vũ trụ này đồng thể và hỗ tương ảnh hưởng lẫn nhau (The unity of all things and mutual interrelation of all things). Bản thể rốt ráo ấy của Vũ trụ, Bà la Môn gọi là Brahman, Phật giáo gọi là Dharmakaya, Tathata hay Suchness (Pháp thân, Chân Như), Lão giáo gọi là Đạo.

Khoa học hiện đại cũng chủ trương y thức như vậy.[2]

Ông đã dành cả một chương The Unity of all things để bàn về Vạn vật nhất thể. Ông nhận định đại khái rằng trong đời sống bình thường, con người không biết rằng vạn vật là nhất thể mà cho rằng vũ trụ này có nhiều sự vật khác nhau, có nhiều chuyện khác nhau. Sự phân biệt này tuy cần cho đời sống hằng ngày, nhưng không đúng với thực tại. Sự phân tách này là do sự biện phân sắp xếp của khối óc chúng ta mà thôi. Tưởng rằng vũ trụ này sai biệt lẫn nhau, và có nhiều biến cố khác nhau là chuyện huyễn vọng (illusion, maya).

Đạo Bà La Môn và đạo Phật cho rằng huyễn vọng đó sinh ra là do Vô minh (Avidya) hay là sự dốt nát (ignorance) của ta. Khi con người biết định tĩnh (Samadhi), sẽ tìm thấy sự nhất quán của vũ trụ.

Sự nhất quán của vũ trụ là đặc điểm của các nhà huyền học, và cũng là sự mặc khải của khoa vật lý học hiện đại. Càng đi sâu vào lòng nguyên tử, vào đáy lòng vật chất, ta càng thấy điều đó hiện ra. Càng sánh Khoa học hiện đại với triết học Á Đông ta càng thấy vạn vật là nhất thể, và vũ trụ này có liên quan mật thiết với nhau.[3] Ông trình bày vấn đề trên rất khéo léo.

Trước tiên, ông trình bày cái nhìn của khoa học hiện đại.

Sau đó ông trình bày cái nhìn tương tự của Bà La Môn, của Phật Giáo, của Trung Hoa, của Kinh Dịch, của Lão Giáo, của Zen.

Tiếp đến, ông cho thấy những điểm tương đồng về Nhất thể, về Siêu xuất âm Dương, về Không gian Thời gian, về Vũ trụ sinh động, về Sắc Không, về Vũ điệu vũ trụ v.v...

Đại khái ông cho rằng vũ trụ này là nhất thể. Chỉ nhìn thấy mâu thuẫn là cái nhìn phiến diện. Không gian và thời gian là một, không thể tách rời nhau. Vũ trụ này biến thiên, chuyển động chứ không phải ù lì, chết chóc, rời rạc. Sắc không là một; và tất cả chúng ta đều đang nhảy múa trong một vũ điệu có lớp lang tiết tấu của vũ trụ; ông đi đến một cái nhìn chung như vậy dĩ nhiên vì ông vừa là một nhà huyền học (Mystic) vừa là một nhà khoa học.

. . . 
Khoa học hiện đại
Ba chục năm đầu thế kỷ XX, đã hoàn toàn thay đổi cái nhìn của Vật lý. Người ta tìm ra được Thuyết tương đối, và Vật lý nguyên tử. Hai sự kiện này đã phá tan nhãn quan của Newton.
Ngày nay không còn không gian và thời gian tuyệt đối nữa, không còn có những hạt nguyên tử riêng rẽ nữa, không còn nói được rằng vật chất hữu hình được khiên dẫn bằng những nguyên nhân cố định, không còn nói được rằng có thể biết thế giới một cách khách quan. Vật lý học mới không chấp nhận cái nhìn trên nữa.
Người có công xây dựng Vật lý học mới là Albert Einstein (1879–1955). Einstein đưa ra thuyết Tương đối (Theory of Relativity), và đóng góp vào thuyết lượng tử (Quantum Theory). Năm 1905, Einstein đưa ra thuyết Tương đối hẹp (Special theory of Relativity) hợp nhất khoa Cơ Học (Mechanics), và khoa Điện động lực học (Electrodynamics). ông cũng còn gắn liền thời gian với không gian, coi thời gian là chiều kích thứ tư của vũ trụ. Einstein cho rằng vạn sự tùy theo sự đo lường của mỗi người trở nên khác nhau. Einstein còn cho rằng vật chất là năng lực, theo phương trình E=mc2. Năm 1915 ông đưa ra thuyết Tương đối rộng (General Theory of Relativity), và chủ trương sức hấp dẫn có thể làm cong không gian và thời gian. Như vậy từ nay không còn không gian và thời gian tuyệt đối của Newton nữa. Từ nay cũng không còn không gian trống rỗng nữa (Empty space).
Hai bác học tiền phong khác có công xây dựng khoa Vật lý học lượng tử là Werner Heisenberg với học thuyết Matrix Mechanics mà ông phát minh ra năm 1925, và Erwin Schrödinger với học thuyết Wave mechanics của ông. Rồi người ta tìm ra được quang tuyến X, tìm ra được các chất phóng xạ (Radioactive substance) và thấy rằng nguyên tử có thể biến hình, và vật chất có thế thay hình đổi dạng được. Người ta thấy Nguyên tử còn sinh ra được các tia Alpha, Beta, Gamma. Ernest Rutherford (1871–1927) đã dùng tia Alpha để bắn phá trong lòng sâu nguyên tử.
Sau đó lại khám phá thêm rằng nguyên tử được sắp xếp như những hành tinh, và người ta tìm ra được các định luật về hóa học dựa trên vật lý nguyên tử.
Năm 1920 nhiều khoa học gia góp sức để tìm ra các định luật đó như Niels Bohr người Đan Mạch, Louis de Broglie người Pháp, Erwin Schrödinger và Wolfgang người Áo, Paul Dirac người Anh, Werner Heisenberg người Đức đã chung sức nhau để tìm ra những định luật trên. Các nhà khoa học trên thấy càng đi vào lòng vật chất càng thấy vạn vật khó hiểu, và mâu thuẫn. Tại sao ánh sáng lại vừa là phân tử vừa là ba động. Max Planck (1858–1947) nhận ra rằng sức nóng chẳng hạn không phả ra đồng đều nhưng từng đợt, mà ông gọi là những túi Năng lực (Energy packets). Einstein gọi túi năng lực đó là quantum. Einstein còn cho rằng không cứ gì là ánh sáng mà tất cả điện từ cũng đều phả năng lực ra như vậy. Thế là chúng ta bắt đầu đi vào Vật Lý Lượng tử (Quantum Physics). Chúng ta không biết chắc bao giờ Ánh Sáng là phân tử và khi nào nó là ba động, chỉ đoán chừng được mà thôi. Đó là Nguyên lý bất định của Heisenberg [13].
Vật lý lượng tử như vậy đã phá tan nhãn quan của Newton, và không còn có những vật cứng cố định, những định luật tất định nữa. Đi vào lòng vũ trụ, lòng vật chất, nay chỉ còn thấy những ba động, sự vật tương liên tương ứng lẫn nhau mà thôi. Thuyết lượng tử cho ta thấy bản chất vũ trụ là một, và không còn có những nguyên tử cố định, những viên gạch căn bản xây nên vũ trụ. Xưa người ta tưởng Nguyên tử là nhỏ nhất. Té ra không phải vậy. Nguyên tử còn có Proton, Positron, Electron. Meson, Baryon v.v...
Năm 1935, người ta tưởng Nguyên tử chỉ có sáu tiểu nguyên tử, đến năm 1955 người ta tìm ra được 15 tiểu nguyên tử, nay ta đã tìm ra được hơn 200 rồi.
Như vậy trong Vật lý hiện đại, vũ trụ này được coi là cái gì linh động, là cái gì toàn khối, toàn bích, và người quan sát không tách mình ra ngoài nó được. Từ nay không còn không gian, thời gian riêng rẽ, không còn sự vật riêng rẽ. Cái nhìn trên rất giống cái nhìn của các Đạo gia Á Châu. Sau khi chứng minh đại loại như vậy rồi, ta đã thấy Capra đi vào chi tiết để chứng minh. 
Tóm lại, vật lý học lượng tử chủ trương hoàn toàn ngược lại với Vật lý cổ điển Newton.
Nó chủ trương:
1. Không làm gì có những nguyên tử vững chắc cố định, mà nay chỉ còn có những ba động có thể xảy ra.
2. Không có những định luật tất định như trong Vật lý Newton, nhưng trong thế giới Vật lý lương tử, vẫn có tự do.
3. Không làm gì có thế giới khách quan không cần đến người quan sát. Nhưng trong vật lý lượng tử, vật bị quan sát bao giờ cũng liên quan đến người quan sát.
