Thursday, July 13, 2017

Sống với bịnh Alzheimer (Living with Alzheimer's Disease) .

Dịch Từ : Secrets of the gene trên National Geographic Oct 1999
Triệu chứng đầu tiên của bịnh Alzheimer đã đến với Ina Savage , 58 t , khoảng 1 thập niên trước .
Ng đàn bà đã từng tổ chức cuộc sống của gia đình bà ở Baltimore , bang Maryland đã bắt đầu quên cái gì phải mua ở tiệm tạp hóa và mang theo cái gì khi nghỉ hè . Tới năm 1996 chẫn đoán cho thấy : bà đã bị giai đoạn sớm/đầu (early-onset) của bịnh Alzheimer , một dạng xuất hiện trước 65 t và chiếm 15/100 các trường hợp . Bà Ina vẫn can đảm/hăng hái (feisty) và nói nhiều (talkative) , nhưng ko còn là người mà chồng và con hằng biết . Các con gái dẫn bà đi chợ . Mặc quần áo (dressing) là 1 thách thức . Bà ko còn nhớ các bài dạy nấu ăn .



Tám gene liên quan đến bịnh Alzheimer nhưng chưa có thuốc chữa , và các test về di truyền để xác định bệnh (conclusive genetic test) chưa thể có trong vài năm . Các con gái của bà sẽ chấp nhận các xét nghiệm như vậy ? "Thật vô trách nhiệm nếu ko xét nghiệm : tôi muốn lập gia đình,"cô Serena (đang đọc báo) nói .


Cô Pauline ko đồng ý : Nếu tôi bị Alzheimer , tôi đành chịu." Cô Lina thì dè dặt (cautious) ."Điều gì nếu bảo hiểm biết rằng thử nghiệm dương tính và họ quyết định ko trả tiền để trị bịnh ?"
Cách dịch một trang bằng bất cứ ngôn ngữ nào ra tiếng Anh hay tiếng Việt .
1/ Bản hảy nhấp phải vào trang , nó sẽ hiện ra .



2/ Bạn nhấp vào "Translate to English" , nó sẽ hiện ra .


3/ Bạn nhấp vào "Options" và chọn "Vietnamese" .

4/ Tới đây bạn nhấp vào "Translate" .

Những chuyện ngược đời trong nền giáo dục Mỹ

01:17' CH - Thứ hai, 29/06/2015
Một người Việt Nam lần đầu tiên tìm hiểu nền giáo dục Mỹ chắc chắn ngỡ ngàng và cảm thấy có nhiều chuyện ngược đời. Dưới đây tôi xin kể năm trong số đó.

1.

Chuyện ngược đời đầu tiên là trẻ em Mỹ không cần trường. "Không cần" theo nghĩa đen, chứ không phải một cách nói ví von hoa mỹ về một thực tế khác cũng ngược đời nếu so với giáo dục Việt Nam: nhà trường chỉ là một thành phần, cho dù là một thành phần quan trọng, trong một phức hợp xã hội có nhiệm vụ giáo dục những công dân Mỹ tương lai. Nhà trường không và cũng không thể thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao..."Không cần" ở đây có nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại gia).
Chế độ "Học tại nhà" (Home schooling) cho phép cha mẹ tự giáo dục con cái thay vì cho chúng đến trường mà không yêu cầu phải có chứng chỉ gì đặc biệt. Nhiều người Mỹ cho rằng đó là cách để trẻ em có thể phát huy tính tự lập, chủ động trong cả 365 ngày chứ không chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động trong những lúc đến trường. Đó là một nguyên lý giáo dục khác hẳn, dựa trên quan điểm là mọi bậc cha mẹ đều có thể giúp đỡ con cái học tại nhà. Nhiều gia đình không hề sử dụng các tài liệu hướng dẫn hay chương trình giảng dạy chính thức, mà căn cứ và thiên hướng và phong cách cá nhân của trẻ em để áp dụng các phương pháp và nội dung cụ thể. Ngay cả trong trường hợp có sử dụng các tài liệu hướng dẫn, thời gian học tập hàng ngày cũng không kéo dài quá vài tiếng đồng hồ, thời gian còn lại dùng để du lịch, biểu diễn, tham quan, đọc sách, tiến hành các dự án nghiên cứu hay tham gia hoạt động từ thiện. Hiện nay có khoảng 1 triệu gia đình ở Mỹ áp dụng và theo thống kê đang tăng lên khoảng 15% mỗi năm.

