Wednesday, September 10, 2025

 Phật tử và các nhà hoạt động vì quyền động vật chống lại sự tàn sát động vật cho Durga 

https://www.asianews.it/news-en/Buddhists-and-animal-rights-activists-against-animal-slaughter-for-Durga-32254.html

Bài của Bởi Christopher Sharmadashain, 

Dashain, lễ hội Hindu dài nhất và quan trọng nhất của Nepal, bắt đầu. Nó đánh dấu sự ra đời của Nữ thần Durga và chiến thắng của nữ hoàng trước một con quỷ xấu xa. Để giúp vị thần, hàng chục ngàn động vật bị giết thịt để cung cấp máu hy sinh tươi mới. Tuy nhiên, "chúng ta có thể bắt đầu suy nghĩ lại về truyền thống này", một nhà lãnh đạo Ấn Độ giáo nói. 

Kathmandu (báo Asianews) - Lễ kỷ niệm Lễ hội Hindu vĩ đại của Dashain đang trở nên gây tranh cãi ở Nepal khi các nhà lãnh đạo và nhà môi trường Phật giáo kêu gọi đa số ngừng giết mổ động vật vì những hy sinh máu nghi lễ "không còn có ý nghĩa gì". Trong khi hầu hết người Ấn giáo bảo vệ các truyền thống, một số người đồng ý rằng sự thay đổi có thể đến nhưng nó sẽ đến "từ từ". Dashain là lễ hội dài nhất và quan trọng nhất của Nepal. Ngay cả người Nepal ở nước ngoài, cũng cố gắng về nước để tham gia cùng gia đình của họ cho lễ kỷ niệm 15 ngày. Văn phòng chính phủ, nhiều doanh nghiệp, trường học và trường đại học đã đóng cửa trong giai đoạn này. Lễ hội tôn vinh chiến thắng của điều tốt trước cái ác và sự ra đời của Nữ thần Durga, nữ thần được tạo ra để chiến đấu với con quỷ Mahishasura và ngăn chặn triều đại khủng bố của nó trong thế giới của Thượng Đế và con người. Chín ngày đầu tiên của Dashain tượng trưng cho cuộc đấu tranh giữa hai người. Theo truyền thống, vào ngày thứ tám và thứ chín, dòng máu tươi của động vật bị hy sinh, là một món quà để xoa dịu nữ thần đang tham gia vào giai đoạn cuối của trận chiến của nữ thần. Tuy nhiên, các nhà hoạt động vì quyền động vật cho đây là một hành động vô nhân đạo. "Giết một con vật để ăn thịt của nó là một điều gì đó dễ hiểu, ngay cả khi chúng ta chống lại nó. Tuy nhiên, một sự lãng phí như vậy là vượt quá sự nhạt nhẽo." Mặc dù không có số liệu thống kê chính thức về số lượng động vật bị giết trong lễ hội, một số chuyên gia trong ngành nói rằng hàng trăm ngàn con trâu, dê, chim bồ câu và vịt bị tàn sát mỗi năm. "Chúng tôi đã phải tranh đấu trong một thời gian chống lại cái chết của các động vật", Ananda, một tu sĩ đứng đầu một cộng đồng Phật giáo địa phương nói. "Chúng tôi có thể nói với sự hài lòng rằng nhờ vào chiến dịch nâng cao nhận thức của chúng tôi, số lượng động vật hy sinh đã giảm." "Chúng tôi không có vấn đề gì với chính lễ hội", ông giải thích, "nhưng chúng tôi đang xem các lựa chọn thay thế như dịch vụ hoa hoặc trái cây." Hơn thế nữa, "những vụ giết người như vậy ảnh hưởng đến trẻ nhỏ". "Không có tôn giáo kêu gọi bạo lực", Govinda Tonson, một chuyên gia và nhà lãnh đạo theo đạo Hindu nói. "Hòa bình và lòng thương xót phải là trung tâm của đức tin." Tuy nhiên, "trong Ấn Độ giáo, một số thực hành truyền thống rất cũ dựa trên niềm tin rằng nữ thần Durga cần một nguồn cung cấp máu tươi. Chắc chắn, chúng ta có thể bắt đầu suy nghĩ lại về truyền thống này, nhưng sẽ mất thời gian, và chủ yếu sẽ là một sự thay đổi từ từ.

 Xã hội loài người sẽ tốt đẹp rất nhiều nếu những người thuộc tuổi Rái Cá chiếm đa số.