4. Cái thế giới vạn thù của Newton đã bị vượt qua, và trong vật lý lượng tử, tất cả đều là một.
5. Vật lý học Newton, chỉ có giá trị cho cái thế giới hình tướng bên ngoài. Còn vật lý lượng tử thì đi sâu vào lòng nguyên tử, lòng vật chất.[14]
Như vậy, Vật lý học Newton nhìn thấy Vạn, và đã đi từ Nhất đến Vạn, Còn Vật lý Lượng tử nhìn thấy Nhất, và đã đi từ Vạn về Nhất. Nhìn thấy Vạn thời ai cũng làm được, nhưng nhìn thấy Nhất xưa nay thực không mấy ai.
Về phía Đạo Giáo chỉ có một số Đạo Gia thượng thặng mới nhìn thấy Nhất.
Về phía Khoa Học gia, ta thấy phải có nhiều người hợp lại mới tìm ra được Nhất. Ta thấy chỉ có một số khoa học gia thượng thặng như Einstein, Max Plank, Werner Heisenberg, Schrödinger, Rutherford, Niels Bohr, Louis De Broglie, Eugene Wigner, Fritjof Capra v.v... mới làm nổi chuyện này. Werner Heisenberg khi quyết tâm từ giã Vật Lý Newton để đi tìm con đường vào khoa Vật lý lượng tử đã ví mình như Kha Luân Bố đi tìm Tân Thế Giới. ông viết đại khái rằng: Cái hay của Kha Luân Bố chính là vì đã dám rời bỏ vùng mình đã biết, và giương buồm tiến về phía Tây, vượt xa điểm mà lương thực đã dự trữ để đủ trở về. Đối với với Khoa học cũng vậy, nếu muốn tìm ra đất mới, thì không thể nào cứ mãi ở yên trong bến bờ của những học thuyết sẵn có mà phải chịu liều vọt bước ra đi.[15]
Tôi thấy Capra hợp nhất được khoa học và đạo học không phải là công lao nhỏ. Nó có thể giúp cho nhiều học giả tới nay chưa có lập trường sẽ hồi tâm chuyển hướng.
Vạn vật là một đã được Eckhart xác định. Eckhart viết: Mọi cái mà con người thấy như là Vạn thù bên ngoài, thật ra chỉ là một. ở đây, cọng cỏ, gỗ, đá mọi sự đều là một. Đó là cái gì thâm sâu nhất.[16]
Thảo nào mà Dịch kinh từ mấy nghìn năm nay đã nói âm Dương tương thôi nhi sinh biến hóa. Và âm Dương luôn biến từ cái này sang cái kia, không có gì là cố định: rốt ráo chỉ còn có Hư Vô, Không Tịch.
Niels Bohr đã nhận Hình Thái cực làm phù hiệu của ông, và công nhận rằng Contraria sunt complementaria (Opposites are complementary), tức là không có gì là mâu thuẫn nhau cả.
Tuy khoa học đã tìm ra được rằng vạn vật là nhất thể, như không biết được rằng nhất thể đó là gì. Ngược lại các đạo gia đã thấy rằng nhất thể đó là Thực tại tối hậu (Ultimate Reality). Người thì gọi đó là Brahman, là Chân Như, là Pháp Thân, và Đạo, là Trời. Eckhart gọi đó là Thần của Hồn (The Spirit of the Soul); Hugh of St. Victor gọi là Mũi nhọn tâm hồn (Acumen mentis), Thánh Teresa of Avila gọi đó là Tâm Điểm linh hồn (Center of the Soul); thánh Jerome gọi đó là Tàn lửa linh hồn (Spark of the Soul); Upanishads gọi đó là Atman (Thou art that; it is Atman (Self) which is Brahman. Ấn Độ cũng còn gọi đó là Khí Prana, hay Purusha, hay Atman hay Brahman v.v... Như vậy Prana cũng tương đương với chữ Thần (Spirit, hay Pneuma). Tuy nhiên các đạo gia đều đồng thanh cho rằng cái thực tại tối hậu ấy hay con người tối hậu ấy, ta phải tìm cho ra ngay trong tâm thần của ta, bằng Thiền định, bằng Yoga hay bằng Kundalini. Phương tiện không quan trọng. Điều quan trọng là cái hiểu biết rốt ráo của mình.[17]
Ta phải biết chúng ta ai cũng có 2 phần:
Một phần hằng cửu, bất biến. Đó là Bản thể chúng ta (Noumenon, Essence).
Một phần là biến thiên, vô thường, vô định. Đó là tất cả những hiện tượng biến thiên trong ta (Phenomenon, Accidents). Bản thể vĩnh cửu là Niết bàn. Ảo hóa biến thiên là Luân hồi, sinh tử.
Chúng ta phải biết dùng đời chúng ta, dùng mọi khả năng biến hóa cúa chúng ta, để mà thoát khỏi vòng luân hồi ảo ảnh, để mà tìm lại được Chân Nguyên, Chân thể của Chúng ta, đó là Đạo, là Trời. Ta có thể gọi đó là Phối thiên (Mystical Union with God), là đạt đạo Yoga (Finding Yoga), là đắc Đạo (Finding the Tao), hay Giác Ngộ (Enlightenment, hay Self-Realisation). Trong dĩ vãng đã có vô số người lên tới trình độ này.[18]
Mới hay ta sinh ra đời không phải là vô mục đích. Rõ ràng là ta phải biết dùng đời ta để biến thiên, tiến hóa. Chúng ta là những con người Biến Thiên (Becoming) và Tiến Hóa. Gopi Krishna nói: Chúng ta, bạn cũng như tôi, chúng ta phải tiến để thực hiện chân ngã chúng ta, để cho tâm hồn ta nhận ra được và thực hiện được bản thể thần minh của chúng ta...[19]
Ước gì chúng ta kẻ trước người sau đều bước được vào con đường này. Đó là bổn phận của mỗi người chúng ta. Không làm được nó kiếp này, sẽ làm trong các kiếp sau.
Tôi nhớ lời Kinh Upanishads:
Từ ảo ảnh xin đưa tôi về thực tại,
Từ tối tăm xin đưa tôi về ánh sáng,
Từ tử vong, xin đưa tôi về bất tử.[20]
Đó cũng chính là nguyện vọng của tôi và của cuốn sách nhỏ bé này.

Tuesday, February 4, 2014

Ở ĐỜI KHÔNG BIẾT ĐÂU LÀ RủI , ĐÂU LÀ MAY ! 
- Trong phúc có họa và ngược lại .-- Kinh Dịch .
Năm 1981 , tôi ra tù về nhà cha tôi (nhà mặt tiền) ở quận 1 Sài gòn . (Ngôi nhà cũ 3 tầng rất lớn ở quận 4 trước 1975 đã bán để trả nợ - mà ba tôi đã thiếu từ NH của chế độ cũ (sic) !
Tôi được biết , sau 1975 , vì quá sợ , ba tôi đã HIẾN rất nhiều nhà gồm 2 villa tại làng ĐH Thủ Đức , ở Đà lạt , Nha Trang , v.v... Sau khi giao ngôi nhà ở quận 4 cho nhà nước , NN đã cho ba tôi chọn nhà để ở và ông đã chọn cái nhà này ở quận 1 .
Bà tổ phó xã hội ở cách tôi mấy căn . Bà rất nghèo đến nỗi dùng 1 cái kính mắt đã sút gọng , con cái khổ sở . Chồng bà suốt ngày đi lang thang ngoài đường nói , tao mất mấy trăm cây vàng . Hỏi ra mới biết , trước đây chồng bà chuyên bán mộ bia ở đường Nguyễn Trãi quận 5 và có 3-4 căn nhà mặt tiền . Sau 75, bị đánh tư sản gđ phải đi kinh tế mới . Quá đau khổ , ông bị tai biến mạch não và hóa khùng . Sau đó mấy năm , tranh đấu lắm mới xin được căn nhà đang ở (nhà trệt) .
Khoảng đầu thập niên 1990 , gđ tôi dọn về 1 hẻm ở đường Hồng Thập tự (nay là Nguyễn thị Minh Khai) . Trước khi đi Mỹ tôi ghé thăm bà thì được biết CS đã trả TẤT CẢ nhà lại cho bà . Bà bán hết , sửa căn nhà đang ở thành 3-4 tầng , rất sang trọng , dùng toàn vật liệu cao cấp . Bà cho các cô con gái , mỗi cô 1 sạp bán vàng ở các trung tâm thương mại .
Kết luận : Thời điểm sau 75 , gđ bà là mục tiêu đánh phá của ng CS . . . phải đi KT mới . . . con cái khổ sở . . . chồng phát điên . . . nhưng sau có thay đổi về chính sách nên các nhà này đã được trả lại .
Trong khi đó , ba tôi do có nghề xây dựng nên được lưu dụng , làm CB về kỹ thuật cho 1 một xí nghiệp . Chỉ vì sợ nên hiến nhà vì lúc đó GIÀU LÀ TỘI LỖI. Khoảng thập niên 1990 , ông làm đơn xin lại nhà đã hiến thì được trả lời , nhà đã hiến ko được NN trả (chỉ có nhà bị tịch thu khi cải tạo tư sản và chủ còn ở VN , mới được trả lại) .
Qua chuyện này , ta thấy trong cái rủi có cái may và ngược lại .
I/ Cách chụp lại màn hình  trên Windows Vista . Nói thêm : trên Windows 8.1 hay 10 có thể hơi khác một chút) .