2.

Chuyện ngược đời thứ hai là nếu đến trường, trẻ em Mỹ cũng không theo một chương trình thống nhất. Ở Mỹ, chương trình học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết Darwin. Ở một số địa phương, đặc biệt là tại các bang ở miền Nam, do ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, giảng dạy thuyết Darwin thậm chí còn bị coi là phi pháp.
Vì không học theo một giáo trình thống nhất, trình độ của học sinh khi tốt nghiệp trung học rất khác nhau. Chính vì lẽ đó, ở năm thứ nhất, các trường đại học Mỹ thường có 3 môn bắt buộc là Học nghĩ, Học nói và Học viết. Trong số 18 sinh viên lớp Học viết (English 101) do tôi phụ trách, có những sinh viên hiểu biết rất rộng và sâu, nhưng cũng có sinh viên thậm chí viết tiếng Anh còn sai chính tả và ngữ pháp. Tuy vậy, họ có một điểm chung là rất tự tin. Đó là kết quả của một triết lý giáo dục mang tính dân chủ. Việc chấm điểm, chẳng hạn. Nếu ở ta chấm điểm là biện pháp nhằm xếp loại học sinh và đánh giá giáo viên, điều cuối cùng dẫn giáo viên đến tình trạng chạy theo thành tích và rất nhiều học sinh đến tâm lý tự ti. Không tự ti sao được khi một đứa trẻ từ lớp 1 đến lớp 12 luôn luôn đội sổ, và điều đó được công bố cho tất cả bạn bè cùng lớp. Ở Mỹ, việc chấm điểm là vấn đề tế nhị, thường là giữ kín. Nó là cơ sở để học sinh tự biết mình và để giáo viên điều chỉnh phương pháp giáo dục với từng học sinh. Nhà trường Mỹ luôn cố gắng để học sinh không cảm thấy thua chị kém em. Ngay cả thi tốt nghiệp phổ thông cũng không có vai trò quan trọng như ở Việt Nam hay ở Châu Âu. Có thể nói, nhà trường ở Mỹ là nhà trường không nhằm mục đích thi cử.

3.

Chuyện ngược đời thứ ba là các trường phổ thông của Mỹ không có sách giáo khoa chung trong cả nước. Việc lựa chọn các loại sách để dạy trong nhà trường thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên trách địa phương và nhà trường, nhưng vai trò cá nhân của giáo viên và ý kiến của phụ huynh cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, cuối tháng 9 năm 2003, khi tôi vừa đến Normal, cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel John Steinbeck, "Of Mice and Men" (Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu dịch là "Của chuột và người"), cùng hai tác phẩm kinh điển khác là "The Adventures of Huckleberry Finn" (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn) của Mark Twain và "To Kill a Mockingbird" (Giết chết một con chim Mocking) của Harper Lee, bị cha mẹ học sinh các trường trung học phản đối và đòi đưa ra khỏi chương trình văn học. Hai trường trung học Normal Comunity High School và Normal West High School phải thành lập một chuyên ban, bao gồm hiệu trưởng, một chuyên gia thông tin đại chúng và một giáo viên, để nghiên cứu và trả lời phụ huynh học sinh. Bà Tripp, phụ huynh học sinh và là tác giả một trong hai lá thư khiếu nại, phê phán cuốn sách của John Steinbeck là chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ thô tục và báng bổ, "không thể hiện các giá trị truyền thống", "gây phản cảm" đối với con gái bà. Đây không phải là trường hợp cá biệt. Năm 1992, khi một nhóm độc giả ở bang Ohio chỉ ra 108 chỗ tục tĩu, 12 chỗ chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc và 45 đoạn báng bổ Chúa, cuốn sách này đã bị buộc đưa ra khỏi chương trình của một trường phổ thông địa phương. Ngay sau đó, 150 nhà giáo, sinh viên và phụ huynh học sinh đã tổ chức một cuộc hội thảo ca ngợi giá trị của cuốn sách, cuối cùng nó được đưa trở lại chương trình. Mùa hè năm 2003, Hội đồng giáo dục quận Coffee County (Bang Georgia) cũng phải tiến hành thẩm định vấn đề "ngôn ngữ dung tục" của cuốn sách "Of Mice and Men" khi có khiếu nại của một số phụ huynh học sinh. Đầu năm 2003, Hội đồng nhà trường quận George County ở Lucedale (Bang Mississippi) đã nhất trí loại "Of Mice and Men" cùng hai cuốn sách khác ra khỏi chương trình.

