Friday, December 24, 2021

 Phước Tuy Và Những Tháng Ngày Cuối Cùng




Khoảng giữa tháng 4 năm 1975 trong cuộc hành quân giải tỏa Long Khánh, chi đội 3 của tôi tăng phái cho chi đoàn 2/22 chiến xa, dưới quyền chỉ huy của chi đoàn trưởng Thiếu tá Hà ngọc Bé, nằm án ngử phía bắc Quốc Lộ 1 khoảng 5 cây số, phía tây Quốc Lộ 20 vài cây số trên đường về Dầu Giây , qua nhiều cuộc đụng độ với Sư Đoàn 341 CSBV trên mặt trận nầy đã gây nhiều tổn thất cho cả hai bên, cho đến chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 ,CĐ 2/22 CX di chuyển về Biên Hòa, qua khỏi rừng cao su bên chợ Trảng Bom vài cây số thì tôi được lịnh ở lại, để chờ đợi đến sáng hôm sau thì chi đội của tôi sẻ trở về chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ , khi chi đoàn di chuyển qua vùng nầy trên đường về dưởng quân ở Biên Hòa. Sau hơn một tuần lể giao tranh với CSBV để yểm trợ cho Trung Đoàn 52, Sư Đoàn 18 Bộ Binh tham chiến tại ngả ba Dầu Giây, chi đội tôi chỉ còn vỏn vẹn 2 thiết vận xa M113 và 9 kỵ binh, di chuyển khoảng 2 cây số về hướng bắc QL 1 và bố trí phòng thủ đêm tại một mảnh đất trống bên con đường đất đỏ .Trong suốt đêm đó , CSBV chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công về Sài Gòn đã di chuyển nhiều chiến xa, quân xa với đại pháo và lực lượng bộ binh về hướng Biên Hòa, trước vị trí phòng thủ của chi đội tôi không xa lắm, hầu như không ai được ngủ yên trong đêm đó , tiếng động của xe cộ, chiến xa , tiếng người và ánh đèn trong đêm tối càng gia tăng nổi lo lắng trong thâm tâm của mọi người , sau những ngày dài trong chiến trận từ giữa tháng 3 năm 1975 hành quân vùng Gò Dầu Hạ trên đường về Tây Ninh , đầu tháng 4 năm 1975 về Truông Mít , quận Khiêm Hanh cho đến cuộc hành quân giải vây Long Khánh , ai cũng chưa có một ngày nghỉ ngơi hay về phép thăm viếng gia đình .

Trưa ngày 25 tháng 4 tôi được lịnh di chuyển ra QL 1 để tháp tùng CĐ 2/15 TK, dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Ngô duy Lượng lên đường về Phước Tuy, sau khi ăn Tết 1975 đây là lần thứ hai tôi trở về chi đoàn sau hơn 2 tháng tăng phái cho CĐ 2/22 CX , Chi đoàn di chuyển đến cuối thành phố Biên Hòa rẻ vào quốc lộ 15, qua căn cứ Long Bình rồi trường Thiết Giáp, Long Thành, nơi tôi đã có một thời gian thụ huấn sỉ quan căn bản Thiết Gíap ở đó vào cuối năm 1973 , chi đoàn đóng quân tại Phú Mỹ một ngôi làng nhỏ trên QL 15 giửa chi khu Long Thành và tỉnh lỵ Phước Tuy chiều hôm đó , trong lúc nầy Lử Đoàn I Nhảy Dù sau trận giải tỏa Long Khánh di tản về Phước Tuy và có nhiệm vụ bảo vệ QL15 từ Long Thành về Bà Rịa , nên TĐ 8 Nhảy Dù đêm đó là đơn vị tùng thiết cho CĐ 2/15 TK , đây là lần đầu tiên tôi đi hành quân với các anh hùng mủ đỏ , mà tôi chỉ từng nghe ca ngợi trong những bản nhạc trên đài phát thanh hay trên màn ảnh truyền hình trong những lần về phố ngồi uống cà phê , từ xa về hướng đông là thị xã Bà Rịa , hướng tây là trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức , đại pháo của CSBV vẩn vang rền trong khi các đại bác 37 ly phòng không của địch, như màng lưới lữa trong bầu trời đen tối đuổi theo các phi cơ Hỏa Long trong phi vụ yểm trợ cho các đơn vị bạn còn chiến đấu trong tận cùng tuyệt vọng , tôi vùi đầu trong giấc ngủ , tin tưởng vào các chiến sỉ Nhảy Dù sẻ bảo vệ phòng tuyến đêm nay và hy vọng ngày mai có thêm một ngày bình yên trong lữa đạn .

Ngày 26 tháng 4 tôi được hai ngày phép về Sài Gòn , trong khi chờ đợi Thiếu Úy Huỳnh, chi đội trưởng chi đội 2 mản phép trình diện đơn vị để thay thế tôi trong lúc đi phép , tôi ghé uống cà phê sáng trong ngôi quán nhỏ bên đường , trong lúc một xe M113 của chi đội 2 nằm gần chợ và vài kỵ binh ngồi uống bia kế bên , đến trưa mà Th/Úy Huỳnh vẩn chưa trở lại , tôi ghé vào xe chi đội 2 uống vài chai bia để giết thì giờ trong nôn nả đợi chờ , cho đến 5 giờ rưởi chiều hôm đó Th/Úy Huỳnh mới trở lại đơn vị , tôi suy nghỉ nếu về tới Biên Hòa thì đã tối sẻ không có xe về Sài Gòn được, nên tôi xin phép Đại Úy Lượng cho tôi ở lại đêm nay và sáng sớm ngày mai tôi sẻ đi phép về Sài Gòn , trời vừa sụp tối thì SĐ 304 CSBV bắt đầu tấn công vào trường Thiết Giáp và trường Bộ Binh Thủ Đức, SĐ 325 CSBV tấn công chi khu Long Thành , khoảng 8 giờ tối hôm đó trong tiếng đạn đại pháo , đại bác phòng không và các loại vủ khí vang rền khắp mọi nơi của Cộng quân, chi đoàn 2/15 TK và TĐ 8 Nhảy Dù di chuyển trong đêm tối vào thị xã Bà Rịa cùng lúc với SĐ 3 CSBV từ mặt trận Long Khánh kéo về .Chi đội 1 và chi đoàn phó là Trung Úy Ngô Bính nằm đầu phố án ngữ về hướng bắc , chi đội 3 nằm giửa phố với xe số 32 của tôi quay mặt về hướng bắc và xe số 34 nằm sau xe tôi cách 100 thước án ngữ phía nam , chi đội 2, 4 và bộ chỉ huy CĐ 2/15 TK án ngử ở cuối phố về hướng đông .Sau khi sắp xếp phiên gác đêm và kiểm soát chung quanh vị trí của hai thiết vận xa trong chi đội ,tôi đi ngủ sớm để chuẩn bị ngày mai di chuyển lên tuyến đầu đối mặt với quân thù , trong lúc nầy có lẻ đã rời mặt trận Long Khánh di chuyển về Phước Tuy .

Sáng sớm ngày 27 tháng 4 năm 1975 , tôi nhìn thấy tận mắt cảnh hoang tàn của thành phố nầy lần đầu tiên , các đường phố không một bóng người , những cuộc pháo kích của địch vài ngày trước đây đã để lại nhiều đổ nát , không biết người dân ở đây đã di tản về đâu , hay tạm trú trong những căn hầm dả chiến với niềm hy vọng được gìn giữ tài sản của ông cha để lại .Tiếng súng và đạn pháo bắt đầu vang dội phía bắc nơi chi đội 1 án ngử tôi lên máy để biết được CSBV bắt đầu tấn công bằng pháo binh , chiến xa và bộ binh vào tuyến của Thiết giáp và Nhảy dù , tôi cho chi đội lên xe sẳn sàng ứng chiến , lúc nầy quân đội CSBV đã vào trung tâm thành phố và một chiến xa T54 đã chạy vào trên đường phố bên trái tôi chừng 200 thước , nhìn về trước mặt tôi vài trăm thước cộng quân tràn ngập trong các ngôi nhà và đường phố , tôi xử dụng hỏa tiển M72 và khai hỏa đại liên 50 để ngăn chận bước tiến của địch, khi nhận được lịnh mở đường cho chi đoàn trở ra QL 15, tôi vừa lùi xe ra đến ngả tư thì đại bác của địch trên chiến xa T54 khai hỏa cùng lúc với đại bác 90 ly , hỏa tiển M72 của lực lượng Nhảy Dù , may mắn cả hai chiếc M113 không bị hư hại giữa hai làn đạn của bạn và thù . Từ giữa phố ra QL 15 phải qua ngôi chợ nằm bên tay phải ,CSBV bố trí trong chợ với hỏa lực rất mạnh , chi đội đã xử dụng 2 đại liên 50 , 2 đại liên 30 và tất cả vủ khí cá nhân còn sót lại vừa bắn vừa di chuyển qua ổ phục kích nầy , ra đến QL 15 về hướng đông chừng 2 cây số thì chi đội án ngử tại phía tây cầu Cỏ May , chờ đợi chi đoàn di tản qua phía đông bên kia cầu . Chiều hôm đó chi đội 2 tử thủ tại chân cầu , chi đội 3 của tôi cách đó vài trăm thước , sau đó là chi đội 1[ tổn thất khá nặng trong cuộc tấn công của CSBV sáng hôm đó] BCH chi đoàn và chi đội 4 nằm dọc theo QL 15 về hướng đông cầu Cỏ May , sau khi Đ/Úy Ngô duy Lượng ra lịnh cho Công binh chiến đấu phá nổ cầu để ngăn bước tiến của CSBV , ban đêm địch xử dụng đặc công bò qua cầu tấn công , chi đội 2 và binh sỉ của TĐ 8 ND chống cự mảnh liệt , địch xử dụng ghe ,xuồng chuyển quân dọc theo bờ sông qua phòng tuyến của CĐ 2/15 TK và TĐ 8 ND để tấn công từ phía nam và bắc QL 15, sau vài giờ tấn công khi tiếng súng vừa ngưng , một số binh sỉ của Thiết Giáp và Nhảy Dù bị thương nhưng không được di tản.

Sáng ngày 28 tháng 4 , địch quân tiếp tục pháo kích vào vị trí phòng thủ của chi đoàn và tìm cách vượt qua cầu Cỏ May, chi đội 2 và các binh sỉ Nhảy Dù vẩn còn chống trả với địch ở chân cầu Cỏ May, đại pháo của CSBV càng lúc càng gia tăng và càng đến gần, một trái đại bác 130 ly nổ bên cạnh xe tôi lúc di chuyển qua một vị trí khác đã làm thương vong vài binh sỉ Nhảy Dù và 2 xạ thủ đại liên trong xe tôi , tôi liên lạc xin di tản thương binh nhưng được lịnh chờ đợi trực thăng tải thương từ Lử Đoàn III Kỵ Binh đồn trú tại Biên Hòa , Suốt ngày nầy trên không trung các trực thăng CH-47 Chinook tiếp tục bay về hướng biển đông , tôi hy vọng có lần nào đó họ sẻ xuống đây để bốc đơn vị mình về Biên Hòa , tôi mơ ước ngày phép về Sài Gòn , nhớ ngày lang thang trên đường Nguyển Du đợi chị Thể ,chị Hội ,chị Loan Anh giờ tan sở ở Bộ Phát Triển Sắc Tộc, ngồi uống ly cà phê ngọt ngào đếm lá me bay , giờ đây đếm từng chiếc trực thăng bay qua ngang đầu , không hề hay biết đây là lần di tản sau cùng của quân đội Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam . Chiều hôm đó chiến trường lắng dịu, không có tiếng súng thù, không đạn pháo rơi nên cái im lặng của trận địa làm mọi người ngộp thở, có lẻ CSBV chờ đợi cuộc tấn công trong đêm nay. Khoảng 10 giờ đêm thì tôi được lịnh xử dụng một thiết vận xa di chuyển về phía đông QL 15 trên đường về Vủng Tàu ,để thăm dò con đường có đủ an toàn khi đơn vị di tản ,tôi một mình trong đêm đi được vài cây số thì nhìn thấy QL 15 bị phong tỏa bằng các cuộn kẻm gai , tôi mở đèn pha và lội bộ trước đầu xe để xem tình hình , trong ánh sáng của đèn xe tôi thấy một người lính Thủy Quân Lục Chiến gở một đoạn kẻm gai để đến gần tôi , anh cho tôi biết là trên đường quốc lộ đã được gài mìn chống chiến xa và vị trí phòng thủ của đơn vị TQLC bao bọc 2 bên bằng kẻm gai và mìn Claymore để tử thủ đến cùng, tôi báo cáo về chi đoàn biết tin và nhận lịnh nằm tại chổ chờ đến sáng hôm sau , suốt đêm tôi lo lắng, bâng khuâng không biết ngày mai sẻ ra sao , sau lưng tôi cả chi đoàn nằm trong vòng hiểm nguy của hàng ngàn quân thù với xe tăng và đại pháo, trước mặt tôi là hàng rào phòng thủ của người lính mủ xanh, những người hùng của mùa hè đỏ lửa 1972 ngày tôi mới vào lính , ôm súng trên phòng tuyến đợi quân thù ,nhìn về hướng tây trong ánh lữa bập bùng của hỏa châu và những cuộn khói lững thững trôi ở cuối chân trời , tôi biết chiến trận vẩn còn trong cao độ giửa các cánh quân còn lại của quân lực VNCH và CSBV , dựa lưng vào pháo tháp để tìm giấc ngủ vội vàng tôi chờ đợi ngày mai, như chờ đợi và chấp nhận số phận nào đã đưa tôi vào con đường chinh chiến hiểm nguy mà không còn lối thoát .

Trưa ngày 29 tháng 4 , chi đoàn di chuyển về hướng đông QL 15 , sau cuộc tiếp xúc của chi đoàn trưởng Đ/Úy Ngô duy Lượng và cấp chỉ huy của đơn vị TQLC , họ đã tháo gở mìn và chướng ngại vật trên đường quốc lộ cho đơn vị Thiết giáp và Nhảy dù vào Vũng Tàu , để lại sau lưng SĐ 3 CSBV trên đường truy đuổi, sau khi tu bổ cầu Cỏ May và đưa bộ binh vào xâm chiếm Vũng Tàu .Chi đội 2 đi trước, chi đội 1, kế đến BCH , chi đội 4 và chi đội 3 của tôi đi sau cùng , khi vào đến phố Vũng Tàu thì lực lượng đặc công và bộ binh của CSBV đã nằm phục kích , mở cuộc tấn công sau khi 2 thiết vận xa của chi đoàn di chuyển qua khỏi đầu phố , thiết vận xa sửa chửa của CĐ bị bắn cháy và cả đơn vị bị kẹt trên đường phố nhỏ hẹp không xoay trở được , tôi nhận lịnh mang 2 xe còn lại của chi đội 3 mở đường tấn công vào ổ phục kích của địch , khi di chuyển qua phần còn lại của chi đoàn ở đầu phố thì tôi thấy xe 06 nằm giửa đường vẩn còn bốc cháy , sau xe xác chết của Hạ sỉ Có , người lính kỵ binh thân quen của tôi ngày mới về đơn vị và xác 2 đồng đội khác nằm bên nhau , trên con đường chỉ còn máu lửa và nước mắt , tôi đi trước theo sau là xe số 34 , khai hỏa tất cả vủ khí còn đủ đạn dược , từ đại liên 50 ly, 30 ly , súng phóng lựu M79 , súng cá nhân M16 và Colt 45 , vừa di chuyển vừa bắn hai bên đường , cả đơn vị di chuyển trong tiếng đạn mịt mù qua khoảng 2 cây số mới đến Bến Đá , CSBV tiếp tục pháo kích trên đường di tản của Thiết giáp và Nhảy dù bằng đại pháo trên đường ra biển , tôi nhận lịnh rời xe và phá hủy các thiết vận xa trước khi ra bờ biển , tuy nhiên trong lúc gom góp đồ đạc vào ba lô và trong cơn mưa pháo kinh hồn, tôi lội bộ ra bờ biển tìm kiếm đồng đội mà không có cơ hội làm được điều đó, một số kỵ binh và binh sỉ nhảy dù đã bị thương và chết trên chặng đường nầy , tôi xuống một chiếc xuồng máy đuôi tôm với một vài kỵ binh, tuy nhiên sau vài lần tìm cách nổ máy mà vẩn không thành công , nhìn ra trước mặt tôi thấy một chiếc xuồng khác chạy qua với một số đồng đội gọi tôi , tôi quay lại dặn dò Cần nhớ tìm tôi khi về Sài Gòn rồi tôi nhảy xuống biển để bơi ra khi chiếc xuồng nầy quay lại để kéo tôi lên , khi trời vừa sập tối tất cả kỵ binh còn lại của chi đoàn dời qua một chiếc tàu đánh cá lớn hơn , con tàu trực chỉ về tỉnh Gò Công trong đêm tối , mổi người riêng một ý tưởng , không ai nói chuyện gì với nhau , ai cũng có những nổi buồn canh cánh bên lòng và âu lo của những ngày sắp đến .

Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 , những kỵ binh còn sống sót sau trận chiến ở thị xã Bà Rịa của chi đoàn 2/15 TK ngồi trên chiếc tàu đánh cá đợi chờ tin tức từ trong đất liền , cho đến khi nghe tin T.T Dương văn Minh yêu cầu các binh sỉ bỏ súng và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện , Đ/Úy Lượng họp mặt tất cả kỵ binh để thăm dò ý kiến và cho phép mọi người được lựa chọn một trong hai con đường còn lại , một là đi về vùng IV chiến thuật hay ra đảo Phú Quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến chống cộng , hai là trở về để đầu hàng cộng sản và đoàn tụ với gia đình , khoảng 6 hay 8 người tôi không nhớ rỏ đã tình nguyện trở về với gia đình , đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi tiển đưa nhau , họ có an toàn trở lại với gia đình không ai biết , cũng như số phận của 36 người kỵ binh còn lại những tháng ngày sắp tới không biết về nơi đâu , Đ/Úy Lượng cho phép vài người vào bờ để mua sắm lương thực và chuẩn bị cho một cuộc hành trình về trên vùng vô định , tôi tình nguyện ở lại không biết có phải vì TỔ QUỐC , DANH DỰ và TRÁCH NHIỆM hay không , tổ quốc tôi với hơn 20 năm trưởng thành và 3 năm dài chiến đấu đã không còn , danh dự và trách nhiệm của một sỉ quan đã làm tôi ray rức nhiều hơn hết , có lẻ đó là động lực duy nhất thúc đẩy tôi vào quyết định chiến đấu đến cùng , hay kinh nghiệm của những ngày ấu thơ ở Đại Lộc ,Quãng Nam nơi tôi sinh ra và lớn lên trong vùng cộng sản chiếm đóng , chứng kiến sự tàn ác của chế độ cộng sản và cuộc đời chinh chiến đã để cho tôi nhìn thấy những đổ vở trên quê hương, do kẻ thù từ phương Bắc gây ra , nên tôi quyết định ra đi . Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975 con tàu lên đường ra khơi , mang theo những kỵ binh còn sống sót trong trận chiến sau cùng của chi đoàn 2 số đỏ [ biệt danh cho CĐ 2/15 TK ], một thời oanh liệt trên chiến trường Tây Ninh , Hậu Nghỉa, Bình Dương , Biên Hòa và Long Khánh của vùng III chiến thuật , những con đường in vết xích qua chiến trường Kampuchia năm 1971 và 1974, nay chỉ còn là dấu chân của một thời trong dỉ vãng , con tàu trực chỉ về hướng đông , trước mặt chỉ có màu biển xanh và bầu trời rộng mở , sau lưng là hướng tây , đỏ rực màu nắng của bóng chiều lên khi mặt trời vừa xuống , đó cũng là hình ảnh sau cùng để tôi nhìn lại quê hương Việt Nam thân yêu, gia đình tôi không còn liên lạc từ ngày mất Đà Nẵng chắc không biết những gì xảy đến với tôi , tôi ra đi về một chốn lạ xa mà không biết có ngày trở lại , tương lai tôi như bóng tối đại dương mà con tàu đang dấn bước , trong bóng đêm mịt mùng chỉ còn nghe tiếng sóng vổ và từ phía chân trời xa có ánh đèn lấp lánh trong màn đêm , những ánh đèn trên chiến hạm của đệ thất hạm đội Hoa Kỳ , cũng là ngọn hải đăng cho con tàu lưu lạc trong cơn bảo tố của quê hương , soi đường cho cuộc hành trình của 36 kỵ binh chi đoàn 2/15 TK về trên vùng đất mới .


Thiên Chương chi đoàn 2/15 TK mùa xuân 2009

Thursday, December 23, 2021

HÙYNH ĐẠM : NGƯỜI LÍNH KẾ TOÁN TÁC XẠ CỦA TÔI - Lưu Hoàng Kỳ


                             (hình minh hoạ)

Vừa đến cửa văn phòng Ban Chỉ Huy pháo binh Tiểu Khu Quảng Ngãi tôi gặp Thiếu úy Võ Hoàng đi ra. Tôi và Hoàng học cùng lớp Đệ Thất 4, đến Đệ Tứ 4 ở trường Trần Quốc Tuấn. Lên đệ Tam tôi ban A, Hoàng ban B nên không còn gặp nhau đến bây giờ là tám năm. Cả hai đều ngạc nhiên,vừa bắt tay tôi hỏi: - Hoàng, sao ông ở đây? - Mình về gặp Thiếu Tá - Còn Tiến tới đây làm gì? đi khóa mấy vậy? - Mình khóa 5/70, mới từ 20 chuyển về. Hôm nay trình diện, ủa Hoàng làm Trung đội trưởng hả? - Ừ, Trung đội 109 đóng bên Sơn Tịnh. Hoàng kéo tôi ra sân:- “Vậy là Tiến thay cho mình rồi. Cách đây mấy tuần Thiếu tá nói đã gởi công điện xin một Trung úy hoặc Thiếu úy thâm niên về thế Trung đội trưởng 109, để mình về thay cho Trung úy Thành đổi đi Nha Trang”

<!>

Hai đứa vui mừng hỏi thăm bạn bè cùng lớp, đứa còn đứa mất? Võ Hoàng khóa 6/ 69 (hai tháng sau lên Trung Úy). Sau nầy tôi mới biết Võ Hoàng là sĩ quan xuất sắc nhất trong bốn sĩ quan Trung đội trưởng của pháo binh Tiểu khu Quảng Ngãi, rất được lòng Thiếu tá Trần Trai Chỉ Huy Trưởng, nên ông đem về làm sĩ quan Quản Trị Tiếp Vận. Nói chuyện một lát, chiếc xe jeep lùn mang bảng số: 170310 gắng máy VRC 46 có cần ăng ten trờ tới, Hoàng lên xe, bọn tôi chia tay chúc may mắn và hẹn gặp lại.

Tôi vào gặp Trung úy Thành trước khi trình diện Thiếu Tá Trần Trai Chỉ Huy Trưởng. Sau khi xem Sự Vụ Lệnh ông nhìn tôi:

- Tạm thời anh phụ tá cho Trung úy Thành, tôi sẽ sắp xếp sau nhé.

- Tuân lệnh.

Tôi chào kính lui ra. Từ đó tôi thay Trung úy Thành khi ông vắng mặt. Trực Trung Tâm Hành Quân. Cập nhật kế hoạch “hỏa yểm” trong ngày lên bản đồ, để Thiếu tá Trai thuyết trình cho Đại tá Tiểu khu trưởng vào mỗi buổi chiều.

Thế rồi mọi việc diễn ra như dự định. Trung úy Thành chuyển đi Nha Trang, Thiếu úy Võ Hoàng về Quản Trị Tiếp Vận. Tôi ra Trung Đội Trưởng 109, thay thế Thiếu úy Hoàng.


Lễ bàn giao diễn ra nơi trung đội 109 pháo binh đang đóng, trên ngọn đồi bên cạnh Chi Khu Sơn Tịnh. Đầy đủ lễ nghi và thủ tục, có tiệc tiễn đưa, với sự chứng kiến của Thiếu tá Trần Trai Chỉ huy trưởng Pháo Binh Tiểu Khu Quảng Ngãi.

Sau một tuần ổn định. Tôi thấy cần đào tạo thêm một kế toán tác xạ. Đã có Trung sĩ nhất Chắt kế toán trưởng, Hạ sĩ Đa và Nguyễn Đức phụ tá. Nhưng tôi muốn có thêm kế toán trực tác xạ để anh em có thể luân phiên đi phép.

Sau khi xem hết hồ sơ cá nhân, tôi chọn Huỳnh Đạm đang ở khẩu đội Một của Trung sĩ Thí. Trung sĩ nhất Chắt tác xạ cho biết: “Đạm mồ côi cả cha lẫn mẹ, chỉ còn hai anh em, hiền lành, chỉ có tội mê gái”. Tôi cười: “mới mười tám tuổi mà mê gái cái gì?”. Khi lên trình diện cảm nhận đầu tiên là Đạm rất trẻ, trẻ tuổi nhất của trung đội, cao ráo đẹp trai, nét thông minh vui vẻ hiện trên gương mặt. Đạm cho biết: “Học trường Trần Cao Vân Tam Kỳ, rớt Tú Tài Một, không muốn vào Đồng Đế nên đi pháo binh”. Sau khi trao đổi vài điều về cá nhân và ý định đưa lên học tác xạ. Tôi cười cười: “Nghe nói em mê gái lắm hả, có “bồ” chưa?”. Nó cười bẽn lẽn: “Dạ, đâu có Thiếu úy, ai mà thương em?” Sao vậy? “Dạ tại nghèo quá”. Đẹp trai thì không cần giàu đâu. Tôi cười.


Từ đó Đạm dọn lên ở đài tác xạ, TS Chắt dạy nó chấm tọa độ lên xạ bản, sử dụng “quạt hướng tầm”, “họa xạ biểu”, “thước tà giác” để tính yếu tố tác xạ. Nói chung Đạm tiếp thu nhanh và trở thành một kế toán . Nguyễn Đức đang làm kế toán tác xạ là một nhân vật khá đặc biệt: “Thiếu úy Võ Hoàng, Thiếu úy Lê Văn Hùng (trung đội trưởng 110) và Nguyễn Đức là bạn thân, học cùng lớp từ đệ Tam đến Đệ Nhất ở Trần Quốc Tuấn (cùng năm với tôi). Sau đó Hoàng và Hùng đều nhập ngũ khóa 6/ 69 Thủ Đức.


Nguyễn Đức vào sài gòn học đại học Khoa Học, mới được hai chứng chỉ thì lệnh động viên năm 1972 phải vào Thủ Đức. Nguyễn Đức không đi sĩ quan, chạy về Quảng Ngãi chui vào Pháo binh, đầu quân làm lính của thằng bạn thân là Võ Hoàng, Hoàng che chở bạn bằng cách đem Đức lên đài tác xạ làm kế toán”.

Lúc mới về Trung đội tôi ngạc nhiên trong hồ sơ cá nhân thì khai lớp Đệ Tứ, binh nhì chưa học C1, C2 tác xạ, mà sao Đức quá giỏi, tính yếu tố nhanh như gió, làm phiếu “chuẩn định chính xác”, giải “Điệnvăn khí tượng Nato” làu làu không suy nghĩ. Một hôm tôi hết hồn khi nghe “anh chàng” giảng cho Đạm áp dụng “Bảng Thị Sai M10” trong tác xạ khẩn cấp, và “bắn góc cao” khi gặp “tà giác” bức chắn. Tôi hỏi TS Chắt mới biết sự việc.


Thú thật bọn tôi đã học căn bản pháo binh có trường lớp đàng hoàng, nhưng ra trường đi đề lô mấy năm, kiến thức tác xạ rơi rụng theo bộ binh hết trơn. Nên thời gian đầu mới về Trung đội tác xạ cũng “quờ quạng”, như bản thân tôi phải “bí mật” lấy quyển “Tác Xạ Đại Cương” về phòng học lại, chỗ nào bí quá ghi vào sổ, về Tiểu Khu hỏi Thiếu Úy Võ Hoàng, không để Hạ sĩ quan tác xạ biết mình yếu. Nhiều đứa là sĩ quan nhưng trong trường Pháo Binh lười học, ham chơi thì về tác xạ “quờ quạng” là chuyện thường, vì nó là toán học.

Vậy mà Đức thì cứ cộng trừ nhân chia thoăn thoắt thuộc bản logarit y như hằng đẳng thức đáng nhớ. Tuy vậy Đức rất khiêm tốn, không khoe khoang chuyện học hành, ai nói gì cũng cười.


Sau biến cố năm 1975 Nguyễn Đức về quê ở Bình Sa làm giáo viên Trung học dạy Toán cho đến khi nghỉ hưu và đã qua đời năm 2015.

Điều may mắn nhất của tôi là các nhân viên tác xạ đều giỏi. Ngoài Đức ra thì Trung sĩ nhất Chắt và hạ sĩ Đa đều là hai tay giỏi và rất thông minh. Đa cũng thi rớt Tú tài Bán Phần đã có bằng C2 tác xạ.

Từ ngày lên đài tác xạ làm kế toán. Đạm tự nguyện giúp tôi những việc lặt vặt, xem nó như một người em, luôn bên cạnh. Gần gũi mới biết gia cảnh nó rất đáng thương:


“Năm 1963 cha bỏ mẹ theo “bồ”, lúc Đạm tám tuổi, cu Đạt lên năm. Mẹ nó buồn dữ lắm, bà đổ bệnh một thời gian dài, ngày nào cũng nhìn ra ngõ trông chờ sự hồi tâm của người chồng bội bạc, nhưng biệt vô âm tín. Nhìn hai con thơ bơ vơ thấy mình phải sống, cố gượng dậy, bỏ lại sau lưng đau buồn hờn tủi, lấy công việc để tìm quên. Mẹ sang lại một sạp bán vải ở chợ Tam Kỳ. Ngoài thời gian buôn bán bà về lo cho hai con. Vết thương dù không lành, nhưng đền bù là hai con ngoan và chăm học, các con là niềm vui là nguồn sống duy nhất. Hai anh em Đạm lớn lên trong vòng tay yêu thương của mẹ. Nhưng định mệnh cay nghiệt không chịu buông tha.

Một ngày tháng 10 năm 1970, trong một chuyến đi mua hàng, chiếc xe khách từ Tam Kỳ đi Đà Nẵng vừa ra khỏi Tuần Dưỡng độ vài kilomet bị nổ tung khi đạp phải một quả mìn của Việt Cộng chôn trên đường đêm qua. Mười tám hành khách bị thương nặng, sáu người chết trong đó có mẹ của Đạm. Năm đó Đạm lên mười lăm, đang học lớp chín, cu Đạt mười hai, học lớp sáu.


“Họa vô đơn chí”. Cha bỏ đi bây giờ mất mẹ, hai anh em bơ vơ như cánh chim lạc giữa trời trong cơn giông bão. Căn nhà mẹ để lại trở nên mênh mông với hai đứa trẻ cô đơn sau mỗi buổi tan trường. Những bữa cơm tẻ nhạt hai anh em ngồi nhìn nhau nhớ mẹ, òa lên khóc. Thằng cu Đạt sợ ma vì cái bàn thờ mới, nó cứ bám sát anh mỗi khi bóng tối trở về. Nhiều đêm hai anh em lên giường nằm ôm nhau khóc. Giấc ngủ đến Đạm thấy mẹ đứng bên giường, giật mình tỉnh dậy mới biết là chiêm bao, Đạm gục xuống tìm bàn tay em nắm chặt, nước mắt tuôn dòng.


Thấm thoát đã hai năm trôi qua. Nỗi đau nào rồi cũng phai dần theo tháng năm. Hai anh em vẫn đến trường và lớn lên trong cảnh mồ côi. Dĩ nhiên chuyện học hành của Đạm không còn được như trước, kỳ thi Tú Tài năm 1972 Đạm bị hỏng. Thất vọng, nằm vùi mấy ngày, Đạm quyết định dẫn em lên gởi cho ông chú làm ở Ty Cảnh Sát Tam Kỳ nhờ ông lo cho nó tiếp tục đi học”. Đạm vào lính pháo binh về Trung đội 109”. Nghe chuyện của nó tôi buồn theo. Có thể còn quá trẻ, mới mười tám tuổi lại đẹp trai nên đi đâu có con gái là sà vào tán tỉnh, cho nên Trung sĩ Chắt nói nó mê gái là vậy. Lãnh lương Đạm mang về gởi ông chú lo cho em, thỉnh thoảng xin tôi đuôi sắt, kết gỗ đem bán kiếm thêm tiền.


Từ khi tôi về, đến năm 1975 Trung đội 109 hoán đổi qua các vị trí: Đồi 74, Tư Nghĩa và sau cùng là Bình Sơn. Tình đồng đội thắm thiết, và thương nhau như anh em một nhà. Đạm luôn bên tôi như hình với bóng. Bị “đồng minh” bội phản. Tình hình đất nước diễn biến bi thảm do sự cắt giảm quân viện của Hoa Kỳ, theo tinh thần hiệp định Paris. Từ trung tuần 1974, chúng tôi không còn đạn để yểm trợ quân bạn, đạn tồn kho xuống dưới mức an toàn, nòng đại bác hết đời tác xạ. Hàng chục công điện “khẩn” tôi gởi đi đều được trả lời: “đợi”. Kho 513 đạn dược đã cạn, quân cụ rỗng kho. Tôi được lệnh hạn chế tác xạ tối đa, chỉ được bắn một đến hai quả mỗi lần, khi quân bạn chạm địch.


Những nhu cầu quân sự khác cũng chung số phận, quân trang quân dụng thiếu hụt. Máy PRC 25 không còn pin để trực tác xạ. Phi cơ, thiết giáp nằm ụ vì không có nhiên liệu. Lính bộ binh chỉ còn nhận một nửa cấp số đạn khi hành quân, lựu đạn không đủ phát cho quân nhân. Tinh thần chiến đấu của binh sĩ xuống thấp thấy rõ.

Cán cân quân sự bắt đầu nghiêng lệch, khi Cộng Sản Bắc Việt được Nga Sô, Trung Cộng viện trợ ồ ạt, hỏa lực dồi dào mở những cuộc tấn công. Tình hình chiến trường diễn biến xấu mau lẹ sau cuộc triệt thoái thất bại của Quân Đoàn Hai. Tại Quân Đoàn Một rút bỏ Quảng Trị, Huế bỏ ngỏ, Ngày 23 tháng 4 Tam Kỳ bị Cộng quân tràn ngập.


Chiều ngày 24 tháng 4 năm 1975 tại Bình Sơn, tôi nhận một công điện “mật khẩn” từ đại úy Tùng Chỉ Huy Phó pháo binh Tiểu Khu: “...Trung đội 109 yểm trợ tối đa cho cuộc di tản của các đơn vị từ Quảng Ngãi đi Chu Lai....Tiêu hủy đại bác, kho đạn khi xong nhiệm vụ ....”. Trung đội 109 pháo binh đã thi hành lệnh sau cùng của BCH pháo binh Tiểu khu Quảng Ngãi.


Trên quốc lộ, xe cộ đủ loại và một biển người đạp lên nhau trốn chạy, tình hình vô cùng hỗn loạn. Đến 12 giờ khuya hệ thống vô tuyến mất liên lạc với BCH pháo binh Tiểu Khu, qua hệ thống pháo binh Sư Đoàn cũng không được. Tôi cho chấm dứt tác xạ và thi hành lệnh “tiêu hủy” đại bác và kho đạn, lửa bốc cháy. Trung đội lên xe nhập vào dòng người di tản. Ra khỏi cầu Bình Sơn là một giờ khuya, bị Việt Cộng chận đánh. Hỏa tiễn, đạn cối, B40, súng cá nhân bắn xối xả vào dòng người, kẻ sống dẫm lên xác người chết mà chạy. Tôi cho binh sĩ xuống xe. Mọi việc diễn ra ngoài tầm kiểm soát, không ai có thể điều quân trong một biển người dân và lính hỗn độn, giày xéo đạp lên nhau. Trong khi cọng quân bám sát tác xạ tự do. Trung đội 109 pháo binh thất lạc và tan rã từ giờ phút đó.


Quốc lộ bị chận, người ta tỏa đi tìm đường chạy ra Chu Lai, thì tôi không nỡ bỏ anh em đồng đội, mò tìm người nầy người kia mà trời tối đen như mực, nên bị bỏ rơi lại. Cuối cùng chỉ còn Nguyễn Lòng tài xế, và Huỳnh Đạm bên cạnh.

Trời sáng ba thầy trò lẫn vào ruộng mía chờ đêm xuống đi tiếp. Đến nữa đêm hôm sau chuẩn bị vượt sông, thì hướng Chu Lai bốc cháy và đạn nổ long trời. Tôi ngã quỵ vì tuyệt vọng. Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn đã di tản.