Nguồn : http://windows.microsoft.com/en-us/windows/take-screen-capture-print-screen#take-screen-capture-print-screen=windows-7

  1. Press PrtScn. (Nhấp PrtScr)
  2. Open Paint by clicking the Start button Picture of the Start button, clicking All Programs, clicking Accessories, and then clicking Paint. (Mở Paint bằng cách nhấp Start > All Programs > Accessories > Paint . Sau khi bạn xong thao tác này , Paint sẽ nằm trên Start Menu) .
  3. In Paint, on the Home tab, in the Clipboard group, click Paste. (Ở Paint , ở phần Home , Clipboard , nhấp Paste) .
  4. If you want to resize the image, on the Home tab, in the Image group, click Resize, and enter a new percentage or pixel size. (Nếu bạn muốn thay đổi kích thước của hình , ở phần Home , Image , nhấp Resize , và nhập bách phân mới hay kích thước mới của pixel) .
  5. Click the Paint button Picture of the Paint button , and then click Save. ( Nhấp nút Paint chọn Save) .
It's also possible to capture a specific active window when you press PrtScn.

II / To capture an active window(Để chụp lại một clip đang phát trên mạng)

  1. Press Alt+PrtScn. (Nhấp Alt + PrtScr) .
  2. Open Paint by clicking the Start button Picture of the Start button, clicking All Programs, clicking Accessories, and then clicking Paint. (Khỏi làm phần này nếu trước đây đã dùng Paint : bạn chỉ cần nhấp Start > Paint) . 
  3. In Paint, on the Home tab, in the Clipboard group, click Paste. (Ở Paint , ở phần Home , Clipboard , nhấp Paste) .
  4. If you want to resize the image, on the Home tab, in the Image group, click Resize, and enter a new percentage or pixel size. (Nếu bạn muốn làm hình lớn hay nhỏ , ở Home , Image , nhấp Resize , và nhập bách phân mới hay kích thước của pixel) .
  5. Click the Paint button Picture of the Paint button , and then click Save. ( Nhấp vào nút Paint và nhấp Save) .

Notes (Ghi chú) : 

  • On some keyboards, PrtScn might appear as PRTSC, PRTSCN, or a similar abbreviation.(Ở vài keyboard , PrtScn có thể viết là PRTSC , PRTSCN hay chữ tắt tương tự) .
  • Certain laptops and other mobile devices that lack a PrtScn key might use other key combinations, such as FN+Insert, to capture the screen. Check the manual the came with your laptop or device for specific instructions. (Một vài laptop ko có phím PrtScn , bạn có thể dùng phím Fn + Insert để chụp màn hình . Xem lại cẫm nang xử dụng) .
    Chúc bạn thành công .
    San Jose ngày Feb 4 2014 .

Monday, February 3, 2014

DÂN NGHÈO TẠI MỸ ĐƯỢC CHĂM SÓC Y TẾ NHƯ THẾ NÀO ?  

(Theo 1 thống kê thì Mỹ , CND và Úc là ba nước nhận di dân hay tị nạn nhiều nhất thế giới . Vì 3 nước này , lãnh thổ bao la , tài nguyên dồi giàu . Các nước như Anh , Đức , Pháp , Hòa lan , Bắc âu , do đất đai hạn chế nên ko nhận di dân hay tị nạn nhiều = ba nước trên .
Dù Mỹ là nước theo TBCN , nghĩa là cạnh tranh khốc liệt về kt , theo kiểu cá lớn nuốt cá bé ; nhưng hệ thống an sinh xã hội vẫn còn tốt . CP đánh thuế cao đối với người giàu và dùng tiền ấy để ĐIỀU TIẾT/PHÂN PHỐI LẠI để giúp người nghèo ; để cho hố cách biệt giàu nghèo ko rộng ra ;  riêng Pháp đánh thuế 75/100 đối với người có trên 1 triệu euro/năm .
Thành ra , tuy là TBCN nhưng về an sinh XH và GD thì các nước TBCN phương Tây lại là XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐÍCH THỰC , chứ ko phải cái BÁNH VẺ XHCN của VN mà hố giàu nghèo càng ngày càng lớn (như bà tỉ phú Hà Tĩnh Nguyễn thị Liểu đã đập căn nhà 137 tỉ ở HN vì ko hợp phong thũy , v.v...) . Ở Mỹ , người dân vẫn biểu tình để đòi  thay đổi các chánh sách về KT hay XH , chứ họ ko đòi thay đổi thể chế CT . Vì họ vẫn chưa tìm thấy 1 thể chế nào tốt hơn ! )
Trước Tết 20 ngày , ông bạn láng giềng 84 tuổi phải nhập viện vì 1 khối u nhỏ (bằng đầu ngón tay) trong phổi : nó khiến ông ho suốt ngày . Ho này , tuy không làm chết người nhưng gây khó chịu .Không ai chết vì ho trừ phi kèm theo sốt (triệu chứng của nhiễm trùng đường hô hấp) .
BS đề nghị mổ , ông đồng ý . Lúc đầu , họ đề nghị mổ ở Valley Medical Center tại San Jose ; ông bạn tôi ko chịu , nói muốn được mổ ở BV Stanford ! (nghèo mà đòi hỏi) . Đây là BV kiêm trường Y khoa thuộc loại hàng đầu của Mỹ . Trên nguyên tắc , họ chỉ nhận những ca khó , ko hiểu sao họ lại nhận ông . Thế là vào BV bảy ngày : ngày đầu tiên gây mê ; ngày thứ 2 thì mổ trong NĂM GIỜ theo kiểu nội soi , nghĩa là chỉ đục ba lổ (hole) bằng đồng xu để luồn dụng cụ vào ; hậu phẫu 5 ngày để theo dõi .
Dù ko bỏ ra 1 đô la , nhưng ông và gia đình đã được BS và y tá tiếp đải lịch sự . Người nhà chỉ đến thăm hỏi mà thôi , còn việc vệ sinh thân thể hay đưa ông vào restroom ,  ăn uống trong BV , v.v... đều do nhân viên BV lo .
Ông này , trước là bạn tù với tôi (SQ  chế độ cũ) . Khi qua Mỹ thì đã 61 tuổi . Xin việc khó khăn , ông xin trợ cấp tổng quát gồm 250 đô + 100 food-stamps/tháng . Bốn năm sau vào quốc tịch thì được tiền già (bây giờ là 860 đô/tháng) và 2 vợ chồng được cấp nhà (tiền nhà dưới 250 đô/người) . Còn bảo hiểm y tế thì suốt đời . Có loại thuốc đắc thì mình trả thêm vài đô , phần còn lại NN lo .
Tôi súyt quên , ông vừa nhận hóa đơn của BV  trên 300 NGÀN đô . BV gửi cho ông để biết , chứ NN trả . Họ cũng gửi 1 mẫu thăm dò (survey form) về việc phục vụ của BV , dày 3-4 trang , để BN hay ng nhà BN điền vào .
Riêng tôi , năm ngoái vào BV ba lần , mỗi lần vài giờ : chỉ có chích thuốc giảm đau , vô nước biển , chụp MRI vùng đầu , mà mỗi lần tốn trên 10 ngàn đô . Họ đối xử rất lịch sự : người nhà đang nói chuyện với BN  mà BS và y tá vào khám , họ ko nói gì hết . Không biết ở VN có được như vậy ko ?
Tôi ko nói nước Mỹ là thiên đường , nhưng  gần như ko thấy thái độ hống hách , coi dân ko ra gì của công chức , cảnh sát, y tá hay BS .
Nước Mỹ có được như ngày hôm nay vì họ đã những quốc phụ (Washington , Jefferson ,v.v...) hết lòng lo cho dân . Họ đã thảo ra 1 hiến pháp để làm nền tảng cho việc điều hành đất nước , mà mục tiêu tối hậu là đem HẠNH PHÚC ẤM NO cho mọi người dân , chứ ko phải là chỉ chăm lo cho đảng viên hay những ng có công với cách mạng như VN , v.v...
Họ cũng ko có quan niệm 1 ng làm quan cả họ được nhờ hay cha truyền con nối như VN .