4.

Chuyện ngược đời thứ tư là coi nhà trường nhưdoanh nghiệp. Nếu như ở Việt Nam, cho đến nay thương mại hoá giáo dục vẫn gây tranh cãi và bị nhiều người coi là tồi tệ, thì ở Mỹ nó đang tồn tại như một cái gì đó hết sức tự nhiên.
Khác với Việt Nam, các trường đại học Mỹ nói chung không có thi đầu vào. Quan điểm của họ rất đơn giản: học tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác nhau. Nhờ vậy, tất cả những ai có chí đều có thể có cơ hội, ngược lại quốc gia cũng không bỏ phí nhân tài. Vào thập kỷ 1960, số học sinh Mỹ tốt nghiệp phổ thông học tiếp lên đại học chiếm tỷ lệ 60%. Hiện nay, tỷ lệ này có giảm đi, nhưng vẫn đứng đầu thế giới. Nhưng muốn học, phải trả tiền. Khi anh bỏ tiền để mua kiến thức, anh sẽ có ý thức về việc học tập hơn. Còn nếu anh trả tiền mà không học, tức không nhận kiến thức, thì đó cũng là quyền của anh.
Nói vậy, nhưng việc đăng ký học cũng không phải hoàn toàn chỉ có chuyện tiền nong. Một số trường nổi tiếng khá kén chọn sinh viên. Một số bang cũng ưu tiên nhận sinh viên từ bang mình. Còn đối với sinh viên nước ngoài, điểm thi tiếng Anh (TOEFL) đặc biệt quan trọng. Trường Đại học Y khoa là một ngoại lệ. Muốn vào trường, sinh viên phải có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một số ngành như sinh hoá, sinh vật...Chương trình kéo dài 4 năm nữa, sau đó phải thực tập từ 2 đến 4 năm. Như vậy, để hành nghề chữa bệnh, cần phải học và thực tập từ 10 - 12 năm!
Việc học tập ở Mỹ rất tốn kém. Mức chi tiêu tối thiểu của một sinh viên ở các trường công, vào khoảng 10 ngàn USD/năm, còn ở các trường tư khoảng 35 ngàn USD. Vì thế, trừ một số người được nhận học bổng hoặc gia đình giàu có, sinh viên Mỹ hầu hết vừa học vừa làm, một số làm việc ngay tại trường.

5.

Chuyện ngược đời thứ năm là bất chấp những chuyện ngược đời vừa kể giáo dục Mỹ vẫn có chất lượng cao nhất thế giới. Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất, nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất, hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất.
Vậy phải chăng chính chúng ta mới là ngược đời?

Wednesday, July 12, 2017

những ví da phụ nữ đắc nhứt thế giới .
http://www.ranker.com/list/most-expensive-handbags/fashionbaby