Theo dân bản địa Mỹ, những ai sanh từ ngày 20 tháng 1 đến 18 tháng 2 dương lịch thuộc tuổi Rái Cá - như tôi chẳng hạn vì sanh ngày 16 tháng 2 năm 1947.
========
"Người sanh từ 20 tháng 1 đến 18 tháng 2 thuộc tuổi Rái Cá . . . lại lần nữa chúng ta dễ thấy tại sao người tuổi này là những người bạn đồng hành được mọi người săn đón hay ưa thích.
Như Rái Cá, họ thông minh, dũng cảm, hay vui đùa, hay giúp đỡ và hòa nhã. Họ có một ngữ vựng phong phú và thích vui đùa với chữ nghĩa và triết lý cũng như với những điều khác.
Họ hình như có cảm giác rằng họ có bổn phận giúp mọi người có được ÂN SỦNG TỐT dưới bầu trời này. Họ có TẦM NHÌN và NHÂN ĐẠO, thường dùng phần lớn thì giờ và năng lực để tìm mọi cách hầu có thể giúp đồng loại của họ. Họ thật sự vui vẻ khi được giúp đỡ người khác và luôn mơ những cách mới để họ có thể phục vụ. Do có sự ĐỒNG CẢM và TRỰC GIÁC, họ thường thành công trong việc tìm thấy những cách để mọi người giúp đỡ lẫn nhau./// Nếu bạn xem xét các cơ sở từ thiện, bạn thường thấy người tuổi rái cá là người thành lập. Nhu cầu được phục vụ là phần lớn của tính cách của họ, và, nếu họ ko tìm ra cách phục vụ trên diện rộng, họ sẽ tìm cách để làm điều đó trên căn bản cá nhân.
Nếu bạn có một bạn bè tuổi này, và bạn đang cần một người thông cảm hoàn cảnh, hay bạn cần vay tiền, họ sẽ cho bạn vay càng nhiều càng tốt theo khả năng họ. Nhưng họ cũng thực tế, và nếu thấy bạn vay để làm điều ko đáng làm, trước nhứt họ sẽ cố gắng cho bạn biết việc đó ko thực tế. Nếu họ ko thể làm điều này, họ vẫn thường cho bạn mượn, dù biết rằng bạn sẽ ko thành công. . .
Luôn kiên nhẫn, họ sẽ chờ cho tới khi bạn thấy sự thông minh vượt trội của TRỰC GIÁC* của họ. Do nhận thức của họ, những người này hoàn toàn có thể nhập vào vai của bạn, mỗi khi họ có thể, và biết một cách thành thật những gì bạn cảm nhận ở bất cứ lúc nào.///
Trong khi người Rái Cá, như tổ vật của họ, thường ôn hoà, dễ thương, họ vẫn có khả năng đá khá mạnh nếu họ cảm thấy bạn cần một cái đá để trở lại đúng đường. Trừ phi năng lực của họ hoàn toàn bị ngăn cản và tắt nghẽn, họ sẽ ko đá chỉ vì ác ý hay thù hằn. Thật ra bạn ít khi thấy một kẻ Rái Cá đầy thù hận. Tuy nhiên, họ ko sợ hãi và đầy can đảm, và họ ko sợ nhận một vị trí hay chức vụ ko phổ biến với các bạn bè hay đồng nghiệp trong công ty, nếu họ biết rằng vị trí hay chức vụ của họ là đúng.
Họ cũng có, nếu ko tích cực, những khả năng ngầm về tâm linh, xuất phát từ bản tính trực giác của họ. Nhiều người tuổi Rái Cá dùng những khả năng để có những quyết định hàng ngày trong đời sống của họ, và rồi họ rất ngạc nhiên vì khả năng này giúp họ có những quyết định đúng. Trừ phi họ dùng thời gian để học và phát triển khả năng này, họ ko biết quyền năng này xuất phát từ đâu. Những khả năng về tầm nhìn xa cũng xuất phát từ những quyền năng này, và phần lớn người tuổi Rái Cá có tầm nhìn xa ở mức độ nào đó, vì họ thường có những giấc mơ có ảnh hưởng và tiên tri.
(còn tiếp).
NHẬN XÉT: tử vi này đã "đi guốc vào bụng tôi" khi nói những tâm tư tình cảm riêng tư của tôi--mà người bên ngoài khó biết!
Dịch từ trang 27-30 của sách Medicine Wheel, xem hình. Đây là quyển sách đã giúp tôi tìm hiểu về tử vi của dân bản địa Mỹ. Mua tại triển lảm sách bằng tiếng Anh tại nhà sách Lê Phan ở Sài Gòn khoảng đầu thập niên 1990.








Người tuổi Hợi - tuổi của tôi, theo tử vi Trung Hoa. (Dịch từ sách của Chris Marshall).

HEO NUÔI TRONG NHÀ NHƯ THÚ CƯNG

VÌ RẤT SẠCH SẺ, KO ỈA BẬY.

Nhận xét: Nếu những ai tuổi Hợi đều có những đặc tính sau đây thì thế giới sẽ tốt đẹp rất nhiều -- nhưng bất hạnh thay, rất ít người tuổi Hợi có đủ các đặc tính này. Tuổi Hợi trong đại gia đình của tôi và bạn bè thân thuộc có: tôi, em gái, 2 người em rể (đều Đinh Hợi, một đã chết 17 năm), L.- cháu kêu tôi bằng bác, T.- cháu kêu tôi bằng cậu, và một bạn trẻ sanh năm 1972 tên P. (thường xuyên thất nghiệp, bất mãn, có thời gian dài ngủ trên xe dù qua Mỹ từ lúc 7 tuổi), v.v...
I / Về tổng quát người tuổi Hợi có đặc tính như sau.
"Cũng như mọi việc trên đời, bạn phải chờ đến phút cuối cùng để thấy được phần tốt đẹp nhứt. Những người tuổi này là những “viên kim cương“ theo cung hoàng đạo Trung Hoa. Dù cho kim cương có thể chưa cắt gọt bởi một nghệ nhân lành nghề, và dù cho kim cương có thể chưa được đánh bóng, kim cương vẫn là kim cương. Nguời tuổi Hợi luôn luôn thành thật, cởi mở, ngay thẳng, nói khác đi, họ được rất nhiều người yêu mến. Họ không biết đi cửa sau hoặc nham hiểm hay đểu giả, mà lại thích giải quyết mọi việc bằng một cách thức hoàn toàn thẳng thắn và lương thiện. Nhiều người có thể xem họ là khờ dại và cố gắng lợi dụng bản tính tốt đẹp của họ - thật sự thì rất dễ gạt gẩm họ - nhưng người tuổi Hợi thường coi trọng những mặt tốt của kẻ khác, và đặt sự ngờ vực (kẻ khác) vào hàng thứ yếu. Người tuổi Hợi có một dự trữ lớn lao về nội lực, và người khác thường đến với họ và dựa vào, một cách không cố ý, sức chịu đựng và tính chung thủy của họ. Về căn bản, người tuổi Hợi rất đáng được bạn tin cậy và thuờng sẽ làm việc hết mình để đạt được điều tốt đẹp nhất cho chính họ và cho người chung quanh họ - càng nhiều người càng tốt. Họ tin tưởng một cách mãnh liệt vào một cuộc sống thanh bình và hầu như sẽ làm hết sức mình để cố gắng giải quyết bất cứ khó khăn. Ở những người tuổi Hợi KÉM PHÁT TRIỂN (câu này nghe quen quen -- người dịch), lại có khuynh hướng đắm say trong thú vui xác thịt, và một vài tác phong/cách cư xử của họ cuối cùng sẽ có thể hoàn toàn thoái hóa/suy đồi. May mắn thay, đó chỉ là số ít, nói chung, mặc dù họ thích hưởng thụ những cái tốt/đẹp trong cuộc đời, nhưng họ lại không đắm say/sa ngã vì nó. Cái gì họ có được, họ đều CHIA SẺ, bởi người tuổi Hợi tin rằng “nhà của tôi cũng là nhà của anh“ và sự rộng rải/hào phóng của họ còn đi xa hơn - nếu bất cứ ai gặp khó khăn, bạn có thể nhờ người tuổi Hợi giúp một tay.
Ngày 10/9/2025 tại San Jose. Cập nhật 8 Jan 26.

