III. Dự báo những diễn biến chủ lưu ở Việt Nam năm 2014 :
Dự báo tổng quan, năm 2014 sẽ chứng kiến 5 diễn biến chủ lưu ở Việt Nam
:
(1) 2014 là năm đầu tiên của một chu
kỳ khủng hoảng ngân hàng, bắt đầu từ sự đổ vỡ của vài ngân hàng
hạng trung và có thể dẫn đến sụp đổ dây chuyền trong ít nhất 50 % số
ngân hàng hiện hữu trong vài năm sau đó, dẫn đến khủng hoảng gần như
toàn bộ nền kinh tế. Chu kỳ khủng hoảng kinh tế có thể lên đến cao điểm
vào năm 2016 – 2017 và trở thành sóng nhấn cuối cùng đối với con thuyền
chính trị bươm rách. Đây là diễn biến quan yếu nhất.
(2) Bất ổn xã hội và phản kháng dân
chúng sẽ tăng cao về số lượng, quy mô, tạo nên áp lực lớn đối
với chính thể và nằm trong giai đoạn đầu của một cuộc khủng hoảng xã
hội trong những năm sau. Xu hướng này sẽ mau chóng biến thành xu thế ở
rất nhiều địa phương, liên quan đến đất đai, môi trường, quan hệ giữa
người dân và nhân viên công lực, nạn tham nhũng… Sẽ xuất hiện nhiều hội
nhóm độc lập của người dân như những tiền đề của xã hội dân sự.
(3) Bước khởi động cho cuộc tranh
đua chính trị chuẩn bị cho đại hội đảng thứ 12, đặc biệt là vị
trí tổng bí thư đảng và vai trò thủ tướng, kể cả vấn đề “ hậu chuyển
tiếp ” cho một mô hình chính trị mới.
(4) Xu hướng và lực lượng gần gũi
với phương Tây sẽ rõ nét và chiếm ưu thế hơn trong nội bộ đảng.
Nếu thành công trong hai năm 2014 – 2015, xu hướng này sẽ chuyển thành
xu thế vào các năm 2016 – 2017 và có thể tạo nên một sự thay đổi lớn về
bản chất chế độ chính trị.
(5) Hoạt động dân chủ gia tăng đáng
kể về số lượng hội nhóm, nhưng bị hạn chế về nguồn nhân lực và
thiếu tính trực tiếp với nhu cầu dân sinh nên không thu hút được số
đông quần chúng. Chỉ một bộ phận nhỏ trong số các nhóm dân chủ hoạt
động có tính thực chất và đạt được thành công ở mức độ khiêm tốn.
Dưới đây là phần dự báo một số vận động cụ thể :
* Tình hình nhân quyền và những đối sách về nhân quyền của đảng và
chính quyền :
Trong năm 2014, có khả năng Quốc hội sẽ được tác động ở mức độ nhất
định để ban hành Luật tiếp cận thông tin, Luật lập hội và có thể cả
Luật biểu tình. Cả ba đạo luật này đều mặc nhiên xuất phát từ nhu cầu
và cũng là xu thế đương nhiên của xã hội công dân, đồng thời là một
trong những điều kiện của khối phương Tây trong mối quan hệ thương mại
đa phương với Việt Nam.
Cũng nhằm thỏa mãn nhiều hơn yêu cầu của người dân và đòi hỏi của cộng
đồng quốc tế, giới chính khách trong nước nhiều khả năng sẽ thành lập
cơ quan nhân quyền quốc gia trong năm 2014. Việc hình thành cơ quan này
là một đối sách cho 14 điều cam kết của Nhà nước Việt Nam khi ứng cử
Hội đồng Nhân Quyền Liên hiệp quốc, trong đó có nội dung “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và
tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, củng cố các tổ chức quốc gia bảo
vệ nhân quyền, trong đó có thể thành lập một cơ quan nhân quyền quốc gia”.