Sunday, July 9, 2017

(NDH) Nhật Bản chỉ có một vụ bắn chết người trong cả năm 2015.
Trong gần một tuần, những cảnh sát mẫn cán của thành phố Kagoshima, phía Nam Nhật Bản, chăm chú theo dõi một chiếc xe ô tô không khóa cả ngày lẫn đêm. Chiếc xe để ở bên ngoài một siêu thị, và trong xe chứa một thùng bia mạch nha.
Cuối cùng, khi một người đàn ông trung niên đi ngang qua quyết định lấy thùng bia thì 5 cảnh sát nhanh chóng lao ra, không bỏ lỡ cơ hội bắt một trong những "tội phạm" còn sót lại của thành phố.
Các đường phố lộn xộn của Nhật không phải lúc nào cũng đẹp nhưng rất an toàn. Tỷ lệ tội phạm giảm trong 13 năm liên tiếp. Tỷ lệ giết người ở đây là 0,3/100.000 người, một trong những mức thấp nhất trên thế giới. Ở Mỹ con số này xấp xỉ 4.
Tỷ lệ tội phạm ở Nhật Bản thấp hơn so với nhiều nước phát triển
Duy nhất một vụ giết người bằng súng đơn được ghi lại trong cả năm 2015. Ngay cả những tên xã hội đen yakuza từng rất mạnh trước đây mạnh giờ cũng suy yếu vì hệ thống luật pháp cứng rắn hơn và chính tuổi già.
Tuy nhiên, thay vì được nghỉ hưu, số cảnh sát ở quốc gia này lại đang tăng lên. Hầu hết các khu phố đều bắt buộc phải có đội tuần tra (tiếng Nhật là omawari-san). Nhật Bản có hơn 259.000 nhân viên mặc đồng phục, nhiều hơn một thập kỷ trước 15.000 người, dù lúc đó tỷ lệ tội phạm cao hơn nhiều.
Tỷ lệ cảnh sát/dân cư rất cao, đặc biệt là ở Tokyo, nơi có lực lượng cảnh sát đô thị lớn nhất thế giới, nhiều hơn New York 25%. Vì thế, cảnh sát ở đây mở hẳn cuộc điều tra đối với những vụ việc mà có lẽ hầu hết các nước khác coi là vặt vãnh, như ăn trộm xe đạp hay có một ít thuốc gây nghiện.
Một phụ nữ cho biết 5 cảnh sát từng lao vào căn hộ chật hẹp của cô sau khi cô báo một chiếc quần đùi biến mất khỏi dây phơi. Năm ngoái, nguyên một nhóm thám tử từng được chỉ định để bắt giữ một nhóm 22 người trồng cần sa chỉ để tự sử dụng ở những vùng nông thôn vắng vẻ.
Hết việc, cảnh sát Nhật phải tự "vẽ" việc để làm
Khi hết việc để làm, cảnh sát đang trở nên sáng tạo hơn khi quyết định những gì nên bị coi là phạm pháp, giáo sư Kanako Takayama của đại học Kyoto nói. Trong một trường hợp gần đây, cảnh sát bắt một nhóm người chia tiền thuê một chiếc xe hơi, cho việc này là hành nghề taxi bất hợp pháp, bà cho biết. Thậm chí, một số quận còn bắt đầu truy tố những người đi xe đạp vượt đèn đỏ.
15 năm trước, cảnh sát ở thành phố Hokkaido còn "móc nối" với yakuza để băng đảng xã hội đen mang lậu súng vào đất nước rồi họ phát hiện cho đạt chỉ tiêu.

VN nên học tập Thomas Jefferson

  • 9 tháng 7 2015
Bản quyền hình ảnhBBC WORLD SERVICE
Những ngày này, truyền thông hoàn toàn tập trung vào một sự kiện hy hữu, đó là việc lần đầu tiên Tổng bí thư của đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, người không hề có một chức danh nhà nước nào, được chính phủ Hoa Kỳ tiếp đón.
Chiều 6/7 tại Washington, nghĩa là sáng 7/7 theo giờ Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng đã đi thăm Nhà tưởng niệm Tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson.
Cần nhắc lại sơ qua sự nghiệp của con người vĩ đại Jefferson, ông là một trong những người cha sáng lập ra nước Mỹ, là vị Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, là tác giả chính của Tuyên ngôn độc lập lừng danh đã ảnh hưởng đến cả nhân loại, trong đó có cả Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 của Việt Nam.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi họp báo với Tổng thống Obama cũng công nhận “Hoa Kỳ là một đất nước tươi đẹp”. Như vậy, hẳn ông cũng có ý muốn học hỏi từ Thomas Jefferson cách thức xây dựng nước Mỹ trở thành một siêu cường số 1 thế giới và là một quốc gia tươi đẹp, đáng sống, điểm đến định cư, học tập mơ ước của các công dân từ nghèo đến giàu ở mọi quốc gia, trong đó có cả các nước cộng sản như Trung Quốc, Việt Nam.

