Thursday, May 14, 2026

 Tâm Như Thanh Nghị is with Philip Le.

11h 
Lịch sử qua hình ảnh:
61 năm trước, ngày 12/05/1965 đoàn xe tiếp viện của bộ binh, BĐQ, và thiết giáp của VNCH bị phục kích đánh tan trên QL 14, gần Đồng Xoài cách Saigon cở 120 km. Đội quân này định giúp giải tỏa áp lực mạnh của lực lượng CS lên đồn LLĐB Sông Bé và tỉnh lỵ Phước Bình.
(Từ sau 1963, trong khi CS bắt đầu tập trung thành các lực lượng lớn cấp Trung đoàn để tấn công rồi phân tán, tình hình chính trị miền Nam lúc đó bất ổn trong lãnh đạo, kéo theo bất nhất về chỉ huy quân sự đưa đến những thất bại nặng nề như trận Bình Giả 12/1964 và trận này)
Tai Tran
ĐÍNH CHÍNH: Đây KHÔNG PHẢI ĐOÀN XE TIẾP VIỆN mà là hình ảnh của những gì còn lại sau MỘT CUỘC HÀNH QUÂN TRỰC THĂNG VẬN NHẰM GIẢI CỨU QUẬN LỴ ĐỒNG XOÀI khi cả 2 trung đoàn CSBV tấn công quận lỵ, được bảo vệ bởi Trại LLĐB Đồng Xoài và 1 toán Công binh Hải quân Mỹ (Seabee). Những trực thăng trong hình đã bị phá hủy sau khi trúng đạn phòng không lúc đổ quân của các tiểu đoàn bộ binh của sđ 5, BĐQ và TĐ 7 Dù. Phan Nhật Nam, thuộc TĐ 7 Dù, lẽ ra cũng nhảy xuống Đồng Xoài, nhưng chiếc trực thăng chở anh bị trúng đạn khi rời tỉnh lỵ Sông Bé trên đường tới Đồng Xoài. NGOÀI TĐ 1/7 CỦA SĐ 5, TĐ 52 BĐQ VÀ TĐ 7 DÙ CŨNG ĐƯỢC TRỰC THĂNG VẬN ĐỂ GIẢI CỨU ĐỒNG XOÀI, KO ĐI ĐƯỜNG BỘ NHƯ CHÚ THÍCH CỦA ẢNH NÀY.
Tai Tran
Đơn vị bị thiệt hại nhứt trong cuộc HQ trực thăng vận này là TIỂU ĐOÀN 1/7 của sđ 5 bộ binh. Họ nhảy làm hai 'líp': líp thứ hai khi đổ xuống đã bị VC giả dạng dân đứng chờ họ. Khi trực thăng sắp đáp đất, các VC đã nhảy xuống các hố đào sẵn kế bên và đơn vị này của sđ 5 gần như hoàn toàn bị tiêu diệt vì súng cộng đồng đã nhắm vào họ. Do quá gấp rút nên các phi công Mỹ ko tìm hiểu kỹ lưỡng các nơi trống để đổ quân, nên đã đổ quân xuống một vị trí mà VC đã chọn lựa.

 Tôi bị Tây sửa lưng vì dùng cụm từ “après la libération” (sau giải phóng)

Khoảng năm 1990 khi làm thông dịch cho một người Pháp thuộc 1 tổ chức phi chánh phủ (ONG), có lần tôi dùng cụm từ “après la libération” (sau giải phóng) thì bị y chỉnh liền. “Bạn nên dùng ’après le 30 Avril 1975' (sau ngày 30.4.75). Bạn chỉ dùng chữ libération' (giải phóng) nếu trước ngày 30.4.75, Sài Gòn là một thành phố của Việt Nam nhưng bị quân Pháp hay Mỹ chiếm đóng, và nhờ chiến thắng của quân đội CS Bắc Việt nên Sài Gòn đã được trả lại nhân dân miền nam. Cũng như thủ đô Paris của chúng tôi đã được giải phóng ngày 25/8/1944 sau một thời gian bị chiếm đóng bởi Đức Quốc Xã".
"Sau 4 năm Paris bị chiếm đóng, quân Pháp và Mỹ, hỗ trợ bởi Kháng chiến địa phương, đã chấp nhận sự đầu hàng của quân Đức. Tướng de Gaulle đã hiên ngang tiến vào TP ngày kế.
Khi hay tin Quân đoàn 3 của Mỹ, chỉ huy bởi tướng George Patton, tiến gần Paris, cuộc giải phóng đã bắt đầu khi Lực lượng Nội địa của Pháp (FFI) đã nổi dậy chống quân Đức chiếm đóng
Đêm 24/8, các phần tử tiền phương của sư đoàn 2 Thiết giáp của Pháp đã tiến vào Paris và tới Tòa Đô Chánh trước nửa đếm. Sáng hôm sau, 25/8, thành phần chủ lực của sđ 2 thiết giáp Pháp và sđ 4 bộ binh Mỹ và các đơn vị bộ binh khác tiến vào TP -- Dich từ wikipedia

 Hồi học đệ thất (lớp 6 bây giờ), tôi sợ nhứt là môn Việt văn, vì bị thày giáo “biểu dương” trước cả lớp là “mất gốc” khi tả cái cày có 10 răng!

Nhưng ngày nay, anh chàng có vẻ gốc Tây con* này, lại hàng ngày ĐAM MÊ đăng nhiều status của mình với một tiếng Việt trong sáng.
Ảnh 2, có tính minh họa: Cách thảo văn thư gảy gọn và xúc tích của anh Tây con này đã khiến cô thư ký của UBND phường Đa Kao SG để ý. Tôi nhớ, có lần sau khi tôi nộp đơn, ông PCT ko muốn chuẩn y nhưng cô thư ký liền nói, 'ông này là cư dân của phường mình', khiến ông ký liền. Cô này ko quen biết gì với tôi. Tôi đã trình bày lá đơn theo kiểu Mỹ vì sau 75 tôi đọc nhiều sách về cách hành văn và viết thư của Mỹ, tuy nhiên lúc đó xài toàn dấu ngã (chưa phân biệt hỏi ngã như bây giờ).
* Khoảng năm 1961, sau khi tôi bị bạo bịnh, ba tôi thuê 1 gia sư, từng ở Pháp, về nuôi trong nhà để dạy Pháp văn cho tôi và Sĩ em tôi. Nhờ vậy tôi giỏi nhứt lớp Pháp văn của thày Hoàng Cung ở Trường Bồ Đề quận nhì SG. Cũng nhờ đó, tôi có thể làm các bài tập về toán và hình học dựa theo sách Pháp của Brachet, Lebossé, hay Maury. Ông gia sư này đã truyền bá kiến thức về LUÂN HỒI, ĐĨA BAY và NGƯỜI NGOÀI TRÁI ĐẤT cho tôi.


Monday, May 11, 2026

   


THÀY MORRIS, CỰU CHIẾN BINH VN VÀ CÔ KATHY CỦA
 LỚP ESL CỦA CHƯƠNG TRÌNH YES CỦA HỘI USCC SAN JOSE.
CHỤP KHOẢNG NĂM 1997-98.




CHÚC MỪNG NĂM MỚI/HAPPY NEW YEAR
YEAR OF THE TIGER 1998
CHỤP TẠI LỚP ESL CỦA HỘI USCC/SAN JOSE

       
















 TẢN MẠN VỀ NGÀY (30.4.1975)

Trang Y Hạ (Trần Phước Hân)
Thấm thoát thời gian đã đi qua một chặng đường dài - Bốn mươi lăm năm! Kể từ ngày “giải phóng 30.4.1975”. Nhớ lại những ngày tang thương…! Tôi từ KonTum chạy về Sai Gòn, được phân công làm công tác tiếp cư ở làng Đại học Thủ Đức.
------------
Làng đại học lúc bấy giờ chưa xây xong hoàn toàn, còn ngổn ngang: gạch, cát, đá…, chỉ có một số phân khoa hoàn thành. Dân tản cư chạy giặc từ vùng một, vùng hai và một số tỉnh lân cận chạy về Sai Gòn đều tập trung về làng đại học. Người tản cư được tiếp tế: thức ăn, nước uống, chăn chiếu... Mỗi ngày ngong ngóng chờ tin tức người thân và tình hình chiến sự...!
Hằng ngày mọi người xúm lại mở đài BBC theo dõi tin tức. Đài nầy loan tin quân miền Bắc như có cánh… Thắng như chẻ tre - rượt đuổi quân dân miền Nam…! Chính đài nầy cũng đã góp thêm “thành quả” cho quân miền Bắc. Tất cả mọi người - đứng ngồi gần chỗ loa phát thanh, để nghe ông Tổng Thống Thiệu đọc diễn văn từ chức... Ông tổng thống Thiệu nói ”Đồng bào mất đi một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng đồng bào còn một trung tướng Nguyễn Văn Thiệu… làm bạn của Mỹ rất khó, làm kẻ thù của Mỹ rất dễ…”. Bà con nhìn nhau ngầm hiểu là: số phận miền Nam đã cáo chung! Tôi quay người đi ra, bất chợt thấy một người đàn ông dáng dấp giống ông thầy năm lớp nhứt, - thầy Tôn Thất Đ…! Tôi kêu tên thầy, thầy quay lại ngơ ngác… - rồi dòng người quá đông chen lấn qua lại, chẳng còn thấy bóng dáng thầy…!
Tôi cũng như bao người lính và dân miền Nam, sau khi nghe “lệnh đầu hàng của tân tổng thống Dương văn Minh”. Nước mắt cứ trào ra tức tưởi…! Ngước lên trời - màu trời trong xanh lưa thưa một vài áng mây trắng bay ngang qua, ước chi được ngồi trên đám mây ấy. Không ai nói với ai lời nào, lặng lẽ ôm chút đồ đạt rời làng đại học, (chưa học một ngày nào) để trở vô Sai Gòn, hoặc tìm cách về quê. Tôi nghe người con gái tuổi khoảng đôi mươi nói với người thiếu phụ có lẽ là mẹ - "Thật nhục nhã! - Thua thật là nhục nhã!".
Từ làng đại học tôi cùng mọi người đi bộ về Sài Gòn… Đến Thủ Đức, tôi gặp các lớp tân binh trong trường bộ binh Thủ Đức, họ bỏ trường túa ra rất đông, đầu trần, họ bình tĩnh di chuyển ngay hàng bên phải, không vội vã… Trên người họ vẫn mặc đồng phục của quân trường. Những tân binh im lặng, lầm lì…, họ cũng đi về hướng Sài Gòn như chúng tôi. Từ nội ô Sài Gòn, trưa 30.4 dân chúng ào ạt dùng tất cả mọi phương tiện trở về quê. Người đi ra quá đông còn người đi vô như chúng tôi thì ít. Tôi đi tới đầu cầu Tân Cảng Sai Gòn nơi (Quân Cảng Hải quân VNCH). Tôi thấy ai đó phá kho dự trữ thực phẩm dưới chân cầu và mọi người dân nhào vô lấy đồ hộp,… Một bác xích lô đưa cho tôi một bình thủy tinh nước ép trái cây lớn. Một vài người dùng xe xích lô, chở “chiến lợi phẩm” ngược vào ngã tư Hàng Sanh, cộng với người và xe đi trở ra tạo nên cảnh kẹt xe không thể nào chen chân được. Không Cảnh Sát, người dân tự dàn xếp với nhau để mà đi, trên khuôn mặt nặng trĩu nỗi buồn pha chút hoang mang… Trên mặt cầu còn những vỏ đạn và vết máu…!
Tôi cũng chen lấn để qua cho khỏi cầu Tân Cảng Sai Gon, và đến được ngã tư Hàng Sanh. Tôi vô quán nước ngồi kêu nước uống và nghỉ chân. Ngồi nhìn quang cảnh dân chúng phá kho gạo... Họ nườm nượp đi khuân chở gạo, mặc cho trời nắng như thiêu. Lúc nầy, đối với họ nắng nôi đâu có gì là quan trọng đâu! Lo cho cái ăn là chính. Tôi kêu tính tiền. Tôi thấy một cặp có lẽ là vợ chồng, tóc đã hoa râm, mỗi người hai tay xách hai thùng tròn, khoảng một “gallon” chạy lại nhờ tôi xem những cái lon nầy có phải thức ăn hay không? Tôi nhìn trên lon ghi tiếng Anh. Tôi nói: - “Đó là thùng sơn màu trắng”. Họ không tin lời tôi nói, và cứ xách mấy thùng sơn đó lẫn theo dòng người…!
Trên đường phố Sai Gòn xe tăng quân miền Bắc phủ đầy cành cây rừng, trên pháo tháp, trên nòng pháo, trên nón và xung quanh lưng quần. Một số người ở trần, họ mặc quần dùi, họ cũng quấn lá quanh người, ngồi trên xe “motolova”. Một số ít dân chúng cầm cờ mặt trận “giải phóng miền Nam” tung hô, đông nhất là thanh thiếu niên đeo băng đỏ ngồi trên những xe deep vẫy cờ hoan hô… chiến thắng!
Sai Gòn lúc hỗn loạn, không còn ai kiểm soát, ai cũng có quyền lấy đi bất cứ thứ gì, miễn lấy được thì lấy...! Họ vào trong những nhà hàng, khách sạn… như chỗ không người. Bởi giờ nầy đâu có còn ai quản lý trông nom, tất cả đi tìm cho bản thân và gia đình một con đường thoát…! Văn hóa phẩm: Sách và những văn bản, băng đĩa vứt ra trắng đường…! Đường Yên Đỗ nơi có Thư Viện Đắc Lộ, đội đeo băng đỏ đem hết sách ở đây ném ra ngoài vỉa hè từng đống…! Những nhà sách khác cũng chịu hoàn cảnh tương tự. Sách anh văn, sách giáo khoa, bói toán, kiếm hiệp, tiểu thuyết, thơ, sách dịch, phim ảnh… đều vứt bỏ hết. Những tủ sách gia đình cũng bỏ ra đường, không ai dám lưu giữ, sợ bị qui cho cái tội “truyền bá văn hóa đồi trụy Mỹ Ngụy”. Tôi nhìn thấy bộ sách “Bộ Luật Hành Chánh”. Thèm lắm! Nhưng đành quay mặt…! Bản thân giờ nầy không còn hướng để đi thì sách đâu có còn ý nghĩa gì nữa đâu! Giao thông bát nháo, ai muốn chạy tới đâu thì chạy không theo quy tắc gì hết.
Những “chú bộ đội” nắm tay nhau đi từng tóp năm, tốp ba vì sợ thất lạc, có người mang giày (hình như mới kiếm được), nhìn chung hầu hết đều mang dép râu… Mấy chú ấy, ngơ ngáo, trầm trồ, chỉ chỏ… - họ chỉ nói chuyện với nhau và đi tìm mua đồng hồ đeo tay… Ở Sai Gòn, ngoài đồng hồ Seiko tự động của Nhật ra, thì đồng hồ Hồng Kông cũng tương tự, nhưng bị nhái, nên mới có câu: “Hồng Kông bên hông Chợ lớn” là vậy! Mấy chú bộ đội hầu hết bị mấy thanh niên chiêu dụ mua loại đồng hồ bên hông Chợ Lớn nầy.
Những cô gái có móng tay dài đều phải cắt cụt (?) son phấn, nước hoa cũng bỏ (!) Đồ dùng bằng inox cũng ném xuống cống (?). Ai ai cũng chờ xem “cách mạng sẽ đối đãi” như thế nào với người Sai Gòn! Một buổi chiều tháng năm, tôi đi trên đường Petrus Ký, đoạn gần đường Trần Hưng Đạo, tôi thấy người ta xúm nhau xem truyền hình… Tôi dừng lại xem thử, tôi thấy một O du kích mặc áo bà ba dẫn đoàn xe tank bộ đội vào giải phóng Sai Gòn. O du kích ngồi trên xe tank quấn khăn rằn quanh cổ, vai mang súng AK, cười - trông dáng cô rất oai phong… Tôi nghe nói là cô Nhíp nào đó - người con gái của đất Sài Gòn.
Tôi chạy xe ra ngã tư Trung Chánh, Hóc Môn… Thấy người dân ở đây thong dong đi lượm những bộ quần áo, giày nón của lính “ngụy” đem giặt rồi phơi trên hàng rào chung quanh vườn… Họ thản nhiên - cười giỡn như chưa hề có một cuộc “thay ngôi đổi chủ” với nỗi tang tóc bị ai còn đang diễn ra sờ sờ trước mắt… Tôi hỏi: - Không sợ cách mạng bắt sao…?. Một người phụ nữ trả lời tỉnh queo, rằng: -“Lượm giặt sạch để dành mặc đi lao động chứ - hơn nữa tôi cũng là người của cách mạng, tôi sợ chi…?”. Như vậy, là… chỉ có tôi sợ thôi! Tôi nhận thấy có những người già họ đi lượm mấy tấm ảnh, sách, băng nhạc kể cả cờ vàng…!
Tôi đến ngã năm và Quân Y Viện Cộng Hòa, ở đây những người thương bệnh binh đang tìm đường về quê, trên người còn bông băng… Nhiều người không có ai đón, hoặc ở xa đành phải ra - nằm ngồi ngoài đường xin ăn, xin tiền để tìm cách về nhà! Tôi thấy một người phụ nữ trẻ, đang ẵm một người thương phế binh ra chiếc xe xích lô, chẳng biết cô ấy đi về đâu…?! Thấy tình cảnh đau lòng… Tôi viết vội: “vợ tao ẵm tao như một đứa trẻ sơ sinh”, nhét vô túi áo. Và sau nầy tôi làm bài thơ “Tâm sự người thương phế binh” hoặc có tên khác là “Những người lính năm xưa”. Dân chúng Sai Gòn “háo hức” đổ xô đi dự lễ Lao Động một tháng năm và xem xe tank của bộ đội…!
Ngày nào phe ”cách mạng” cũng kêu gọi anh em “Nguy Quân, Ngụy Quyền” ra trình diện. Hai tuần sau, tôi lại “Ủy ban quân quản” tại tỉnh Gia Định cũ trình diện. Ở đây, họ cấp cho tôi một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay do ông Cao Đăng Chiếm ký tên. Họ bảo tôi về nhà chờ giấy báo đi học tập… Nhà (cha mẹ nuôi) của tôi ở bến Hàm Tử gần cổng sau Bịnh Viện Chợ Quán, phía bờ sông… Người nhà bảo tôi đi khuân gạch từ dưới ghe bầu lên bờ, kiếm chút tiền sống qua ngày... Một miếng ván dày, bề ngang chừng hai tấc - bắc từ thành ghe bầu lên bờ, chồng gạch cao tới cổ họng, đi không quen. Tôi bị trật chân rơi tõm xuống sông liên tục…!
Một hôm mẹ ruột bảo tôi về quê nhận đất để khỏi đi học tập. Tôi ra bến xe miền Đông ở Ngã Bảy xếp hàng chờ mua cho được cái vé... Nhưng tôi tìm hoài không thấy cái số xe ghi trong tấm vé. Tôi lơn tơn lại quầy vé nghía vô cái sổ phân “tuyến xe”… Ông già có khuôn mặt ốm, ngồi cạnh cái cuốn sổ. Ông ta nhìn tôi rồi đập bàn, quát: - “Anh có biết tôi là ai không? Sổ nầy là sổ gì không?”. Tôi trả lời rằng tôi không biết. Ông ta nói tiếp với vẻ mặt của kẻ đắc thắng: - “Tôi là cán bộ quản lý khu vực nầy, muốn gì thì phải hỏi tôi, không được dòm ngó lung tung…”. Dằn mặt tôi xong ông kéo trong hộc bàn ra cái “băng đỏ” đeo vào tay áo. Tôi im thin thít và nghĩ: Thì ra, ông nầy cũng là… “cách mạng 30.4”! Ông cán bộ, quên đeo cái “nhãn hiệu” - vậy là ổng chửi oan cho tôi… Từ đó, tôi tự nhắc nhở mình phải cẩn thận hơn!
Về quê được mấy hôm, tôi được mấy anh du kích xã lại mời tôi tới xã trình diện và khai lý lịch… Người lấy lời khai của tôi là một O du kích còn rất trẻ, cây súng lúc nào cũng kè kè bên hông của cô ấy. Tôi ngồi vắt chân, cô nói nhỏ: “… bỏ chân xuống...!”. Độ nửa tháng sau, tôi nghe trên loa xã kêu tên tôi và cho biết hãy chuẩn bị tiền ăn - mười một nghìn sáu trăm đồng (11.600$) và quần áo, xuống xã để đưa tới nơi học tập trong vòng 20 ngày. Tôi nghĩ “chỉ “hai mươi ngày” rồi về nhà thôi”. Vậy mà, hơn bảy năm trôi qua trong tù tội... Tôi còn may mắn hơn những chiến hữu khác là Chúa giữ cái thân tôi cho các em, cho mẹ tôi! Tôi cảm ơn các em và mẹ đã “thăm & nuôi” tôi - nuôi một thằng “con nít” mới ngoài hai mươi bốn tuổi đầu!
Tôi khâm phục và biết ơn những người phụ nữ. Họ là người “lính hậu phương” không số quân trong thời chiến. Ngày “hòa bình”, một mình nai lưng làm lụng để nuôi con, nuôi chồng trong tù… Chưa kể trên đầu họ và con cái của họ còn phải mang cái “lý lịch gia đình Ngụy” và mất hết quyền lợi…! Ai, ai là người vinh danh hay gắn huy chương cho họ đây?!
Cuộc chiến đã im tiếng súng gần nửa thế kỷ, những người thất bại chừ họ cũng đã chết, không còn lại bao nhiêu, mà có còn sống thì cũng đã “sương trắng miền quê ngoại”, lang thang tìm kế sinh nhai trong mọi ngõ ngách trên quê mẹ Việt Nam và lang bạc khắp nơi trên thế giới...! Những người thất bại còn mang trong thân thể vết thương chiến tranh, hay bị mất đi một phần thân thể … Cho dù có lành sẹo thì cũng dễ bung ra một khi - đọc một bài báo, một câu nói hay một cái nhìn không mấy thiện cảm của mọi người “bên thắng trận”! Gần nửa thế kỷ đi qua… Vậy mà…, thương thay - vẫn nhìn nhau bằng mặt chứ không bằng lòng… Chuyện lịch sử vẫn còn y nguyên đó - làm sao mà quên - có kẻ khuyên hãy quên quá khứ… Quá khứ định hình cho tương lai… làm sao mà quên đây?
Người Mỹ có câu nói “Tôi tha thứ, nhưng tôi không quên”. Đúng, kẻ đó khuyên người khác quên vì họ không mất thời gian ở tù… Vua Văn Vương đi tù bảy năm ở Dĩu Lý. Ông cũng cũng đâu có quên những tháng năm tù đày đâu! Ông để lại câu nói truyền tụng tới mấy ngàn năm nay chưa bao giờ mất giá trị “Nhứt nhựt tại tù thiên thu tại ngoại hề”. Tôi mượn hai câu đối của ông Nguyễn Hữu Đang (1913 – 2007) trong “nhóm nhân văn giai phẩm”, để tạm kết thúc.
-”Nào công, nào tội, nào nhục, nào vinh, thương số phận Khuất Nguyên, Nguyễn Trãi.
-Vận nước, vận nhà, biết thời, biết thế,, quý cuộc đời Nguyễn Trãi, Trương Lương.”. (Nguyễn Hữu Đang).
Trang Y Hạ (Trần Phước Hân).
Viết tại San Francisco – 24.4.2020.