Tuesday, September 9, 2025

 

Gia Vuc and the Song Re valley 
under Viet Minh control

Nguồn: Welcome to the Gia Vuc Website

Bản đồ sau đây về vùng đông bắc của tỉnh lỵ Kontum, có làng Kon-Sơm-Luh, nơi xảy ra trận đánh lớn, sau HĐ Paris 1973, được nhắc đến trong các bài viết của Vương Mộng Long, Vũ đình Hiếu, Phạm Tín An Ninh, v.v...

ND495MAP.gif (2815×2054)

Một bản đồ cũng về vùng đông bắc Kontum: ND495MAP2insert.gif (1493×1106) 

Một bản đồ vẽ từ thời Pháp: New Page 1


DSC02923.JPG (945760 bytes)

Photo of a Viet Minh flag donated by a friend of my father.
The flag was captured by dad's friend brother while he fought in Indochina unfortunately both  are deceased and no more Information is known.

On the flag lay two daggers and some French GCMAnd Para insignias

Since having learned in the 90's about the French mine field around Gia Vuc and the hard standing building which became the infirmary, I always wonder if its USSF A-teams were walking in the footsteps of a French unit which would have been garrison there 10 years earlier?

Back in the late 40's and early 50's the Song Re valley and villages likes Gia Vuc, Bat To, Ha Thanh where under firm Viet Minh control. The situation was pretty reversed from the one in the 60's. The French forces in the central highlands were under strength and ill equipped, for the French high command this was not an important theater of operation and therefore received low priority on men and equipment. The French where strongly implanted around Kontum and Ban Me Thuot but were only able to organizing raiding parties on area further north. One of their most northern outpost was Kon Plong where a lot of the operations started from.

Two of the main units which orgenised operations in the Song Re valley was the 4e BMEO ("Bataillon de Marche Extreme Orient") and the GCMA   “Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés” the French Special Forces in Indochina.

Here is a list of some of the recorded operations they did. (please note there is probably more and the period from 1953 -54 is unknown but this is all I have found so far)

Operations relating to Gia Vuc with the 4e BMEO, 1949-1951

This come from a French man who has retraced the two tour of duties (just under 5 years) of his uncle Maurice Millour in Indochina. http://philippe.millour.free.fr/index.html

On his first tour (37 months, 1948-51) Maurice Millour served with the 1/3ème BMEO and then 16e/4ème BMEO (16th Company, 4th Battalion de Marche Extreme Orient) at the outpost of 
Kon Plong in the central highlands, an outpost about 100k North East of Kontum situated on an elevated position nearby the dirt road /trail leading towards Gia Vuc, Ba To and finally the coast (what will be LTL58  during the Vietnam war.)

The Kon Plong outpost was surrounded by a vast expanse of forests and mountains, it was built on a small hill above a large valley housing a Montagnard village. The outpost was entirely made of logs, with the exception of two brick buildings and a few tin roofs. The main building was approximately 25 m long and 5 to 6 m high and wide with at one end the infirmary and the other end the radio room. Its most vulnerable part was the one facing the meadow and was made of a log wall pierced with fire ports. The post's enclosure was also made of logs: two parallel walls spaced 60 to 70 cm apart, filled with pebbles and earth, all reinforced with split bamboo set between the logs to limit erosion by rain. The build was carried out without a single nail and was held together with braided rattan. During heavy showers, running water did erode its construction resulting in holes which for ever needed filling up.


The 4eme BMEO consisted of one HQ company and 4 combat companies (13 to16 Co) totalling around 1000 men plus a training company the 17th Co.

The combat companies had a strength of around 173 men organised into 4 platoons with 3 squads per platoon. Each company had 2 French Officers, around 15 French or indigenous NCO and another 10 French corporals or PFC or soldiers. The montagnards were spread within the four companies according to their ethnic. 14 &16th been Sedang, the 15th Djarais and the HQ and the 13e with a mixture of both ethnics.

Armament of the 16th Co comprised of one heavy machine gun FM 24.29, a 120mm mortar in Kon Plong oupost, one 50m mortar for external operations, and a few grenade launchers.  The NCO had MAS 38 or STEN machine guns and most of the troop had old WWII worn out Canadian rifles.

 

1949

Early in 1949 Lieutenant Jaques Pierre arrived in Ban Me Thuot operational area and in February took command of the Kon Plong garrison which was under strength.

On the 25th of May, Lt Pierre left the Kon Plong outpost at the head of reinforced platoon of about 50 men, including seven Europeans. During this operation which did last two days, this small troop reached the valley of Song Re by Viklum and Violac, then went up the right bank of the stream until Gia Vuc. Lieutenant Pierre noted that the hamlet of Gia Vuc was home to a Vietminh food supply centre, whose staff, estimated at one section, has fled on their arrival. After setting fire to the food depot, the reinforced platoon of the 16/4eme BMEO headed back to Kon Plong via sometimes very steep paths: a stretch of less than ten kilometres took over eight hours. This operation was one of the first French reconnaissance in the Song Re Valley which was under Vietminh control.

 

On October 14, a reconnaissance party send in the Song Re Valley three days earlier returned to the Kon Plong outpost. They had been ambushed twice, north of Gia Vuc and east of Kon Plong, resulting into one KIA and two WIA. During the two ambushes, PFC Bellei, a Kon Plong medic who accompanied the patrol,  rushed forward several times while under fire to attend the wounded. For his bravery and dedication, he received 3 regimental citation with a Croix de Guerre with bronze star.

The two wounded were evacuated the next day to Pleiku Hospital .

 

1950

In February 1950, Hre Montagnards who had been forcefully enrolled into the Vietminh People's Army revolted. After having killed their cadres and Viet Ming commissars, they approach French posts to ask for their protection. Among these posts was Kon Plong. Lieutenant Pierre, the young and new CO of Kon Plong quickly realise the potential of that situation and supported the Hre revolt. He also organizes volunteers into a Hre paramilitary units of partisans under the name of "Action Hre".

On April 7 operation "Adrien" was launched to support the Hre uprising and to drive back Vietminh troops from the Song Re valley towards the coastal plain of Quang Ngai.  This newly formed "Groupe Mobile" (Mobile Task Force) was made of about 600 men with detachments from  the 2e BEP, the 1e BPC and the II/2ème REI as well as a newly formed and poorly trained unit of 150 Hre partisans.

 

From 7 to 13 April, the group moves from Kon Plong to the village of Gilang via Vitiong, Viklum, Vipée, Dak Xérong, Monit, then the valley of Song Ré until Ta Ma, and finally Gilang. During this part of the operation, only forward element made sporadic contacts with the Viet Minh.

From the 14th of April a landing strip, drop zones and a field first aid post were established in Gilang. Reconnaissance operations were launched in that area resulting in casualties for the 2ème BEP et du 2ème REI .  By the 22nd of April, it was established that 5 Vietminh battalions (4000 men) were now in that area and were closing in onto Gilang, so it was decided to abandon the Song Re valley and fall back onto Kon Plong.

 

A follow up operation "Gien" took place from 8 to 12 May. The operational element was another Mobile Task Force made up of the 15th and 16th Cie of the 4th BMEO, the "Compagnie de Marche" of the 1st BPC (Colonial Parachute Battalion) and a section from an Officers School platoon. It mission was to drive the Viet Minh out of the hamlet. Gia Vuc to set up a nearby outpost and recruit local troops.

The operation "Gien" did not succeed as much as the region was found empty of any significant number of enemies. Also the lack of trails, would have made the implantation of an outpost not viable due to being so much isolated without the chance of been rescued in time by road or trails.

Following the "Adrien" operation, it was decided to organize part of the Hre into a structured  military unit. This lead in mid-June to the creation in Kon Plong of USM 26 ( USM : " Unité Supplétive Militaire"  (Paramilitary Unit) with a strength of a company. Its initial armament was two FM Bren and a hundred rifles.
By mid-July 1950 its infrastructure was just three European non-commissioned officers. This unit will be later reinforced with automatic weapons and transformed into CCS 26 ( CCS : Compagnie de Commandos Supplétifs, (Paramilitary commando unit).

Corporal  Rene RIESEN from the 4e BMEO and author of " Mission spéciale en forêt Moï ".This is the only book regarding the French involvement with the Hre montagnards which had been  translated into English (new title "Jungle Mission" in 1957).

R Riesen received the task of supervising the Hrés volunteers, instructing them in guerrilla warfare and of forming villages self-defence groups [also known as "militia" or "goums"]. René Riesen did spend several years with the Hrés, becoming their war chief under the name "Ba Tamoï" (the father of Moïs), or "Ba tchiac gaho tabouac" (the white-haired father). One of Riesen's first missions was to form a unit of partisans in the village of Kon Pong , about 20 kilometres south of Kon Plong, with the aim of creating an outpost and raising a militia. The control of this village was indeed very important for the 16/4 BMEO since it covers, on the north, the position of Kon Plong and, westwards, the Kon Braih redoubt on the road joining Kontum and Kon Plong.

In June, many trails improvement works were carried out in the sub sector of Kon Plong, either south to Kon Braih or north to Kon Kléang or Gia Vuc.

On 31 December, the "Petits Hrés" self-defence group in the Mang Mou / Mang Rha area (Song Re Valley), armed with an FM, three MGs and one hundred and sixty rifles, turned themselves to the Vietminh following the betrayal of most of their troops.

Early January, information confirmed by patrols indicated the presence of 400 Vietminh around Mang Mou and Mang Rha, and another 1,200 in the Gia Vuc valley.

Gaston Mille commander of the 4th Montagnard battalion (the old 4th BMEO) decided to organize combat operation "Omer" in the form of a raid to the above Vietminh controlled area to recover all or part of the lost weapons as well as to collect information in view of a possible re-occupation of the villages of Mang Mou and Mang Rha. After 5 day of patrolling in and on the high ground of the Song Re valley, no contact was made with the enemy which had disappeared and the local population  appeared non co operative and under Viet Minh control.  

ND495MAP2insert.gif (1913697 bytes)

 Operations relating to Gia Vuc with the GCMA, 1951-1952

By 1951, the CEFEO, "Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient" had new counter-guerrilla units at its disposition thanks to their new commander in chief,  General de Lattre de Tassigny. These newly formed counter-guerilla units were the “Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés” (GCMA) and the Commandos Nord Vietnam both were using para military locally raised indigenous forces and were often operating in the Viet Minh back yard.

The "Action Hre"  formed a year earlier by Lt Pierre from Kon Plong was passed over to Captain Hentic from the GCMA after having been given the mission of reorganising it into Military fighting unit for the GCMA.

In autumn 1951, Cpt Hentic with 2 or 3 French cadres and a Hre forces of 150-200 men, carried out more raids deep into Viet Minh controlled territory. These raids lasted from three weeks to six weeks reaching places like Vidzen, Vibliang and Gi Lang and rallied more troops and population through the lower valleys of the Son Hre.  


Trail Trail leading to ViMuk outpost, you can see the outer earth and wood berm defending 
the French small outpost.

1952

26 April 1952, Cpt Hentic with less than three Hre "three centaines" left Gia Vuc and crossed the Song Re on the 27th and attacked and took Ba To in the morning of the 2nd of May. They destroyed all V-M installations and ammunitions depots as well as the VM 108 Regiment headquarters.
Then they disappeared in the jungle before the Viet Minh could react.  

 By the fall of 1952 with a Vietnamese Commando and a Hre platoon (approx 100 men),  Cpt Hentic achieved a two months deep reconnaissance via Dak To into Laos leading to Attopeu.  In its path, they destroyed Viet-Minh bases and laid booby traps on the Viet-Minh trails. During this reconnaissance mission they discovered in Laos a well camouflaged large tails network, Viet Minh staging and rest areas, food dumps etc. This was the first sighting of the famous Vietnam Ho Chi Minh trail! 

Unfortunately, this is all I have for the moment which lead us to the end of 1952 where trails leading to the valley of the Song Re and Gia Vuc were improved to facilitated a possible future French implantation to controlled that area.
By December 1952, Gia Vuc was still under Viet Minh control with no sign of having a French oupost but the war went on for a further two years!

Information translated by myself come 
from Philippe Millour website http://philippe.millour.free.fr/index.html  
as well as from Cpt Hentic's daughter, Anne Alexandre, http://www.maho-hentic.com/
and books like Jungle Mission, R Riesen; Le Silence du Ciel, R Riesen; Les Heros Oublies, Erwan Bergo.

This is a fascinating part of Gia Vuc history and if you want to discover more regarding the French Special Forces and the 4th BMEO who both beat the bush in the Central Highlands, visit my French Indochina war section.

Enjoyed your article and web links for "Gia Vuc from 1945-54".  Once while returning from a local security patrol (summer of 1967) by way of the hill/mountain located immediately to the NE of Gia Vuc I spotted an old rusted out MAT-49.  It was located about 3-4 foot down on the side of a 5-6 foot gulley.  I have always wondered about how it came to be there and wondered about it's history.  I knew that Gia Vuc had been an old French fort, but did not realize the extent of Viet Minh activity in the area. Thanks to SFC Ron Knight (Demo)

 

Names from the 
"Jungle Mission"  book

Names identified on 
US 1960's map

Location

Plaine de Gravuc   

Plain of Gia Vuc

15° 43' N  -  108° 05'E   Camp

Mankra    

Mangia

 

Vikli 

 Vicli

 

Viklun 

 Vic Klum

 

Tama 

Tamao

 

Vi-Pe 

 Vipee

 

Kon Plong

Kon Plong

 

Mang Buk

Mang Buk

 

Ba ToBa To
Vi Muk?
Gilang
Vidzen
Dak Ninh
ViHolac
Kola
Vibliang
Mang Mou 
Mang Rha

Regarding names and places, specially early during the war, they were very few maps and some of the names recorded may just had been written the phonetic way they were understood by the French. In the 60 's on US maps, the same village may have been written differently make it difficult to trace them.

 

Monday, September 8, 2025

 https://www.naturalreaders.com/online/?s=V37d7ffc7ca4624d36b33ccaf22d4b300f.txt&t=Shared%20Text%20File%202025-09-08T21%3A59%3A15.668Z

https://www.naturalreaders.com/online/?

Sunday, September 7, 2025

 

200 năm trước tàu Mỹ tới Sài Gòn: Mối giao tình dang dở

 


 09:59 | Thứ tư, 12/02/2020

Nguồn: 200 năm trước tàu Mỹ tới Sài Gòn: Mối giao tình dang dở
 0
Giá mà sau ngày chiến thắng Tây Sơn và thống nhất non sông, cả Gia Long và Minh Mạng cùng triều thần đừng “bế quan tỏa cảng”, đừng “ức thương” thì khách giao thương như người Mỹ không phải thất vọng. Nhất là sau đấy, dân tộc không phải đau buồn vì nước nhà yếu kém không chống lại được quân xâm lược.

    Tấm bản đồ cổ khổ A3 mỏng manh được đặt trong chiếc bìa kiếng trong suốt. Người thủ thư ở phòng bản đồ Thư viện Đại học Yale cẩn thận trao cho nó cho tôi với một nụ cười tin cậy.

    Đó là một buổi chiều tháng 4 năm 2016, nhân đi dự hội thảo Biển Đông tại Yale, tôi đề nghị thư viện trường cho tôi một đặc ân: được xem bản gốc bản đồ “City of Saigon” in năm 1820! Đây là bản đồ Việt Nam duy nhất được giới thiệu trong sách “Những tấm bản đồ xưa nhất của Đông Nam Á” (Thomas Suarez, 1999), quyển sách mà tôi mua được ở Singapore từ nhiều năm nay. Không ngờ có ngày tôi được cầm trên tay tấm bản đồ của thành phố mình tại chính nơi xuất xứ bên kia bờ đại dương.

    Tác giả và tấm bản đồ gốc - Sài Gòn 1820 tại thư viện Đại học Yale tháng 4.2016. Ảnh: TL

    Chao ơi, trang giấy croquis xưa vẫn còn nguyên nét mực đen sắc sảo. Tấm bản đồ vẻ thật chi tiết một đường sông ngoằn ngoèo, uốn khúc từ biển vào đến một dãi đất bao la. Tại đấy, ở góc phải bên trên bản đồ, dưới kính lúp, tôi trông thấy rõ nét một tòa thành mang hình ngôi sao nhiều cạnh. Xung quanh tòa thành là những con đường dọc ngang thẳng tắp và những ký hiệu làng mạc, nhà cửa, cây xanh, ruộng đồng chi chít. Tác giả bản đồ là thuyền trưởng John White, ở bang Massachusetts, một trong những người Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn và Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.

    Ngoài bản đồ, sau chuyến đi ông còn viết một quyển sách với gần 400 trang xuất bản ở Boston năm 1823, mang tên A history of a Voyage to the China Sea - Lịch sử một chuyến đi đến biển Trung Hoa. Quyển sách này hẳn gây một sự chú ý lớn ở phương Tây - vào thời điểm đang háo hức khám phá châu Á, nên ngay sau đó, năm 1824, sách được tái bản tại London với nhan đề cụ thể hơn: A Voyage to Cochinchina - Một chuyến đi tới Nam Kỳ.

    Chữ Sài Gòn là tên thành phố được John White dùng xuyên suốt trong quyển sách của mình. Trong sách còn có hai bức tranh trắng đen vẽ cảnh Sài Gòn và một con tàu của nhà Nguyễn (1). Cả tấm bản đồ và quyển sách đều trở thành cánh cửa quý báu dẩn chúng ta đi ngược lại thời gian, ngắm xem Sài Gòn 200 năm trước và cuộc giao tình Việt Mỹ đã bắt đầu như thế nào.

    Thành Gia Định thân thiện và uy nghi

    Buổi sáng hôm ấy - ngày 7.10.1819, nhật ký hải trình của John White ghi có có mưa nhẹ. Hai con tàu buồm to lớn mang lá cờ lạ lẩm - sao trắng và vạch đỏ, từ Cần Giờ bắt đầu đi vào sông Bình Giang (tên xưa của sông Sài Gòn). Cả hai được phép cập bến tại bán đảo Thủ Thiêm, đối diện dãy phố Bến Nghé của Thành Gia Định - tên chính thức của Sài Gòn.

    Bức tranh đầu tiên trong sách của John White đã miêu tả khung cảnh thanh bình hai bên bờ sông. Đó là cảnh thuyền buồm và ghe chèo đi lại tấp nập. Những người dân địa phương đội nón lá xoay tròn, có chóp nhọn xinh xắn. Dọc bờ sông là những căn nhà lá hiền hòa.

    Trên bờ Bến Nghé có một tòa nhà mái ngói xòe rộng. Điểm xuyết chung quanh thành phố là những cây dừa cao, ruộng đồng và chân trời bát ngát. Có lẽ trong mắt người Mỹ xa xăm, ngay từ giây phút “chạm ngõ”, Sài Gòn đã mang đến một cảm giác vui tươi, dễ mến.

    Một phần bản đồ City of Saigon 1820 và hình vẽ con tàu Franklin của Iohn White (ảnh ghép - PT).

    Sau 48 giờ chờ đợi, ngày 9.10, một ngày nắng ráo, đoàn khách Ma Ly Căn (phiên âm Hán Việt từ American trong sử nhà Nguyễn) được mời xuống thuyền nhỏ sang sông, bước qua thành phố lớn. Thuyền trưởng John - 37 tuổi, đi cùng các sĩ quan trong bộ quân phục lạ lẩm và oai vệ.

    Phiên dịch của đoàn là một thủy thủ biết nói tiếng Bồ Đào Nha. Các quan nhà Nguyễn lúc đó không có người giao dịch bằng tiếng Anh. Xem ra, người Bồ, người Hà Lan và người Pháp là người phương Tây đến Việt Nam thời ấy nhiều nhất. Hai con tàu Franklin và Marmion của thuyền trưởng John White chính là những chiếc tàu Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn và sẽ lưu tại đây đến bốn tháng (2).

    John ghi lại, 9 giờ sáng hôm đó, trong ánh nắng thiêu đốt, vẫn có đông đảo người dân Gia Định - từ hàng trăm ghe thuyền và các phố phường dọc bờ sông, tụ tập ngắm nhìn đoàn khách da trắng. Mùi cá khô và có lẽ là mùi nước mắm từ các ghe thuyền - John viết một cách hóm hỉnh, “vẫy chào” (salute) đoàn khách.

    Theo John ký âm, người dân reo hò:  don-ong-olan, olan ben tai! Phải chăng là “đàn ông Ô-lăng” và “Ô-lăng bên Tây”? Chữ Ô-lăng là phiên âm của Holland - Hà Lan, đất nước đã buôn bán với cả Đàng Trong và Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII. Một số người dân còn hồn nhiên sờ vào quần áo hay chạm tay vào trang phục mới lạ của khách.

    Từ bến tàu, đoàn bắt đầu đi bộ qua một ngôi chợ bề thế (great bazar) đầy ắp nông sản và các loại hàng hóa. Tiếp theo chợ, là một con phố san sát nhà gỗ, nhà ngói một tầng, có sân nhỏ phía trước. Và rồi, đoàn đi đến một chiếc cầu đá dẫn vào cổng thành phía Đông Nam.

    Có lẽ đoàn khách Mỹ đã đi qua Chợ Vải (chính là chợ Bến Thành Xưa ở vị trí kho bạc ngày nay) và đi dọc con kênh - cũng mang tên Chợ Vải (nay là đại lộ Nguyễn Huệ). Từ đó khách rẽ qua con đường chạy dọc chân thành Gia Định (đường Lê Thánh Tôn) để đến cổng Ly Minh - địa danh xưa là Đồn Đất, nay là vị trí bệnh viện Nhi Đồng 2.

    Qua cổng thành, đoàn khách Mỹ được dẫn vào khu trung tâm. Tại đấy, có một cung điện đồ sộ với nhiều bậc thang dẫn lên bằng gỗ. Đó chính là nơi ở của vua Gia Long trước đây. Gần cung vua là cung hoàng hậu và các con vua. Người hướng dẫn cho John biết nơi này bây giờ dùng làm Văn khố, nơi lưu trữ công văn và các ấn triện.

    John nhận ra trên mái ngói các cung điện là các tượng rồng và các linh vật Á Đông. Đoàn khách Mỹ còn trông thấy một tòa tháp canh đồ sộ, có tầng lầu vuông vức, bên trong là một đại hồng chung. Kế đến, đoàn khách được đưa đến dinh Tổng trấn cũng là một tòa nhà uy nghi, sang trọng với nhiều cột nhà sơn son bóng loáng mỹ lệ - John gọi là Rosewood. Khi ra về, đoàn khách còn đi ngang một pháo đài trên mặt thành, nơi đặt nhiều đại bác lớn nhỏ (3).

    Miếng trầu làm đầu câu chuyện

    Lê Văn Duyệt, bậc khai quốc công thần của Triều Nguyễn, là Tổng trấn Gia Định từ năm 1812. Song, trong ngày đầu tiên thăm viếng, đoàn khách Mỹ đã không gặp được Lê Văn Duyệt. Vào thời điểm ấy, từ năm 1815, Lê Văn Duyệt đã được vua Gia Long triệu hồi về Huế, đảm đương nhiều việc quốc gia đại sự.

    Thay cho Lê Văn Duyệt, quan Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức là người tiếp đoàn. Ông ân cần hỏi thăm sức khỏe các khách Mỹ, hỏi chuyện chi tiết hành trình từ Mỹ đến Việt Nam. Đoàn khách được mời uống trà, ăn mứt và kể cả dùng trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện.

    Có lẽ trong mắt người Mỹ, ngay từ giây phút “chạm ngõ”, Sài Gòn đã mang đến một cảm giác vui tươi, dễ mến.

    Trong các cuộc gặp gỡ sau này, khách Mỹ đều thấy trầu được người Việt Nam dùng nhiều như thuốc lá ở phương Tây. Không rõ John White và các vị khách có thử dùng trầu hay không nhưng câu chuyện trao đổi với chủ nhà đã diễn ra suôn sẻ. Thuyền trưởng John cho biết, nước Mỹ tân lập - tuy ở rất xa vẫn mong muốn buôn bán với Việt Nam. Họ đã nghe tiếng Việt Nam nổi tiếng về gạo và nhiều loại nông sản khác.

    Lần này, hai tàu Mỹ muốn mua nhiều nhất là đường thô và tơ lụa với số lượng lớn. Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức cho biết sẽ trình báo ngay cho triều đình Huế các đề nghị này. Trong lúc chờ đợi, ông cho phép đoàn khách Mỹ ở lại Sài Gòn để tìm hiểu hàng hóa và sinh hoạt địa phương.

    Các ghi chép của John về những ngày tiếp theo cho thấy các khách Mỹ được đi lại thoải mái trong thành phố. Họ đã đi thăm nhiều đền chùa và nhà thờ (4) và được tự do tiếp xúc với dân và cả những người nước ngoài hiếm hoi sống tại Sài Gòn. Bao gồm hai cố đạo người Ý và một nhà buôn đến từ Macao. Khách Mỹ còn được Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức và các quan chức khác mời đến nhà chơi.

    Tại đây, lần đầu tiên người Mỹ dùng thử và mê ngay thứ rượu làm từ gạo mà John gọi là whiskey Việt Nam - rượu đế. Để đáp lễ, đoàn khách Mỹ mời các quan chức Việt Nam lên tàu Mỹ cũng như mời đến nhà trọ của mình để thưởng thức ẩm thực Mỹ và phương Tây. Điều lý thú, một vị quan địa phương đã cho John xem một chai mù-tạt made in England đã dùng xong và cho biết vua Gia Long rất thích mù-tạt châu Âu.

    Quân phục sĩ quan hải quân Mỹ đầu thế kỷ XIX. Ảnh: TL

    Đáng chú ý hơn cả, đoàn được đi thăm một cơ sở quân sự quan trọng - Xưởng Chu Sư, sau này là công xưởng Ba Son, nơi sửa chửa và đóng tàu chiến của triều đình. Những cuộc thăm viếng và đi lại kể trên cho thấy chính quyền Gia Định hiếu khách và cởi mở. Mặt khác, nó còn là bằng chứng về việc e dè và nghi ngại người nước ngoài trong thời Gia Long chưa diễn ra. Cũng có thể nước Mỹ là “xứ lạ”, lần đầu tiếp xúc với Việt Nam nên được chính quyền cả trung ương và địa phương có phần "biệt đãi" chăng? 

    Sài Gòn phồn thịnh, quy hoạch đâu ra đó

    Trong thời gian lưu lại Sài Gòn, đoàn khách Mỹ vẫn có may mắn được gặp Lê Văn Duyệt khi ông từ Huế trở lại Gia Định trong ít ngày. John đã hỏi dò vị “Phó Vương” và các cha xứ Ý về dân số Việt Nam và Sài Gòn. Qua đó, John được biết cả nước ước chừng có từ 10 - 14 triệu dân. Riêng Sài Gòn có hơn 180 ngàn dân, trong đó có mười ngàn người Hoa.

    Đây là một con số lớn đáng kể so với dân số thành thị nhiều nước Á Đông và ngay cả ở Mỹ thời ấy. Theo John ghi chép, dân cư Sài Gòn sống tập trung ven sông và các kênh rạch. Nhà dân có đủ nhà lá, nhà sàn các kiểu. Người giàu ở trong các nhà sàn lớn hoặc nhà ngói khang trang.

    Đường sá trong thành phố đan xen thẳng thớm, nhiều đường khá rộng. Dọc theo bờ kênh hướng về miền Tây có một loạt nhà kho to lớn, nơi thuyền chở gạo lên xuống nhộn nhịp. Phía Bắc và Tây Bắc Sài Gòn (Tân Bình, Tân Phú, quận 10 và 11 hiện giờ) là đất trống mênh mông. Có một khu lớn là đất cho nghĩa trang - John ghi hẳn trên bản đồ: cemetery. Dọc con đường ra phía Tây, hàng loạt cây Palmaria - loại cây cọ, cây dừa nước được trồng thẳng tắp, ngay ngắn làm John liên tưởng đến những đại lộ viền đầy cây xanh của Paris. Ông nhận xét cây Palmaria dường như là cây ưa thích nhất của người dân Việt vì dọc theo các bờ kênh đều trồng loại cây này.

    Là một sĩ quan hải quân, John đặc biệt quan tâm đến xưởng Chu Sư và cho biết mình đến thăm nơi đây nhiều lần. Ông miêu tả bến tàu hải quân và thủy xưởng đặt bên một con rạch lớn ở phía Đông Bắc thành phố - rạch Thị Nghè. John chứng kiến thủy xưởng đang đóng hai chiến hạm theo kiểu châu Âu với sự giám sát của các chuyên gia Pháp.

    John cho rằng quy mô và phương tiện thủy xưởng này không khác các xưởng đóng tàu ở châu Âu. Điều làm John ngạc nhiên và thích thú cho rằng gỗ teak - gỗ đóng tàu của Việt Nam cực tốt, hàng đầu thế giới. Không biết có quá lời chăng nhưng John khen người Việt Nam là most skilful naval architects - những kiến trúc sư hải quân khéo giỏi nhất.

    John ghi nhận lợi thế của Sài Gòn là thông thương với biển dễ dàng, đường sông uốn khúc nhưng sâu rộng. Mặt khác, Sài Gòn còn có nhiều đường kênh rạch đi ra các đồng bằng chung quanh và dẫn đến Campuchia. John ghi nhận hơn 26.000 người đã được huy động để đào một con kênh to lớn thông Sài Gòn với phía Tây, có lẽ là kênh Bến Nghé, còn gọi là kênh Tàu Hũ.

    Đáng chú ý hơn nữa, John nhận xét tòa thành Gia Định - thành Quy mà ông gọi là Military City - thành phố nhà binh, thực sự là một công trình phòng thủ vững chắc. Nó có nhiều pháo đài, nhiều đại pháo và có thể chống đỡ lâu dài với các đội quân châu Âu! Thật trớ trêu, chỉ 16 năm từ khi John rời Sài Gòn, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (cố thủ 3 năm 1833 - 1836 trong thành), vua Minh Mạng đã cho phá bỏ thành Quy để xây thành Phụng với quy mô nhỏ hơn. Có thể đó chính là một trong những nguyên nhân quan trọng về kỹ thuật quân sự làm cho thành Gia Định thất thủ nhanh chóng trước cuộc tấn công của người Pháp, vào năm 1859.

    Giao thương khó khăn

    John White còn ghi chép nhiều điều cụ thể và thú vị về Sài Gòn cũng như người Sài Gòn. Tuy nhiên, John và đoàn khách Mỹ đến Việt Nam không phải để du lịch hay khảo sát dân tộc học. Mục tiêu duy nhất của đoàn là khảo sát kinh tế và tìm cách khởi động mua bán. Sau một thời gian ở Sài Gòn, đoàn khách Mỹ còn được ra Đà Nẵng và Huế để gặp gỡ chính quyền trung ương và sau đấy trở lại Sài Gòn để lấy hàng.

    Song, cuộc giao thương qua ghi chép của John White, đáng tiếc vẫn gặp nhiều trắc trở.

    Trước nhất là vì đoàn đến không mang theo “quốc thư” của Chính phủ Mỹ, cũng không có người trung gian giới thiệu nên không có cuộc đàm phán chính thức nào về quan hệ buôn bán giữa hai nước. Kế đến, mọi việc mua bán dù ở góc độ thương nhân cũng phải qua duyệt xét của vua và triều đình Huế nên càng  mất thời gian chờ đợi.

    Thêm nữa, việc chuyển đổi đồng tiền khá phức tạp. Ở Việt Nam chỉ thông dụng đồng bạc Tây Ban Nha, do vậy khách Mỹ phải chuyển đổi từ đô la Mỹ sang tiền Tây ban Nha, rồi mới đến tiền Quan của nước chủ nhà. Hai bên không nhất trí ngay được tỷ giá, phải thương thảo nhiều lần. Trong lúc ấy, việc phiên dịch phải thông qua tiếng Bồ Đào Nha và cũng không có người dịch chuyên nghiệp.

    Mặc dù vậy, trở ngại giao thương lớn nhất chính là thủ tục mua bán và tập quán làm việc của hai bên không giống nhau. Đầu tiên là việc quan nhà Nguyễn tính “thuế neo thuyền” theo kích thước hàng hóa mà tiêu chuẩn thước đo không nhất quán. Giữa khách và chủ phải thảo luận nhiều lần (có lẽ “tục du di” trong khai báo hải quan thời hiện đại đã có nguồn gốc từ đây chăng!).

    John còn thấy rất phiền hà khi các quan thương chánh lên tàu cứ hay đòi xem “lễ vật” và ngỏ ý muốn có… quà. Ngoài ra, việc mua bán lại thực hiện theo kiểu “giao kèo miệng”, giá cả lên xuống tùy hứng. Đằng sau các trở ngại ấy, còn có một thực tế cay đắng là Việt Nam vào thời đó chưa có nhà buôn chuyên nghiệp, chưa có thương mại tự do. Các khách Mỹ chỉ gặp được các lái buôn trung gian là một vài người Hoa, hầu như họ độc quyền mua bán nhưng chính họ cũng không có sẳn nguồn hàng lớn. Trong khi đó, nhà Nguyễn không có cơ quan chuyên trách buôn bán và xuất khẩu.

    Triều đình khi gặp khách Mỹ cũng như khách phương Tây chỉ đặt mua vũ khí và vật dụng cho nhà vua!

    Tranh vẽ Sài Gòn trên bến dưới thuyền trong sách của John White.

    Đọc những chi tiết này trong sách John White, tôi càng thương cảm, nhớ lại cảnh giao thương hạn hẹp, nhiều oái ăm của Việt Nam trong thời kỳ bị “bao cấp” và bị “cấm vận” (1975 - 1995). Giá mà sau ngày chiến thắng Tây Sơn và thống nhất non sông, cả Gia Long và Minh Mạng cùng triều thần, đừng “bế quan tỏa cảng”, đừng “ức thương” thì khách giao thương như người Mỹ không phải thất vọng. Nhất là sau đấy, dân tộc không phải đau buồn vì nước nhà yếu kém không chống lại được quân xâm lược. Giá mà Việt Nam sớm giao thương với Mỹ và thế giới phương Tây công nghiệp thì lịch sử chắc chắn sẽ đổi khác như nước Nhật thời Minh Trị.

    Ngày 1.2.1820, hai con tàu Mỹ rời Sài Gòn về Mỹ mang theo một số đường thô và lụa mua được, sau mấy tháng kiên nhẫn tìm kiếm. Đoàn còn mang theo quà tặng của Sài Gòn là những bộ trang phục địa phương, giống lúa cao sản nổi tiếng của Nam kỳ và cả một chú cọp con. Rất tiếc, hạt giống lúa và chú cọp trên đường về Mỹ xa xăm đã không giữ được. Càng tiếc hơn nữa, mối giao tình mới mở đầu giữa hai nước đã không nảy nở tiếp. Từ tháng 3.1820, vua Gia Long qua đời, vua Minh Mạng lên ngôi, cánh cửa Gia Định và Việt Nam đã bị khép chặt lại. Người Mỹ và nhiều nước phương Tây muốn giao thương với Việt Nam đều bị cự tuyệt hay chỉ chấp nhận nhỏ giọt.

    Và rồi, người Mỹ chỉ trở lại Sài Gòn, lập lãnh sự quán, bán được nhiều máy móc, xe hơi và xăng dầu cho Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Nhưng lúc ấy, Sài Gòn và cả Đông Dương đã trở thành thuộc địa của người Pháp.

    Dẫu sao, sự kiện hai con tàu Mỹ và thuyền trưởng John White đến Sài Gòn 200 năm trước là một kỷ niệm đẹp đáng nhớ, để lại nhiều bài học đáng suy ngẫm. Mong rằng một ngày không xa, ở bến Thủ Thiêm hoặc Cột cờ Thủ Ngữ sẽ có một chiếc bảng đồng lưu dấu sự kiện này!

    Phúc Tiến

    Saturday, September 6, 2025

     TRẦN NGỌC THU TRANG sanh ngày 23.9.1984 tại SG.

    Trần = 4215 = 12 = 3

    Ngọc = 5373 = 18 = 9

    Thu = 456 = 15 = 6

    Trang = 42153 = 15 = 6

    Cộng lại: 3 9 6 6 = 24.