Bình đẳng

Hãy bắt đầu từ những câu văn bất hủ của Jefferson trong Tuyên ngôn độc lập Mỹ 1776 đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích lại trong Tuyên ngôn độc lập 1945: “Người ta sinh ra có quyền bình đẳng; Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền đó, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Quyền “bình đẳng” này cũng đã được cụ thể ở điều 16 hiến pháp Việt Nam 2013: “1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. 2. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.”
Thế nhưng, với tuyên bố “không chấp nhận đa nguyên đa đảng” bấy lâu nay của các lãnh đạo cộng sản, đạo lý “bình đẳng” hiển nhiên này đã bị chà đạp. Lãnh đạo đảng cộng sản đã tự đặt mình lên trên tất cả, kể cả đứng trên Hiến pháp để dập tắt, đàn áp những người có chính kiến khác, niềm tin tâm linh khác, thuộc các chính đảng khác.
Chính Jefferson đã khẳng định: “Sự đa dạng ý kiến [đa nguyên] dẫn đến những câu hỏi. Những câu hỏi dẫn đến Chân lý.” Các lãnh đạo đảng cộng sản không chấp nhận đa nguyên là đang từ chối Chân lý.

Nhân dân làm chủ

Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionĐảng Cộng sản Việt Nam không chấp nhận có đa đảng
Trong thư gửi John Cartwright năm 1824, Jefferson đã khẳng định “…tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, rằng họ có thể tự mình thực hiện quyền lực đó trong tất cả các trường hợp mà họ tin rằng họ có đủ năng lực (chẳng hạn như trong việc bầu ra các viên chức hành pháp và lập pháp, và quyết định bởi một bồi thẩm đoàn của chính họ trong tất cả các trường hợp tố tụng liên quan đến bất kì việc gì), hoặc họ có thể hành động thông qua các đại diện, được lựa chọn một cách tự do và công bằng;… và rằng họ có quyền tự do cá nhân, tự do tín ngưỡng, tự do sở hữu tài sản, và tự do báo chí”.
Bằng việc tự cho mình đương nhiên có quyền lãnh đạo quốc gia, bằng việc tự bổ nhiệm các viên chức hành pháp, lập pháp, và tư pháp qua “cơ cấu”, “quy hoạch” cán bộ, các lãnh đạo đảng cộng sản đã tiếm quyền làm chủ được bầu cử, ứng cử của dân, đưa người dân trở lại thân phận nô lệ, bội ước với những điều đã cam kết với dân trong Tuyên ngôn độc lập 1945.
Hãy nhìn vào quyền sở hữu tài sản để thấy Jefferson sáng suốt như thế nào. Ở Việt Nam, người dân có thể bị tước đoạt đất đai, nhà cửa, thành quả lao động mồ hôi nước mắt của mình bất cứ lúc nào bởi các “đại gia”, quan chức có tiền và thế lực. Tầng lớp dân oan bị cướp đất liên tục đông lên và biểu tình trên cả nước đang dẫn đến bất ổn chính trị sâu sắc.
Jefferson đã nói về hiện tượng này như sau: “Nền dân chủ chấm dứt tồn tại khi bạn lấy [của cải] từ những người sẵn sàng làm việc để đưa cho những ai không làm việc.”
Lấy thêm ví dụ về quyền tự do báo chí, Jefferson cho rằng: “Chỉ có sai lầm mới cần đến sự bảo trợ của chính quyền. Chân lý tự nó có thể đứng một mình.” Thế thì việc chủ nghĩa Mác Lênin cần đến một hệ thống báo chí của đảng cộng sản, nhà nước để “bảo trợ”, ngăn cấm báo chí tư nhân, đàn áp các tiếng nói khác biệt có phải tự bản thân nó đã cho thấy chủ nghĩa Mác là một sai lầm hay không? Và cũng cho thấy người dân Việt Nam không hề có quyền tự do báo chí hay không?
Rõ ràng rằng quyền làm chủ đất nước của dân còn chưa có thì những quyền khác chỉ là ảo tưởng.