Sáng hôm sau ba thầy trò bị vây bắt. Tôi không còn bình tĩnh biết những gì xảy ra, thần kinh bị tê liệt, chỉ biết Việt cộng rất đông và hung dữ quá. Tôi bị đánh tơi tả tối tăm mặt mày bằng báng súng vào đầu vào lưng, bụng, thừa chết thiếu sống ự..ự..ự.., bộp ..bộp..bộp.. ự..ự ..bộp ..bộp. Tôi ngã xuống bị nắm tóc xách dậy đánh tiếp, mà đánh toàn bằng báng súng. Cảm giác đầu như vỡ ra, mắt hoa, nghe mùi tanh của máu, máu từ đầu, miệng mũi trào ra chảy xuống áo quần đỏ lòm. Tôi thấy cái chết thật gần, gục xuống mặc cho số phận. Tiếng Việt Cộng gọi nhau í ới, tiếng ra lệnh. Tôi nhắm mắt chấp nhận cái chết, muốn biến khỏi cuộc đời nầy.


Một bàn tay nắm tóc lôi dậy, tôi đứng không vững ngã chúi về phía trước, dù cố gắng hai mắt không mở ra được, đưa tay lên sờ mặt mới biết nó biến dạng, phình to như quả banh nhầy nhụa máu. Hai tay tôi bị trói quật sau lưng, dính chùm với hai người lính, tôi chao đảo bước đi trong đau đớn rã rời từ thể xác đến tâm hồn.

Chúng tôi bị dẫn đi hai ngày đêm đến một “Trại Tập Trung” trong rừng phía tây quận Bình Sơn. Khi đến thì đã có hàng ngàn người. Thôi thì đủ mọi binh chủng, mọi cấp bậc, chức vụ. Ngày nào cũng có hàng chục, hàng trăm người bị trói tay dẫn về, nhưng không có ai trong trung đội 109 pháo binh của tôi.


Cố gắng đến được trại giam thì tôi ngã bệnh, tinh thần suy sụp, thêm trận đòn thừa chết thiếu sống làm hình hài tôi biến dạng, da đầu bị tét, mặt mày bầm tím sưng húp máu khô thành từng mảng lem luốc. Tôi lên sốt li bì người nóng như than, tâm trí bồng bềnh lúc tỉnh lúc mê. Nghe ai mách bày Đạm hái lá rừng nhai đắp lên những vết thương trên đầu và mặt lúc nào tôi không hay biết.

Là nơi tập trung để thanh lọc nên chưa phải lao động nhiều. Mỗi ngày tù chia nhau đi lấy củi, một số đi đốn cây làm thêm trại để đón tù mới. Tôi nằm liệt nên không lao động, Đạm đi lấy củi về xong là quanh quẩn bên tôi.


Nhập trại đã ba ngày tôi vẫn không ăn, hình như cơ thể không còn nhu cầu cho sự sống. Đạm sợ tôi chết. Cứ trời tối nó đem về nửa lon sữa bò cháo nấu bằng cơm cháy đen thui ép buộc tôi ăn. Miệng đắng nghét, đầu nhức buốt, mà cháo là một thứ nước đen ngòm lợn cợn vài hột cơm cháy, không có muối lạc nhách, lại nồng nực mùi khói, không thể nuốt được. Nó thì thầm vào tai tôi: “Thiếu úy phải ăn mới sống được”, Tôi lắc đầu, giọng nó ngậm ngùi: “Thiếu úy thương em, khó lắm mới tranh dành được tí cháy dính ở đít chảo, ngồi nấu lén, còn phải canh chừng tụi nó”.

Tôi cựa không nổi, tả tơi như cái mền rách. Đạm tìm cách để tôi khuây khỏa bằng cách kể chuyện xảy ra trong trại, chuyện tin đồn, chuyện đi tìm người quen, gặp người ở đơn vị nầy đơn vị nọ, mà đơn vị mình thì không có đứa nào. Nói đã đời thấy tôi vẫn như xác chết, nó cuối nhìn sát mặt tôi rồi thở dài.


Đến ngày thứ năm hơi giảm sốt, Đạm dìu tôi ra bờ suối rửa vết thương, nó thì thầm: “Áo quần Thiếu úy máu không để em giặt cho, đồ em hôm qua giặt rồi”. Nhìn ánh mắt chân thành của nó bất giác nước mắt tôi chan hòa, Đạm vừa giặt đồ vừa đưa tay quẹt nước mắt. Từ lúc nhập trại, Nguyễn Lòng tài xế bị tách qua toán khác, chỉ còn mình Đạm theo sát tôi như một định mệnh. Nếu không có nó chắc thân xác tôi đã vùi nơi bìa rừng trên đường đến trại. Đạm lo cho tôi những gì có thể trong cảnh tù tội thiếu thốn. Tôi bảo đừng gọi Thiếu úy nữa, thì nó nói “quen rồi”.


Được mười ngày, một sáng tôi đang đứng dựa lưng vào gốc cây thì Đạm hớt hãi chạy đến cầm tay tôi: “Anh, em và thằng Lòng có tên chuyển trại rồi chưa biết đi đâu?”. Dứt lời nó nhìn xuống đất, mặt đầy nước mắt. Quá bất ngờ cổ tôi nghẹn lại, cả hai cùng bước tới bọn tôi ôm nhau thật chặt, hai anh em bật khóc: “Bao giờ mình gặp lại nhau?”. Nó hỏi tôi mà như nói vào hư không.

Bằng giọng nghẹn ngào Đạm dặn dò tôi đủ điều, nhắc nhở đủ việc, nhưng tôi có nghe gì nữa đâu! Trong tình cảnh nầy Đạm là cái phao duy nhất cứu sống tôi. Tai đã ù, lòng tôi như bão tố. Tôi đứng lặng nhìn Đạm trong hàng tù binh, đi được mấy bước nó quay lại nhìn tôi đưa tay lên vẫy rồi hướng ra bờ suối.


Tôi lăn lóc qua nhiều trại tù trong nhiều năm. Những suy sụp tinh thần của ngày đầu “đổi đời” tưởng không thể nào vượt qua, rồi cũng nguôi ngoai. Cuộc đời tù khổ nhục, đói rách tả tơi cũng không làm sao tôi quên được tấm chân tình của Huỳnh Đạm và nhớ anh em trong đơn vị. Cái đêm định mệnh đó không biết ai còn ai mất? Không biết Đạm bây giờ ở đâu, sống thế nào?

Tôi ra khỏi nhà tù mang theo bản án quản chế. Về xóm làng không khí khủng bố nặng nề ngột ngạt, phải trình diện làm bản tường trình hàng tuần. Hết đi gỡ mìn, tới đắp đập, đào kênh, còn bị kêu lên kêu xuống liên miên. Tất bật với cuộc mưu sinh, nghèo khó đói rách bủa vây. Muốn tìm Đạm nhưng không có điều kiện.


Năm 1980 tôi bỏ Quảng Ngãi vào Miền Nam tìm đất sống. Từ đó không gian cách trở, cuộc sống khó khăn, tôi không có tin tức gì về Huỳnh Đạm dù tôi cố gắng hỏi tìm khi có dịp. Ngày chia tay Đạm là 8 tháng 5 năm 1975. Nay là 2010, đã ba mươi lăm năm, quỹ thời gian không còn nữa. Tôi nghĩ là chẳng còn cơ hội gặp nhau trên cõi đời nầy.

Bỗng một hôm lúc 8 giờ tối điện thoại đổ chuông.

- A lô

Bên kia tiếng đàn ông lạ:

- A lô, ông thầy đó hả?

Tôi nghĩ ai gọi lộn số.

- Xin lỗi chắc anh lầm máy .

- Em đây mà, Huỳnh Đạm đây.

Trời đất! Niềm vui bất ngờ đã 35 năm. Bây giờ thì tôi đã nhận ra âm sắc của Đạm: “Em đi khám bệnh ở Đà Nẵng gặp Trung sĩ Ngọc cho số điện thoại của anh”. Đạm dồn dập hỏi đủ thứ. Bọn tôi tóm tắt chuyện trong hơn một phần ba thế kỹ.


Một tuần sau Đạm có mặt ở nhà tôi. Ngày chia tay nhau Đạm mới hai mươi tuổi, đẹp trai, bây giờ gặp lại đã một ông già gần 60, da nhăn nheo, mắt lờ đờ, chậm chạp, tóc bạc trắng lưa thưa, bày cái trán hói.

Ăn cơm trưa xong hai anh em lên gác nằm, nghe Đạm kể chuyện đời:

“Ngày chia tay nhau, toán của Đạm vào Thạch Nham đắp đập, Đến tháng 12 năm 1975 thì được thả về. Sau tháng 4 năm 1975, gia đình ông chú cũng tan nát. Ông bị đánh chết trong “trại cải tạo” Tiên Lãnh. Thằng Đạt học xong lớp mười hai, trở về nhà cũ chờ anh ra tù. Mỗi ngày nó đạp xe lên núi mua củ mì, củ lang, chè lá, gặp gì mua đó, về chợ bán kiếm tiền vô Thạch Nham thăm anh mỗi tháng.


Ra tù, buổi chiều về đến nhà hai anh em ôm nhau khóc. Bữa ăn đoàn tụ tối đó là một rổ khoai mì luộc. Con đường trước mắt báo hiệu đầy gian nan không lối thoát. Muốn đi cùng em thì trở ngại vì chỉ có một cây xe đạp, mua thêm cây nữa không có tiền. Cuối cùng để em đi một mình Đạm ra bến xe Tam Kỳ bốc vác, làm thuê, ai kêu gì làm nấy. Bảo đi học nghề Đạt lắc đầu: “Tiền đâu? ai cũng đói, cơm không đủ ăn, có nghề nào sống được?”. Thương em thì nói vậy thôi, chứ cả nước điêu tàn xơ xác vì đói. Lại thêm quy định của “cách mạng” quá khắt khe, bà con láng giềng không ai tin nhau, nhìn mặt người nào cũng như đăm chiêu, tính toán. Không khí nặng nề, chết chóc, sợ hãi bao trùm toàn xã hội.


Hai anh em ăn cháo loãng với muối, nếu hôm nào Đạm từ bến xe về tay không. Nữa đêm thức giấc, nhìn thằng Đạt bên cạnh gầy còm nằm co ro. Đạm ra hè ngồi khóc thương em, thấy mình bất lực, cuộc đời hai anh em là một bài toán khó không giải được, tất cả đã ngoài tầm tay. Năm 1978 Đạt có tên đi “nghĩa vụ quân sự”. Nó quyết định theo một người quen vào Sài Gòn, Đạm đành chìu ý em, ở lại cũng cùng đường. Hai anh em ôm nhau khóc vùi hôm Đạt lên xe.


Năm sau Đạm lấy vợ. “Nồi nào úp vung đó”, Tâm là bạn cùng lớp với Đạm thời Trung Học. Sư Phạm Qui Nhơn mới ra trường dạy ở quận Lý Tín. Mẹ và thằng em trai rơi xuống biển chết khi tranh nhau lên tàu đêm di tản ở Chu Lai tối 25 tháng ba. Cha làm Xã Trưởng bị Việt Cộng bắt đưa đi thủ tiêu mất tích chỉ hai tuần sau đó. Gia đình tan nát, còn lại một thân một mình, lại bị cho thôi dạy vì thành phần “nợ máu”. Tâm trở thành cô bán “đậu hủ” gánh rong ở chợ và bến xe Tam Kỳ. Kẻ khổ gặp người khó, cùng mồ côi lại là bạn một lớp, cùng lang thang kiếm ăn mỗi ngày ở bến xe, vậy là thành vợ chồng.


Ngày Tâm về nhà Đạm, không họ hàng, không lễ nghi, không rượu bánh, không cau trầu. Tất cả đều không, nhưng hạnh phúc thì có nhiều. Một năm sau đứa con gái chào đời đặt tên Hải Triều, rồi mười hai tháng sau thằng cu cũng “tranh thủ” chui ra tên Hải Âu. Hai vợ chồng xoay trở tứ bề nhưng vẫn thiếu. Chỉ có tình yêu là dư thừa.


Nhưng nếu dòng đời cứ lặng lờ trôi thì không có gì để nói. Cuối năm 1982 trước tết có mấy ngày Đạm nhận hung tin thằng Đạt bị hải tặc Thái Lan chặt đầu ném thây xuống biển trong một chuyến vượt biên. Người còn sống sót được tàu Na Uy cứu vớt nhắn tin về. Đang bốc vác hàng vào kho cho một nhà buôn, Đạm ngã quỵ, khóc ngất: “Em ơi! Đạt ơi!”. Từ bến xe về nhà khóc hù hụ, bước chân chếnh choáng như người say, miệng cứ gọi tên em. Từ ngày vào Sài gòn, năm rồi Đạt mới về thăm anh chị lần đầu tiên cũng là lần duy nhất. Hai anh em ôm nhau khóc vùi, cả đêm không ngủ ngồi nói chuyện đến sáng: “Vào Sài Gòn Đạt đi làm thuê không lấy tiền công, chỉ xin được ăn cơm và học nghề máy dầu. Có nghề vững vàng nó theo thằng bạn ra Long Hải làm thuê cho một người sửa máy tàu đánh cá”.


Đạt về thăm để chào anh chị ra đi. Đạm chỉ khóc vì không lo gì được cho em, Đạt bồng bế nựng nịu hai cháu suốt ngày, nó mừng cho hạnh phúc của anh. Ngày đi chỉ để đủ tiền xe, Đạt móc trong túi đến đồng bạc lẻ sau cùng để hết lại cho anh. Đạm từ chối, đùn qua đẩy lại cuối cùng nó tuyên bố: “Anh đừng nhìn em nữa”. Cầm đồng tiền của em Đạm òa lên khóc.

Nằm vùi cả tuần lễ, rồi cũng phải gượng dậy. Nhưng từ đó Đạm hay uống rượu vào mỗi buổi chiều, rồi gọi tên em ôm mặt khóc. Dòng đời lại cứ trôi. Bữa đói bữa no, ngày thiếu ngày đủ hai con cũng lớn theo thời gian.


Năm 1993 thời kỳ “mở cửa”, người dân được đảng “cởi trói” nên chuyện mua bán làm ăn dễ thở hơn. Tâm có sạp bán rau trong chợ Tam Kỳ, Đạm mua được chiếc xe ba gác. Ăn tối xong hai vợ chồng đi lưới cá bằng chiếc ghe nang nhỏ trên sông, vợ chèo, chồng thả lưới. Hải Triều học hết lớp chín thì ở nhà phụ mẹ bán rau ngoài chợ, vì mẹ thường mệt bất thường. Thời gian qua mau hai con đã lớn và vợ chồng Đạm cũng già đi. Hải âu đẹp trai giống bố như dạo còn thanh niên.

Năm 1998 Hải Âu đậu vào trường đại học kỹ thuật điện Thủ Đức. Vừa nhận giấy báo cũng là lúc mẹ nó phát bệnh, cả nhà chết đứng khi kết quả xét nghiệm Tâm bị ung thư tử cung giai đoạn cuối. Trời đất như đổ sập ba cha con ôm nhau khóc. Đạm trách trời, trách đất, rồi tự hỏi Chúa, Phật có từng hiện hữu thật sự trên cõi đời nầy hay không? Tâm rất bình tỉnh đón nhận hung tin, dặn dò hai con phải thương cha, “ đời cha nhiều bất hạnh, mẹ mãn nguyện vì hai con ngoan và vui khi Hải Âu được vào đại học”.


Một ngày trước khi trút hơi thở cuối cùng Tâm thều thào: “Em thương anh nhiều lắm Đạm ơi! chỉ xin một điều thôi: em đi rồi anh đừng uống rượu nữa, lo nuôi con khôn lớn”. Nhưng Đạm lại đến với rượu nhiều hơn, ngày nào cũng say vùi, say túy lúy, say không biết đất trời, say rồi ôm mặt khóc. Hai chị em ngày nào cũng đi tìm cha, thường ra mộ mẹ cõng cha về. Quyết định bỏ học của Hải Âu đưa Đạm đến một ngã rẽ quyết định. Phải ra đi, phải tránh xa cái không gian mà nhìn đâu cũng đầy ắp những yêu thương làm nát lòng, nhìn đâu cũng thấy mẹ, thấy em, thấy vợ. Nhất định thằng Hải Âu phải được đi học


Đóng cửa nhà, ba cha con dắt nhau vào Sài Gòn. Thằng Hải Âu lên trường ở ký túc xá. Đạm thuê căn phòng nhỏ bề bốn mét trong hẻm Lê Quang Định, đủ để cha con có chỗ đi về. Đạm bắt đầu việc làm mới: Đạp xích lô. Trời thương từ ngày ra nghề Đạm không thiếu khách. Quanh quẩn khu chợ Bà Chiểu, Lăng Ông, có hôm vòng ra bến xe Miền Đông, chiều tối về phòng. Công việc như một chu kỳ khép kín, Đạm không còn tìm đến rượu nữa. Hải Triều phụ việc cho một quán ăn trong chợ Bà Chiểu. Cuối tuần Hải Âu về thăm cha nói đã xin được chân bưng bê, rửa ly cho một quán nước ngoài giờ học. Nó dự trù khi tìm được việc khá hơn thì cha không đạp xích lô nữa.


Rồi dòng đời cứ trôi, duyên trời đưa đẩy, một năm sau Hải Triều lấy chồng. Nó từ chối cuộc hôn nhân, không nỡ bỏ cha, nhưng Đạm muốn tìm lối thoát cho con. Ngày đi theo chồng nó ôm cha khóc nức nở. Đông tàn rồi xuân sang, thời gian như bóng câu qua mành, Hải Âu học năm cuối. Đạm vẫn sáng đạp xe đi tối đạp xe về một mình lầm lũi như chiếc bóng, ngồi trông con cứ mỗi cuối tuần. Hải Âu ngoan, không đua đòi bon chen như bạn bè, mấy năm sau nó làm thêm đủ lo bản thân, nên nhiều lần bảo cha không đạp xe nữa. Nhưng Đạm nói chưa đủ tiền để mua chiếc xe cho con đi làm Còn một tháng nữa Hải Âu ra trường, Đạm moi trong gối ra xấp tiền gói trong cái áo cũ mà đêm nào cũng săm soi, đếm tới đếm lui. Hải Âu run tay cầm mười lăm triệu bạc của cha rưng rưng nước mắt .


Cuối tuần sau Hải Âu về thăm cha bằng chiếc xe mới. Hai cha con nằm nói chuyện tương lai trên chiếc chiếu trải dưới nền nhà, nơi mà bốn năm qua cha con vẫn ngủ cứ mỗi cuối tuần, Đạm vẫn không bỏ thói quen ôm con vào lòng dù nó đã cao hơn bố. Mà Hải Âu thì cứ giữ cái tật gác đôi chân nặng chịch lên người cha lúc ngủ mê. Nhưng Đạm thì nằm yên chịu đựng sợ con thức giấc, mà cũng để nghe niềm hạnh phúc dâng lên theo nhịp tim đập từng hồi. Buổi chiều trước ngày mãn khóa Hải Âu chạy về mang theo bịch trái cây nói của thằng bạn cùng lớp dưới quê lên dự lễ ra trường. Nó vui mừng nói nhận bằng xong đã có công ty nhận đi làm ngay.

Đạm nghe như mình trẻ lại. Đêm đó trên cái “giá” làm bàn thờ, cây nhang nầy vừa cháy hết, Đạm lại đốt cây khác lâm râm khấn vái: Mẹ, vợ, em Đạt, phù hộ độ trì cho cháu, cho con.


Cả đêm không ngủ được. Nhìn thằng con nằm thở đều Đạm nghe tình thương căng đầy như khối dung nham chực phun trào. Chịu không nỗi nữa, Đạm nằm xuống choàng tay qua ghì chặt thằng con, hôn lên trán nó một hơi dài. Hải Âu mở mắt: “Cha không ngủ đi?” Đạm không nói cứ ghì chặt, mà nước mắt thì cứ tuôn dòng xuống mặt con trai. Hải Âu cũng ôm vai cha yên lặng.


Ngày hôm sau Đạm nghĩ đạp xe, ở nhà ra chợ mua con gà, vài ký thịt, nấu mấy món đơn sơ để làm lễ tạ ơn người quá cố, đã phù hộ che chở cho cha con đạt được nguyện ước. Sau đó mời vài người láng giềng hai bên để chung vui. Hải Triều theo chồng về mãi ngoài ngã ba Trị An, lại đang làm công nhân mới sinh con nhỏ, xa quá không về được. Thôi, làm đơn sơ, bia bọt thì thằng Hải Âu về nó đi mua sau. Sáng nay khi dắt xe ra cửa Hải Âu dặn bố: “làm lễ xong chậm lắm là 12 giờ con về ngay, cha nghĩ đi, để nguyên đó về con làm”. Đạm nhìn theo dáng thằng con chạy ra đầu hẻm, mà lòng dâng lên niềm vui lai láng. Nằm đã rồi ngồi, hai giờ rồi ba giờ. Đạm cứ nhìn ra đầu hẻm trông con, nó chưa sai lời với cha bao giờ.

Tiếng máy xe dừng lại trước cửa, Đạm nhìn ra, thằng Long bạn thân cùng lớp với Hải Âu nó thường dẫn về chơi. Không thấy con Đạm hỏi: “Hải Âu đâu cháu?”. Thằng Long không trả lời ngay, bước vào nhà tựa lưng vào tường giọng nghẹn ngào: “Thằng Hải Âu chết rồi bác ơi!” Sao chết? Giọng ai mù mờ vang vang trong cõi vô thức.


Đạm ngồi bệt xuống, mắt cứ mở to trân trối nhìn thằng Long. Khoảng không trước mặt một màu đỏ rực, đỏ như lửa cháy, khoảnh khắc lại sáng lòa, vầng sáng mênh mông tận chân trời, rồi tối đen như mực. Đạm thấy mình bay lướt trong không gian nhẹ nhàng như một cánh chim.

Sáng nay Hải Âu rủ thằng Long: “xong lễ tụi mình về ngay, mầy phụ tao nấu nướng, khi sáng nói với ông già rồi, về trễ ổng lo”. Nhưng nhóm bạn lại rủ ăn bữa cuối để chia tay.


Ngồi trong bàn Hải Âu cứ nhìn đồng hồ, hết thằng nầy nâng ly chúc mừng, đến thằng khác cụng ly chia tay. Kim đồng hồ chỉ hai giờ bảo thằng Long nhất định đi về. Lần đầu tiên nó uống nhiều, bước đi chếnh choáng,

Ngồi lên xe Hải Âu nhìn Long: “Nhanh lên, trễ quá rồi, ông già trông chết”. Nó chạy trước thằng Long theo sau, khoảng cách hai đứa cứ xa dần theo tốc độ. Qua khỏi nhà máy xi măng Hà Tiên, Long không còn tin vào mắt mình, người ta đang vây quanh thằng Hải Âu nằm úp mặt xuống đường, hình hài nó không còn nguyên vẹn, máu me lênh láng, chiếc xe đầu kéo đừng lại phía trước.....


Huỳnh Đạm về ở với Hải Triều ở ngã ba Trị An từ lúc nào cũng không biết, nó giải quyết mọi việc ra sao Đạm cũng không hay. Cả năm trường Đạm không biết là mình còn hiện hữu trên cõi đời nầy. Ngày lại ngày ngồi nhìn những vết loang vôi tróc lở trên tường, nhìn cái màng nhện đu đưa trong góc phòng, Đạm thấy không phải căn phòng, mà mình lạc vào một miền hoang đảo cô liêu.

Chiều chiều ra bãi tha ma thắp nhang cho con, ngồi bên nấm mộ cỏ mọc um tùm, nhìn khói hương bay lên thấy cuộc đời là giả tạo là ngắn ngủi. Hải Âu đã ra đi, đã vĩnh viễn lìa xa không trở về, nó đã đem theo sự sống, cả tình yêu thương khắc khoải của người cha. Âm dương xa cách Đạm ray rứt khôn nguôi về bí ẩn của một kiếp người.


Nhớ con lại tìm đến rượu, lại say, say để xóa đi từng thời khắc của cuộc đời. Say, để không còn thấy rõ đường đi của thời gian lướt qua khung trời quá khứ, có mẹ, có vợ, có em có thằng Hải Âu. Mỗi chiều Hải Triều lại ra nghĩa địa dìu cha về trong cảnh chập choạng của hoàng hôn. Bãi tha ma không một bóng người, con đường mòn luồn lách giữa những hàng bia mộ ngã nghiêng, tiếng côn trùng tỉ tê, những ngôi nhà xa xa đã lên đèn. Đạm say nhiều hơn tỉnh. Hải Triều thương cha nhưng cũng đầu hàng trước số phận dành cho mỗi con người, dẫu biết rằng hạnh phúc không thể chia đều cho khắp thế gian.


Tháng ngày cứ lặng lờ đi qua, Đạm đã già, bệnh tật đã xuất hiện, huyết áp rất cao, gan cũng có vấn đề. Rượu là nguyên nhân góp phần tàn phá hình hài và tinh thần vốn đã tả tơi vì giông bão của cuộc đời.

Những năm gần đây Đạm hay về Tam Kỳ thăm nhà cũ, thăm mộ mẹ, mộ vợ, ở lại năm bảy tháng. Vừa rồi đang ở Tam Kỳ Đạm phát bệnh, đi khám ở Đà Nẵng thì gặp Trung sĩ Ngọc là hạ sĩ quan Đạn Dược của trung đội 109 pháo binh. Từ ngày tan hàng rã đám mới gặp lại, Ngọc lớn hơn Đạm cả chục tuổi, cả hai đều già....”

Giọng Đạm đều đều, thỉnh thoảng ngưng lại nghẹn ngào hai bàn tay bụm mặt sụt sùi. Tôi im lặng, nước mắt cứ tuôn thành dòng xuống thái dương.


Câu chuyện chấm dứt, cả hai vẫn trong tư thế nằm nhìn lên trần nhà rất lâu, không ai nói lời nào. Nhưng trong đầu anh em chúng tôi cùng chung một cảm xúc. Cùng nghĩ đến cái vô thường của cuộc đời và mỗi người một số phận.

- “Trung sĩ Ngọc cho em số điện thoại của anh, mừng quá về đến nhà là gọi ngay.......”

- Em có tin tức gì về bố không?

- Không anh, đi biệt từ ngày đó, không ai gặp.

- Bệnh em bây giờ ra sao?

- Huyết áp cao lắm, lên đến 18, 20 hôm ở Tam Kỳ tưởng đi rồi anh à, gan thì tháng sau xét nghiệm lại.

- Em đừng uống rượu nữa, uống như vậy thì gan ruột nào còn?

Đạm bụm mặt nghẹn ngào:

- Đời em còn gì nữa đâu anh? Không có rượu em chết mất anh ơi!

Ngưng một lát Đạm tiếp:

- Sợ anh giận nên sáng nay đi gặp anh em đâu dám uống, mà cũng

phải tỉnh táo mới nói chuyện, chứ em uống vô là không biết trời trăng gì nữa anh à. Bây giờ miệng em lạt khó chịu lắm.


Đạm thông tin về anh em: “Trung sĩ Kim khẩu trưởng khẩu hai ở trước nhà thờ Tam Kỳ già lắm rồi còn bị điếc nữa, Nguyễn Thái Tào nhắm viên khẩu 1 chết ở Bình Sơn mấy ngày sau gia đình mới đi tìm, Cường truyền tin chết ở Nước Mặn, hạ sĩ Đa tác xạ mất tích. Trung sĩ Thừa chết bệnh”.

Đạm nói: “Hôm chia tay ở “trại tập trung” đi Thạch Nham sợ anh chết, suy sụp quá, anh ốm còn bộ xương, mà thương tích đầy mình...thấy nó đánh anh em tưởng tiêu rồi! Ngày nào em cũng khấn vái cầu xin cho anh bình an”


Đạm nhắc “chén cơm ân tình” ở trại tập trung, chuyện là thế nầy: “Ngày mới đến Trại Tập Trung, tôi kiệt sức nằm vùi không thiết tha gì chuyện ăn uống. Tới giờ kẻng ăn cơm, một mình Đạm sắp hàng đi ăn, khi về nó thì thầm: “Mỗi thằng chỉ một chén cơm!”. Tôi biết nó đói, vì hồi ở Trung đội Đạm ăn dữ lắm, ăn sáu, bảy chén cơm, nên anh em cứ chọc: “ăn như trâu”. Lần sau tới giờ ăn, dù đang sốt, tay chân rã rời tôi vẫn lết ra sắp hàng mà đạm phải ôm đỡ sau lưng. Nó mừng, tưởng tôi đã ăn được. Khi thau cơm đem ra chia mỗi người một chén, chan nước muối xong người ta tranh nhau ăn. Tôi chỉ đứng gục đầu hai tay vin vào sạp cây làm bàn, thấy vậy Đạm cứ thúc: “rán ăn đi anh”. Đạm lùa vài miếng là xong, tôi đưa chén cơm của mình cho Đạm. Suốt bốn ngày đầu cứ như vậy. Thật ra do miệng đắng quá, tinh thần suy sụp và tuyệt vọng đến độ tôi không cần sống nữa, không muốn ăn uống gì, chứ nếu nuốt được thì tôi cũng ăn vì bản năng sinh tồn mà! Đến ngày thứ năm trở đi chia chén cơm xong tôi chỉ ăn một nữa rồi cũng đưa cho Đạm. Hai anh em ở chung được mười ngày, Đạm chuyển trại”.


Hôm gặp lại Đạm cứ nhắc: “em không quên anh đã nhịn cơm cho em ăn....ngày đó đói quá, nhờ chén cơm “ân tình” của anh mà em sống được!”. Tôi cười: “anh không nuốt được, chứ không phải nhịn cho em đâu”. Nó nghiêng qua: “Anh không ăn được, đứng không nỗi mà cũng ra nhận phần là vì em, em biết chớ, nếu anh không ra thì em đâu có chén cơm đó”.

Đạm cho biết thứ hai tuần sau là ngày giỗ thằng Hải Âu, giỗ xong sẽ ra Tam Kỳ lợp lại mái nhà, tôi đề nghị: “Sao em không bán đi, sức khỏe yếu làm sao ra hoài được?” Đạm nói: “Cái đó sau nầy con nó tính, bây giờ còn mộ mẹ và vợ nên phải về, phải có chỗ ở anh à”


Gần 40 năm biết bao chuyện để nói. Tôi mời Đạm ở lại chơi nhưng nhất định về, tôi biết đã nhớ rượu, ở lại nó không thỏa mãn được. Tôi có thể đáp ứng nhu cầu rượu của Đạm, nhưng với tình thương chân thành dành cho em, và lương tâm không cho phép tôi, cho dù về nhà Đạm sẽ uống. Tôi đặt vào tay Đạm: “Gởi 200 em mua quà cho cháu ngoại, 300 em thay anh mua trái cây bông hoa ngày giỗ thằng Hải Âu. 3 triệu tiền xe và uống nước”. Tôi cười như mếu: “Nước chứ không phải rượu nghen Đạm”. Chúng tôi định khi về Tam Kỳ lợp nhà xong Đạm trở vào, tôi sẽ lên thăm cháu Hải triều, thăm mộ Hải Âu và nói chuyện nhiều hơn. Hai anh em ôm vai nhau, Đạm gục đầu vào vai tôi.


Tôi đón xe trả tiền luôn, Đạm bước lên quay lại nhìn tôi, đưa tay quệt nước mắt, nhìn theo xe chuyển bánh mắt tôi nhạt nhòa.

Vài tuần sau Đạm ra Tam Kỳ chúng tôi vẫn liên lạc nhau, nghe giọng lè nhè tôi nói: “Đã bệnh mà không kiêng bớt được sao em?” Lần nào cũng chỉ một câu nghẹn ngào: “Em buồn quá anh ơi!”.

Biết lời trách của tôi là vô nghĩa và phi lý nhưng còn ngôn ngữ nào khác đâu? Trước những bức bách khốn quẫn, chiều kích đau khổ quá lớn, một ký ức đau thương hằn sâu trong tâm hồn như thế, Đạm còn hướng thoát nào không?

Một tháng sau, điện thoại đổ chuông thấy số của Đạm: “A lô”. Giọng Đạm cứng và đứt quãng: “Em.....bị.. liệc... nữa...người....”. rồi không nói gì nữa. Tôi hỏi dồn dập không trả lời. Gọi liên tục cả chục lần cũng không bắt máy. Vài giờ sau tôi gọi lại thì điện thoại không còn tín hiệu. Hôm sau, rồi một tuần, một tháng rồi một năm vẫn không có thông tin.


Tôi vô tình quá, nên không có số điện thoại của Hải Triều ngả duy nhất để biết về Đạm. Hồi hay thì việc đã rồi. Cuối đời tôi vẫn tin mỗi người một mảnh đời, một số phận. Đúng là hạnh phúc không thể chia đều cho cả thế gian. Nhưng tại sao cuộc đời của Đạm lại chịu nhiều bất hạnh đến vậy? Bao nhiêu tai ương, bao nhiêu khổ nạn đổ ập xuống một con người. Nếu ngày đó tôi không chọn Đạm làm tác xạ thì sao? Làm gì có chuyện Đạm theo sát tôi trong cái ngày định mệnh đau thương đó? làm sao tôi vượt qua bờ tử sinh nơi không có điều kiện để sinh tồn?

Mọi việc đều có nhân duyên, hợp tan còn mất là định mệnh. Chúng mình gặp nhau trong cơn binh lửa của quê hương, và nỗi trôi theo vận nước.


Thấm thoát đã hết một đời người,ngồi nhớ lại đơn vị, nhớ lại bạn bè đứa còn đứa mất, trong đó có Đạm người lính kế toán tác xạ của tôi. Một mảnh đời bất hạnh đáng thương trên cõi đời nầy. Đạm ơi! Cuộc hội ngộ sau 35 năm không tin tức, đã sống lại trong tôi nỗi hoài nhớ bạn bè, một thời cận kề trong cơn binh lửa của quê hương. Đứa còn đứa mất, nỗi khắc khoải về số phận của con người, đã thống trị tâm hồn tôi một thời gian dài sau chiến tranh. Bao đau thương đổ vỡ, giữa muôn ngàn mảnh vụn của tan nát, tôi nhận ra rằng cuộc sống nầy là phù du.

Đạm ơi! Mỗi bước đi trong cõi nhân gian nầy đều ảnh hưởng đến số phận của một con người, ai lại không muốn mình bước chân vào ngôi nhà hạnh phúc? Nhưng cuộc đời vốn là vô thường là bể khổ trầm luân.


Ba năm rồi tôi vẫn chờ tin em, đôi khi nghe nỗi tuyệt vọng thoáng về bởi quỹ thời gian đã hết. Tôi cố quên những chênh vênh tàn nhẫn của hiện tại vì đã biết rằng cuộc đời chỉ là một cơn sóng phù du. Vết thương dù đau đớn cỡ nào rồi cũng theo ta về cõi hư vô.

Cầu mong em vẫn bình an ở đâu đó, cầu xin được an bình và cho tôi niềm tin mình còn gặp lại Đạm ơi!


Phước Tuy: Ngày 20 Tháng 10 năm 1993


Lưu Hoàng Kỳ

Trích hồi ký: "Ngày Không Có Mặt Trời"

Posted by Unknown at 16:29 

Cuộc đời của một người thuộc nhóm Trả Nợ Dồn (vì có tên hay ngày sanh bằng các số 4 8 13 17 22 26 và 31).

- Nước mắt của chúng sanh nhiều hơn đại dương -- Kinh Phật.

Nguồn của bài viết: 01 Huỳnh Đạm người lính kế toán tác xạ của tôi - YouTube

Y tên là Huỳnh Đạm, trước 1975 là kế toán tác xạ của một pháo đội 105 ly thuộc tiểu khu Quảng Ngải. 

Hồi y còn nhỏ, cha y theo vợ bé bỏ rơi mẹ và 2 anh em y. Sau đó khoảng năm 1970, mẹ y chết khi xe đò trúng mìn. Trước khi đi lính, vì rớt Tú Tài 1 (rất giỏi Toán), y đi lính pháo binh ở tiểu khu Quảng Ngải. Do có trình độ nên được cấp chỉ huy thương mến.

Sau khi đv tan rả vào tháng 3/75, y đi tù 5 tháng. Sau đó lấy vợ, có 2 con (1 trai 1 gái). Em ruột y vượt biên bị hải tặc chăt đầu, những người sống sót sau đó được tàu Na Uy vớt. Sau khi em chết, y bắt đầu giải sầu bằng rượu. Sau đó vợ y bị ung thư tử cung và chết. 

Y cố gắng đi làm nuôi con. Đứa con trai tốt nghiệp ĐH nhưng lại bị tai nạn xe cộ vào ngày tốt nghiệp. Con gái y lấy chồng nghèo và ở Thác Trị An. Do qua buồn chán vì có tới 4 người thân bị chết, y càng ngày càng nghiện ngập. 

Người viết bài này là một cựu thiếu úy, từng chỉ huy pháo đội của y vào những giờ phút cuối cùng.

Vì thấy cuộc đời y quá thê thảm nên tôi dùng Lý Thuyết Số (LTS) để phân tích tên họ của y.

1/ HUỲNH ĐẠM 

HUỲNH = 56155 = 22 = giữ nguyên.

ĐẠM = 414 = 9 

Cộng lại: 22 + 9 = 31= trả nợ dồn.

2/ Em của y là Huỳnh Đạt.

HUỲNH = 56155 = 22 = giữ nguyên.

ĐẠT = 414 = 9

Cộng lại: 22 + 9 = 31 = trả nợ dồn.

3/ Con của y là Huỳnh Hải Âu.

HUỲNH = 22 = giữ nguyên.

HẢI = 511 = 6

ÂU = 1 6 = 7

Cộng lại: 22 6 7 = 35 = 26 = trả nợ dồn. 

4/ HUỲNH = 22 = giữ nguyên.

THỊ = 451 = 10 = 1

HẢI = 511 = 7

 TRIỀU = 42156 = 18 = 9

Cộng lại: 22 1 7 9 = 39 = 

Qua phân tích trên, tôi thấy gia đình y có 3 người thuộc nhóm Trả Nợ Dồn gồm y, em của y và con trai.



Wednesday, December 22, 2021

Gigi Chao, con gái tỉ phú HK Cecil Chao.


Gigi Chao và cha là tỉ phú địa ốc Cecil Chao.

Phân tách tên họ của Gigi Chao theo LTS.

GIGI = 3131 = 8

CHAO = 3517 = 16 = 7

Cộng lại: 8 7 = 15 = rất may mắn.

Năm 2012, tỉ phú Chao tuyên bố sẽ tặng 65 triệu đô cho bất cứ ng đàn ông nào cưới được con gái đồng tính của ông (Gigi Chao). Năm 2014, ông tăng tiền thưởng thành 180 triệu.   

Ảnh 2: Gigi cùng người tình đồng giới.

                            


Được biết tỉ phú Cecil Chao có ngày sanh là 27, một số rất may mắn.

Cecil Chao - Wikipedia

Tuesday, December 21, 2021

NGÔ = 537 = 15 = 6

THÚY = 4561 = 16 = 7

VÂN = 615 = 12 = 3

Cộng lại: 6 7 3 = 16 

Tuesday, December 14, 2021

 Câu chuyện bắt đầu là không ai nhớ Tiểu Đoàn 4 thành lập năm nào, người thâm niên nhất là Chuẩn úy Hoàng Đàng khóa 17 Thủ Đức về trình diện TĐ 4/2 vào năm 1965 do Thiếu Tá Lại Văn Khuy là Trung Đoàn Trưởng, Trung Đoàn 2. Năm 1966 Thiếu Tá Vũ Văn Giai là Trung Đoàn Trưởng.

Ngày đó Trung đoàn 2 SĐ1BB có 5 TĐ tác chiến. Với địa thế hiểm trở ở vùng giáp ranh với Lào và miền Bắc VN. Trung Đoàn 2 được giao vùng hoạt động và trách nhiệm tại Quảng Trị nơi tuyến đầu giới tuyến nên mang biệt danh Trung Đoàn Giới Tuyến.

Từ năm 1966 đến năm 1969 dưới quyền chỉ huy tài ba của Đại Tá Vũ văn Giai dẫn dắt Trung Đoàn 2 tạo nhiều chiến thắng trên vùng hỏa tuyến Quảng Trị và trở thành người Trung Đoàn Trưởng sáng giá nhất trong QLVNCH với nhiều lần được đặc cách ngoài mặt trận.

Tiều Đoàn 4/2 được gọi là Tiểu Đoàn Hắc Long đã tham dự hầu hết các cuộc hành quân đẫm máu từ thung lũng Ashau, tiến chiếm những cao điểm tại A Lưới, Khe Sanh và Tchepone trong Hạ Lào (Lam Sơn 719). Những địa danh quen thuộc như Lao Bảo, Cam Lộ, Khe Gió, Đông Hà, Ái Tử, Gio Linh hay những căn cứ Sophia, Fuller, Caroll đều in dấu chân của người lính Hắc Long.

Huy hiệu TĐ 4/2 từ năm 196.. -1971

Trong những trận chiến với quân Cộng Sản, người lính của TĐ 4/2 đã đổ nhiều máu xương trên chiến trận và đã biết bao lần ngậm ngùi chia tay, chào vĩnh biệt các chiến hữu cùng chiến đấu cùng đơn vị đã VỊ QUỐC VONG THÂN.

* Thiếu tá VŨ VĂN PHAO, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 4/2 (19..- 1968)

Trong nghĩa trang Quốc Gia Arlington của Hoa Kỳ, khu mộ số 60 có tấm bia mang số 7898 có tên Thiếu tá Bộ Binh VŨ VĂN PHAO được chôn cất tại đây. Trong hồ sơ lưu trử của Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington chỉ để những dòng như sau:

South Vietnam - Major Phao Van Vu – Army - Section 60 - Grave 7898.

Thiếu tá Vũ Văn Phao nguyên là Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 4, Trung Đoàn 2,

Theo lời kể của Đại úy Hồ Văn Côn, Thiếu Tá Phao người Bắc xuất thân từ khóa 18 trường VBĐL. Vào đầu năm 1968, TĐ 4/2 đang hành quân tại A Lưới, TĐ đã qua 1 tuần không được tiếp tế lương thực vì thời tiết quá xấu với mưa bão liên tục. Các phi vụ trực thăng tiếp tế cho TĐ phải tạm thời đình chỉ. Trong tình cảnh đó các binh sĩ gần như bị đói phải tìm các cây trong rừng để mưu sinh. Cũng trong thời gian này, Thiếu Tá Phao đi phép, khi trở lại hậu cứ, nghe báo cáo tình trạng trên nên rất nóng lòng, lo lắng cho đơn vị và thuộc cấp. Nhân lúc thời tiêt quang đãng, ông theo chiếc Trực Thăng tiếp tế đến A Lưới và trên đường bay vào A Lưới phi cơ mất tích cùng phi hành đoàn người Mỹ.

Sau năm 1975, phái đoàn MIA trong sứ mạng tìm kiếm các quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, đã tìm thấy chiếc Trực thăng mất tích từ năm 1968 trong đó có xương cốt của phi hành đoàn và Thiếu Tá Vũ Văn Phao ( qua tấm thẻ bài và thử nghiệm DNA). Chính phủ Hoa Kỳ đã quyết định an táng người chiến sĩ Đồng minh này trong Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington Hoa Kỳ và làm lễ vinh danh cho người chiến sĩ QLVNCH Thiếu tá Vũ Văn Phao đã hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam Việt Nam tự do chống lại làn sóng xâm lăng của chủ nghĩa Cộng sản miền Bắc.

Vào ngày 8/11/2002 một nghi lể trọng đại được an táng phần hài cốt còn lại của Thiếu tá Bộ Binh Vũ Văn Phao đã được chôn chung với Lieutenant Colonel Donald Parsons, Major David Padgett, Captain Ronaid Briggs, Chief Warrant Officer Charles Stanley, Sergeant 1st Class Eugene Christiansen và Sergeant 1st Class Robert O'Hara tại nghĩa trang Quốc gia Arlington Hoa Kỳ.

*Thiếu Tá HUỲNH VĂN KIÊN, Tiểu Đoàn Trưởng, TĐ 4/2.

Thiếu tá Huỳnh Văn Kiên lên thay Thiếu tá Phao trong chức vụ TĐT Tiểu Đoàn 4/2

Trong cuộc hành quân tại căn cứ FULLER (Tây Bắc Cam Lộ, Đông Hà). ĐĐ3 của Đ/U Tâm, được lệnh của Th Tá Kiên phải thanh toán các ổ phòng không 12ly7 của CSBV đặt trên các cao điểm đối diện với căn cứ FULLER nơi BCH/TĐ đóng quân. Các binh sĩ ĐĐ3 chia nhau từng toán nhỏ tiến lên gở các chốt phòng thủ cho các ổ phòng không và chiếm được mục tiêu thu được khẩu phòng không 12ly7.

Nhận được tin vui, Thiếu tá Kiên vui mừng ra khỏi hầm chỉ huy, đứng quan sát ĐĐ3 thanh toán những mục tiêu khác. Cùng vào thời điểm đó, CSBV pháo kích vào căn cứ, một trái đạn pháo rơi nổ trúng ngay cửa TOC của TĐ. Thiếu tá Huỳnh Văn Kiên bị mãnh pháo cắt ngang trên đầu và tử thương ngay tại chỗ.

HẠ LÀO - LAM SƠN 719 - ĐƯỜNG VỀ TỪ TCHEPONE

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thuần từ BTL/SĐ1 về làm TĐT/TĐ 4/2 sau khi Thiếu Tá Huỳnh Văn Kiên tử thương, Đại Úy Lê Văn Thời (K20VBĐL) làm TĐ Phó.

Trung Đoàn 2/ SĐ1BB nhận được lệnh nhảy vào chiếm Tchepone, Hạ Lào. Đại Tá Ngô Văn Chung Trung Đoàn Trưởng đưa Tiểu Đoàn 2/2 của Thiếu Tá Trần Ngọc Huế và Tiểu Đoàn 3/2 của Thiếu Tá Nguyễn Tri Tấn vào chiếm Tchepone. Hai TĐ đổ quân tai bãi đáp Hope ở phía Đông Bắc của thị trấn Tchepone, mở rộng cánh quân xuống phía Nam và chiếm lỉnh các cao điểm chung quanh Thị Trấn.

Trong khi đó TĐ 4/2 của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thuần đổ quân xuống hướng Đông Nam của Thị Trấn và sông Sépone song song với đường số 9. Các Đại Đội của TĐ 4/2 nhanh chóng chiếm các cao điềm và bố trí đội hình phòng thủ, đợi lệnh yểm trợ và bắt tay với cánh quân của TĐ 2/2 và 3/2.

Cánh quân của TĐ 2/2 do Đại Úy Nguyễn Hữu Cước, TĐ Phó (K21ĐL) chỉ huy 2 Đại Đội vượt qua đường 9, vào Tchepone rồi lội qua sông Sépone (nước cạn) di chuyển về hướng Đông Nam và bắt tay với toán quân tiền thám ĐĐ3 của TĐ 4/2 do Thiếu úy Hồ Văn Côn là ĐĐ phó chỉ huy đang chờ yểm trợ cho cánh quân vào Tchepone.

Thiếu tá Cước kể lại: “Sau khi đổ quân tại bãi đáp Hope, tiến quân về phía Nam, khi đến gần thị trấn Tchepone anh lên quan sát thấy xe tăng và binh lính địch quân tụ họp trong đó nên báo cho Th tá Huế, vừa lúc đó OV10 bao vùng vào tần số liên lạc báo có thấy chiến xa và hỏi có muốn xin phi tuần yểm trợ không? Anh hỏi có bao nhiêu phi tuần và Pilot nói có 200 phi tuần sẳn sàng đáp ứng, anh xin luôn 200 phi tuần đánh vào mục tiêu và báo cho biết khoảng cách 500m từ quân bạn đến mục tiêu cho Pilot xác định vị trí quân bạn. Sau 200 phi tuần đánh xong mục tiêu, Pilot trên OV10 nói có B52 đang đến sẽ thả từ điểm này kéo dài đến điểm đó, có trở ngại chi không? Anh nói không trở ngại.

Khi vượt qua đường 9 đi đến khu nhà Thờ nhìn thấy Thị trấn hoang tàn đổ nát không còn gì, xe tăng bị phá hủy, quân trang quân dụng và súng đạn bị trúng bom văng ra trên mặt đất, binh lính không muốn thu lượm vì không đủ sức mang theo. Khi đó có lệnh từ TĐ nói có mấy phóng viên báo chí người Úc, Nhật tới chụp hình. Anh tiếp tục làm nhiệm vụ theo Đại Đội đi đầu mở đường đến bắt tay ĐĐ3 do Đại úy Tâm cùng khóa 21ĐL đang đóng trên đồi.

Sau khi bắt tay với TĐ 4/2 di chuyễn về đóng quân tại căn cứ Sophia. Tối hôm đó anh lại được lệnh của Đại tá Chung mở đường về bãi đáp Liz, nhờ có ánh trăng nên mới thấy đường đi, chuyến di hành gian nan, khổ cực và tình thần không được thoải mái khi biêt tin Trung Đoàn 1 BB bị cộng quân bao vây thiệt hại nặng. Khi đến được bãi đáp Liz, các TĐ bố trí đến sáng hôm sau trực thăng đến bốc và thả xuống bãi đáp Brown, anh lại là người lên trực thăng sau cùng với trung đội cuối khi rời bãi đáp Liz.”

Về cánh quân TĐ 4/2 Thiếu Tá Hoàng Đàng thuật lại “Tháng 3/1971, TĐ 4/2 được lệnh tham dự hành quân Hạ Lào, tôi ra nắm ĐĐT/ĐĐ1. Sau khi bắt tay với cánh quân của TĐ 2/2, TĐ 4/2 đoạn hậu cho các TĐ khác lần lượt di chuyển về căn cứ Sophia. Tại căn cứ Sophia, BCH/TRĐ 2 có kế hoạch lui quân vào ban đêm, nên ra lệnh cho ĐĐ1 của tôi trụ lại căn cứ và binh lính phải hoạt động bình thường như cho máy điện nổ máy làm kế nghi binh cho BCH/TRĐ2 và các TĐ khác di chuyển về bãi đáp Liz. Cuộc lui quân bằng đường bộ, qua các vách núi cheo leo, những đồi núi gập gềnh khó khăn và khổ cực. Binh sĩ bắt đầu nản chí, mệt mỏi chưa bao giờ hình tượng cảnh viễn chinh lại tệ hại như lần này.”

Từ bãi đáp Liz, các Tiểu Đoàn 2/2, 3/2 và 4/2 được Trực thăng bốc và thả xuống bãi đáp Brown nằm ở hướng Tây-Nam Bản Đông. Khi xuống bãi đáp Brown Tiểu Đoàn 4/2 được lệnh phối trí về hướng Đông bãi đáp. Khi CSBV biết được các TĐ đổ quân tại bãi đáp Brown, bãi đáp này bị cộng quân bao vây và bắn pháo liên tục.

Vài ngày sau, Cộng quân đã huy động thêm binh lính bao vây các cứ điểm đóng quân và các TĐ có lệnh chuẩn bị được trực thăng đến bốc. TĐ 3/2 đóng ở thung lũng dưới chân đồi nên ưu tiên được Trực thăng đến bốc trước về Khe Sanh, trong lúc bốc có nhiều chiếc Trực thăng trúng đạn phòng không. Đến phiên TĐ 4/2 được lệnh ra LZ, khi trực thăng đến bốc một vài chiếc trực thăng trúng đạn phòng không bốc cháy và nổ tung trên không, nên có lệnh ngưng bốc toán quân và 2 TĐ ở lại chờTrực thăng đến bốc ngày hôm sau.

Thiếu Tá Đàng nhớ lại: “Tối hôm đó haiTiểu Đoàn 2 và 4 bị địch quân bao vây nên cùng tủ thủ trên đồi cao 600m. Chúng bắt loa kêu “Hàng sống chống chết” và pháo kích cùng 12ly7 trực xạ bắn vào vị trí đóng quân. Khi đó có lệnh của BCH Trung Đoàn 2 là B52 sẽ đến thả bom cách vị trí 500m, sau đợt bom hai TĐ mở đường máu về Delta1. Hai TĐ trưởng hội ý và giao nhiệm vụ cho ĐĐ1 xuống mở đường máu trước, tôi dẫn ĐĐ1 theo triền núi xuống đánh mở đường và bị đạn AK bắn bị thương, nhờ đánh bất ngờ nên mới thoát vòng vây về đến căn cứ Delta 1. Khi trực thăng bốc về đến Khe Sanh mới biết tin Thiếu tá Huế, Thiếu tá Thuần, Đại Úy Thời và các Sĩ quan khác bị bắt .“

Đại úy Lê Văn Thời TĐ Phó 4/2 viết rằng: “ Ngày 2 tháng 3 năm 1971 lúc 5 giờ sáng, Thiếu Tá Thuần bị bắt sau khi 2 Tiểu Đoàn 2 và 4 tan rả, Tôi cũng bị bắt khoảng 30 phút sau đó… Hai ngày sau, trên đường dẩn giải (Đi bộ) ra Quảng Bình, tôi có gặp lại Thiếu Tá Thuần và các Sĩ quan Tiểu Đoàn: Đại úy Minh, Đ/U Tâm ….Đ/U Đàng thì thoát được. Sau nữa tháng vượt Trường Sơn từ Hạ Lào ra Bắc, tụi tôi bị dẩn giải đi chung nhau và lên xe lửa ở Quảng Bình ra ga Hàng Cỏ, Hà Nội, tổng cộng là 19 ngày.

Sau đó chúng tôi được đưa về Hỏa Lò ở 3 tháng. Trong thời gian ở Hỏa Lò, tháng đầu chúng nhốt tôi trong cùng một dảy ở phòng đầu, phòng kế là Thiếu Tá Thuần, phòng thứ 3 là Đại Tá Nguyễn Văn Thọ (LĐ3ND), phòng thứ 4 là Trung Tá Bùi Văn Châu Tiểu Đoàn Trưởng pháo binh Dù cùng Thiếu Tá Đức Trưởng phòng 3 của Lữ Đoàn 3 Dù…Thiếu tá Thuần được thả về cùng một lúc với tôi, ngày 17/02/1977…Thiếu tá Thuần về Huế, còn tôi vào trại Suối Máu ở tạm hết 3 ngày đêm mới cho về…”

Một sự thật đau lòng cho các chiến sĩ bị bắt tại Hạ Lào là sau khi Hiệp Định Paris 1973 ký kết đa số các Tù Binh VNCH được trao trả, nhưng các chiến sĩ VNCH bị bắt tại Hạ Lào đều bị Cộng Sản lưu giữ lại. Chương trình HO sau này cũng không ưu đãi cho những người Tù Binh Hạ Lào.

Những mưu tính Chính Trị của Phù thủy Henry Kissinger và Cộng Sản hiếu chiến trên bàn hội nghị đã được trao đổi trong nước cờ Hạ Lào được giải mật sau này. Câu chuyện của người lính Hắc Long trôi dạt theo những biến chuyển của bàn cờ Chính trị dành cho miền Nam Việt Nam.

*Trung Tá HUỲNH BÁ AN. (Tiểu Đoàn Trưởng từ 4/1971 đến 1/1975)

Trung tá An kể lại:‘Thời gian HQ LAM SƠN 719, Tôi đang là Thiếu Tá Tiểu Đoàn phó ở TĐ 5/2 và bị thương vì bom napalm thả lầm tại bãi đáp SOPHIA. Sau khi hai TĐ 2/2 và 3/2 vào Tchepone và hai TĐT bị bắt (Th tá Huế 2/2 và Th tá Thuần 4/2) bị bao vây tan rã, Trung Đoàn 2 phải thành lập Tiểu Đoàn lại. Đại tá Ngô Văn Chung Trung Đoàn Trưởng có gọi tôi vào nói “Tôi muốn đưa An cầm TĐ 2/2 là đơn vị quen thuộc, còn Thiếu Tá Tích nắm TĐ 4/2, nhưng Tích nói TĐ 4 " sát TĐT" nên xin cho nắm TĐ 2/2. Vậy An nghỉ sao”.Tôi trả lời “Con người có số, Đại Tá chỉ định đâu thì tôi làm đó”.

Khi nhìn huy hiệu Hắc Long của TĐ 4/2 có con rồng đen uốn quanh và mủi tên đỏ trên đầu con rồng nên nhiều người đồn đoán là có số sát TĐT qua 3 vị TĐT tiền nhiệm trước đó. Để trấn an đơn vị và thay đổi cấp chỉ huy Thiếu Tá An tự tay ngồi vẽ huy hiệu Tê Giác mới cho TĐ 4/2 và hủy bỏ huy hiệu Hắc Long mở đầu cho giai đoạn mới của TĐ 4/2.

Trung Tá HUỲNH BÁ AN xuất thân từ khóa 20 VBĐL, ra trường cuối năm 1965 và về phục vụ tại TĐ 2/2, SĐ1BB. Sau 5 năm chiến chinh trên vùng hỏa tuyến từ Thiếu Úy lên Thiếu Tá nay nhận lãnh trách nhiệm chi huy Tiểu Đoàn là nơi dụng vỏ cho người trai đất Quảng Nam chọn binh nghiệp cho đường tiến thân. Trong khóa 20VBĐL Trung Tá An là một trong 5 người của khóa mang cấp bậc Trung Tá và cũng là niềm tự hào cho TĐ Tê Giác.

Khi nhận đơn vị mới, với những thiệt hại sau trận Hạ Lào, Thiếu Tá An phải bỏ nhiều công sức để gây dựng lại với thành phần Cán Bộ nòng cốt từ Tiểu Đội Trưởng đến Đại Đội Trưởng. Sau thời gian bổ xung quân số và tái trang bị TĐ 4/2 rời TTHL tham gia vào các cuộc hành quân đang tiếp diển trong vùng địa đầu giới tuyến.

Phương cách vừa Hành quân vừa huấn luyện, người lính củ tận tình đem kinh nghiệm chiến trường hướng dẫn cho các tân binh đã đem lại các chiến thắng cho Tiểu Đoàn qua các cuộc hành quân được giao phó.

Khi TĐ hành quân tại Khe Gió, ĐĐ4 của Trung úy Nguyễn Thanh Nhạc (K22ĐL) trong lúc lục soát bất ngờ đụng độ với Đại đội vũ khí nặng của Cộng quân, binh lính ĐĐ4 phải tháo lui. Thiếu tá An ra lệnh cho Đại úy Cước TĐP cùng ĐĐ1 của Tr úy Trần Phả đến tiếp viện. Trong lúc đó chi đội Thiết Giáp của Mỹ có 2 chiếc M42 (Duster) đóng chung với BCH/TĐ tại tiền đồn Khe Gió đã dùng súng phòng không 40mm bắn yểm trợ. Đ/úy Cước cũng đã xin Cobra yểm trợ để tiêu diệt các ổ kháng cự của địch quân. Kết quả thu 4 cây súng cối 82 ly cùng đạn dược và một số vủ khí cá nhân AK 47, B40 bên ta có 2 binh sĩ bị thương.

Sau khi quân đội Mỹ ban giao căn cứ Fuller cho Tiểu Đoàn 1/2, Cộng quân mở cuộc tấn công và chiếm căn cứ này. TĐ 4/2 đang đóng tai Khe Gió nhận lệnh lên tái chiếm và khi chiếm lại căn cứ này, các binh sĩ của TĐ phải chịu hàng trăm trái đạn pháo của Cộng quân bắn vào căn cứ mổi lần không kể ngày đêm.

Sư Đoàn 3 BB.

Ngày 1 tháng 10 năm 1971, Sư Đoàn 3BB được thành lâp với Trung Đoàn 2 BB làm nòng côt và thêm 2 Trung Đoàn mới là TRĐ 56 và TRĐ 57. Chuần Tướng Vũ Văn Giai làm Tư Lệnh SĐ3BB và Đại Tá Ngô Văn Chung làm Tư lệnh phó.

Theo cấp số mới của BTTM, Tiểu Đoàn 4 từ Trung Đoàn 2 được chuyễn sang Trung Đoàn 57 làm Tiểu Đoàn nòng cốt cho Trung Đoàn 57 tân lập này với tên mới là Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 57, SĐ 3BB. Thiếu tá Huỳnh Bá An là Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Úy Nguyễn Hữu Cước là TĐ phó.

Quảng Trị, mùa hè 1972 và di tản chiến thuật.

Mùa hè 1972, chiến trường Quảng Trị sôi động với các cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ VNCH. SĐ3BB mới thành lập với quân số hổn tạp đủ mọi thành phần từ các nơi thải về và áp lực của quân CSBV xóa bỏ ranh giới Bến Hải đã tung nhiều Sư Đoàn, chiến xa và trọng pháo tấn công vào Thị xã Quảng Trị. Trước áp lực của CSBV và bảo toàn lực lượng, Tướng Giai ban lệnh di chuyển các đơn vị đến vị trí an toàn hơn.

Khi đó Tiểu Đoàn 1/57 vừa thắng lớn tại Phước Sa, Phước Thị về phía Đông Bắc căn cứ C1(Quán Ngang). TĐ bắt sống gần 30 tù binh VC, đa số ở lứa tuổi 13,14 tịch thu trên 50 vũ khí cá nhân và cộng đồng.

Trung đoàn 57BB được lệnh rút về phòng thủ tuyến phía Nam cầu Đông Hà. TĐ1/57 bố trí từ bên trái cầu hướng Tây cho đến chùa Áo Vàng nằm trên QL9, giáp danh với TĐ/BĐQ, bên phải cầu do một TĐ/TQLC đảm trách. Cộng quân cùng chiến xa T54 tiến qua cầu Đông Hà. BTL/SĐ cho lệnh TĐ/TQLC dùng chất nổ cũng như gọi JETS của Hải quân Mỹ đánh sập cầu Đông Hà.

Đến buổi chiều cùng ngày Bắc quân cùng chiến xa theo hướng QL9 tiến vào thị trấn Đông Hà, trong khi đó TĐ/BĐQ và TĐ/TQLC đã được lệnh rút về tuyến phòng thủ ở phía sau. Trung úy Côn ĐĐT/ĐĐ3 báo cáo địch quân xuất hiện và hướng tiến của địch quân. Thiếu tá An báo cáo tình hình về bạn, địch và xin yểm trợ pháo binh cùng tăng cường chiến xa M48 lên tiếp chiến. Trung tá Cương Trung Đoàn Trưởng không đáp ứng mà còn bảo đó là chiến xa bạn. Thiếu tá An nói nếu là bạn thì cho tần số đơn vị bạn để liên lạc. Trung Đoàn im lặng vô tuyến từ đó.

Trước áp lực của địch quá mạnh, TĐ buộc phải vừa chống trả vừa rút về hướng làng Lập Thạch nằm phía Đông QL1. Địch quân có vẻ không có ý định giao chiến với TĐ khi chuyển hướng tiến theo QL1 tiến chiếm cầu Lập Thạch. Đại Úy Hoàng Đàng (xử lý thường vụ TĐT /TĐ2/57) khi Th tá Nguyễn Long Châu (K22ĐL) bị thương, đã liên lạc xin di chuyển cùng với TĐ1/57 vì mất liên lạc với BCH/Trung Đoàn.

Sáng hôm sau, 2 TĐ tiến về bờ sông trong tình trạng bị lực lượng địa phương địch bám đuôi đánh phá và pháo binh địch bắn truy kích. Trung tá Thuật Sáng Trung Đoàn Phó lên máy ra lệnh cho Th tá An bằng mọi cách phải vượt sông Lập Thạch và tìm về cầu Mỹ Chánh nơi BCH/TRĐ đang tại vị trí này, nhớ không di chuyển qua cầu Lập Thạch vì chiến xa địch ở đó, QL1 cũng gián đoạn nhiều nơi.

Thiếu tá An trách tại sao BCH triệt thoái mà không ra lệnh rút cho hai TĐ1&2. Trung tá Sáng cho biết chính ông ta định báo cho Th tá An lệnh rút nhưng Phượng Hoàng không cho liên lạc. Thật không hiểu Trung tá Nguyễn Hữu Cương nghĩ gì khi bỏ lại hai TĐ chiến đấu, không lương thực, thiếu đạn dược và không có một nguồn yểm trợ nào.

Th tá An cho lệnh hai TĐ tự lo an ninh và vượt sông tập thể bằng phương tiện tự túc. Binh sĩ dùng poncho, thân cây chuối để vượt sông dưới hỏa lực của pháo binh địch đang bắn phá ác liệt dọc hai bờ sông nơi hai đơn vị đang vượt sông khiến nhiều quân nhân chết cùng quân trang quân dụng chìm vào lòng sông … thật là một thảm cảnh đau lòng !

Những quân nhân còn lại của 2 TĐ về đến hậu cứ La Vang, chứng kiến cảnh thành phố Quảng Trị hoang tàn, không còn ai, khói lữa cháy nhiều nơi do pháo binh địch bắn phá gây ra. Binh sĩ đi tìm thực phẩm còn sót lại và tự bổ sung đạn dược cho vũ khí cá nhân.

Các ĐĐT đến hỏi TĐT tính sao, Th tá An phân tích là tình hình như thế này nên đi hướng Nam tìm đường vào Huế, chứ kéo theo một block như thế này không được vì TĐ đâu có ai yểm trợ mà đoạn đường quốc lộ 1 đã bị pháo binh và Cộng quân chiếm giử mấy ngày trước rồi. Sau đó các ĐĐT về phân tán binh sĩ từng toán nhỏ tìm về tuyến Mỹ Chánh.

Thành lập lại SĐ 3 BB.

Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh nhận quyền chỉ huy SĐ3BB từ ngày 9/6/1972 và di chuyển SĐ3 vào vùng trách nhiệm 2 tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín. Sư Đoàn 3 thay đổi huy hiệu từ 3 ngôi sao thành số 3. TĐ 1/57 sau thời gian bổ xung quân số và huấn luyện tại TTHL Đống Đa đã di chuyển vào Quảng Nam cùng BCH TRĐ 57 do Trung Tá Đổ Hữu Giới là Trung Đoàn Trưởng tham gia hành quân tại Quế Sơn vào tháng 9/1972.

Hành quân ở vùng Quảng Nam, TĐ 1/57 làm quen với địa thế đồng bằng nhiều hơn rừng núi, là Tiểu Đoàn nòng cốt của TRĐ 57 nên những mục tiêu khó khăn đều giao cho TĐ lãnh trách nhiệm. Hơn 3 tháng quần thảo với Cộng quân tại Quế Sơn, TĐ 1/57 đã nhiều lần tái chiếm quận Quế Sơn lại và bàn giao lại cho đơn vị bạn.

Gần cuối năm 1972 tình hình chính trị thay đổi tại Hội đàm ở Paris, các Trung Đoàn 2, 56, 57của SĐ3 thay nhau quần thảo với Cộng quân, mở rộng khu hoạt động do Cộng quân chiếm đóng trước đây đến núi Liệt Kiểm, Lạc Sơn tại Quế Sơn và mở đường vào Hiệp Đức trước khi Hiệp Định Paris công bố.

Ngày 27/01/1973 Hiệp Định Hòa Bình được ký kết, TĐ 1/57 đang hành quân tại Thanh Quýt, Điện Bàn đến sáng ngày 28/1/1973, khu đóng quân của ĐĐ1, 4 và BCH nhẹ của Đại Úy Cước TĐ Phó nằm trong tình trạng ngưng bắn da beo, dân chúng bị Cộng Sản thúc dục kéo đến cắm cờ Mặt trận xen lẩn cờ VNCH, chúng cầm loa kêu gọi Hòa Bình ngưng bắn. Đ/U Cước dùng mưu thoát khỏi vòng vây, di chuyển binh lính ra khỏi địa thế da beo bất lợi và lấy con sông làm ranh giới nói để chờ Ủy ban giám sát Quốc Tế đến giải quyêt.

Trong khi đó tại các quận lỵ khác, Cộng quân lợi dụng ngưng bắn đem quân lấn chiếm đóng chốt tại nhiều nơi, giao tranh hai bên vẫn tiếp diển dù đã ký Hiệp Định, BTL/SĐ3 ban lệnh giải tỏa các khu vực Cộng quân chiếm đóng. Thiếu Tá An ra lệnh các ĐĐ giải tỏa các chốt, và đẩy lui Cộng quân ra khỏi những vị trí quan trọng và mở rộng tiến chiếm thêm các vùng hoạt động của Cộng quân. Tại đây tên tuổi của Thiếu tá ngụy Huỳnh Bá An được Cộng Sản kết án và sau ngày mất Đà Nẵng bọn du kích ở Thanh Quýt tìm đến nhà của thân sinh Trung tá An tính sổ nợ máu.

Mật khu Gò Nổi, Lộc Hiệp, Quế Sơn.

Sau khi vùng Thanh Quýt, Điện Bàn tạm yên, TĐ 1/57 được lệnh hành quân vào mật khu Gò Nổi có chi đoàn chiến xa M113 của Thiết Đoàn 11 yểm trợ. Khu vực Gò Nổi là nơi Cộng quân chiếm đóng bấy lâu nay, chúng có những khu vực canh tác xen lẩn lau sậy cao hơn đầu người và mìn bẫy cài đặt khắp nơi. Sau những ngày giao tranh TĐ 1/57 đã đẩy lui Cộng quân ra khỏi mật khu và kiềm soát khu vực Gò Nổi nhưng cũng mất đi Trung Úy Trần Phả ĐĐT/ ĐĐ1.

Đại tá Phạm Thế Vinh (K9VBĐL) thay thế Trung tá Đỗ Hữu Giới trong chức vụ Trung Đoàn Trưởng TRĐ 57. TĐ 1/57 giao trách nhiệm vùng đồng bằng Lộc Hiệp, trong thời gian này 5/1973 tình hình trở nên yên tỉnh và TĐ xây dựng căn cứ Lộc An và tuần thám trong vùng. TĐ 1/57 có vài thay đổi là Thiếu tá Nguyễn Hữu Cước qua chỉ huy TĐ 2/57 và Thiếu tá Hoàng Đàng về làm TĐ phó 1/57.

Từ vị thế của Tiểu Đoàn cơ động, nay Tiểu Đoàn trở thành phòng thủ các phòng tuyến tại vùng đất chiếm đóng theo chính sách dành dân giữ đất của Tổng Thống Thiệu không để một tấc đất cho Cộng Sản. Với chủ trương như vậy, các Tiểu Đoàn thay nhau trấn giữ các phòng tuyến và TĐ 1/57 trở thành người lính “trấn thủ luu đồn”. TĐ 1/57 giao trọng trách trấn giử căn cứ Lạc Sơn, Lion và đồi 85 tại Quế Sơn cho đến tháng 6/1974.

*Thiếu tá Hoàng Đàng Quyền Tiểu Đoàn Trưởng 1/57.

Tháng 6/1974 Thiếu tá Hoàng Đàng quyền TĐT thay thế cho Thiếu tá Huỳnh Bá An đi học Bộ Binh Cao cấp tại Long Thành.

Thiếu tá Hoàng Đàng ra trường khóa 17 Thủ Đức, là người lính lâu năm nhất phục vụ trong TĐ từ lúc là Trung Đội Trưởng lên quyền Tiểu Đoàn Trưởng. Thiếu tá Đàng được ân thưởng Bảo Quốc Huân Chương khi còn là ĐĐT và tổ chức toán Biệt Kích 6 người cho Đại Đội 1, tổ BK này là mũi tiến công vào mục tiêu, tạo nhiều chiến công cho TĐ và “ngựa chứng” mổi khi về dưỡng quân. Từ TĐ 1/57 Thiếu tá Đàng qua làm TĐ phó cho các TĐ khác và trở lại TĐ 1/57. Được trui luyện trên các trận địa khốc liệt ở vùng Hỏa tuyến đến thoát hiểm Hạ Lào, Quảng Trị, Thiếu tá Đàng được giao nhiệm vụ mở cửa vào chi khu Thường Đức tiếp ứng cho TĐ 79 BĐQ đang bị bao vây trong mùa hè 1974.

Đường vào giải vây quận Thường Đức.

Thiếu úy Lê Trịnh Thanh ban 2 TĐ ghi lại diễn tiến về trận tiếp viện cho quận Thường Đức trong câu chuyện nối tiếp.

Ngày 29/7 có lệnh từ BTL/Sư Đoàn 3 gởi công điện xuống Trung Đoàn 57 tại Quế Sơn đưa Tiểu Đoàn 1/57 tăng phái cho Trung Đoàn 2 đang hành quân tại Đại Lộc. Thiếu tá Đàng cho lệnh ĐĐ1 và ĐĐ3 cùng BCH nhẹ do Đại úy Hòa (TĐ Phó) và Thiếu úy Tú phụ tá ban 3 đi trước.

Ngày 30/7 toàn thể Tiểu Đoàn 1/57 vào vùng giao tranh. Thiếu tá Đàng và Trung úy Hiện Trưởng ban 3 ghé vào BCH Trung Đoàn 2 lấy phóng đồ hành quân và mục tiêu. Đoàn xe đổ quân ở phía trước đồi 65 (núi Đất) khoảng 2 Km để tránh pháo, các Đại Đội 2, 4 và Đại Đội chỉ huy đi dọc theo tỉnh lộ 4 tiến vào Thường Đức. Các Đại Đội 1 và 3 hôm qua đã đến, đang đóng quân gần khu định cư Hà Nha 2. Một cuộc họp khẩn cấp với các Đại Đội Trưởng tại BCH/Tiểu Đoàn.

Địa thế vào quận Thường Đức rất hiểm trở, trên đường di chuyển vào quận bên phải là dãy núi Đồng Lâm ở phía Bắc trải dài đến Ba Khe, bên trái là dòng sông Vu Gia, bên kia sông là vùng Lộc Hiệp mà trước đây TĐ đã từng đóng quân với những dãy núi bao quanh quận Thường Đức.

Nhìn vào trận địa, các cao điểm ở khu Ba Khe đã do CSBV chiếm giữ, muốn giải tỏa quận Thường Đức phải chiếm các cao điểm này. Cộng quân có lợi thế là chuẩn bị trận địa, đem pháo và mở đường vận chuyển vào gần chi khu. Chúng quyết định thời gian tấn công cùng tình báo nhân dân cung cấp cho chúng các đơn vị VNCH đến tham chiến.

Điều bất lợi cho Sư Đoàn 3 là tin tức tình báo không biết rỏ đang đụng độ với các Sư Đoàn Bắc Việt nào, và các đơn vị cộng quân ở cấp nào tham gia, trong lúc quân CSBV mở nhiều cuộc tấn công trên khắp tỉnh Quảng Nam từ Nông Sơn, Đức Dục, Thường Đức và Quế Sơn. Không biết đâu là Điểm đâu là Diện và chiến thuật Công đồn đả viện là bài học quen thuộc của địch quân thường áp dụng trên chiến trường.

(Sau mới biết là 2 Sư Đoàn CSBV 304 Điện Biên và 324. Một Trung Đoàn Pháo Phòng không và các Đại Đội hỏa tiễn SA-7 phòng không, 12 ly7 đã bố trí trận địa, ém quân bao vây mang pháo lên các cao điểm tại khu vực Hà Nha và Thường Đức, Sư Đoàn 304 vây đánh chi khu Thường Đức, SĐ 324 ém quân chờ đánh quân tiếp viện SĐ3 và SĐ Dù.)

Các điểm đóng quân của Cộng quân tại Ba Khe

Thiếu tá Đàng nhanh chóng phối trí các Đại Đội để chuẩn bị ngày mai sẽ phối hợp với Tiểu Đoàn 2/2 của Thiếu tá Châu Đức Thảo cùng tấn công lên các mục tiêu. BCH nhẹ do Đại úy Hòa cùng đi với Đại Đội 2 của Trung úy Điểu lên đóng quân ở đồi 52.

Trong lúc các Đại Đội di chuyển vào vị trí đã được phối trí, tại khu nhà Thờ gần chợ Hà Nha có một pháo đội 105 ly của Tiểu Đoàn 31 Pháo Binh đang bắn yểm trợ cho quận Thường Đức. Theo tin tức, quận Thường Đức đã bị bao vây, trong đó có Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân, Địa Phương Quân trú phòng, đặc biệt là có những toán thám sát của Sở công tác thuộc Phòng 7 Bộ TTM ở lại trong quận Thường Đức. Tối nay BCH/Tiểu Đoàn đóng quân ở khu vườn trái cây gần đồi 52 và khu trồng mía.

Ngày 31/7, Đại Đội 1 và 3 tấn công vào các mục tiêu, trước đó Pháo Binh đã bắn hàng loạt đạn pháo vào mục tiêu, sau đó là các phi tuần A 37 vào vùng dưới sự hướng dẩn của máy bay quan sát L19 thả bom vào vị trí đóng quân của CSBV ở cao điềm phía trước Đại Đội 1 và 3. Những dàn cao xạ 12 ly 7 đã được CSBV bố trí trên cao điểm bắn lên tưới tấp và hỏa tiễn tầm nhiệt SA7 nổ tung trên bầu trời của mùa Hè làm nhiệt độ càng thêm nóng hơn.

Rời Đại Đội chỉ huy, Thiếu tá Đàng, Trung úy Hiện và Thiếu úy Thanh cùng toán Biệt Kích di chuyển lên tuyến phía trước, theo sau Đại Đội 1 đến gần trận địa. Các Trung Đội của Đại Đội 1 và 3 đến sát mục tiêu nhưng không lên nổi, vì Cộng quân đã bố trí các hệ thống phòng thủ, hầm hố vững chắc, các dàn pháo SKZ 85 ly bắn yểm trợ cho các chốt của CSBV.

Trận chiến vẫn tiếp diển, các Trung Đội của Đại Đội 1 và 3 cố gắng tấn công chiếm mục tiêu nhưng trở ngại vì bị pháo và súng phòng không của CSBV từ các cao điểm yểm trợ bắn trực xạ, không thể tiến gần được. Trong lúc pháo yểm trợ cho TĐ nhỏ giọt từng tràng rồi ngưng vì các Pháo đội của Tiểu Đoàn 31PB đặt ở Đại Lộc bị các toán đề lô của CSBV phát hiện và phản pháo vào các vị trí này.

Các Trung Đội trên mục tiêu chỉ được yểm trợ bằng cối 81 ly cơ hửu của Tiểu Đoàn. Sau một ngày giao tranh gần đến chiều tối, nhận thấy hỏa lực yểm trợ của Cộng quân rất mạnh, TĐ ra lệnh các Đại Đội tạm ngưng, bố trí lại vị trí phòng thủ cho ban đêm. BCH/Tiểu Đoàn trở lại nơi đóng quân của Đại Đội chỉ huy.

Tối nay trời quang đẳng, nhìn về hướng Tây nơi quận Thường Đức bị bao vây, phi cơ Hỏa Long (AC 119) đang bay vòng phía trên, nhìn thấy những làn đạn của Hỏa Long bắn xuống và những đốm lửa của súng phòng không CSBV từ dưới bắn lên. Số phận của bao nhiêu người lính đang tử thủ trong quận đang tính từng ngày, từng giờ trong khi đoàn quân tiếp viện đang bị các chốt cản trở bước tiến.

Ngày 1/8 các Đại Đội phòng thủ tại chổ, để thăm dò tình hình địch sau một ngày chạm trán, và các Đại Đội bố trí lại hầm hố. Tin cho biết ngày 30/7 khi Tiểu Đoàn 1/57 rời căn cứ Đá Tịnh, tăng phái cho Trung Đoàn 2, ngay sáng sớm hôm sau 31/7, CSBV đã pháo kích vào Lion do Tiểu Đoàn 2/57 của Thiếu Tá Cước trấn giữ và tấn công chiếm Lạc Sơn, đồi 85 và Gia Mộc Xa tại quận Quế Sơn.

Trung Đoàn 2 có kế hoạch tấn công mới, tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2/56 của Trung tá Võ Văn Đạt lên phối hợp với Tiểu Đoàn 2/2 và Tiểu Đoàn 1/57 đánh dứt điểm các chốt ở Ba Khe để mở đường vào cứu quận Thường Đức. Đến trưa, Cộng quân pháo đạn 130 ly vào BCH/Tiểu Đoàn đang đóng chung với pháo đội 105 ly. Khi dứt tiếng pháo địch, Pháo đội 105 ly vội vàng kéo 4 cây súng chạy về hướng Đại Lộc, tìm địa điểm khác đặt pháo. Kể từ ngày đó, BCH/Tiểu Đoàn luôn luôn thay đổi vị trí.

Ngày 4/8 theo kế hoạch Tiểu Đoàn 2/56 đánh gở chốt ở Ba Khe, Tiểu Đoàn 2/2 và 1/57 cùng tấn công mục tiêu phía Bắc. Sáng nay Thiếu tá Đàng được Đại tá Ngô Văn Chung (TLP/SĐ3) gặp trên máy và đang ở TOC Trung Đoàn 2, theo dõi trận đánh. Như những ngày trước Đại Đội 1 của Trung Úy Mến và ĐĐ3 của Trung Úy Em tấn công sau những đợt Pháo 105 ly và phi tuần A37 tăng cường oanh tạc các mục tiêu từ Ba Khe đến các cao điểm ở phía Bắc

Các binh lính Đại Đội 1 và 3 với những kinh nghiệm gở chốt đã thay đổi nhiều cách đánh cũng không thể nào tấn công lên các mục tiêu đã chỉ định. Các hỏa lực yểm trợ của CSBV phối hợp rất nhịp nhàng đã gây cho một số binh sĩ bị thương do pháo và súng phòng không bắn trực xạ vào các Trung đội của Đại Đội 1 có Thiếu úy Tuế bị thương và các binh sĩ khác. Thiếu úy Đắc (Ban 4) và ĐĐCH của Trung úy Quan Xuân Thắng mấy ngày nay ở phía sau chăm lo cho các binh sĩ bị thương từ các Đại Đội đưa về, và chuyển các binh sĩ bị thương lên xe tản thương của Trung Đoàn 2 về quận Đại Lộc.

Ngày 5/8, Các Tiểu Đoàn không thể nào chiếm được mục tiêu vì hỏa lực yểm trợ của địch quân. Các phi vụ của oanh tạc cơ A37 ưu tiên đến yểm trợ cho các đơn vị tại quận Thường Đức. Thiếu úy Thanh theo dõi phi tuần 2 chiếc A37 đang nhào lộn trên bầu trời tránh đạn phòng không và SA7 để lao xuống thả bom, một chiếc A37 luôn xuống thấp để thả bom và không may bị trúng hỏa tiển tầm nhiệt của CSBV, không thấy pilot nhảy dù ra.(Pilot là Thiếu tá Nguyễn Hữu Thiệt).

Ngày 6/8, Thiếu tá Đàng cho Đại Đội 2 từ đồi 52 đánh sang mục tiêu khác, nhưng cũng không đạt được kết quả gì, có một số binh lính của Đại Đội 2 bị thương trong đó có Thiếu úy Trần Kim Thành. Buổi tối, phi cơ Hỏa Long lại bay quần thảo trên khu vực quận Thường Đức, những tiếng súng nổ như bò hống của AC119 và súng phòng không của quân Bắc Việt nổ như pháo bông trên bầu trời. Hơn 1 tuần trôi qua kể từ khi Tiểu Đoàn 1/57 tham chiến, tại con đường liên tỉnh lộ 4 đã bị quân CSBV chốt kiềng và bao vây, mọi cố gắng của người lính SĐ3 vào tiếp cứu không thực hiện được.

Ngày 7/8 Tiểu Đoàn 2/56 được lệnh rút khỏi mặt trận Thường Đức. Chỉ còn lại 2 Tiểu Đoàn 2/2 và 1/57 bố trí từ Ba Khe cho đến chợ Hà Nha, song song với liên tỉnh lộ 4, Đại Đội 2 đóng quân trên đồi 52 với BCH nhẹ, Đại Đội 3 đóng quân ngang khu định cư Hà Nha, Đại Đội 1 đóng quân về hướng Bắc, Đại Đội 4 đóng quân tại chợ Hà Nha. BCH/Tiểu Đoàn và Đại Đội chỉ huy lưu động.

Từ sáng sớm phi cơ quan sát L19 đã bao vùng và các phi tuần A 37 thay nhau đến thả bom yểm trợ cho Tiểu đoàn 79 BĐQ. Mọi ưu tiên hỏa lực đều dành cho Chi khu Thường Đức. Khoảng 10 sáng, những phi vụ oanh tạc A 37 đã ra khỏi vùng và những loạt đạn TOT nổ vang ở hướng Tây tỉnh lộ 4 sau đó im lặng hoàn toàn. Chi khu Thường Đức đã thất thủ, có thể những tràng pháo TOT này các quân nhân tử thủ xin bắn phủ đầu để 2 bên cùng chết.

Quận Thường Đức lọt vào tay CSBV, những áp lực của Trung Đoàn 2 cũng bớt đè nặng lên TĐ 1/57. Tiểu đoàn 2/2 lui về phía sau như vậy chỉ còn Tiểu Đoàn 1/57 trấn giữ đồi 52 và phía Bắc khu định cư Hà Nha, trách nhiệm một khu vực quá dài và rộng cho Tiểu Đoàn tăng phái.

Có một số binh lính BĐQ và ĐPQ đã chạy thoát về đến tuyến của Đại Đội 2. Thiếu úy Thanh tiếp nhận một Thiếu úy của toán Lôi Hổ, thoát thân chạy về kể lại sau 10 ngày bị bao vây, và chống trả nhiều đợt xung phong của Cộng quân miền Bắc, các cứ điểm tiền đồn của BĐQ ở xa đã rút về chi khu Thường Đức để tử thủ. Chi khu đã hứng chịu hằng trăm trái đạn hỏa tiễn 122 ly và 130 ly pháo hàng ngày và binh sĩ của Tiểu đoàn 79 BĐQ phải chống trả những đợt tấn công của CSBV.

Ngày 9/8 - Các Đại Đội 1 và 3 báo cáo có chạm súng và bị pháo kích vào các nơi đóng quân. Trung sĩ 1 Hà (HSQ/B2) đã bị thương khi trúng đạn pháo kích của địch quân. Đại úy Hòa báo về Tiểu Đoàn có Thiếu tá Bùi Văn Thiện Chi huy Đoàn 71 của sở Công Tác, Phòng 7 TTM thoát vòng vây đã về đến BCH nhẹ. Thiếu tá Đàng cho Thiếu Úy Thanh dẫn 2 binh sĩ BK theo tỉnh lộ 4 để đón người Sĩ quan dũng cảm này. Thiếu tá Thiện với hai túi quần chứa đẩy trái cây, nét mệt mỏi không che khuất vẻ hào hùng trên khuôn mặt. Một tô mì gói được mang đến chúc mừng Thiếu tá Thiện trở về sau hơn một tuần mưu sinh thoát hiểm.

Ngày 13/8, BCH/Trung Đoàn 2 thông báo cho Thiếu tá Đàng biết là có toán tiền trạm của Sư Đoàn Nhảy Dù đến gặp Tiểu Đoàn 1/57. Một toán sĩ quan gồm 1 Trung Tá Lữ Đoàn Phó của Lữ Đoàn 1 Nhảy dù và các Đại úy tham mưu lữ đoàn. Sau khi lấy các điểm đóng quân các Đại Đội của Tiểu Đoàn 1/57 và các vị trí đóng quân của CSBV các Sĩ quan nhảy dù cho biết là sẽ thay thế nay mai. Hiện giờ các Tiểu Đoàn Dù đang được đưa vào Đà Nẵng. Với quân số đầy đủ và yểm trợ không hạn chế của Pháo binh Dù, hy vọng sẽ tái chiếm lại Chi khu Thường Đức.

Sau khi chiếm được Chi khu Thường Đức được 1 tuần, CSBV đã có đủ thời gian chỉnh đốn lại hàng ngũ, phối trí trận địa và tăng cường quân số cùng những vũ khí tối tân được khối Cộng Sản viện trợ. Bây giờ là lúc CSBV dồn mọi nổ lực để lấn chiếm xuống khu vực đồng bằng của quận Đại Lộc. Lợi dụng lúc Sư Đoàn 3 phải đối phó với nhiều mặt trận từ Quế Sơn, Đức Dục, Thường Đức và tình báo CSBV được tin Sư Đoàn Nhảy Dù đến tham chiến tại mặt trận Thường Đức và đối đầu với lực lượng hùng hậu nhất của QLVNCH, vì thế CSBV phải thay đổi chiến thuật là tấn công chia cắt Tiểu Đoàn 1/57 chiếm thượng phong trước khi Lữ Đoàn Dù đến thay thế.

Ngay từ sáng sớm, CSBV đã dùng hỏa lực pháo binh bắn vào các địa điểm đóng quân của Đại Đội 3 và Đại Đội 4. Sau đợt pháo yểm trợ, Cộng quân tấn công vào Đại Đội 3 do Trung úy Em chỉ huy. Bị tấn công, các binh sĩ của Đại Đội 3 đã chống trả đợt tấn công của Cộng quân, đồng thời xin Pháo binh bắn yểm trợ. Với hỏa lực yểm trợ là khẩu SKZ 85 ly, phòng không 12 ly7 từ các cao điểm của Cộng quân, bắn trực xạ vào vị trí bố phòng của Đại Đội 3 gây thiệt hại một số lớn nhân mạng. Thiếu úy Quyết bị tử thương khi Cộng quân tràn vào vị trí phòng thủ của Trung Đội. Pháo binh của Tiểu đoàn 31 đã can thiệp kịp thời chận đứng các đợt xung phong của Cộng quân tại Đại Đội 3.

Cùng thời gian, Đại Đội 4 do Trung úy Nghĩa chỉ huy đóng ở chợ Hà Nha cũng bị CSBV bất ngờ tấn công sau những đợt pháo yểm trợ, lợi dụng những khu nhà dân ở gần khu chợ Hà Nha, Cộng quân đã chia cắt Đại Đội 4 ra từng mảnh nhỏ, các binh sĩ phải tháo lui chạy về tuyến phòng thủ của Đại Đội chỉ huy. Có Thiếu úy Lê Chí Phương Đại Đội Phó (K26ĐL) chạy về băng kín đẩu và một mắt.

Đại Đội 3 của Trung úy Em lui về phòng thủ chung tuyến với Đại Đội chi huy. Đại Đội 1 của Trung úy Mến nằm xa ở phía Bắc, được lệnh kéo về bố trí gần tỉnh lộ 4. Một khó khăn cho Thiếu tá Đàng là BCH nhẹ do Đại úy Hòa và Đại Đội 2 của Trung úy Điểu còn đóng quân ở đổi 52.

Thiếu tá Đàng cho Trung Đội quân báo lên thám sát khu chợ Hà Nha với hy vọng mở đường đến BCH nhẹ và Đại Đội 2. Toán thám sát của Đại Đội chỉ huy trở về báo cáo Cộng quân đang đào hố và bố phòng tại khu chợ Hà Nha nhằm mục đích bao vây, chia cắt với khu đồi 52. Hiện giờ, trong tay của Thiếu tá Đàng chỉ còn Đại Đội 1 của Trung úy Mến tương đối ít thiệt hại dù hơn 2 tuần nay, Đại Đội 1 đã tấn công vào mục tiêu nhiều lần và cũng hứng chịu pháo của Cộng quân.

Có lệnh từ Trung Đoàn 2 là ngày mai Tiểu Đoàn 1/57 về chỉnh trang, Lữ Đoàn Dù đến thay thế. Một thói quen của các Chỉ Huy Trưởng là khi có đơn vị tăng phái đến thường xử dụng đơn vị tăng phái một cách triệt để, nếu có tổn thất đơn vị chính của đơn vị tăng phái chịu thiệt hại và nếu thành công thì đó là Công của đơn vị mình. Chính vì vậy mà Thiếu Tá Đàng đã chịu áp lực của cấp trên và một phần là mới được bổ nhiệm là Quyền Tiểu Đoàn Trưởng nên đã không hành xử một cách nhiều kinh nghiệm như Thiếu tá Huỳnh Bá An hay Trung Tá Võ Văn Đạt ở TĐ 2/56.

Ngày 16/8. Lệnh từ BTL/ Sư Đoàn cho Tiểu Đoàn 1/57 rời khỏi vùng đóng quân để về TTHL. Sau khi bàn giao vùng trách nhiệm cho TĐ 8 Dù, ngược với hướng về của TĐ 1/57 là các binh lính của TĐ8 Dù đi lên ở 2 bên đường, Cộng quân bắt đầu pháo kích dọc theo đường tỉnh lộ 4, nơi các binh sĩ Dù đang tiến lên.

Đồi 52 thất thủ, chỉ có Chuẩn úy On và Thiếu úy Tú chạy thoát về. Sau cuộc hành quân tại Hà Nha Tiểu Đoàn 1/57 đã bị thiệt hại Đại úy Hòa, Trung úy Ngọc mất tích, Trung úy Điểu bị bắt, Thiếu úy Quyết chết. và một số binh sĩ. Thiếu tá An và Trung Tá Nguyễn Tri Tấn đang học tại Long Thành, được lệnh của Sư Đoàn 3 phải về trình diện gấp sau khi mãn khóa học. Thiếu tá An nhận lại Tiểu Đoàn và Thiếu tá Đàng Tiểu Đoàn Phó.

Thiếu tá Đàng tâm sự “Khi được lệnh bàn giao cho LĐ 1 Dù và về đến TTHL. Tôi có lên trên đồi Hòa Khánh liên lạc với Đ/Úy Hòa đang bị bao vây và tử thủ tại đồi 52, là cấp chỉ huy trực tiếp tôi có trách nhiệm với tổn thất mà đơn vị phải gánh chịu. Tôi đã cố gắng xin các cấp trên can thiệp để đưa ĐĐ2 còn kẹt lại thoát khỏi vòng vây nhưng cố gắng đó không thực hiện được. Khi về đến nhà trong Trại gia binh, nhìn những gia đình thân nhân binh sĩ kéo đến nhà thăm hỏi, tôi có nổi đau của riêng mình.”

Trong chiến sử của Sư Đoàn Dù, với những trận đánh đẩm máu ở cao điềm 1062, các TĐ Dù và Cộng quân thay nhau làm chủ cao điểm 1062, nhưng ngọn đồi 52 vẫn nằm trong tay giặc sau khi ĐĐ2 bị bao vây, thất thủ và cái bẫy nhử mồi ở chốt Ba Khe cửa ngỏ vào quận Thường Đức bị khóa lại. Con đường từ Hà Nha vào quận Thường Đức chưa đến 8 Km sao nhiều gian nan, đắng cay và xương máu người lính đổ xuống.

Thiếu tá An lại một lần nữa xây dựng lại Tiểu Đoàn với quân số mới bổ xung cho ĐĐ2. Sau 1 tuần chỉnh trang TĐ lên đường hành quân tái chiếm lại đồi 85 tại Quế Sơn. Thêm trận chiến cho người lính Tê giác tham gia trong mùa hè 1974.

Hành quân tại Đức Dục.

Trung Đoàn 56 bị thiệt hại nặng ở Đức Dục, BTL/Sư Đoàn 3 đưa Trung Đoàn 57 do Đại Tá Phạm Thế Vinh là Trung Đoàn Trưởng và Trung Tá Lê Khắc Kha Tr Đ Phó (K19ĐL) vào thay thế Trung Đoàn 56 về chỉnh trang.

Tiểu Đoàn 1/57 được lệnh rời vùng Thanh Quýt để vào mặt trận Đức Dục. TĐ lên núi Dương Thông để nhận bàn giao các vị trí đóng quân và các chốt của một Tiểu Đoàn thuộc Trung Đoàn 54, Sư Đoàn 1 vào tăng phái cho Sư Đoàn 3. Sau một thời gian đóng quân tại núi Dương Thông, Tiểu Đoàn bàn giao tuyến Dương Thông cho Tiểu Đoàn 2/57 về TTHL Sư Đoàn chỉnh trang 2 tuần.

Tại đây TĐ nhận lệnh đón Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm SĐ3BB. Sau khi đọc diển văn Tổng Thống Thiệu đi đến hàng quân của TĐ 1/57, Tiểu Đoàn Dù và TĐ Địa Phương Quân. Buổi lễ kết thúc, Tiểu Đoàn di chuyển về đến TTHL, tập họp lại cho buổi lể bàn giao chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng của Trung tá Huỳnh Bá An và Đại úy Đổ Ngọc Nuôi.

Sau 4 năm làm Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Tá Huỳnh Bá An người anh cả của TĐ tiến thân lên chức vụ cao hơn và là lúc mở cửa cho các đàn em có cơ hội nhận thêm trách nhiệm trong TĐ. Các Sĩ quan đàn em xuất thân từ Tê Giác được tiến cử sang làm TĐT hay TĐ phó cho các TĐ khác như Thiếu Tá Cước, Thiếu tá Đàng, Đại Úy Nhạc, Đại úy Hiếu. Trung tá An đã tận tình nâng đở các đàn em và các Sĩ quan ba gai từ các đơn vị khác thải về. Đức tính khiêm tốn, đạo đức và bao dung của Trung tá An được thể hiện là những tờ giấy phạt Trọng cấm từ các ĐĐ đến TĐ không bao giờ được gởi đi mà âm thầm nằm trong ngăn chứa hồ sơ trong bàn làm việc của TĐT tại Hậu Cứ TĐ.

  • Đại úy Đổ Ngọc Nuôi, Tiểu Đoàn Trưởng (từ 1/1975- 29/3/1975).

Đại úy Đổ Ngọc Nuôi (K20ĐL), gia nhập binh chủng Nhảy Dù năm 1966, về Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Năm 1968, Trung Tá Nguyễn Viết Cần (em Tướng Nguyễn Viết Thanh) và các Sĩ quan trong Tiểu Đoàn 9 Dù đến vui chơi tại nhà hàng Moulin Rouge đường Trần Hưng Đạo SàiGòn và bắn chết 2 MP Mỹ, Đại úy Nuôi bị kết án tù.

Năm 1971, Sư Đoàn 3 thành lập ở Quảng Trị, để có đủ quân số cung ứng cho Sư Đoàn 3. Bộ TTM ban lệnh ân xá cho các quân phạm đang thụ án, và đưa ra bổ xung quân số cho Sư Đoàn 3. Đại úy Nuôi về Trung Đoàn 2 Bộ Binh. Sau được giao làm Đại Đội Trưởng Trinh Sát 2 và năm 1974 là Tiểu Đoàn Phó của Tiểu Đoàn 1/2 cho Thiếu Tá Nguyễn Tâm Miên (K20ĐL). Được Trung Tá An đề cử với Thiếu Tướng Hinh khi được Tư lệnh hỏi ý kiến.

BCH của Tiểu Đoàn 1/57 có những thay đổi Đại úy Đổ Ngọc Nuôi Tiểu Đoàn Trưởng, Đại úy Hồ Văn Côn TĐ Phó, Trung úy Hiện Trưởng ban 3, Thiếu úy Thanh ban 2, Thiếu úy Đắc ban 4, Trung úy Võ Văn Em chi huy ĐĐ2.

Hành Quân tại Lộc Hiệp, tiếp cứu Tiểu Đoàn 3/56.

Tiểu Đoàn được lệnh khẩn cấp phải đi Hành Quân tiếp cứu Tiểu Đoàn 3/56 bị CSBV đánh tan tại Lộc Hiệp vào ngày 26 Tết (6/2/75). Tiểu Đoàn chuyển quân đến Đại Lộc, Đại úy Côn chi huy 2 Đại Đội 1 và 3 lội qua sông Thu Bổn tiến nhanh vào các mục tiêu ngay trong đêm 27 Tết, có thiết vận xa M113 theo sau yểm trợ. Các Đại Đội 2, Chỉ huy và 4 lần lượt tiếp nối đi qua sông và dàn quân theo đội hình chiếm các vị trí thuận lợi.

Các ĐĐ1 của Trung úy Mến và ĐĐ3 của Trung úy Dực đã nhanh chóng tấn công, tiếng súng và tiếng lựu đạn nổ vang dội tại các mục tiêu. Những viên đạn lửa M60 của bộ binh và đại liên 50 trên thiết vận xa M113 bắn vào mục tiêu như những vệt sáng dài bất tận trong màn đêm và chiếc dù hỏa châu của cối 81 ly soi sáng cho binh lính Đại Đội 1 và 3 nhanh chóng thanh toán các mục tiêu và thu lượm vũ khí của địch quân. Các Đại Đội 1 và 3 tiếp tục tiến về mục tiêu phía trước và chiếm lại hẩu hết các vị trí đóng quân của Tiểu Đoàn 3/56 trước khi bị Cộng quân tấn công.

Sau 2 ngày phản công, trưa 30 Tết Tiểu Đoàn 1/57 chiếm lại các phần đất đã mất. Khu định cư bỏ hoang, không có bóng dáng người dân, vườn rau canh tác của người dân vẫn xanh tươi. Một số xác của binh sĩ Tiểu Đoàn 3/56 đã bị địch quân bắn chết, còn nằm trong các hố cá nhân. Trung úy Hiện báo lên TOC Trung Đoàn 57 tất cả mục tiêu đã chiếm lại khu Lộc Hiệp. BCH/Tiểu Đoàn và Đại Đội chỉ huy đóng quân ngoài bìa làng đón giao thừa tối nay.

Sáng mùng 1Tết Ất Mão 11/2/1975. TOC thông báo Đại Tá Vinh sẽ bay CNC và đáp xuống BCH/Tiểu Đoàn, chia sẽ với chiến công trước mắt, Đại tá Vinh rút ra phong thơ lì xì cho các ĐĐT nhân dịp đầu năm. Đến chiều có lệnh bàn giao chiến trường cho Tiểu Đoàn 2/56. Tiểu Đoàn 1/57 di chuyển về khu vực quận Đại Lộc trong đêm và tiếp tế thêm đạn dược làm thành phần trừ bị cho Sư Đoàn.

Tiểu Đoàn 2/56 bị tấn công và thiệt hại, Thiếu tá Huệ (TĐT) bị thương nhẹ. BTL/SĐ3 quyết định đưa 2 Tiểu Đoàn 1/57 và 2/57 vào giải vây khu Lộc Hiệp. Tiểu Đoàn 2/57 và chi đoàn 3/11 vượt sông Vu Gia ở gần núi Đất (đồi 65) tấn công các mục tiêu và chiếm lại khu định cư Phú An. BTL/SĐ3 giao trách nhiệm vùng Lộc Hiệp lại cho Trung Đoàn 57. Tiểu Đoàn 1/57 chuyển quân qua sông Thu Bồn tiếp nhận lại khu vực do Tiểu Đoàn 2/56 bàn giao.

Thi hành Kế hoạch Z36.

Quân Đoàn 2 di tản, Đại tá Vinh Trung Đoàn Trưởng đến Đức Dục họp với Đại úy Nuôi và phóng đồ Z36 được kín đáo vẽ các tuyến lui binh trên bản đồ và bảo mật. Đêm ngày 27/3, Đại Tá Vinh trực tiếp gọi máy cho Đại úy Nuôi và đọc ám số thi hành kế hoạch Z36 (lui binh, cho con cái qua sông).

Đại úy Nuôi gọi các Đại Đội Trưởng lên máy và ra lệnh cho Đại Đội 1 và 2 di chuyển về BCH Tiểu Đoàn. Sau đó ra lệnh Thiếu úy Thanh dẫn 1 binh sĩ Truyền tin và 1 BK qua sông trước, vào Chi khu Đức Dục liên lạc với Trung Tá Lạc Chi Khu Trưởng hội ý với Chi khu lui về tuyến trước và lấy tần số liên lạc của các Trung Đội Nghĩa quân. Các Đại Đội lần lượt qua sông bằng ghe thuyền của dân và TĐ theo con đường song song với đường tỉnh lộ và bờ sông Thu Bồn di chuyển về cầu Tự Do. Trên đường các chốt địch quân nằm bắn sẻ không gây thiệt hại cho TĐ.Theo kế hoạch Tiểu Đoàn 1/57 làm tuyến ngăn chận địch quân tại phía Bắc cầu Tự Do cho Tiểu Đoàn 2/57 từ núi Dương Thông kéo về.

Trên đường lui về tuyến Đại Lộc, Đại úy Côn TĐ phó bị bắn trúng chân và Trung sĩ I Cường BK/ ĐĐ3 tử thương khi dẫn toán lính lên gở chốt. Đến chiều tối, TĐ lại được lệnh di chuyển về tuyến Hiếu Đức trong lúc BCH Trung Đoàn nhiều lần không liên lạc được BTL/ SĐ.

Các đoàn xe GMC chở lính TQLC bỏ tuyến từ núi Đồng Lâm chạy về Đà Nẳng, các TQLC nói xuống tàu vào Nam. Nguời lính truyền tin nằm Relay trên đỉnh Hòa Khánh làm nhiệm vụ lần cuối, nói Tướng Hinh vội vàng lên trực thăng bay ra Sơn Chà, BTL/SĐ không còn ai trách nhiệm và hệ thống truyền tin bị phá hủy.

Trước hậu cứ Trung Đoàn 57 tại ngã 3 Hòa Cầm, Đại Tá Phạm Thế Vinh, người Trung Đoàn Trưởng lấy gia đình làm nền tảng đạo đức, bao dung với thuộc cấp, xem sinh mạng người lính quí hơn tư lợi cá nhân, buồn rầu chia tay khi đem các Tiểu Đoàn trực thuộc về đến hậu cứ. Con Tốt thí 57 trên bàn cờ Z36 đã hoàn thành bước Cản cho các Tư Lệnh xuống tàu vào Nam.

Sự thất vọng, nghi kỵ làm hoang mang mọi người, giờ thứ 25 đang điểm, hình ảnh năm 1972 tại Quảng Trị bây giờ lại tái diển. Người lính già Thường vụ trút cơn phẩn nộ, ném mạnh chiếc nón sắt thân yêu sau những lần đội pháo cứu mạng xuống mặt đất. Các binh lính gốc miền Trung chán nản rời đội hình đi tìm thân nhân, còn lại số lính ở miền Nam bơ vơ bám theo Trung Úy Mến, Trung Úy Em, Thiếu úy Tuế, Thiếu úy Thanh ra bến cảng tìm tàu vào Nam.TĐ1/57 tan hàng và không còn nghe âm vang “Cố Gắng” vọng lại từ đây. Căn cứ Hòa Khánh hảnh diện với các dòng chữ: 3 ĐẸP – 3 GIỎI, có lẽ nên thay thế bằng dòng chữ:“ Hãy LÀM những điều TÔI NÓI. Đừng NÓI những điều TÔI LÀM”.

Thành phố Đà Nẳng bỏ ngỏ cho Cộng quân ngày 29/3/1975. Sau bao năm nguời lính đã đổ máu, dành từng tấc đất trên trận địa, giờ đây chỉ sau 36 tiếng đồng hồ lui binh bỏ ngỏ cho địch quân. Bài học lui binh sao học hoài không thuộc.

Trại Tù Cải Tạo

Trong các trại tù cải tạo Hiệp Đức, các sĩ quan của TĐ 1/57 có Trung úy Mến, Nghĩa, Hiện, Thiếu úy Thanh, Tuế, Đắc. Tại Kỳ Sơn có Thiếu tá Cước, Đàng, Thuận, Đại úy Nuôi, Bảy, Hùng. Tại Bình Điền có Đại úy Côn. Trong Nam có Đại úy Thắng và Trung úy Em. Riêng Trung tá An từ Điện Bàn bị giải ra Bắc vài ngày sau đó.

Sau những năm dài trong tù cải tạo, các Sĩ quan của TĐ 1/57 còn nợ máu lại gặp nhau tập trung tại trại Tiên Lãnh có Thiếu tá Cước, Thiếu Tá Đàng, Thiếu tá Thuận, Đại úy Nuôi và Thiếu úy Thanh. Tại đây Đại úy Đổ Ngọc Nuôi tham gia vào vụ án Thiếu Úy Trần Quang Trân, ráp máy radio nghe lén đài VOA, BBC bị kết án 12 năm tù và chuyển vào trại Z30 Hàm Tân.

Hơn 40 năm sau (2014)

Họ là những người lính cống hiến thời trai trẻ, tham gia vào cuộc chiến chống Cộng Sản xâm chiếm miền Nam. Trãi qua bao nhiêu khổ cực nắng cháy, từ vùng giới tuyến cách ngăn đến Hạ Lào gió lạnh tử sinh trong đạn pháo nổ hay những đồi núi cheo leo nằm cạnh tiếng bom nổ. Những lo sợ, tủi nhục, đày đọa thân xác trong cảnh tù đày khi là Tù Binh, Tù Hàng binh, Tù Tàn binh hay Tù Cải tạo. Họ cũng là người thương binh đã cống hiến một phần thân thể cho cuộc chiến hay những nấm mồ không bia mộ trong đồi núi rừng sâu.

Vận nước nổi trôi, họ là kẻ thua cuộc và trả cái giá “Thua Cuộc” trong trại Tù binh, trại Tù Cải tạo. Có người đem lại mạng sống “đánh cuộc“ sau khi đi tù về, hay vượt đại dương để lánh nạn Cộng Sản. Họ may mắn ra đi, làm việc và xây dựng gia đình nơi quê người sau những năm bị tù đày của chế độ Cộng Sản.

Những người lính của Hắc Long & Tê Giác là chứng nhân những trận chiến năm xưa, giờ đây có người vào tuổi Hạc, tuổi ”Cổ lai hy” hoặc có người bắt đầu xếp hàng nhận lại tiền hưu, sau những năm dài đóng góp khi làm việc, an bình trên đất khách quê người. Cũng có người tuổi đã già, không được hưởng nhàn và vẫn đang làm việc để kiếm miếng cơm hàng ngày tại Việt Nam và có người không chết bởi bom đạn, tù đày, biển cả đại dương nhưng ngã gục vì ung thư hoàng hành trong cơ thể.

Tuổi già an nhàn trong cuộc sống, đôi khi những quá khứ một thời chinh chiến được gợi nhớ trong hình ảnh, qua bài viết đọc trên internet, qua điện thoại thăm hỏi sức khỏe và email đã kết nối họ với nhau trong tình chiến hữu của gia đình Hắc Long & Tê Giác.

Mủi tên đỏ trên đầu con rồng đen được đổi thay bằng 9 đường theo vòng Sinh, Lão, Bệnh, Tử và kết thúc bằng chữ Sinh trên sừng Tê Giác.

Ngàn năm chiến sử còn in dấu

Một thuở oai hùng tạc đá ghi

Quê Mẹ từ đây xa cách mãi

Đất lành tạo dựng hướng tương lai.

Untold story by Thanh Trinh Le

Chuyện bây giờ mới kể - Silicon Valley, Mùa Thu 2014.

#hạlào #quảngtrị #thườngđức #sđ1 #sđ3 #lamson719 #tđ157 #têgiác