Cơ quan nhân quyền quốc gia có thể tồn tại dưới hình thức Hội đồng nhân
quyền quốc gia hoặc như một ủy ban nhân quyền quốc gia trực thuộc chính
phủ, thay thế cho ban chỉ đạo nhân quyền quốc gia trước đây. Tuy nhiên,
vẫn chưa có nhiều dấu hiệu hứa hẹn cho việc cơ quan nhân quyền quốc gia
này sẽ nhận thức và hành động cân bằng giữa nhiệm vụ “phòng, chống các thế lực lợi dụng nhân
quyền” với việc quan tâm thực chất đến quyền con người của dân
chúng.
Một thỏa hiệp khác của Nhà nước Việt Nam với phương Tây là sẽ dần thừa
nhận vai trò và dần chấp nhận sự tồn tại và vận động của xã hội dân sự
ở Việt Nam, và thái độ này sẽ thể hiện rõ nét hơn trong năm 2014. Thỏa
hiệp này liên quan đến một trong 14 điều cam kết của Nhà nước Việt Nam
khi ứng cử Hội đồng Nhân Quyền Liên hiệp quốc là “Tăng cường nền tảng dân chủ và sự tham gia
của nhân dân vào sự lập kế hoạch và thực hiện các chính sách, cải thiện
việc Việt Nam tham gia trong các tổ chức chính trị, xã hội trong lĩnh
vực nhân quyền”.
Tình hình trên sẽ dẫn đến việc năm 2014 sẽ xuất hiện nhiều tổ chức dân
sự hơn năm 2013. Nếu chỉ xét đến các tổ chức dân sự theo đường hướng xã
hội – chính trị, số tổ chức hình thành trong năm 2014 có thể gấp đôi
năm 2013. Tuy nhiên, điều đáng quan ngại là một số trong đó hoạt động
thiếu tính thực chất.
Trong bối cảnh xã hội dân sự bắt đầu được thừa nhận, hoạt động truyền
thông xã hội (còn gọi là “lề trái”) sẽ được “hợp thức hóa” và sẽ gia
tăng về số lượng, trong khi cơ chế cản trở bằng bức tường lửa trên mạng
Internet sẽ giảm bớt.
Năm 2014 cũng có thể chứng kiến một số biểu hiện giao lưu, kết nối kín
đáo giữa báo chí “lề phải” với truyền thông “lề trái” về quan điểm và
mối tương tác trong một số vụ việc nhạy cảm của xã hội, kinh tế. Theo
đó, hiện tượng nhà báo, phóng viên “lề phải” trực tiếp hoặc gián tiếp
gia nhập hoạt động truyền thông “lề trái” sẽ gia tăng về số lượng, cung
cấp thêm cho “lề trái” một lực lượng nhỏ cây viết chuyên nghiệp. Hiện
tượng này sẽ diễn ra bất chấp sự ngăn cản và cấm đoán của hệ thống
tuyên giáo đảng.
Tình hình trên cũng có thể dẫn đến chủ trương chính quyền tạm thời
không thi hành biện pháp bắt bớ giới bất đồng chính kiến, nhưng thay
vào đó sẽ tiếp tục tăng cường hành động gây khó khăn cản trở, sách
nhiễu đối với giới này. Đặc biệt tại một số địa phương, những nhóm dân
chủ hoạt động công khai ngoài đường phố sẽ có thể hứng chịu hình ảnh
“đấm đá nhân quyền” hoặc những hành vi dưới tầm mức văn hóa của nhân
viên công lực.
Xu thế chính trị đối ngoại lẫn đối nội cũng tạo điều kiện cho sự xuất
hiện đảng chính trị độc lập và còn có thể xuất hiện đảng chính trị đối
lập trong dân chúng, tuy chỉ với quy mô nhỏ.
* Khuynh hướng và động thái ngả về phương Tây trong chính giới Việt
Nam :
Với những dấu hiệu manh nha từ năm 2013, xu hướng nhóm chính khách mang
quan điểm gần gũi hơn với phương Tây sẽ nổi lên rõ hơn vào năm 2014,
dần trở nên cân bằng và có thể còn có phần lấn ảnh hưởng của nhóm chính
khách “thân Trung Quốc” ở Hà Nội và tại một số tỉnh thành. Biểu hiện
sớm nhất và rõ nhất của sự đối chọi giữa hai xu hướng này là mối giao
kết về hợp tác hải quân Việt – Mỹ sẽ gia tăng, trong khi Trung Quốc sẽ
lại xúc tiến gây hấn tại biển Đông vào một số thời điểm, trùng với thời
gian mà mối quan hệ Việt Nam – phương Tây trở nên “nồng ấm” hơn.
Xu hướng ly khai dần khỏi tâm điểm Bắc Kinh cũng liên quan mật thiết
đến chính sách nhập khẩu nguyên, phụ liệu của Việt Nam từ Trung Quốc.
Để có thể tham gia đầy đủ vào TPP và được miễn thuế xuất khẩu hàng hóa,
Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu là hàng hóa đó phải có xuất xứ từ các
nước nội khối TPP, trong khi Trung Quốc vẫn chưa phải là thành viên
TPP. Do đó, Chính phủ Việt Nam có thể phải tìm nhiều cách để giảm bớt
cơ cấu nhập khẩu nguyên, phụ liệu từ Trung Quốc và chuyển đổi vùng nhập
khẩu sang các quốc gia khác. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ đầy thách
thức vì trước đó có đến 80-90% nguyên phụ liệu phụ thuộc vào Trung
Quốc, và bởi sức ép về chính trị và kinh tế của Trung Quốc đối với Việt
Nam là liên tục và sẵn sàng căng thẳng.
Tuy nhiên, với “quyết tâm” tìm phao cứu sinh từ ngoại viện phương Tây,
Việt Nam sẽ được chấp thuận tham gia vào TPP trong năm 2014, thậm chí
khả năng này có thể xảy ra ngay trong nửa đầu năm 2014. Tuy nhiên, tính
hiệu quả của TPP là không thể tức thời, khi thời hiệu áp dụng sớm nhất
của hiệp định này là giữa năm 2015 hoặc đầu năm 2016.
Để được chính thức chấp thuận tham gia vào TPP, Nhà nước Việt Nam sẽ
chấp nhận một số điều kiện của phương Tây về cho phép hình thành nghiệp
đoàn lao động, lập hội và cải cách doanh nghiệp nhà nước (liên quan đến
cơ chế giảm dần và tiến đến xóa độc quyền của một số doanh nghiệp như
điện lực, xăng dầu…).
* Cuối 2014 : khởi đầu khủng hoảng kinh tế :
Một sự thật không thể chối bỏ là cho dù được chấp thuận bởi TPP, nền
kinh tế Việt Nam vẫn quá khó trong năm 2014. Rất nhiều khả năng nền
kinh tế này sẽ vận động ngang trong năm 2014 chứ không thể tăng tốc
được, và cũng chưa có dấu hiệu rõ ràng nào cho thấy sẽ “thoát đáy”.
Với những dấu hiệu khá rõ ràng về tình trạng đóng băng bất động sản, nợ
xấu, thực trạng khan hiếm tiền mặt, tình trạng bi đát của hệ thống ngân
hàng thương mại vào cuối năm 2013, nhiều khả năng hệ thống ngân hàng
bắt đầu bước chân và giai đoạn đổ vỡ vào nửa cuối năm 2014. Khi đó nền
kinh tế cũng bắt đầu thời kỳ đầu tiên lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế,
khi trước đó đã có 7 năm suy thoái.
* Bất ổn và phản kháng : giai đoạn đầu của khủng hoảng xã hội
Kinh tế tiếp tục suy thoái và bắt đầu bước chân vào khủng hoảng là mảnh
đất phì nhiêu cho các mầm mống bất ổn xã hội. Nếu trong năm 2013, bất
ổn đã sinh ra từ nhiều phản ứng và phản kháng của dân chúng đối với
chính quyền, thì đến năm 2014, số lượng và quy mô phản kháng chắc chắn
sẽ tăng cao hơn.
Phản kháng dân chúng sẽ tập trung vào lĩnh vực đất đai, môi trường,
điều kiện lao động, giá cả. Số cuộc và số người dân tuần hành, biểu
tình sẽ gia tăng so với năm 2013.
Hiện tượng chống nhân viên công lực và hiện tượng “tự xử” của người dân
cũng sẽ gia tăng nhanh chóng tại nhiều địa phương và ngay tại Hà Nội.
Hầu hết hiện tượng như vậy đều diễn biến theo chiều hướng tự phát và
thiếu kiểm soát. Trong một số trường hợp gặp phải tác động tiêu cực từ
phía cơ quan công quyền, phản ứng tự phát của người dân có thể biến
thành bạo động cục bộ và quy mô nhỏ.
Vào cuối năm 2014, trong khung cảnh có thể khởi đầu khủng hoảng kinh
tế, quỹ bảo hiểm xã hội và quỹ lương hưu cũng có thể bắt đầu lâm vào
tình trạng nguy hiểm. Cùng với làn sóng thoái – bỏ đảng phát sinh vào
thời điểm này, có thể phát sinh những phản ứng mạnh mẽ đầu tiên của
tầng lớp hưu trí, làm tiền đề cho xu thế bỏ đảng trong giới hưu trí và
cả một bộ phận thuộc giới đảng viên đương chức trong những năm sau.
IV. Hành động của xã hội dân sự :
* Làm thế nào để các phong trào dân sự có thể được xây dựng nhanh
chóng và lan tỏa được ở Việt Nam ?
Một số đánh giá mang tính ước đoán cho biết hiện thời có ba nhóm quan
điểm chính trị chủ yếu ở Việt Nam. Nhóm thứ nhất gồm khoảng 30% trí
thức trong đảng và nhà nước, bao gồm cả quan chức, được xem là nhóm
“trung thành” và có quyền lợi thiết thân với chức vụ và các đặc quyền
trong hệ thống. Ngược lại với nhóm thứ nhất, nhóm thứ hai có khoảng 20%
trí thức trong các cơ quan nhà nước, không phải đảng viên hoặc vẫn là
đảng viên, nhưng có tư tưởng cấp tiến, muốn thay đổi, song chưa có điều
kiện để thể hiện quan điểm và hành động của họ. Nằm giữa hai khuynh
hướng vừa đề cập là nhóm thứ ba với khoảng 50% trí thức trong đảng và
nhà nước – những người không gắn bó đặc biệt với quyền lợi và chức vụ,
mang quan điểm trung dung.
Cũng có những đánh giá cho rằng một xã hội dân sự được tổ chức tốt sẽ
có thể thu hút đến ít nhất phân nửa số trí thức đang làm việc cho hệ
thống của đảng và nhà nước.
Muốn xã hội dân sự được rút ngắn cung đường khởi động, yếu tố đoàn kết
phải là con ngươi của phong trào phản biện, phong trào dân sự và do đó
của xã hội dân sự trong tương lai ở Việt Nam. Tình trạng xa cách giữa
nhóm trí thức phản biện độc lập với các trí thức trong đảng và hệ thống
nhà nước như hiện thời là yếu huyệt nguy hiểm nhất trên con đường cải
hóa các mục tiêu xã hội và chính trị, gây loãng tác động điều chỉnh
chính sách và càng làm cho đời sống dân tình trở nên khốn khó, bức bách
hơn.
Bức bách thách đố đối với những người hoạt động dân chủ ở Việt Nam lại
là phải tạo ra được bầu không khí tranh luận thật sự dân chủ trong đa
nguyên tư tưởng, gạt sang một bên những đố kỵ, tị hiềm, ganh ghét hoặc
nói xấu lẫn nhau – những biểu hiện vẫn luôn bị coi là một thói xấu
trong lịch sử văn hóa của người Việt.
* Những mục tiêu cụ thể của các phong trào dân sự :
Trong giai đoạn đầu của xã hội dân sự, một số hành động cần được ưu
tiên triển khai là :
Nhóm hành động chính trị – xã hội :
lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo, hạn chế sự phụ thuộc của nền kinh
tế và chính trị Việt Nam vào Trung Quốc; phản biện chống tham nhũng và
các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu; thúc đẩy Quốc hội sớm ban hành Luật
biểu tình, Luật lập hội, Luật trưng cầu dân ý; thúc đẩy tiếng nói của
trí thức độc lập tại Quốc hội; thúc đẩy tính hợp hiến và hợp pháp hóa
của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo; phản biện
đối với các điều luật chính trị hóa hành vi phản phản biện như điều 79,
87, 88, 258 trong Bộ luật hình sự; phản biện đối với điều kiện giam giữ
phạm nhân trong các trại giam; hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các gia
đình có người bị giam giữ, liên quan đến yếu tố chính trị…
Nhóm hành động kinh tế – xã hội
: bảo vệ quyền lợi của nông dân trước hành vi trưng thu đất đai bất hợp
pháp và vô lối; phản biện đối với chủ đề sở hữu trong Luật đất đai và
cơ chế thu hồi đất đối với các dự án kinh tế – xã hội; bảo vệ quyền lợi
của công nhân và thị dân về điều kiện làm việc và an sinh xã hội; đấu
tranh chống tác động tiêu cực của một số doanh nghiệp đối với môi
trường tự nhiên…
Thái độ lên tiếng của phong trào dân sự cũng không thể bỏ qua việc phản
biện đối với một số vấn đề kinh tế gay gắt như nợ công quốc gia; nợ và
nợ xấu; tính độc quyền của kinh tế quốc doanh và một số tập đoàn; ngân
hàng; các thị trường đầu cơ như vàng, bất động sản; những ngành có liên
quan mật thiết đến người tiêu dùng như điện, xăng dầu, nước…
Và để tự nâng mình lên, các phong trào dân sự cũng phải phản biện với
chính những tiếng nói phản biện thiếu tinh thần xây dựng và đoàn kết
trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam và hải ngoại.
Trước mắt hoạt động của phong trào dân sự cần nhích thêm một bước :
không chỉ là diễn đàn trên mạng, mà phải hình thành các nhóm công khai
trong đời sống theo phương châm ôn hòa, bất bạo động.
Ngay từ bây giờ, đang rất cần đến một sự kết nối có tính thành tâm, hữu
dụng và bài bản giữa các nhóm trí thức phản biện độc lập, trí thức
trong đảng với các nhóm dân sự tiêu biểu của nông dân, công nhân, tiểu
thương, sinh viên, tín đồ tôn giáo trong nước, cùng khối trí thức và
kiều bào Việt Nam ở nước ngoài.
V. Những đề nghị với các NGO quốc tế :
Dân sinh và môi trường luôn là những tiêu chí đấu tranh rất quan trọng
của phong trào dân sự trên thế giới. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt những
quốc gia phát triển, những tổ chức phi chính phủ như Hòa Bình Xanh, Chữ
Thập Đỏ, DANIDA… đã xây dựng được vai trò và sự ảnh hưởng lớn lao đối
với việc cải thiện các vấn đề môi trường và xã hội.
Bài học kinh nghiệm mà nhiều tổ chức phi chính phủ hàng đầu trên thế
giới đã tích lũy được và đưa vào chiến lược hành động của họ là không
thể thụ động trông chờ thái độ cải hóa và sự cải tiến tự thân của các
cấp chính quyền, mà phải tạo được hành động tác động đối với chính
quyền nhằm thay đổi về chính sách và những vấn đề liên quan. Đường lối
hành động này trong thực tế đã trở nên hiệu quả hơn hẳn ở nhiều quốc
gia châu Á như Bangladesh, Ấn Độ, Myanmar và Campuchia, hay gần đây là
cáo buộc của tổ chức phi chính phủ Global Witness đối với Tập đoàn
Hoàng Anh Gia Lai ở Việt Nam…
Sứ mệnh của các NGO tại các quốc gia phát triển (còn gọi là NGO phương
Bắc) không chỉ là cung cấp viện trợ và “cần câu” cho các NGO ở các quốc
gia đang và kém phát triển (còn gọi là NGO phương Nam), mà luôn cần
được ưu tiên về hoạt động truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm về công
tác tổ chức, đào tạo và thực hiện dự án, đặc biệt là kinh nghiệm làm
thế nào để tạo tác động có hiệu quả đối với các chính sách bất hợp lý,
bất công của chính quyền sở tại, nhằm cuối cùng điều chỉnh hoặc xóa bỏ
những chính sách đó để bảo vệ quyền lợi người dân và các đối tượng dân
chúng chịu rủi ro, mang lại công bằng hơn cho xã hội.
Con số 15-20 tổ chức dân sự độc lập ở Việt Nam là không thể so sánh với
2 triệu NGO đăng ký hoạt động tự do ở Hoa Kỳ. Những gì mà tiền đề xã
hội dân sự ở Việt Nam đang biểu hiện cũng trở nên quá ít ỏi so với các
xã hội dân sự trưởng thành ở Bắc Âu. Đó chính là lý do mà một xã hội
dân sự tương lai của Việt Nam cần dựa vào kinh nghiệm và đường lối của
các mạng lưới xã hội dân sự phát triển trên thế giới, nhằm mục tiêu tự
xác lập thái độ và cách thức hành xử hợp lý đối với các chế độ chính
trị ở Việt Nam – hiện hữu và trong nhiều năm tới.
Từ nhu cầu cấp thiết trên, tham luận này xin nêu ra một đề nghị ban đầu
với các NGO quốc tế – những người có mặt trong phòng họp ngày hôm nay
và những NGO đang muốn tìm kiếm một nối kết nhiệt thành và hiệu quả với
xã hội dân sự ở Việt Nam. Theo đó, cần thành lập mạng lưới NGO quốc tế
và NGO Việt Nam. Mạng lưới này nhằm tiến hành một số hoạt động như :
- Tổ chức nghiên cứu các dự án xã hội, thể chế. Trước mắt cần tổ chức
nghiên cứu đề tài về xã hội dân sự ở Việt Nam để chuẩn bị cho tương lai.
- Tổ chức truyền thông : đào tạo người viết và cách thức làm báo.
- Can thiệp, tác động các vấn đề về nhân quyền. Trước mắt, cần can
thiệp, tác động về chủ đề đất đai, môi trường, nghiệp đoàn lao động,
cải thiện chế độ lao tù. Cần thí điểm một số trường hợp cụ thể tại một
số địa phương.
- Tổ chức đào tạo diễn giả, thông tín viên để chuyển tải thông tin từ
trong nước ra quốc tế.
Về lâu dài, xã hội dân sự và các mạng lưới các NGO ở Việt Nam cần xây
dựng một chiến lược mang tính thống nhất về phương châm, mục tiêu, tổ
chức, lĩnh vực hoạt động, khu vực hoạt động để hoàn thiện vai trò của
mình.
Kết
Hãy hành động, hành động và hành động ! Vì dân sinh, dân quyền, dân chủ
và dân trí ! Thay đổi của xã hội cũng là hệ quả cho phản biện và cơ hội
cho dân chủ cùng xã hội dân sự ở Việt Nam.
Phải thay đổi về não trạng của chính quyền và nhận thức của người dân
để có thể cống hiến cho xã hội nhiều hơn nữa. Phong trào dân sự và
những điều kiện cho một xã hội dân sự ở Việt Nam đang nằm trong xu thế
và lộ trình khởi động trong 3-4 năm tới. Và nếu được tổ chức tốt, xã
hội dân sự hoàn toàn có thể góp sức cho xã hội về những triển vọng lạc
quan trong tương lai dài hạn của dân tộc.
Phạm Chí Dũng
Các thao tác trên Tài liệu