Pháp luật chuẩn mực

Từ nhận xét các lãnh đạo đảng cộng sản đang đứng trên hiến pháp ở trên, bản thân chức danh Tổng bí thư cũng không hề được quy định trong hiến pháp, ta thấy rằng luật pháp chuẩn mực không tồn tại ở Việt Nam, mà luật pháp đã bị biến thành công cụ của giai cấp thống trị để áp bức cả dân tộc. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác về luật pháp.
Thế nhưng Jefferson nghĩ khác hẳn: “Luật trở thành luật pháp bởi vì đó là ý chí của quốc gia”, cụ thể hơn là luật phải do một quốc hội dân cử soạn thảo chứ không phải do quốc hội thao túng bởi một đảng.
Jefferson cũng cho rằng: “Nguy hiểm lớn nhất cho nền tự do của Hoa Kỳ là một chính phủ xem thường hiến pháp.” Và Việt Nam trở thành một ví dụ tuyệt vời cho nhận định này, vì hiến pháp chỉ quan trọng thứ hai sau cương lĩnh của đảng cộng sản như tuyên bố của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì quyền tự do của công dân bị xâm phạm là điều tất yếu.
Ông cũng lý luận: “Tự do đúng đắn là những hành động không bị cản trở theo như ý chí của chúng ta nằm trong giới hạn đặt ra bởi quyền bình đẳng của những người khác. Tôi không thêm vào “trong giới hạn của luật pháp” bởi vì luật thường chỉ là ý chí của bạo chúa, và luôn là như vậy khi nó xâm phạm các quyền của cá nhân.”
Các quyền tự do của người dân Việt Nam được công nhận trong Hiến pháp đều bị thòng thêm câu “do pháp luật quy định”, pháp luật này lại được làm ra bởi quốc hội độc đảng toàn trị, điều đó có phải dẫn đến việc xâm phạm các quyền của người dân hay không? Jefferson đã sớm có câu trả lời.

Bí quyết hóa rồng

Sau một vài khảo sát nhanh tư tưởng của Jefferson, ta có thể thấy bí quyết để nước Mỹ trở thành một siêu cường không có gì là bí hiểm. Đó là hãy đảm bảo tám chữ vàng “Nhân dân làm chủ, Pháp luật chuẩn mực” và để đạo lý “bình đẳng” thấm đẫm tám chữ này.
Không thể có chuyện “Nhân dân làm chủ” mà pháp luật không chuẩn mực, và ngược lại, không thể có chuyện “Pháp luật chuẩn mực” mà nhân dân bị tước quyền làm chủ. Đó là hai mặt của một đồng xu.
“Nhân dân làm chủ” chính là cái nền của nước Mỹ, và “pháp luật chuẩn mực” chính là cái khung của xã hội Mỹ. Từ cái nền và cái khung vững chắc do Jefferson đặt ra đấy, nhân dân Mỹ đã xây dựng quốc gia của họ trở thành một tòa nhà vĩ đại và lộng lẫy hào quang, cũng như tượng Nữ thần tự do giương cao ngọn đuốc ở New York.
Có được cái nền “nhân dân làm chủ” và cái khung “pháp luật chuẩn mực” vững chắc đấy, ai làm tổng thống hay đảng nào chiếm đa số trong quốc hội đã không còn quá quan trọng, quốc gia cứ thế vận hành, mọi người cùng nhau xây dựng đất nước tiến lên phía trước.

Trời còn để có hôm nay

Biết đâu sau chuyến đi này, trở về nước Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ hoan hỉ kêu lên như cụ Hồ năm xưa: “Eureka, tìm ra con đường cứu nước rồi.”
Về thiên thời, như phó tổng thống Joe Biden đã lẩy Kiều, các cường quốc dân chủ sẵn sàng chìa tay ra với đảng cộng sản Việt Nam. “Sương đầu ngõ” đã tan, “mây giữa trời” đã được “vén”.
Về địa lợi, Trung Cộng gây xáo trộn ở biển Đông, chiếm biển đảo của Việt Nam, xâm phạm đến an toàn hàng hải vốn là lợi ích của nước Mỹ, Nhật, Hàn… Việt - Mỹ có cùng lợi ích địa chính trị.
Về nhân hòa, theo khảo sát mới đây của Viện khoa học xã hội, gần 90% người Việt được hỏi có cái nhìn lạc quan về Mỹ. Nghĩa là lòng dân đa số đều hướng về Mỹ.
Để tận dụng được thiên thời - địa lợi - nhân hòa, tôi nghĩ lời khuyên này của Jefferson rất phù hợp cho các lãnh đạo của đảng cộng sản: “Chính trực là chương đầu tiên của quyển sách khôn ngoan”.
Nghĩa là đã có Hiến pháp thì phải làm cho thực chất chứ đừng vặn vẹo nó theo ý đồ của đảng cộng sản. Trong Hiến pháp có gì thì cứ thực chất mà làm: Nhân dân làm chủ thì phải để cho dân chọn đại biểu quốc hội chứ không thể do đảng cộng sản chọn được. Chỉ từ xuất phát điểm đó, dân sẽ bầu ra một Quốc hội lập hiến soạn thảo hiến pháp mới theo ý dân.
Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng muốn đi cùng với Hoa Kỳ nhưng Tổng thống Truman đã bỏ lỡ cơ hội đó, nhưng nay Tổng thống Obama đã chìa tay ra. Vậy thì các lãnh đạo đảng cộng sản hãy làm tiếp điều dang dở đó: học tập Hoa Kỳ, bắt tay với Hoa Kỳ để trở thành cường quốc như Nhật Bản, Hàn Quốc. Từ đó Việt Nam mới đủ sức bảo vệ quốc gia trước hiểm họa xâm lược từ Trung Cộng.
“Trải qua một cuộc bể dâu” từ năm 1945 đến nay, liệu các lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam có còn muốn lặp lại “những điều trông thấy mà đau đớn lòng” hay không?

Hãy làm theo tư tưởng… Jefferson

Nếu Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tuyên bố “vượt qua khác biệt” để bắt tay với cựu thù Mỹ, tổ chức đối thoại nhân quyền hằng năm với Mỹ thì càng cần thiết và cấp bách hơn nữa là tổ chức đối thoại với các nhân sĩ, trí thức độc lập, những người dân chủ ở trong nước.
Dù có chính kiến khác biệt nhưng lãnh đạo đảng cộng sản và những người dân chủ đều là người Việt Nam máu đỏ da vàng. Tại sao lại không thể trở thành bạn của nhau được như đảng cộng sản đối với chính phủ Mỹ? Vì như Jefferson đã nói: “Tôi không bao giờ cho rằng sự khác biệt ý kiến trong chính trị, tôn giáo, triết học, là lý do để không còn là bạn bè.”
Với mọi người dân Việt Nam, tôi lại nghĩ lời khuyên này của Jefferson là phù hợp. Đó là “Nếu bạn muốn điều gì mà bạn chưa bao giờ có, bạn phải dám làm những điều bạn chưa bao giờ làm.”
Nếu chúng ta muốn nhân dân làm chủ qua nhà nước cộng hòa chính danh, nếu chúng ta muốn tạo dựng một xã hội công bằng qua luật pháp chuẩn mực, nếu chúng ta tin vào đạo lý bình đẳng giữa người với người, chúng ta cần sẵn sàng vượt thắng sợ hãi để cùng nhau lên tiếng để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, của dân tộc mình.
Hoạt động cho những giá trị phổ quát về quyền con người, cụ thể thông qua pháp luật chuẩn mực là những hoạt động cho nền tảng chính trị của quốc gia, không phải cạnh tranh chính trị, không phải đối lập với ai, mà giúp tạo lập cho Việt Nam đích thực là nhà nước cộng hòa, nhân dân làm chủ, và ai cũng có nghĩa vụ tham gia làm hậu thuẫn.
Bởi vì “Tất cả những gì mà nền chuyên chính cần để thắng thế là sự im lặng của những người có lương tâm tốt” (Thomas Jefferson).
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả.