Monday, January 13, 2020

Cộng đồng Mỹ gốc I-ran: Nghề nghiệp và lợi tức.
Cơ quan Doanh nghiệp Nhỏ (SBA) đã tiến hành một khảo sát cho thấy di dân là một trong 20 nhóm di dân hàng đầu với mức làm chủ cao nhứt cao nhứt, đóng góp đáng kể cho kinh tế Mỹ. Theo khảo sát này, có 33.570 chủ doanh nghiệp Mỹ gốc I-ran đang hoạt động tại Mỹ, với tỉ lệ 21.5/100. Lợi tức trước thuế là 2.56 tỉ đô. Gần như có 1/3 gia đình có lợi tức hàng năm là hơn 100.000 đô (so với 1/5 của toàn quốc). Nhóm Khảo sát I-ran cho biết lý do sự thành công tương đối của cộng đồng này với các cộng đồng khác. Họ cho biết, ko giống các cộng đồng khác rời bỏ quê hương vì KHÓ KHĂN KINH TẾ, dân I-ran ra đi vì lý do xã hội hay chính trị như cách mạng 1979. Khoảng 50/100 những người Mỹ gốc I-ran đang có nghề chuyên môn hay nghề về quản lý, một tỉ lệ cao hơn bất cứ cộng đồng khác tại Mỹ.
Các bác sĩ.
Những bác sĩ ng I-ran sớm nhứt ở Mỹ phần lớn là các du sinh trẻ (young trainee) đang nội trú tại bv. Một số mở phòng mạch tư sau thời gian nội trú. Động cơ để kéo dài thời gian ở lại Mỹ là lý do nghề nghiệp chứ ko phải kinh tế. Theo báo cáo năm 1974 của ĐH John Hopkins, trong năm 1971, số bs tại Mỹ là 1.625. Theo kết quả thăm dò từ 660 bs, lý do chánh để nhập cư mỹ là chế độ quân dịch cưởng bách trong hai năm, lương thấp nếu so với Mỹ, giá nhà cao, và các lý do xã hội chính trị.
Năm 2013, một báo cáo nói rằng, sau cách mạng Hồi giáo, số bs I-ran ra trường tại Mỹ là 5.045. Những ai đến Mỹ sau CM 1979 đi cùng gia đình và có ý ở vĩnh viễn.

. . .
Những nhân vật nỗi tiếng gốc I-ran trong giới kinh tế, tài chánh, văn hóa, xã hội, v.v... ở Mỹ.
Pierre Omidyar, sáng lập và CEO của eBay. Hamid Biglari là PCT của ngân hàng Citicorp. Bob Miner là đồng sáng lập của hệ thống quản lý căn bản dữ liệu của Oracle. Năm 2006, Anousheh Ansari, đồng sáng lập của Ansari X Prize, trở thành phụ nữ đầu tiên du lịch trong không gian. Các người khác như nhà thiết kế Bijan Pakzad . . . giám đốc Hamid Akhavan, cựu CEO của Unify GmbH & Co. KG (tên cũ Siemens Enterprise Communications), Omid Kordestani của TWITTER và cựu PCT của GOOGLE, Salar Kamangar CEO của YOUTUBE, Sina Tamaddon của APPLE Inc., và Shahram Dabiri nhà sản xuất hàng đầu của game World of Warcraft từ 1999 tới 2007.
LÀM TỪ THIỆN: Năm 2006, trung tâm ung thư mang tên BS Anderson của ĐH Texas đã nhận 10 triệu từ một cặp vc sống ở Houston. ĐH Southern California đã nhận 17 triệu từ một ng Mỹ gốc I-ran, ĐH San Francisco State nhận 10 triệu đô từ một cặp gốc I-ran. BV Swedish Covenant của Chicago nhận 4 triệu, ĐH Porland State 8 triệu và UC Irvine 30 TRIỆU.
. . .
- Ngoảnh mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa, 
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!”-- Bùi minh Quốc. 
- Tại sao ĐCSVN sợ tam quyền phân lập và sự thật
như Dracula sợ ánh sáng mặt trời ? - Vì chúng đều là 
vampire (ma cà rồng). 


Đằng sau vụ Lộc Hưng và lý do khiến phía công giáo im lặng

11-1-2019
https://baotiengdan.com/2019/01/12/dang-sau-vu-loc-hung-va-ly-do-khien-phia-cong-giao-im-lang/?fbclid=IwAR0KqLsjHksiGPPjiDdlzilCGbVpFz47H09y2-yHkca-kOfiUV6h-gR6mbs
Việc “mượn” đất sau năm 54 ở HN và sau 75 ở SG là cực kỳ phổ biến. Năm 54 ở HN, sau khi Việt Minh tiếp quản với lượng cán bộ khổng lồ đổ về thì đương nhiên bài toán nhà ở là chuyện lớn. Với các nhà ở của người Pháp và dân di cư bỏ lại nhà thì đương nhiên sung công, rồi phân cho cán bộ và các công sở, sứ quán. Nhà của các lãnh đạo đảng và NN nước như các ông Giáp, Duẩn, Đồng, Chinh…là nhưng biệt thự lớn của quan chức thực dân. Nhiều biệt thự bỏ lại bị chia 5 xẻ 7 như nhà tập thể cho 5-7 gia đình cán bộ. Điều đó tương đối hợp tự nhiên khi thay đổi chế độ.
Vấn đề éo le nhất là với những gia đình giàu có ở HN, không có nợ máu, thậm chí có công với chế độ mới. Có gia đình đại trí thức, quan to triều đình, có nhiều biệt thự lớn hiến cho nhà nước, rồi được nhà nước “cho mượn” lại nhà của chính mình để ở, hiện khu đất đó vẫn thuộc diện “trung ương quản lý”. Chính ngay nhà ông Giáp, ông Duẩn và nhiều biệt thự của các lãnh tụ kiểu như vậy, theo mình biết, thì cũng không hề có sổ đỏ, vẫn thuộc diện do Ban Tài chính quản trị trung ương quản lý, coi như nhà công vụ. Lẽ ra về lý mà nói, lãnh tụ nghỉ hưu, cùng lắm là chết rồi thì con cháu phải trả lại nhà cho nhà nước. Như khu đất nhà ông Giáp, khéo phải tiền nghìn tỷ, anh Vượng có tiền cũng chả mua được! Chả có luật nào cho phép con cháu lãnh tụ thừa kế nhà công vụ. Thế mà chả ai dám thắc mắc.
Trường hợp nữa cũng khá phổ biến, là các nhà giàu bị/được nhà nước mượn nhà. Thực ra nhà nước vác súng vào đuổi chủ nhà thì thô quá, nên hay chơi bài “mượn” hoặc kích động để chủ nhà “hiến tặng”. Nhiều gia đình vì không muốn di cư, nên phải làm thân với chế độ mới, nên cũng phải hiến. Hiến rồi thì chả nói lại làm gì, còn những nhà bị nhà nước mượn thì 99,99% là không ai dám đòi. Sau này có luật Đất đai thì nghiễm nhiên những nhà mượn kiểu đó vĩnh viễn không thể đòi được. Mình nghe nhiều người HN gốc kể những chuyện tương tự, ngày xưa gia đình có mấy cái nhà, sau này còn mấy chục m2, đành ngậm ngùi mà chịu, đó cũng là cái giá của cách mạng. Nhà tư sản Trịnh Văn Bô là ví dụ điển hình nhất. Nhà ấy may còn nhảy dù vào nhà mình được, là do có công với CM, con cháu làm công chức cấp trung và còn có giấy cho mượn nhà.
Trường hợp thứ 3 cũng khá phổ biến, là đất Công giáo cũng bị chính quyền mượn. Hồi sau 54, chính quyền mới không dám cướp đất Công giáo, cũng lại mượn. Mảnh đất quan trọng nhất của Giáo hội Công giáo VN bị nhà nước tịch thu là mảnh đất tòa khâm sứ Vatican ở 42 Nhà Chung. Tòa Tổng Giám mục HN cho rằng đất đó là của Tòa TGM cho Khâm sứ Tòa thánh mượn. Đến năm 59, Tòa Thánh rút về nước, cắt đứt quan hệ với VN, thì lẽ ra đất đó phải trả cho Tòa TGM, nhưng chính quyền lại thu về với lý do đất là của Hội thừa sai Paris đã rút về nước bỏ lại khu đất.
Hay tranh chấp đình đám nữa là khu đất ở cạnh BV Đống Đa, cũng là đất Công giáo cho chính quyền mượn, còn dư 1 mảnh đất trống bị nhà nước cho làm xí nghiệp. Cả 2 khu đều bị giáo dân đòi khi có dự án thương mại ở đó, thế là chính quyền phải chơi bài biến đất đó thành công viên! 1 số mảnh đất khác của Công giáo bị chính quyền mượn, nay khỏi đòi, là các bệnh viện như Saint Paul, Đống Đa…
Thời Pháp thuộc, Công giáo là 1 thế lực lớn, có rất nhiều BĐS. Nhà thờ có nguồn lợi tức từ ruộng đất, có trại tế bần, có trường dòng, có bệnh viện…khéo gần bằng quân đội bây giờ. Sau “giải phóng”, chính quyền mượn nhiều lắm, ở hầu hết các tỉnh đều bị mượn. Coi như giải phóng luôn đất đai từ giáo hội. Công giáo bây giờ mất quyền mở trường dòng, không còn bệnh viện, ruộng đất cũng không còn.
Sau 75, mọi sự lại lặp lại ở SG và toàn miền Nam y như ở HN và miền Bắc năm 54 nhưng phạm vi chắc lớn gấp 10, vì thành phần nợ máu với chế độ mới đông hơn nhiều, nhà cửa ở SG cũng nhiều hơn HN, nhà thờ và nhà giàu cũng nhiều hơn gấp bội. Vì thế mà việc tiếp quản, tịch thu, “mượn”, “hiến tặng” BĐS lại càng phổ biến.
Đất Lộc Hưng không nằm ngoài quy trình “giải phóng” kể trên. Nhưng có 1 vấn đề sai quy trình, vi phạm nguyên tắc và truyền thống xã nghĩa mà chưa chắc chính quyền đã đủ tinh ý để nhận ra.
Đó là, mọi người cứ để ý, thành phần bị tịch thu, mượn BĐS thường là công chức thực dân, chế độ cũ, quan lại, nhà giàu, có đặc điểm chung là lấy tài sản của người giàu để sung công hoặc chia cho người nghèo hay cán bộ. Đấy là nguyên tắc tạo nên bản chất chế độ. Nhưng vụ Lộc Hưng, thì lại ngược lại, dân đang sử dụng đất ở đó đa phần là người nghèo, cho dù nguồn gốc đất cũng có mùi Công giáo.
Vụ này nhiều người thắc mắc là sao phía Công giáo không chính thức lên tiếng? Anh em bò đỏ thì suy diễn là Công giáo thấy sai nên ỉm đi! Anh em ngu lắm! Tòa tổng GM mục SG không lên tiếng chính là 1 giải pháp thông minh nhất. Nếu Tòa TGM đứng ra nhận đó là đất Công giáo, bị nhà nước tịch thu, thì sẽ biến điều đó là đương nhiên, như đã thấy từ năm 54 đến giờ. Công giáo đã từ bỏ ruộng đất (trước đây cho giáo dân thuê để lấy lợi tức cho nhà thờ). DLV sẽ sủa ngay là: “Công giáo là địa chủ sao được, nhà nước tịch thu đúng cmnr”. Tức là tranh chấp sẽ trở thành giữa Công giáo và nhà nước, mà Công giáo sẽ rơi vào thế yếu, vì không thể giữ ruộng đất.
Vụ này phía chính quyền cũng rất ranh mãnh, dùng bài cũ đã làm thành công ở HN khi có tranh chấp đất giữa Công giáo với chính quyền. Đó là 2 vụ Thái Hà và Nhà Chung. Ban đầu 2 khu ấy cũng đã được lập dự án thương mại (TT thương mại ở Nhà Chung và chung cư ở Thái Hà). Nhưng bị giáo dân phản đối quyết liệt nên chính quyền chuyển đổi mục đích sang thành đất công viên. Thế là giáo dân bỏ qua.
Ở Lộc Hưng cũng vậy, ban đầu phía VNPT lập dự án chung cư thương mại. Nhưng bị dân phản đối quyết liệt quá nên TP HCM thu hồi đất, chuyển cho quận Tân Bình xây trường học và vườn hoa. Anh em thấy bài quen chưa? Ở vụ này, báo chí CM cố tình cắt bỏ thông tin khu đất liên quan đến Công giáo, bẻ lái sang chuyện người dân vi phạm pháp luật (xây nhà trái phép, nhảy dù vào đất công). Báo chí bị trễ đến 4-5 ngày sau vụ cưỡng chế chứng tỏ Tuyên giáo phải bàn mưu tính kế khá đau đầu để các báo đồng thanh định hướng.
Nhưng vỏ quít dày có móng tay nhọn. Phía Công giáo lờ tịt vụ này đi, đẩy chính quyền thành kẻ cướp đất của dân nghèo chứ không phải thu hồi hay mượn đất Công giáo (có “chính nghĩa” hơn). Thế là chính quyền bị việt vị, tự mình vi phạm nguyên tắc XHCN là lấy của người giàu chia cho dân nghèo khi thay đổi chế độ. Mình hiểu lý do tại sao từ sau 75, tuy chính quyền tuyên bố khu đất là của Bưu điện nhưng sau mấy chục năm lại không cưỡng chế, đó là họ sợ vi phạm cái nguyên tắc kể trên. Nhưng hiện nay, chắc vì đất đai ngày càng đắt đỏ, lòng tham nổi lên, họ đã rơi vào thế việt vị!
Nếu anh em quan lại SG có đọc stt này. Thì anh em hay cố gắng đàm phán với dân để thoát ra khỏi thế việt vị đó. Nếu vụ này bị đẩy lên cao trào, thì xấu mặt chế độ lắm, dân họ không chịu mất đất đâu.
P/S: Có điểm vô lý ở những dòng bôi đỏ trong ảnh là văn bản mà UBND TP gửi Thanh tra CP. Điều đó cho thấy RẤT CÓ THỂ phía TP HCM ngụy tạo căn cứ.
Tài liệu cho thấy gốc gác đất Công giáo đứng chung với chính quyền QGVN (báo chí đều cắt bỏ đoạn này), nhưng VB này lại cũng cắt cúp thông tin, không hiểu sao lại mọc ra quân đội Pháp sở hữu, rồi đài Viễn tín VNCH sở hữu nữa? Sao đang đất Công giáo lại bị chính quyền VNCH tịch thu? Tại sao năm 55 mà QĐ Pháp lại có đất này? Trình tự thời gian được trình bày lộn xộn chứng tỏ người soạn VB rất dốt lịch sử và cắt cúp thông tin thô thiển. Đúng trình tự phải viết là trước năm 55 thì QGVN và Giáo hội cùng đứng tên chủ đất, từ 55-75 do abc đứng tên, nêu lý do tại sao chuyển đổi chủ sở hữu (đây không nêu, chứng tỏ cố tình cắt bỏ lý do). Sau 75, ai sở hữu…
Nên nhớ là năm 49, khi thành lập Quốc gia VN, thì người Pháp bắt đầu trả đất và BĐS cho QGVN. Chính đất Nam Kỳ được TT Pháp trao trả đầu tiên và dinh Norodom (dinh Độc Lập) được trả cuối cùng vào ngày 7/9/1954. Vậy tại sao quân đội Pháp lại có thể cho Công giáo mượn đất vào năm 1955?
Vụ này nếu không rành lịch sử lề trái thì sẽ không thể bóc phốt cái văn bản trên được. Liệu mấy người bây giờ rành vấn đề này?
Văn bản của UB ND TP HCM gửi Thanh tra CP. Toàn văn ở link này, lề phải nhé.
Bình Luận từ Facebook

4 BÌNH LUẬN

  1. “Theo tài liệu lưu trữ thì Nha Giám đốc Viễn thông chế độ cũ quản lý và sử dụng khu đất làm Đài Ăng-ten”
    (Trich Văn bản của UB ND TP HCM gửi Thanh tra CP.
    https://baotiengdan.com/2019/01/12/dang-sau-vu-loc-hung-va-ly-do-khien-phia-cong-giao-im-lang/)
    “Quyền lợi” luôn luôn phải đi với “trách nhiệm”. Muốn thừa hưởng quyền quản lý và sử dụng (khu đất) từ chế độ cũ thì chế độ mới phải làm tròn bổn phận trách nhiệm của chế độ cũ.
    Đó là chế độ mới phải trả, truy trả đầy đủ, tiền trợ cấp của thương binh QLVNCH, tiền lương hưu của công chức chế độ cũ, tiền gửi ngân hàng, tiền tiết kiệm (và tiền lãi) do người dân VNCH gửi trong các ngân hàng công & tư của VNCH mà đã được/bị chế độ mới “tiếp quản” từ 30-4-1975 đến nay,
    và nhiều trách nhiệm khác nữa.
    Ngày 30-4-1975 đạo quân viễn chinh cộng sản VNDCCH vi phạm hiệp định Paris 1973, vi phạm hiệp định Giơ ne vơ 1954, tràn ngập Sài Gòn mang cờ búa liệm, dưới đó là cờ đỏ sao vàng và chế độ cộng sản VNDCCH, ách cai trị chuyên chính vô sản, từ Hà nội vào, áp đặt lên người Nam,
    từ đấy đến nay chế độ mới đã không hoàn tất, không thi hành bất cứ một trách nhiệm nào trong những trách nhiệm kể trên, thì cũng không thể được hưởng bất cứ một thứ quyền “quản lý & sử dụng” nào từ chế độ cũ đối với khu đất nói trên
  2. Công giáo VN hiện nay có vị thế hoàn toàn khác so với trước đây, trở thành một phần không thể tách rời của dân tôc. Công gíáo có đươc niềm tin của nhân dân VN, cho nên phải lên tiếng vì sự thât.
    Tôi tin, chính nghĩa sẽ bắt lũ lợn cầm quyền phải sơ hãi mà lùi bước.
    Đây chính là lúc Công giáo phải tuyên bố đứng về phía dân nghèo, đòi quyền được sống cho người dân Lộc Hưng!!!
  3. “Thì anh em hay cố gắng đàm phán với dân để thoát ra khỏi thế việt vị đó. Nếu vụ này bị đẩy lên cao trào, thì xấu mặt chế độ lắm”
    Rất hoan nghênh . Các anh em nhà báo ráng giải thích có tình có lý để dân thôi không phàn nàn nữa để bộ mặt chế độ kha khá lên . Chứ anh em nhà báo mà không làm gì thì còn gì là mặt chế độ nữa . Mặt chế độ cũng là mặt anh em nhà báo chúng ta đấy . Thôi thì phải cố lên thui .
    Để giữ 1 bộ mặt tương đối coi được cho chế độ, công giáo cũng không nên nhúng vào . Nếu có chõ mũi vào, các cha nên khuyên giải người dân tuân thủ luật pháp, phản biện ôn hòa, chứ đừng có làm gì mất mặt chế độ .
  4. Bọn cán cộng kẻ nào cũng có máu tham lam, gian manh. Bọn chúng chuyên dùng thủ đoạn từ việc giành chính quyền từ tay nhân dân đến giựt cả sự sống của người cùng khổ mà trước đó chúng lợi dụng để chiếm đất nước. Thế có thơ rằng:
    Đất nào là đất của công,
    Đất nào là đất của ông của bà.
    Đất nào quy hoạch tha ma,
    Đất nào của đảng gian tà bán buôn.
    Xưa thì lí lẽ tỏ tường,
    Nay thì luật pháp của phường ác ôn.
    Xưa thì mị gạt nhân dân,
    Lấy đất địa chủ cắt phần nông dân.
    Nay thì cán đảng tham ô,
    Túi tham vô đáy vờ vờ đất công.
    Để rồi tha hóa lũm không,
    Vét vơ cạn kiệt lưu manh cướp càn .
    Dân ta tường tỏ lũ gian,
    Thù hận quyết trả đập tan tà quyền.
    .

Friday, January 10, 2020

Mấy đời bánh đúc có xương, 
Mấy đời CS nó thương dân mình.

Thursday, January 9, 2020

Giới thiệu Đức Mẹ Măng Đen

Tượng Đức Mẹ Fatima tại Măng Đen (còn được là Tượng Đức Mẹ Măng Đen hay Đức Mẹ cụt tay) là một di tích, điểm hành hương Công giáo của Giáo phận Kon Tum, tọa lạc ở thôn Măng Đen, xã Đắk Long, huyện Kon Plông tỉnh Kon Tum, cạnh Quốc lộ 24, cách thành phố Kon Tum 53 km về phía Đông Bắc.

Nguồn gốcTheo tài liệu của Tòa Giám mục Kon Tum, và tường trình của linh mục Giuse Nguyễn Minh Kông (còn được viết là “Công”) thì đây là bức tượng được tạc theo tượng Đức Mẹ Fatima do linh mục Tôma Lê Thành Ánh tặng. Bức tượng này được linh mục Kông mang lên tiền đồn Măng Đen bằng trực thăng (ngày nay vẫn còn dấu tích một sân bay dã chiến rất rõ, cách vị trí tượng khoảng 2 km). Tượng được dựng trên một trụ đài đơn sơ như hiện nay vào giữa năm 1971. Năm 1974, do hỏa lực chiến tranh Việt Nam, tiền đồn Măng Đen bị triệt bỏ, bức tượng cũng bị hư hỏng ít nhiều và bị bỏ phế sâu trong rừng rậm.

Đức Mẹ bị quên lãngSau chiến tranh, bức tượng bị bỏ phế trong một thời gian dài vì không có tuyến giao thông và không có cư dân sinh sống gần đó. Đầu thập niên 1980, do ảnh hưởng từ chính sách Xây dựng các vùng kinh tế mới của chính phủ Việt Nam, một số người dân sinh sống tại lâm trường Măng Cành đã phát hiện ra bức tượng này, nhưng không có sự quan tâm đặc biệt nào.

Theo ghi nhận của linh mục Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn, ghi chép cuộc trao đổi với bà Đào Thị Hương, người được cho là đã có công bảo tồn bức tượng, thì cho đến đầu năm 1987, tượng vẫn còn nguyên. Tuy nhiên, đến cuối năm 1987 thì tượng bị mất đầu, mất tay, nhưng không rõ nguyên nhân.

Năm 2002, huyện Kon Plông mới được hình thành từ việc chia tách huyện Kon Plông cũ thành huyện Kon Plông mới và huyện Kon Rẫy. Huyện lỵ Kon Plông mới được đặt tại Măng Đen. Tuyến Quốc lộ 24cũng được dự định mở rộng kéo dài để dùng làm tuyến giao thông chính băng qua địa bàn huyện và nối đến tận huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 2004, khi bắt đầu thi công tuyến đường này, những người làm đường khi thấy bản thiết kế vô tình đi qua vị trí tượng này đã điều chỉnh tuyến đường để tránh xâm hại đến bức tượng. Trong số những người làm đường có một tín đồ Công giáo tên Hoàng đã bỏ công phục chế phần đầu và đôi tay. Phần đầu được phục chế với gương mặt không còn giống các phiên bản tượng Đức Mẹ Fatima thông thường nữa, nhưng mang dáng dấp phụ nữ Tây Nguyên Việt Nam. Tuy nhiên, không rõ vì sao đôi tay không thể phục chế được, sau khi phục chế đã bị rơi xuống dưới chân tượng, vì vậy tượng vẫn mang hình dáng cụt tay cho đến ngày nay. Theo linh mục Phi Khanh Vương Hoàng Khởi, dẫn tư liệu do Tòa Giám mục Kon Tum cung cấp, thì Linh mục Gioakim Nguyễn Hoàng Sơn đã “tìm được một phần bàn tay và một phần đốt tay trỏ của tượng Mẹ” ngày 28 tháng 12 năm 2006, hiện đang được cất giữ tại Tòa Giám mục Kon Tum. Có lẽ đây chính là phần còn lại của đôi tay được phục chế.

Một nơi hành hương Công giáoMãi đến cuối tháng 8 năm 2006, một tín đồ Công giáo tên Lâm khi đi qua đây, vô tình được nghe kể lại nên đã tìm đến xác nhận bức tượng và thông báo sự hiện hữu của bức tượng cho Tòa Giám mục Kon Tum. Ngày 28 tháng 12 năm 2006, một phái đoàn tôn giáo do Giám mục Kon Tum Micae Hoàng Đức Oanh dẫn đầu đã lên viếng bức tượng. Một năm sau, ngày 9 tháng 12 năm 2007, Giám mục Hoàng Đức Oanh cùng các linh mục, tu sĩ, và hơn 2.000 thường dân đã tổ chức dâng thánh lễ long trọng kính Đức Mẹ tại đây. Từ đó, nơi đây trở thành một nơi hành hương của các giáo dân vùng Tây Nguyên và ngày9 tháng 12 hàng năm trở thành ngày Ngày Hành hương Đức Mẹ Măng Đen của Giáo phận Kon Tum.

Một số thông tin khácTượng Đức Mẹ Măng Đen được làm bằng bê tông cốt thép, cao khoảng 1 mét. Tượng được đặt trên một bệ tượng làm bằng xi măng kết với các đá cuội tự nhiên. Phần thân tượng mang điểm hình dáng dấp của tượng Đức Mẹ Fatima, nhưng phần đầu được phục chế lại mang khá nhiều hình dáng phụ nữ vùng Tây Nguyên Việt Nam. Phần tay tuy được phục chế nhiều lần, nhưng về sau được giữ nguyên hình dáng tay cụt. Nhiều giáo dân cho rằng với hình dáng cụt tay như trên, làm liên tưởng đến hình tượng Đức Mẹ phù hộ cho con người bất hạnh mắc các bệnh như; phong cùi, HIV/AIDS…Giữa khung cảnh rừng núi mênh mông, thâm u, xung quanh là rất nhiều hoa và những dãy ghế đá, với những tấm biển “Tạ ơn Đức Mẹ” được những người giáo dân mang đến, bức tượng hiện lên với đầy vẻ linh thiêng, huyền bí…

Từ năm 2007, nhiều giáo dân đã lên cầu nguyện tại đây, hình thành một điểm hành hương tôn giáo tại Măng Đen. Hàng trăm chiếc ghế đá và dưới bệ tượng xếp hàng trăm chiếc bảng đá nhỏ khắc chữ tạ ơn của các tín đồ cầu mong sự linh ứng. Ngày nghỉ có cả những đoàn người hành hương từ nơi xa đến chiêm ngưỡng, lễ bái, có người là tín đồ Thiên chúa giáo nhưng cũng nhiều người đến chỉ cốt cầu xin tài lộc, con cái v.v…

Điều này cũng làm ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển của tỉnh Kon Tum nói chung và huyện Kon Plông nói riêng. Quy hoạch tổng thể của thị trấn Măng Đen được điều chỉnh lại khi nắn lại tuyến đường quốc lộ và quy hoạch xây dựng thị trấn. Một khu du lịch sinh thái được mệnh danh Đà Lạt thứ hai được xây dựng cách tượng Măng Đen 2 km, cạnh sân bay Măng Đen cũ. Đồng thời, một trung tâm hành hương và du lịch tôn giáo cũng được quy hoạch xây dựng tại khu vực đặt tượng, với diện tích rộng trên 20 ha.

Ngày 10 tháng 9 năm 2011, Sứ thần Tòa Thánh, Đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam là Tổng giám mục Leopoldo Girelli đã đến viếng và chủ trì thánh lễ kính Đức Mẹ. Cuối tháng 11, Sở Nội vụ tỉnh Kon Tum cũng gửi văn bản cho Tòa Giám mục Kon Tum về việc chính thức chấp nhận việc tổ chức hành hương tôn giáo tại Măng Đen. Tòa Giám mục Kon Tum cũng ra thông báo thành lập Giáo xứ Kon Xơm Luh, phụ trách việc quản lý linh địa Măng Đen. Ngày 12 tháng 12 năm 2011, một buổi lễ trọng thể được tổ chức tại đây, do chính Giám mục giáo phận chủ trì để mừng sự kiện này.





LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KON XƠMLUH

I. GIỚI THIỆU

          Từ trung tâm thành phố Kon Tum, theo quốc lộ 24 đi lên hướng đông bắc (đi Kon Plong – Đức Mẹ Măng Đen), cách thành phố Kon Tum 15 km, đó là Nhà thờ giáo xứ Kon Xơmluh, thuộc thôn Kon Xơmluh, xã Dak Tơre, Huyện Kon Rẫy, Tỉnh Kon Tum. Ngôi nhà thờ mới được xây dựng khang trang, vững chãi, toạ lạc trên một ngọn đồi thoáng đãng, được phỏng theo mô-típ nhà sàn dân tộc Tây Nguyên. Lễ khánh thành nhà thờ mới vào ngày 06.12.2011. Cha sở hiện tại (từ 2006-…) là Linh mục Gioan Nguyễn Đức Hoà.
Hình 1- Khánh thành Nhà thờ Kon Xơmluh 06/12/2011
Giáo xứ Kon Xơmluh ngày nay gồm 21 làng dân tộc, với số tín hữu: 6.419 người, thuộc sắc tộc Bahnar – Jơlơng. Đó là các làng: Kon Dơnăng, Kon Tơneh, Kon Dơxing, Kon Xơmluh, Kon Longbuk, Kon Klơng, Kon Hơdrâm, Kon Jripen, Kon Rơlang, Kon Xơlak 1, Kon Xơlak 2, Kon Bokdeh, Kon Kơtuh, Kon Xơrek, Kon Kenh, Kon Wăng, Kon Rơxa, Kon Xơmuôn, Dak Tân, Dak Ngo (1)…
          Bổn mạng giáo xứ:
-Từ 1891 – 1939: Tơring Kon Xơmluh chọn Đức Mẹ Lộ Đức (Notre-Dame de Lourdes) làm thánh bổn mạng (2).
-Từ 1939: Giáo xứ đổi tên thánh bổn mạng là Thánh Gia Thất (Saite-Famille), cho đến ngày nay (3).
Về tên gọi Kon Xơmluh: Xơmluh là một loại cây như cây le. Kon Xơmluh: Làng có nhiều cây như cây le, loại cây mọc nhiều ở vùng này.
II. VÀI DÒNG LƯỢC SỬ GIÁO XỨ KON XƠMLUH
          Ngược dòng lịch sử cách đây 120 năm, công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc vùng phía bắc và đông bắc Kon Tum được xúc tiến bởi các vị thừa sai, trong số đó người có công đầu phải kể tới là Cha Gioan Baotixita Maria Guerlach (bok Kanh: sinh 1858, Lm 1882, Qđ 1912). Ngài là vị tông đồ nhiệt thành, đã làm việc tích cực để hoán cải lương dân và thu được nhiều kết quả hơn những vị tiền nhiệm: từ năm 1888 (khởi đầu làng Kon Kơtu xin theo đạo) đến năm 1894, ngài đã dạy dỗ và rửa tội hơn 1.200 tân tòng (4). Vào năm 1890, Cha Guerlach được bổ nhiệm làm bề trên tạm thời miền Thượng, trong thời gian này việc tòng giáo lan rộng khắp các buôn làng.
Vào ngày 08.06.1891, dân làng Kon Xơmluh và Kon Tơneh gia nhập đạo Công giáo, tiếp đến các làng lân cận trong vùng cũng xin theo đạo, lập thành địa sở (Tơring) Kon Xơmluh, dưới sự dẫn dắt của Cha Guerlach (5). Trong thời kỳ đầu từ 1891 – 1896, ngài phải vất vả biết bao nhiêu để đem từng ấy làng trở lại đạo, lo lắng dạy dỗ cho họ được rửa tội và xưng tội.
 
Hình 2- Các Địa sở thuộc sắc dân Bahnar-Jơlơng
(Trích: La Mission des Pays Mois en 1937)
Tiếp nối Cha Guerlach – vị chủ chăn tiên khởi, trong suốt chiều dài lịch sử 120 năm (1891 – 2011), địa sở Kon Xơmluh đã được dẫn dắt bởi các linh mục sau đây (6):
Năm 1896 – 1898: Cha Denis Poyet (bok Thuân) phụ trách.
Năm 1897 – 1898: có thêm Cha J. B Jurbert (bok Binh) phụ trách.
Năm 1899 – 1904: Cha Grégroire Bober (bok Ber) phụ trách.
Năm 1904 – 1914: Cha Louis Hutinet (bok Hu) phụ trách.
Năm 1909: Kon Longbuk tách ra khỏi địa sở Kon Xơmluh.
Năm 1911 – 1914: có thêm Cha Francoise Légis Louison (bok Luy) phụ trách.
Năm 1913: có thêm Cha Meymes phụ trách.
Kon Xơmluh có 14 họ đạo, với 1.413 tín hữu và 61 dự tòng.
Năm 1915 – 1925: Cha Joseph Gaillard (bok Biong) phụ trách.
Năm 1920: có thêm Cha Phêrô Nhì (Việt Nam) phụ trách.
Năm 1925 – 1928: Cha Anrê Tường phụ trách.
Năm 1926: có thêm Cha Stêphanô Cao Tấn Truyện phụ trách.
Năm 1928: có thêm Cha Bernard Iroz (bok Y) phụ trách.
Năm 1928 – 1935: Cha Phêrô Trần Ngọc Thích phụ trách.
Năm 1936 – 1938: Cha André Marty (bok Ty) và Cha Pêtrô Hiâu (Hoá, Bahnar) phụ trách.
Năm 1936: Khởi công xây dựng nhà thờ Kon Xơmluh.
Năm 1937: Hoàn thành nhà thờ Kon Xơmluh.
Kon Xơmluh gồm 20 họ đạo, với 1.450 tín hữu và 234 dự tòng (7).
Hình 3- Nhà thờ Kon Xơmluh (cũ)
          Năm 1938 – 1948: Cha Louis Giffard (bok Ngok) phụ trách.
Năm 1939: Kon Xơmluh đổi tên thánh bổn mạng thành Thánh Gia Thất (8);
gồm 16 họ đạo, với 1.455 tín hữu.
Năm 1946: Kon Xơmluh có 1.445 tín hữu và 134 dự tòng.
Năm 1948 – 1949: Cha Léon Dujon (bok Bưu) phụ trách.
Năm 1949 – 1956: Cha Louis Giffard (bok Ngok) phụ trách lần 2.
Kon Xơmluh có 15 họ đạo, với 1.413 tín hữu, 5 dự tòng.
Năm 1956: Cha Léon Dujon (bok Bưu) phụ trách lần 2.
Từ 1956 đến 1975, quí Cha phụ trách và tình hình giáo xứ Kon Xơmluh như  sau:
Năm
Linh mục phụ trách
Số họ đạo
Số giáo dân
Dự tòng
Giáo phu
1956
1958
1959
1960
1963
1964
1965
1966
1967
1969
1972
1974
1975
Cha Léon Dujon (bok Bưu)
-nt-
Cha Daniel Léger (bok Leh)
-nt-
-nt-
-nt-
-nt-
-nt-
Cha Micae Võ Văn Sự
-nt-
Cha Vinh Sơn Đặng Văn Tú
-nt-
-nt-
15
17
17
17
14
13
9
9
15
3
1.883
1.553
1.533
1.552
1.727
1.727
1.888
1.922
1.730
1.933
4.144
2.144
40
54
39
27
27
14
12
16
16
22
17
Năm 1968: Biến cố Tết Mậu Thân, nhà thờ Kon Xơmluh bị đánh bom sập bình địa.
Năm 1972: Các làng trong giáo xứ di dời về trung tâm Paradis, tức là làng Kon Rơwang
thuộc giáo xứ Chính toà bây giờ.
Tháng 3/1975: Các làng trở về làng cũ của mình. Số giáo dân là 2.144 người và giáo xứ Kon Xơmluh trực thuộc giáo xứ Chính toà Kon Tum. Từ đây, giáo xứ do các Cha sở giáo xứ Chính toà phụ trách.
Năm 1975 – 1978: Cha Phaolô Nguyễn Đây phụ trách.
Năm 1978 – 2004: Cha Giuse Nguyễn Thanh Liên phụ trách.
Năm 2004, giáo xứ Kon Xơmluh trực thuộc giáo xứ Kon Jơdreh, và Cha Antôn Nguyễn Văn Binh, cha sở Kon Jơdreh phụ trách cho đến 2005.
Năm 2005 – 2006: Cha Vinh Sơn Nguyễn Ngọc Quyền, cha sở Kon Jơdreh, phụ trách.
          Ngày 01.06.2006, Đức Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh bổ nhiệm Cha Gioan Nguyễn Đức Hoà làm chính xứ Kon Xơmluh với 21 làng và 6.419 giáo dân. Từ đây, giáo xứ Kon Xơmluh tách khỏi giáo xứ Kon Jơdreh và trở lại thành giáo xứ độc lập như lúc ban đầu.
          Ngày 01.01.2008: đặt viên đá đầu tiên, khởi công xây dựng nhà thờ Kon Xơmluh; và ngày 06.12.2011, lễ khánh thành ngôi nhà thờ mới trong niềm vui tạ ơn Thiên Chúa, tạ ơn Thánh Gia: Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse. Đây không chỉ là niềm vui của riêng giáo xứ Kon Xơmluh, mà còn là niềm vui chung của gia đình giáo phận Kon Tum, đánh dấu sự trưởng thành của giáo xứ, và cũng gợi lên suy tư truyền giáo: cánh đồng lúa còn mênh mông và còn nhiều khó khăn, bất trắc, đang rất cần những tâm hồn tông đồ đến cảm thông, chia sẻ Tin Mừng Cứu Độ.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH
QUÝ LINH MỤC PHỤ TRÁCH GIÁO XỨ KON XƠMLUH
TỪ TRƯỚC ĐẾN NAY
šV›

                          
H.4 -Cha J.B Guerlach H.5 – Cha Denis Poyet H.6 – Cha Joseph Jurbert
H.7 – Từ trái qua phải:
Hàng trên:  
     1/ Cha Louis Hutinet         2/ …    3/ Cha Fr. Régis Louison      4/ …
Hàng dưới:
      5/ Cha André Marty  6/ Cha Petrô Hiâu (Hoá)  7/ Louis Giffard  
                           8/ Cha Léon Dujon
                        
   H.8 – Cha Anrê Tường         H.9 – Cha Phêrô Trần Ngọc Thích










H.10 – Từ trái qua phải – Hàng dưới (có hình):
1/ Cha Daniel Léger  2/ Cha Micae Võ Văn Sự  3/ Cha Vinh Sơn Đặng Văn Tú
4/ Cha Phaolô Nguyễn Đây

H.11 – Từ trái qua phải:
1/ Cha Giuse Nguyễn Thanh Liên               2/ Cha Antôn Nguyễn Văn Binh
3/ Cha Vinh Sơn Nguyễn Ngọc Quyền        4/ Cha Gioan Nguyễn Đức Hoà
CHÚ THÍCH:
(1)   Theo SƠ ĐỒ TỔ CHỨC GIÁO XỨ KON XƠMLUH 2011, tại nhà thờ Kon Xơmluh.
(2)   x. La Mission des Pays Mois en 1937 và Échos de la Mission 10/1947. tr. 5.
(3)   và (8) x. La Mission des Pays Mois en 1939.
(4)   x. Tiểu sử Cha J.B Guerlach (Archives M.E.P).
(5)   Các linh mục phụ trách và các số liệu trong trong phần này:
x. Echos de la Mission 7-8-9-10-11-12/1947; Echos 5-6/1948 và Echos 15.8/1949, các trang  liên hệ.
Và x. Lịch Công Giáo Địa Phận Kon Tum, các năm liên hệ.
(6)   x. Echos de la Mission 10/1947. tr. 5.
(7)   x. La Mission des Pays Mois en 1937.
                                                                                                                          MINH SƠN 11/2011
———————-šV›———————-
MỘT VÀI HÌNH ẢNH NHÀ THỜ KON XƠMLUH 2011
H.12 – Sứ Thần Toà Thánh Girelli thăm nhà thờ Kon Xơmluh
Ngày 10/09/2011
H.13 – Một số hình khánh thành 06.12.2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét