Wednesday, October 18, 2023

Tên nước của Israel và Palestine qua lăng kính của Lý thuyết Số.

Thế các chữ bằng trị số tương ứng, ta có:

I  S RA E L = 

1 3  2 1 5 3 = 15 = rất may mắn.

Sau đây là ý nghĩa của số 15.

PHÁP SƯ (THE MAGICIAN)

15 là số có ý nghĩa huyền bí (esoteric) sâu xa, của sự rung động của thuật giả kim (alchemy) qua đó tất cả ma thuật được bày tỏ (all magic is manifested). Số này cực kỳ may mắn và mang theo nó đặc tính làm say mê kẻ khác (essence of enchantment). 15 đi đôi với tài hùng biện, sự khéo ăn khéo nói, và những tài năng về âm nhạc, nghệ thuật, và kịch nghệ. Số này ban cho (bestows upon) người mang số này một tính khí bất ngờ/đầy kịch tính (dramatic temperament) và sự hấp dẫn/thu hút (charisma) cá nhân mạnh mẽ và kỳ lạ. Số 15 đặc biệt may mắn vì nhận được tiền, quà tặng, những giúp đỡ từ những kẻ khác, vì số này có sự thu hút mạnh mẽ đối với tính vị tha của người khác. Tuy nhiên, không hoa hồng nào lại không có gai, và người xưa cảnh báo rằng số 15 sẽ điều khiển những mức thấp của khoa huyền bí học (lower level of occultism) khi nó liên kết với số 4 hoặc 8. Những người như thế sẽ có thể dùng ma thuật (black magic), thôi miên, và sự dẫn dụ về tinh thần – để thực hiện mục tiêu của họ. Do đó, nếu 15 là ngày sanh, và tên cộng là 4, 13, 22, hoặc 31, thì bạn nên đổi tên sao cho nó bằng một số có thể thu nhỏ bằng 1, như số 10 hoặc 19. Nếu ngày sanh là 15, và tên bằng 8, 17, hoặc 26, thì bạn nên đổi tên sao cho nó bằng 6 hay 24. Nếu tên bằng 15, và bạn lại sanh ngày 4, 13, 22, và 31, bạn nên đổi tên thành 6 hay 24. Nếu tên bằng 15, và bạn sanh ngày 8, 17, hoặc 26, bạn nên đổi tên bằng 6 hay 24.

Ngoài sự cảnh báo trên, số 15 rất may mắn. Nếu bạn sanh ngày 15, và tên cũng bằng 15, bạn được ban cho khả năng mang hạnh phúc đến kẻ khác và đưa ánh sáng vào nơi tối tăm, với điều kiện là bạn không dùng tác động kỳ diệu và may mắn này cho các mục đích vị kỷ./.

Dịch từ quyển Linda Goodman’s Sun Signs nơi trang 252-253.

 ======

P A L E S T I N E  

8 1 3  5 3 4 1 5  5 = 35. Số này có ý nghĩa của số 26.

Ý nghĩa của số 26 
Sự hùn hạp làm ăn (Parnership)
Số kép nầy sẽ rung động, bằng một cách lạ kỳ, đưa tới một quyền lực độc đáo của thân ái/tử tế (kind power), (quyền này) đặt căn bản trên lòng nhân đạo (compassion) và sự không ích kỷ, với khả năng giúp đỡ những nguời khác, nhưng không luôn luôn giúp đuợc bản thân mình. Số 26 thì đầy mâu thuẫn. Nó cảnh báo về những nguy hiểm, thất vọng (disappointment), và thất bại, đặc biệt liên quan đến những tham vọng, gây ra (brought about) thông qua sự cố vấn sai lầm, liên kết với những kẻ khác, và những sự hùn hạp làm ăn không khéo chọn/không thích hợp (unhappy) dù lớn hay nhỏ. Nếu 26 là số kép của tên, điều tốt nhứt là đổi tên để có một ảnh huởng may mắn hơn. Nếu 26 là ngày sanh, và vì vậy không thể thay đổi, nguời này nên tránh hùn hạp làm ăn, và nên đeo đuổi nghề nghiệp một mình, không nghe theo sự cố vấn dù cho đầy thiện ý (well-intended) từ những kẻ khác, nhưng chỉ theo những linh cảm (hunche) và trực giác cá nhân – mặc dù những điều này nên đuợc tìm hiểu cẩn thận truớc khi hành động. Nguời số 26 nên ngay lập tức bắt đầu ổn định lợi tức, tiết kiệm tiền, không nên có thói quen tiêu xài hoang phí (behave in a extravagant manner) hoặc đầu tư dựa vào ý kẻ khác. Hãy đầu tư vào chính tuơng lai của bạn, hãy rộng luợng với kẻ khác, đặc biệt là nguời đang hoạn nạn (in need), nhưng cũng xây dựng một nền tảng vững chắc cho tuơng lai của chính bạn. Nếu tên cộng lại bằng 26, và nếu bạn lại sanh vào ngày 26, bạn hãy đọc cẩn thận đoạn nói về các số 4 và 8 ở cuối chuơng này. (2 cộng 6 bằng 8, do vậy 26 = 8). Đây là lời khuyên quan trọng nhứt đối với bạn – hay cho bất cứ ai mà tên bằng 4 hay 8, hay ai sanh vào ngày 8 tây – hay bất cứ ngày nào, sau khi thu nhỏ bằng 4 hay 8, như ngày 13, 17, 22, 26, và 3.
(Dịch từ trang 203 trong quyển Linda Goodman's Star Signs).
San Jose ngày 29 tháng 3 năm 2010 


====================================

Đọc thêm: 

1/ GAZA = 3171 = 12 = nạn nhân.

2/ WEST BANK 

WEST = 6534 = 18 = 9

BANK = 2152 = 10 = 1 

Cộng lại: 9 1 = 10 = bánh xe định mạng. 


Tuesday, October 17, 2023

 BÀ 

TRẦN = 4215 = 12 = 3

 THỊ = 451 = 10 = 1

THẮM = 4514 = 14 = 5

Sunday, October 15, 2023

 PHẦN ĐỌC THÊM VỀ KỸ THUẬT ĐẶC CÔNG.

Các đặc công của TĐ 509 rất thành thạo trong công việc. Với AK-47 đeo sau lưng, lựu đạn ở thắt lưng và các túi chất nổ buộc ở ngực, họ ko mặc gì hết ngoài quần cụt và mặt bôi đen bằng nhọ nồi. Họ đã bò trong im lặng, chậm chạp và đều đều xuyên qua rừng, dùng đầu móng tay để thăm dò. Khi họ phát hiện lựu đạn chiếu sáng, họ dùng một đoạn (length) lạt tre, ngậm sẵn trong miệng, để cột chặt chốt (striker) của lựu đạn. Nếu họ cảm thấy dây dẫn đến mìn Claymore, họ dùng kéo cắt dây này. Họ cẩn thận chỉ cắt 2/3 của sợi dây xuyên qua các cuộn của kẽm gai thả rối, rồi dùng ngón tay để bẻ phần còn lại của sợi dây một cách yên lặng và ko làm rung cuộn dây kẻm gai thả rối. 

Tiếp cận CC từ hướng tây bắc, đặc công đã cắt bốn lổ lớn trên hàng rào kẽm gai thả rối, hai lổ ở mỗi bên của con đường nơi nó rời chu vi phòng thủ chạy tới bãi rác. Họ đã lập lại điều này ở 50 mét xa hơi, trên hàng rào kẽm gai thả rối thứ hai, dù rằng hàng rào này ở trong tình trạng hư hỏng (disrepair) đến độ nhiều đặc công đã đơn giản đi qua các cuộn dây rỉ sét và đứt gãy. Thêm 30 mét nữa là hàng rào kẽm gai thứ ba và cuối cùng. Thay vì cắt bằng kéo dễ gây tiếng động, họ đơn giản vạch một lối đi xuyên qua cuộn này, bằng cách dùng lạt tre buộc lại. 

Các đặc công đã tập luyện thuần thục. Chia từng nhóm 3 hay 6 người trong khu vực giữa vòng kẽm gai trong cùng và các hầm trú ẩn hướng về đông nam, họ đã chờ tới 0230 g. Khi đó cối đã bắn chính xác vào trung tâm hành quân của TD và BCH ở cạnh đông nam của CC, và vào các vị trí của cối và pháo binh Mỹ ở khu vực tây bắc. 

Một số quân nhân đang chơi bài trong phòng truyền tin đã bị gián đoạn khi những quả pháo đầu tiên rơi xuống. Tiếng nổ đã xô ngã Wise ra sau, khiến y bị bể kiếng đeo mắtgãy tay trái và bị nhiều miểng văng vào mặt xuống tới chân. Dùng tay phải, y ráng lết về lều của y, đánh thức bạn cùng lều, binh nhì (pfc) Detlef, và cố gắng ngồi núp sau dàn máy thu băng của y và dùng súng M-16 để đóng cửa. Khi Detlef, vẫn còn ngái ngủ, đã phóng qua cửa, một tiếng nổ khác đã khiến cửa sút ra và rơi xuống Wise. 

Như VC đã dự đoán, phần lớn lính phòng thủ đều bất động vì hỗn loạn. Một lính truyền tin ko buồn vặn máy truyền tin để báo cáo tình hình, mà chỉ lăn người (roll off) từ ghế bố xuống nền đất và núp dưới nệm cho tới khi hết tiếng súng. 

Bên trong trung tâm hành quân, hạ sĩ (Spc 4) Stephen Gutosky đã chụp ngay micro của máy truyền tin và báo cáo: 'Xin báo cáo, chúng tôi đang bị pháo! Xin chờ máy và tôi sẽ cho biết hướng bắn!'

Khi biết rằng mình vẫn còn ở trong trung tâm hành quân, y đã hét to vào micro: 'Tôi ko thể ra ngoài để thấy đạn bắn từ hướng nào! Hãy phản pháo càng nhanh cang tốt!

Vào lúc này phía nam của trung tâm hành quân TĐ đã bốc cháy từ bên trong sau khi một túi chất đã làm cháy một thùng lựu đạn lân tinh trắng. Tuy vậy trung tá Doyle vẫn ko rời bỏ vị trí. Sau khi ra lịnh cho Gutosky dùng máy gọi trực thăng võ trang và máy bay thả hỏa châu, vị trung tá bị thương này nói, 'Tôi sẽ ra ngoài để biết tình hình thế nào!'

Doyle đã ko biết rằng ông bị thương rất nặng. Ông gần như bị điếc và mù do lựu đạn cay mắt, bị phỏng do lân tinh và chấn động vì tiếng nổ. Những miểng đạn ở tay và chân đã khiến ông nằm viện vài tháng. Tuy nhiên ông đã cố gắng bò đến bậc cao nhứt của lối ra của trung tâm hành quân, nâng M-16 lên và bắt đầu nhắm vào hai tên đặc công bên ngoài trung tâm hành quân -- nhưng tên thứ 3, mà ông ko thấy đã ném một lựu đạn. Lựu đạn rơi xuống chân và nổ trong lúc ông quay mặt vào trong, thổi ông xuống phần phía dưới của lối ra của trung tâm hành quân. 

Bây giờ trung tâm hành quân đang cháy. Trung úy Edward McKay, 

Saturday, October 7, 2023

Căn cứ hỏa lực Mary Ann bị đánh đặc công.

Chuyển ngữ từ bài: Battle of FSB Mary Ann trên Wikipedia.                            


========

"Trận đánh tại căn cứ hỏa lực (CCHL) Mary Ann đã xảy ra khi đặc công VC đã tấn công một CCHL Mỹ tại tỉnh Quảng Tín vào sáng sớm ngày 28/3/1971

CCHL này đã được lập để ngăn chặn sự di chuyển người và võ khí của quân csbv và VC dọc theo Hành Lang K-7 và Đường Mòn Dak Rose (hai nhánh của đường mòn HCM chạy từ Lào tới bờ biển Nam VN). Lúc đầu nó chỉ là một căn cứ tạm bợ, dùng trong một thời gian ngắn rồi dẹp bỏ, nhưng cuối cùng đã trở thành một căn cứ cố định, bảo vệ bởi ít nhứt là một đại đội lục quân Mỹ. Căn cứ được đồn trú bởi 231 lính Mỹ lúc xảy ra trận tấn công.

CCHL này lúc đó được dự trù giao lại cho QLVNCH khi TĐ 1/46 Mỹ dời đến Đà Nẳng. 21 quân nhân của pháo đội B, thuộc pháo binh 22 dã chiến VNCH, với hai đại bác 105 ly, cũng đóng tại đây để yểm trợ các hành quân của VNCH ở phía nam của căn cứ.

BỐI CẢNH VÀ VIỆC XÂY DỰNG CĂN CỨ 

"Căn cứ hỏa lực này được lập vào ngày 19/2/1970 bởi một số thành phần của TĐ 1/46 thuộc lữ đoàn 196 bộ binh nhẹ (Light Infantry Brigade). Lúc đó, do ko có ý định dùng trong lâu dài, nên CCHL này đã bị TĐ này đóng cửa khoảng 2 tháng sau đó. Nay do nhu cầu hành quân (HQ), TĐ 1/46 đã mở lại CCHL ngày 27/6. Ghi chú của người dịch: Trong bài này, các từ như căn cứ, viết tắt là CC hay Mary Ann đều ám chỉ CCHL Mary Ann

Chạy theo hướng tây bắc đông nam, căn cứ (CC) này dài khoảng 500 m, nằm trên một đường đỉnh cao 200 mét, nối liền hai triền đồi (hillside). Ở nơi hẹp nhứt, CC chỉ rộng 75 m, ở hai đầu mút rộng 125 m. Một giao thông hào, sâu tới đầu gối ở một số chỗ và sâu tới thắt lưng ở các chỗ khác, cũng là chu vi phòng thủ của CC; trên đó có 22 bunker hay hầm trú ẩn. Cũng như bất cứ CCHL, phần lớn các hầm trú ẩn được làm từ các container, còn gọi là conex. Ngoài các hầm làm từ conex, CC còn có hơn 30 cấu trúc khác như lều tranh (thatched hut hay hooch), hầm trú ẩn làm từ bao cát hay những mái vòm bằng thép, xem hình). Đầu phía đông nam của CC có BCH của TĐ và BCH của đại đội, cả hai nằm kế một sân bay trực thăng nhỏ. Các phòng ăn tập thể của CC, một trung tâm truyền tin, trạm y tế của TĐ, hầm chứa đạn dược, kho tiếp liệu, và hai vị trí pháo binh cũng nằm ở đầu đông nam của CC. Đầu phía tây bắc của CC có một pháo đội thứ hai với hai khẩu 155 ly, một trung tâm điều khiển pháo binh và BCH của pháo đội. Yên ngựa giữa hai đầu của CC được dùng làm bãi đáp để trực thăng tiếp tế. Những con đường đất chia cắt hai đầu của CC, cũng chạy bên ngoài dây kẽm gai ở hai điểm: điểm ở tây nam chạy ngang sân bắn tới một dòng suối nơi dùng làm điểm nước và điểm ở tây bắc dẫn tới bãi rác. 

Bunker làm từ vòm thép

Bunker làm từ conex

Chẳng bao lâu sau khi mở cửa lại, CCHL Mary Ann đã bị thăm dò nhiều lần (có 4 lần được ghi nhận giữa tháng 7 và 8/1970) và một tác giả đã nhận định rằng CC này dễ bị quan sát từ các cao điểm quanh CC. Cuộc chạm súng lớn nhứt xảy ra trong khu vực này là trận đánh ngày 13/8, khi đại đội A của TĐ 1/46 đã đụng độ và tràn ngập "có thể là BCH của địch trong khu vực." Sau trận này, ko có hoạt động đáng kể của địch trong khu vực. Sự yên tỉnh này, kết hợp với chu kỳ thay quân ở mọi cấp trong các đv Mỹ (từ người lính trơn đến TĐ trưởng), đã khiến viên TĐ trưởng sắp mãn nhiệm kỳ đã gọi đó là tư duy "hết sức tự mãn". 

TÌNH HÌNH TRƯỚC CUỘC TẤN CÔNG.

Lúc xảy ra trận đánh, CCHL Mary Ann được trấn giữ bởi đại đội C của TĐ 1/46, quân số 75 người chỉ huy bởi đại úy Richard Knight. Ngoài ra còn có 18 người thuộc trung đội trinh sát của đại đội E có mặt ở CC để hành quân vào ngày kế; chưa kể 34 người lính như y tá, nhân viên truyền tin, v.v.. thuộc BCH và đại đội chỉ huy của TĐ 1/46. Thông thường, một TĐ có 3 hay 4 đại đội tác chiến, một đại đội chỉ huy và BCH TĐ -- người dịch. Trừ một đv pháo binh VNCH cũng ở trong CC, trong CC còn có lính thuộc các đại đội A, B, và D của TĐ 1/46, chờ ra đại đội hay về hậu cứ của TĐ (22 người); và một số lính pháo binh, bao gồm xạ thủ của một khẩu đội đại liên 12.7 ly 4 nòng thuộc pháo đội G, thuộc trung đoàn 55 pháo binh phòng không. Theo một nguồn tin, những máy radar mặt đất và kính nhìn đêm (StarLight) đã "được gửi về hậu cứ của TĐ để bảo trì". Tuy nhiên trong CC vẫn còn những đầu dò hay máy cảm biến (sensor) để phát hiện chuyển động "trong tầm từ 1.500 m đến 4.800 m từ chu vi phòng thủ". Sau khi CC được mở lại, trong giai đoạn đầu, các máy cảm biến đã ghi nhận chuyển động, nhưng sau đó đã ko ghi nhận bất cứ chuyển động.  

Đại đội C là đại đội duy nhứt khá đủ quân số tại CC này sẽ hành quân ở đông và nam của căn cứ gần một địa điểm có tên Bãi Đáp Mildred. Các đại đội A và B của TĐ 1/46 đã có mặt tại khu vực hành quân này, và một số đại bác hay súng cối trước đây ở CC đã được di chuyển đến Bãi Đáp Mildred để hỗ trợ các cuộc hành quân ở đó (bao gồm những súng cối 81 ly đi với hai đại đội này và khẩu cối 4.2-in hay 106.68 ly thuộc đại đội E). Trước cuộc tấn công, TĐ trưởng của 1/46, trung tá Doyle, đã chú ý nhiều hơn vào các cuộc hành quân gần Bãi Đáp Mildred. Nói rõ hơn, BCH của TĐ sẽ dự trù chuyển về đây ngày 28/3. Các dự tính này đã khiến ngừng lại mọi xây dựng mới ở CCHL Mary Ann, bao gồm việc dựng rào để khóa lại mọi con đường đi ra khỏi CC. 

Có nhiều chỉ dấu cho thấy việc cảnh giác ở Mary Ann ko được tốt như yêu cầu. Một thành viên của đại đội chỉ huy của 1/46 sau này kể lại "Tôi ko nghĩ đại úy Knight đã ý thức rằng an ninh lỏng lẻo (lax) như thế nào ... vì ông đã ko sốt sắng. Ông đã giao việc kiểm tra phòng tuyến cho các trung úy và trung sĩ của ông. Trong nhiều trường hợp, những người này cũng ko làm việc đó, và sai lầm này còn gia tăng khi đại đội C thiếu quân số nên ko đủ người có mặt tại các bunker trên phòng tuyến. Đây chưa phải là lỗi lầm duy nhứt. Các mìn chiếu sáng (tripflare) gắn trên hàng rào kẻm gai thả rối (concertina wire) bao quanh CC đã luôn luôn ko  được điều chỉnh lại hay thay thế, việc này thường xảy ra sau khi nó bị kích hoạt -- tạo ra bởi gió mạnh của cánh quạt trực thăng của CH-47 khi những chiếc này mang đồ tiếp tế hay đưa đi các cơ giới vì TĐ 1/46 sắp giao CC này cho QLVNCH. Thái độ chểnh mản này, cộng với khéo léo của các đặc công cs, đã dẫn đến hậu quả làm chết nhiều người của đại đội C. Dù ko "núp mình trong các bunker của họ", những lính phòng thủ đã ko chuẩn bị cho một tấn công của bộ binh. Sự thiếu chuẩn bị này đã ko được ghi nhận bởi đại tá William Hathaway, tư lịnh của lữ đoàn 196, khi ông thăm CC vào ngày 27/3, một ngày trước thảm họa này. Sau này ông đã nói rằng điều mà ông đã thấy ở Mary Ann ngày đó "là một cải tiến nhiều hơn so với lúc trước...lính tráng đều cảnh giác."

TRẬN ĐÁNH 

Trong những giờ trước bình minh của ngày 28/3 những người lính của TĐ 409 đặc công VC đã áp sát hàng rào kẽm gai của CC và vào vị trí để chuẩn bị tấn công. Người ta ko rõ con số chính xác của số đặc công tham dự, nhưng phần lớn các nguồn tin đồng ý rằng ít nhứt là 50 người. Theo thông lệ của những đv này, họ đã mặc quần cụt bằng vải kaki và bôi nhọ nồi (soot) lên mặt và mang theo AK-47 hay B-40 và túi chất nổ và lựu đạn để tấn công các bunker của lính Mỹ. Do tính chất của nhiệm vụ, họ ít khi mang vũ khí hay trang bị nặng. Ban tình báo của lữ đoàn 196 bộ binh đã biết về TĐ 409 này, nhưng trước giờ họ chỉ hoạt động chống lại các căn cứ VNCH tại bắc tỉnh Quảng Tín. Ban tình báo đã cho rằng hai TĐ 402 và 409 đặc công đang ở phía đông của CCHL Mary Ann, để chuẩn bị tấn công các mục tiêu VNCH trong vùng. Không ai đoán trước một tấn công vào CC này. Nói thêm: Theo một tác giả, các đặc công của TĐ 509 rất thành thạo trong công việc. Với AK-47 đeo sau lưng, lựu đạn ở thắt lưng và các túi chất nổ buộc ở ngực, họ ko mặc gì hết ngoài quần cụt và mặt bôi đen bằng nhọ nồi. Họ đã bò trong im lặng, chậm chạp và đều đều xuyên qua rừng, dùng đầu móng tay để thăm dò. Khi họ phát hiện lựu đạn chiếu sáng, họ dùng một đoạn (length) lạt tre, ngậm sẵn trong miệng, để cột chặt chốt (striker) của lựu đạn. Nếu họ cảm thấy dây dẫn đến mìn Claymore, họ dùng kéo cắt dây này. Họ cẩn thận chỉ cắt 2/3 của sợi dây xuyên qua các cuộn của kẽm gai thả rối, rồi dùng ngón tay để bẻ phần còn lại của sợi dây một cách yên lặng và ko làm rung cuộn dây kẻm gai thả rối -- người dịch.

Bọn đặc công đã tiến quân vào cạnh phía nam của CC vì thế đất ở đó ko dốc lắm. Cạnh phía đông bắc rất dốc và đổ xuống một con sông, ko thuận lợi cho một tấn công bằng đặc công. Họ đã di chuyển theo toán nhỏ từ 3 đến 6 người, mở được 4 lối đi xuyên hai lớp kẽm gai thả rối ngoài cùng của CC. Nói thêm: kẽm gai thả rối còn được gọi là kẽm gai concertina vì được sản xuất thành cuộn lớn và có thể kéo giãn ra như đờn concertina (phong cầm) -- người dịch. Họ đã tốn nhiều thì giờ hơn để đi qua lớp thứ ba, cách tuyến phòng thủ khoảng 20 m, rồi sau đó tản ra dọc theo cạnh tây nam của phòng tuyến. Theo nguyên tắc chiến đấu của đặc công, họ chỉ bắt đầu tấn công khi súng cối mở màn trận đánh. Viên cối đầu tiên rơi xuống lúc 0230 g.  

Kẽm gai thả rối

Kẽm gai kiểu cũ

Một khi xuyên qua hàng rào kẽm gai, đặc công chia nhau tới các mục tiêu quan trọng: pháo binh, hầm trú ẩn dùng làm trung tâm hành quân hay BTOC của TĐ, BCH của đại đội, và nhiều bunker nằm trên phòng tuyến hay chu vi phòng thủ. Trong trận đánh này, họ đã dùng lựu đạn cay mắt hay đạn cối  thông thường có trộn hóa chất cay mắt. 

Cuộc tấn công vào bunker (dùng làm trung tâm hành quân TĐ) đã rất dễ dàng do trung tá tiểu đoàn trưởng Doyle ko cắt cử người đứng gác trước các cửa (đây là một vi phạm vào chính sách của lữ đoàn). Đặc công đã dùng hơi cay và túi chất nổ để tấn công bunker này khoảng 0244 g vì lúc đó một hiệu thính viên ở đó đã báo với trung tâm điều khiển hỏa lực/FDC rằng CC bị pháo bằng cối và ghi vào sổ; và điều này đã làm gián đoạn hệ thống chỉ huy của CC. Cùng khoảng thời gian đó, người hiệu thính viên này đã yêu cầu đạn chiếu sáng từ các pháo đội gần đó, nhưng lại ko nói rõ rằng CC đang bị tấn công. Cửa phía nam của trung tâm hành quân đã bị cháy vào lúc đó, do một túi chất nổ đã làm cháy một thùng lựu đạn lân tinh để gần cửa này. (Điều này chứng tỏ trung tâm hành quân của TĐ có nhiều cửa để dễ dàng thoát hiểm -- người dịch). 

                              


Đặc công đã di chuyển khắp CC từ nam đến bắc, trong khi tấn công các bunker và vị trí súng với lựu đạn và túi chất nổ. Cuộc tấn công bằng bộ binh này kéo dài khoảng nửa giờ, theo một nguồn tin. Sau khi được xác nhận vào lúc 0250g, trung tá Doyle đã yêu cầu pháo binh bắn quanh CC, một máy bay thả hỏa châu, và các gunship. Ông cũng gọi trực thăng tải thương. Pháo binh ở các CCHL gần đó như Đồi Hawk, bãi đáp Mildred và Pleasantville đã nhanh chóng bắt đầu bắn đạn chiếu sáng và phản pháo, nhưng đã có "trì hoãn đáng kể" khi bắn yểm trợ dự phòng chung quanh CC. Vì một pháo đội đã ko thể bắn yểm trợ dự phòng chung quanh Mary Ann, do TĐ dự định di chuyển về bãi đáp Mildred, trong khi đó sĩ quan pháo binh ở CCHL Pleasantville trì hoản tác xạ do tình hình ở Mary Ann ko rõ ràng. Lối đánh của đặc công đã khiến pháo binh ở Mary Ann ko thể tác xạ dự phòng mà chỉ lo bảo vệ vị trí pháo của họ. 

 Nói thêm về phản pháo:

Radar AN/MPQ-4 là một radar chống pháo kích của lục quân Mỹ lúc đầu được dùng để tìm vị trí của súng cối và đại bác. Được xử dụng từ 1958, có thể xác định vị trí của súng cối trong chưa tới 20 giây sau khi quan sát một đường đạn, trong khi loại MPQ-10 cũ hơn phải chờ địch bắn thêm vài phát và phải cần 4-5 phút để phản xạ. MPQ-4 được dùng tới cuối thập niên 1970 cho tới khi được thay thế bởi AN/TPQ-36 -- người dịch.


Không như nhiều hầm trú làm từ conex, trung tâm hành quân của TĐ là một kết cấu bằng gỗ và chống dột bằng nhựa đường (tar), do vậy nó đã cháy rất nhanh. Sau khi gọi pháo yểm, khoảng 0251 g trung tá Doyle, đã quyết định rời bỏ chỗ này và dời về trạm y tế. Trước khi di chuyển các máy truyền tin, đại úy Paul Spilberg đã gọi pháo binh "tác xạ cách xa vị trí chúng tôi 50 mét, ba trăm sáu chục độ." Một khi các máy truyền tin được thiết lập ở trạm y tế, ông và Doyle đã biết rằng BCH của đại đội C, trước đây được dự phòng làm BCH TĐ, đã bị trúng đạn cối và phá hủy một phần.                           

Bunker của BCH đại đội C đã là một trong những mục tiêu đầu tiên của đặc công và đã bị bắn trúng bởi 2 hay 3 quả cối đầu tiên của địch. Làm phần lớn từ thùng đạn pháo binh bằng gỗ và bao cát, nó đã dễ dàng bắt lửa như trung tâm hành quân của TĐ. Sau khi bị bắn bồi bởi AK-47 và RPG, bunker đã nhanh chóng sụp đổ. Đại úy Knight đã chết trong vài phút đầu của trận đánh, cũng như phần lớn BCH của đại đội. 

Dọc theo chu vi phòng thủ, phần lớn lính tráng đã núp trong các bunker làm bằng conex khi cối bắt đầu rơi. Điều này đã giúp đặc công nhanh chóng đến gần mà ko bị bắn trả, và trong nhiều trường hợp chúng đã đi xuyên qua phòng tuyến trước khi lính Mỹ từ hầm của họ chạy ra phòng tuyến. Người đầu tiên báo cáo đã thấy đặc công khi ấy y đang ngủ trên nóc của bunker, nhưng chỉ nhận thấy khi chúng đã "ở 2/3 của con đường ra phòng tuyến." Nhiều thương vong của TĐ 1/46 đã xảy ra trong lúc này và tập trung vào những đv ở dọc sườn đồi thoai thải của CC. Trung đội 1 của đại đội C, chiếm giữ các bunker số 15-19 ở sườn đồi dốc của CC, đã gần như ko chạm súng gì hết trong giai đoạn đầu của cuộc tấn công. Ngược lại, trung đội 2 ở khu vực phía nam có 10 người chết và 11 bị thương trước khi Doyle và Spilberg chuyển tới bunker CH của đại đội C.

Trung đội 3 của đại đội C, giữ phòng tuyến từ bunker 9-13, cũng bị thiệt hại nặng. Trung đội trưởng, thiếu úy Barry McGee, đã chết khi cận chiến với đặc công, và những toán đặc công đi xuyên qua khu vực này để tấn công vị trí đại bác 155 ly nằm trên cao điểm ở phía tây bắc và đv tiếp vận nằm gần sân bay trực thăng chánh dùng để tiếp tế. Đặc công đã phá hủy nhiều cấu trúc gần sân bay trực thăng này, giết và làm bị thương một số lính thuộc BCH của TĐ.

Sau cơn sốc đầu tiên do bị tấn công, một số lính đã bắt đầu phản công. Chẳng bao lâu sau khi Doyle và Spilberg tới bunker, đã hư hỏng một phần của BCH đại đội C, khẩu 12.7 bốn nòng của CC đã bắt đầu bắn xuống đồi và thung lũng - và bắn thẳng vào sườn đối diện. Các xạ thủ của khẩu này đã tiếp tục bắn tới rạng đông, khi 4 nòng đã cháy đỏ (burn out). Spilberg cũng đã bắt đầu gom góp những kẻ sống sót gần BCH và trạm y tế, di chuyển người chết và bị thương và lập phòng tuyến tạm thời.

Dù pháo binh đã bắn để bảo vệ Mary Ann từ khi tin tức CC bị tấn công tới BCH của lữ đoàn, mãi tới 0325 g, máy bay mới xuất hiện bên trên CC. Một trực thăng loại Night Hawk của chi đoàn 1/1 Thiết kỵ, theo sau là một trực thăng thả hỏa châu và cấp cứu nếu chiếc Night Hawk lâm nạn, đã có mặt phía trên CC để tác xạ sườn đồi phía đông nam. Do sắp hết xăng, đại úy phi công Norman Hayes, buộc phải về Chu Lai và được biết chiếc gunship và trực thăng tải thương mà ông đã yêu cầu lúc đang yểm trợ cho CC, vẫn chưa rời Chu Lai. 

Do trục trặc về truyền tin nên lữ đoàn và sđ vẫn nghĩ rằng CCHL Mary Ann chỉ bị pháo kích mà thôi, nên nhu cầu không yểm ko quan trọng. Trong khi Hayes đang tiếp xăng, chỉ có một chiếc UH-1 thuộc đại đội A của TĐ 123 không vận ở phía trên căn cứ. Chiếc này đã yễm trợ bằng đại liên 60 và lựu đạn, và trước khi rời vùng để tiếp xăng, đã đáp xuống một sân bay nhỏ và bốc 6 hay 7 người bị thương nặng và đưa họ về Chu Lai.

Các đặc công đã bắt đầu rút lui khi lữ đoàn trưởng, đại tá Hathaway, đáp trực thăng xuống Mary Ann. Người bị thương được di tản liên tục từ lúc này, các trực thăng võ trang bắn xuống bên ngoài phòng tuyến. Hathaway chỉ là người đầu tiên trong số các sĩ quan cao cấp đến Mary Ann vì khoảng 0700, thiếu tướng James Baldwin, tư lịnh sđ, đã tới để đánh giá thiệt hại. Lúc 0900g, TĐ phó đã đến để thế Doyle, và lúc 1100g, đại đội D đã đến để thế đại đội C để canh giữ CCHL. Lúc 1600 g, quân csbv đã bắn đại liên 12.7 ly làm bị thương một lính Mỹ, nhắc nhở quân Mỹ rằng họ đang bị theo dỏi. 


Trận Mary Ann đã gây thiệt hại nặng nề cho quân phòng thủ với 33 chết và 83 bị thương. Thiệt hại tổng cộng của VC ko rõ ràng nhưng họ để lại 15 xác. Những vết máu và dấu vết kéo xác đã cho thấy VC đã có thể chịu nhiều thương vong, nhưng ko thể kiểm chứng mức độ. 
Nhưng những xác VC để lại trận địa đã gây nhiều tranh cãi. Dựa trên điều lệnh quân sự, Hathaway đã ra lịnh phải chôn các xác này trước khi có thể gây nguy hại cho sức khỏe cho đv của ông. Thiếu tá Donald Potter, TĐ phó của 1/46, đã chỉ dẫn cho binh sĩ chôn xác tại một khu vực gần bãi tiếp tế của trực thăng. Vì một lý do nào đó mà tới giờ ko biết nguyên nhân, năm xác này lại được chuyển bãi rác của CC. Khi vụ này tới tai ông thì đã 1200 g trưa và các xác đang bắt đầu phồng lên (bloat) dưới sức nóng mặt trời. Thay vì chuyển xác đi chôn, Potter đã ra lịnh cho đại đội trưởng đại đội D "hãy đốt chúng ở bãi rác". Đốt xác của chiến binh thù nghịch được xem là tội ác chiến tranh, nhưng Potter đã dường như ko ý thức điều đó. Một nhân chứng cho biết các xác này đã được đốt nhiều lần trong mấy ngày kế. 
Trước ngày Mary Ann bị tấn công, có nhiều báo cáo nói rằng VC đã xâm nhập vào hàng ngũ quân VNCH có mặt tại CC. Có một trường hợp, một người mang cấp bậc trung úy VNCH hỏi lính Mỹ con đường dễ nhứt ra khỏi CC vì y muốn dẫn lính đi câu cá. Y đã được chỉ rằng con đường đó ở đầu phía nam của CC. Trong trận đánh, có một số tiếng súng có vẻ xuất phát từ khu vực của quân VCNH. Tuy nhiên một lính Mỹ bị thương và có mặt tại khu vực này suốt trận đánh sau này xác nhận y ko bao giờ thấy súng ở đây bắn vào lính Mỹ. Pháo binh của VNCH đặt ở bắc của CC, và khu này ko bị đặc công tấn công, khiến họ đã ko phản ứng gì hết. Toán của Tổng thanh tra của sđ 23 Mỹ đã ghi nhận rằng cạnh đông bắc của CC nói chung ko bị tấn công, bao gồm kho đạn của TĐ. Hành động của lính VNCH cũng ko khác gì nhiều lính Mỹ đã núp trong hầm cho tới khi trận đánh chấm dứt. Quân đội VNCH đã quyết định ko trấn giữ CCHL này sau trận đánh và đóng cửa ngày 24 tháng 4."

San Jose ngày 15/10/2023. 
Tài Trần









Friday, October 6, 2023

 HOA LẠC GIỮA RỪNG GƯƠM: CÔ GÁI CHUYÊN PHỎNG VẤN CÁC TÙ BINH VÀ HỒI CHÁNH VIÊN VC

"Dương vân Mai và phần lớn trong gia đình cô đã bỏ miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Họ định cư tại Sài Gòn, nơi mà cha cô, một viên chức quan trọng trong chính quyền thuộc địa Pháp, đã trở nên một viên chức nhỏ trong bộ tài chánh VNCH. Mai học giỏi, được học bổng ở ĐH Georgetown ở Washington DC, ở đó ba năm, và trở về VN với hôn phu (fiancé), trung sĩ lục quân Mỹ David Elliott. Năm 1964, bộ trưởng QP Mỹ Robert McNamara - đã thành thật khi ko hiểu điều gì đã khiến CS đã kiên trì khi đối diện với hỏa lực Mỹ - đã thuê công ty RAND làm một nghiên cứu về các kẻ đào ngũ và tù binh VC, để tìm hiểu "Ai là VC? Và động lực nào đã khiến họ làm như vậy?" (make them tick).
Vợ chồng Elliotts ký hợp đồng với RAND, và Mai đã bắt đầu phỏng vấn các đối tượng. Cô đã nhớ rằng cô đã được “dạy dỗ để tin rằng CS là kẻ hủy diệt gia đình và tôn giáo, ko trung thành với đất nước mà chỉ với quốc tế CS."
"Mẹ tôi thường mô tả họ là những kẻ chưa phải là người (subhuman) với đầu trâu và mặt ngựa", cô nhớ lại. Nhưng tôi cũng biết họ cũng bao gồm những người như chị tôi, Thăng, và nhiều anh em họ của tôi. Tôi ko thể nào hoàn toàn hòa hợp hai hình ảnh này, nhưng hình ảnh mà mẹ tôi mô tả thì mạnh hơn vì tôi rất sợ chúng. Với ấn tượng sẵn có như vậy, tôi đã bắt đầu làm công tác nghiên cứu phong trào cộng sản. Tôi nhớ rõ cuộc phỏng vấn đầu tiên. Lúc đó tôi rất trẻ. Tôi sắp đến nhà tù khắc nghiệt (grim) để phỏng vấn người cán bộ cao cấp vừa bị bắt. Tôi vừa đi vừa suy nghĩ, 'Tôi sắp gặp con quái vật này--một kẻ có đầu trâu và mặt ngựa'--nhưng khi tôi đi vào, y ko có vẻ một tên cục súc (look like a brute)."
Thay vào đó, y là một người trung niên có phẩm cách, cô ta đã nhớ lại, "với một thái độ đầy quyền lực của một kẻ quen chỉ huy kẻ khác." Cô đã mời y một điều thuốc Mỹ, nhưng y từ chối--"y ko muốn đụng đến bất cứ gì thuộc Mỹ." Y đã trả lời các câu hỏi của cô đầy đủ và kiên nhẩn, và "tinh thần của y rất mạnh mẻ hơn bất cứ ai mà tôi đã gặp lâu nay ở Sài Gòn."
"Y đã tin tưởng rằng Việt Cộng sẽ giải phóng đất nước khỏi thống trị của ngoại bang và thống nhứt đất nước dưới một chế độ -- sẽ mang công bằng xã hội và bình đẳng cho người nghèo," cô đã nhớ lại. "Y nói mình đã từng là một nông dân nghèo trở thành một vị trí lãnh đạo. Dĩ nhiên, một cuộc phỏng vấn ko thể nào thay đổi quan điểm của tôi ngay lập tức. Nhưng nó đã tạo những câu hỏi bâng khuâng (troubling) trong đầu tôi. Ai là kẻ tốt và ai là kẻ xấu? Tôi nghĩ rằng tôi đã biết. Giờ đây tình hình ko còn là trắng với đen."
Khi bản tường trình đầu tiên do RAND thực hiện gửi tới các viên chức cao cấp của bộ trưởng McNamara ở Ngũ Giác Đài, trong đó mô tả VC như là một kẻ thù đầy quyết tâm (dedicated) "chỉ có thể đánh bại bởi những chi phí khổng lồ," một người trong họ đã nói, "Nếu điều mà bạn nói là đúng, chúng ta đang chiến đấu ở phía sai, phía sắp thua cuộc chiến này."
Vào mùa hè năm 1966, cô Mai Elliot được mời làm thông dịch cho nhà báo Mỹ kỳ cựu Martha Gellhorn trong một chuyến thăm tới một bịnh viện Mỹ ở Nam VN. "Lần đầu tiên, tôi đã thấy rằng vũ khí đã làm gì đối với con người," cô nhớ lại. "Tôi đã thấy trẻ em và người lớn mất tay chân. Tôi đã thấy những đầu người quấn băng trắng đẫm máu chỉ chừa đôi mắt. Tôi đã thấy một phụ nữ bị đốt cháy bởi bom lân tinh, với da bị lột lộ ra thịt màu hồng bên dưới. Tôi biết rằng đó chỉ là một phần nhỏ của nỗi đau cùng cực của người dân. Tôi cảm thấy run rẩy và tin chắc hơn trước rằng thật không công bằng khi bắt những người nông dân này phải gánh chịu đau khổ để cứu gia đình tôi và các gia đình trung lưu khác khỏi một hệ thống cộng sản mà chúng tôi cảm thấy không thể sống dưới chế độ đó. Tuy nhiên, Mai cũng ko muốn Mỹ rút quân. "Tôi đã chán ghét chiến tranh và muốn hòa bình, nhưng là một hòa bình mà CS ko là kẻ chiến thắng. Tôi đã sợ rằng một khi Mỹ ko còn bảo vệ VN, người CS sẽ quét sạch chế độ Sài Gòn bất hạnh qua một bên và gia đình tôi sẽ đau khổ vì còn nơi nào để chạy trốn. Tôi đã bắt đầu cầu mong một nhóm người, có tên gọi là "Lực lượng hay Thành phần thứ Ba", ko thân Mỹ cũng như thân CS, sẽ thành công trong việc đoàn kết dân tộc này."
NÓI THÊM: Theo 1 hồi ký của cô, cô sinh năm 1941 trong 1 gia đình của 11 anh chị em. Thời Pháp, cha cô giữ 1 số chức vụ trong chính phủ VN, sau thế chiến thứ 2 làm tổng đốc Hải Phong. Chị cô tên Thăng, có chồng theo Việt Minh, nên đã theo chồng vào chiến khu trước 1954; 2 người anh của cô cũng tham gia dân quân. Sau 1954, gia đình cô di cư vào nam. Do gia đình khá giả nên cô tiếp tục chương trình Pháp ở Sài Gòn (cô theo chương trình Pháp từ nhỏ). Năm 1960, nhân có học bổng của chương trình Fulbright, cô dự thi và được học bổng (scholarship) cùng với mười mấy người khác. Sang Mỹ cô học ở ĐH Georgetown tại Washington D.C. Cô tốt nghiệp năm 1963 với chuyên ngành khoa học Chính trị.


Ảnh: Dương Vân Mai Elliotts tại sân bay Cần Thơ, trên đường về nhà sau khi phỏng vấn tù binh và đào ngũ VC, chụp năm 1965.
Năm người lính thuộc một đại đội pháo của MTGPMN vừa được huy chương "đơn vị anh hùng.”

SJ ngày 6/10/2023, cập nhật ngày 20.4.2025.
Tài Trần


===
Dịch từ:

WHO ARE THE VIET CONG?

. . .
DUONG VAN MAI and most of her family had been part of the flood of refugees who fled North Vietnam for the South back in 1954. They settled in Saigon, where her father, who had been an important official in the French colonial regime, became a minor one in the Finance Ministry. Mai did well in school, won a scholarship to Georgetown University in Washington, D.C., spent three years there, and returned to Vietnam with an American fiancé, Army Sergeant David Elliott.
In 1964, Robert McNamara—genuinely puzzled by the stubbornness of the communists in the face of American power—had commissioned the RAND Corporation to do a study of defectors and enemy prisoners, seeking to know “Who are the Viet Cong? And what makes them tick?”
The Elliotts signed on with RAND, and Mai began interviewing subjects. She remembered that she’d been “brought up to believe that the communists were people who destroyed the family, destroyed religion, had no allegiance to our country but only to international communism.”
“My mother would describe them as đầu trâu mặt ngựa” she recalled. “Brutal subhumans with the head of a water buffalo and the face of a horse. But I knew that they also included people like my sister, Thang, and a lot of my cousins. I couldn’t quite reconcile the two images, but of the two, my mother’s image was stronger because I was so scared of them. That was the frame of mind I had when I started doing research into the communist movement. I remember my first interview. I was by myself. I was very young. I was going to this grim prison to interview this high-ranking cadre who had been captured. I went in thinking, ‘I’m going to meet this beast—this guy with a head of a water buffalo and the face of a horse’—but when I walked in he did not look like a brute.”
Duong Van Mai Elliott at the Can Tho Airport, on her way home after interviewing enemy prisoners and defectors, 1965
Instead, he was a dignified middle-aged man, she remembered, “with the authoritative demeanor of someone used to leading others.” She offered him an American cigarette, but he refused it—“he did not want to touch anything so American.” He answered her questions fully and patiently, and “had more integrity than anyone I had met in Saigon in a long time.
Five proud soldiers belonging to an NLF artillery company that had recently been awarded the title of “Hero Unit”
“He believed that the [Viet Cong] would free his country from foreign domination and reunify it under a regime that would bring social justice and equality to the poor,” she recalled. “He looked at himself as poor: a poor peasant who had been elevated to a position of leadership. Of course, one interview could not change my views right away. But it did raise troubling questions in my mind. Who were the good guys and who were the bad guys? I thought I knew. Now, the situation no longer seemed so black and white.”
When the first RAND report was presented to McNamara’s top deputies at the Pentagon, describing the Viet Cong as a dedicated enemy that “could only be defeated at enormous costs,” one of them said, “If what you say is true, we’re fighting on the wrong side, the side that’s going to lose this war.”
In the summer of 1966, Mai Elliott was asked to act as translator for the veteran American journalist Martha Gellhorn on a visit to an American hospital in South Vietnam. “I saw for the first time what the weapons were doing to real human beings,” she recalled. “I saw children and adults who had lost limbs. I saw eyes staring out of heads swathed in bloody bandages. I saw a woman who had been burned by a phosphorus bomb, with peeling skin showing pink and raw flesh underneath. I knew this was only a fraction of the toll in human misery. I left shaken and more convinced than before that it was unfair to make the peasants bear the brunt of the suffering to save my family and other middle-class families from a communist system they felt they could not live under.”
Still, Mai couldn’t bring herself to wish for an American withdrawal. “I hated the war and I wanted peace, but a peace that would keep the communists from winning. I feared that once the shield of American power was removed, the communists would sweep the hapless Saigon regime aside and my family would suffer with nowhere else to run and hide. I began to wish that the group of people dubbed ‘the Third Force,’ who were neither pro-America nor pro-communist, would succeed in rallying the people.”
SJ ngày 6/10/2023

 WHO ARE THE VIET CONG?

. . .
DUONG VAN MAI and most of her family had been part of the flood of refugees who fled North Vietnam for the South back in 1954. They settled in Saigon, where her father, who had been an important official in the French colonial regime, became a minor one in the Finance Ministry. Mai did well in school, won a scholarship to Georgetown University in Washington, D.C., spent three years there, and returned to Vietnam with an American fiancé, Army Sergeant David Elliott.
In 1964, Robert McNamara—genuinely puzzled by the stubbornness of the communists in the face of American power—had commissioned the RAND Corporation to do a study of defectors and enemy prisoners, seeking to know “Who are the Viet Cong? And what makes them tick?”
The Elliotts signed on with RAND, and Mai began interviewing subjects. She remembered that she’d been “brought up to believe that the communists were people who destroyed the family, destroyed religion, had no allegiance to our country but only to international communism.”
“My mother would describe them as đầu trâu mặt ngựa” she recalled. “Brutal subhumans with the head of a water buffalo and the face of a horse. But I knew that they also included people like my sister, Thang, and a lot of my cousins. I couldn’t quite reconcile the two images, but of the two, my mother’s image was stronger because I was so scared of them. That was the frame of mind I had when I started doing research into the communist movement. I remember my first interview. I was by myself. I was very young. I was going to this grim prison to interview this high-ranking cadre who had been captured. I went in thinking, ‘I’m going to meet this beast—this guy with a head of a water buffalo and the face of a horse’—but when I walked in he did not look like a brute.”
Duong Van Mai Elliott at the Can Tho Airport, on her way home after interviewing enemy prisoners and defectors, 1965
Instead, he was a dignified middle-aged man, she remembered, “with the authoritative demeanor of someone used to leading others.” She offered him an American cigarette, but he refused it—“he did not want to touch anything so American.” He answered her questions fully and patiently, and “had more integrity than anyone I had met in Saigon in a long time.
Five proud soldiers belonging to an NLF artillery company that had recently been awarded the title of “Hero Unit”
“He believed that the [Viet Cong] would free his country from foreign domination and reunify it under a regime that would bring social justice and equality to the poor,” she recalled. “He looked at himself as poor: a poor peasant who had been elevated to a position of leadership. Of course, one interview could not change my views right away. But it did raise troubling questions in my mind. Who were the good guys and who were the bad guys? I thought I knew. Now, the situation no longer seemed so black and white.”
When the first RAND report was presented to McNamara’s top deputies at the Pentagon, describing the Viet Cong as a dedicated enemy that “could only be defeated at enormous costs,” one of them said, “If what you say is true, we’re fighting on the wrong side, the side that’s going to lose this war.”
In the summer of 1966, Mai Elliott was asked to act as translator for the veteran American journalist Martha Gellhorn on a visit to an American hospital in South Vietnam. “I saw for the first time what the weapons were doing to real human beings,” she recalled. “I saw children and adults who had lost limbs. I saw eyes staring out of heads swathed in bloody bandages. I saw a woman who had been burned by a phosphorus bomb, with peeling skin showing pink and raw flesh underneath. I knew this was only a fraction of the toll in human misery. I left shaken and more convinced than before that it was unfair to make the peasants bear the brunt of the suffering to save my family and other middle-class families from a communist system they felt they could not live under.”
Still, Mai couldn’t bring herself to wish for an American withdrawal. “I hated the war and I wanted peace, but a peace that would keep the communists from winning. I feared that once the shield of American power was removed, the communists would sweep the hapless Saigon regime aside and my family would suffer with nowhere else to run and hide. I began to wish that the group of people dubbed ‘the Third Force,’ who were neither pro-America nor pro-communist, would succeed in rallying the people.”

 ĐPQ-NQ TỈNH LONG AN CHIẾN ĐẤU DŨNG CẢM TRONG THÁNG 4/75

Lời nói đầu: Trước giờ ng ta đã coi thường ĐPQ-NQ nhưng trong tháng 4/75 lực lượng này tại tỉnh Long An đã gây thiệt hại nặng cho quân chính quy csbv. Xin đọc phần dưới đây trên sách của ĐT Le Gro:
Tình hình chiến sự tại tỉnh Long An trong tháng 4.1975.
Nguồn : 1/ Vietnam from cease-fire to capitulation (VN từ ngưng bắn đến đầu hàng) của ĐT William E. Le Gro, từng chỉ huy văn phòng tùy viên quân sự Mỹ/Defense Attache Office (DAO) tại Sài Gòn từ tháng 12.1972 tới 29.4.1975.
2/ Final Collapse của đại tướng Cao văn Viên .
Thưa các bạn,
Trước đây, trên blog này, tôi có hai bài về trận đánh của Tr.đoàn 12 SĐ 7 (12/7) bộ binh VNCH tại Long An. Bài thứ nhứt của Paris-Match phỏng vấn ĐT Đặng phương Thành, chỉ huy Tr.Đ này và bài thứ hai của trung tá Trần văn Lưu (đồng khóa thiếu sinh quân với ĐT Thành). Là một người nghiên cứu theo khoa học , tôi vẫn chưa vừa lòng với những thông tin của hai bài trên. Nay, dựa theo hai nguồn trên đây, tôi có thêm một số thông tin mới về Tr.Đ 12/7 BB và lực lượng ĐPQ-NQ của TK Long An trong trận chiến bảo vệ QL 4 trong tháng 4.75. Hóa ra, ĐPQ-NQ của TK này trong nhiệm vụ bảo vệ đất nước, cũng đã lập nhiều chiến công ko thua kém các đơn vị chủ lực quân.
====
1/ Theo ĐT Le Gro của DAO, trang 173 của sách đã dẫn:
...
"Tính tới 11/4/75, khoảng 40.000 quân của QK 1 và 2 đã được tái huấn luyện tại các trung tâm hay được tái phối trí (reassign) tại QK 3. SĐ 2 BB, sau khi tập hợp ở Hàm Tân, quân số đã lên tới 3.600, bao gồm 2 TĐ ĐPQ tăng phái từ TK Gia Định. Trung đoàn 4 vừa tái lập (reconstitute) này đã được gửi tới Phan Rang để tiếp sức (relieve) cho Lữ đoàn 2 Dù đang ở đó, nhưng còn bốn TĐ khác chưa thể ra quân vì thiếu quân trang quân dụng (outfitting). Tiếc thay, trung đoàn 4 này đã bị tiêu diệt (destroy) trong lần hai và cuối cùng khi bảo vệ Phan Rang.
SĐ 3 BB ngày 11/4 có khoảng 1.100 quân tại Bà Rịa Phước Tuy, và sẽ sớm có thêm 1.000 quân, nhưng lại thiếu mọi loại vũ khí và trang bị. SĐ 1 BB cũng có ở Bà Rịa nhưng chỉ có 2 SQ và 40 binh sĩ. Gần Bà Rịa, tại Long Hải có SĐ 23 BB với khoảng 1.000 quân và 20 khẩu súng trường.
Riêng SĐ 22 BB, mà những trận kháng cự anh dũng tại Bình Định là một trong những chiến công đáng kể nhứt nói lên quyết tâm, can đảm và tài điều binh (leadership of war), đã có được tình trạng sẵn sàng chiến đấu tốt hơn các SĐ khác. Tại TTHL Vạn Kiếp ở Vũng Tàu, SĐ có 4.600 quân, 1/3 của số quân này là lực lượng diện địa (ĐPQ-NQ) của QK 2. Họ thiếu mọi loại chiến cụ và quân trang, tuy nhiên họ còn đủ pháo thủ cho ba TĐ pháo binh, dù ko có đại bác. Tuy nhiên, dù chưa được trang bị đầy đủ và thiếu tổ chức, SĐ được lịnh triển khai tới tỉnh Long An ngày 12/4.
Một trận đánh quan trọng đã xảy ra tại tỉnh Long An, khi SĐ 5 CSBV, di chuyển từ tỉnh Svay Rieng, Cambodia, đã xử dụng Tr.Đ 275 tấn công gần Tân An vào ngày 9.4.1975. ĐPQ tỉnh Long An đã chống trả mãnh liệt và được tiếp viện bởi Trung Đoàn 12 sđ 7 BB. Với tổn thất nhẹ, TĐ 2/12 của trung đoàn này đã hạ trên 100 lính của Tr.Đ 275, buộc vị tư lịnh của họ phải xin viện binh. Ngày kế (10.4.75), Bắc quân đã tấn công phi trường Cần Đót tại tỉnh lỵ Tân An và, sau khi cắt đứt QL 4, đã bị đẩy lui với tổn thất nặng bởi ĐPQ của Long An. Trong hai ngày sau đó (subsequent), ba TĐ ĐPQ 301, 322 và 330 của Long An đã đụng độ dữ dội, hạ trên 120 địch quân và bắt sống 2. Trong khi đó, Tr.Đ 12/7 BB, đánh nhau với hai Tr.Đ. của SĐ 5 CSBV, hạ trên 350 và bắt sống 16. Bộ TTM VNCH đã đưa một TĐ của SĐ 22 BB – vừa mới được hồi phục – vào vùng này vào ngày 12.4 và sau đó thêm 2 TĐ. Để thống nhứt chỉ huy, bộ TTM đã điều chỉnh ranh giới của QK 3 và 4, giao chiến trường Tân An cho QK 4.
. . . Ở phía tây của Sài Gòn, mặc dù các lực lượng diện địa (ĐPQ và NQ) và Tr.Đ.12/7 bộ binh vẫn giữ được Long An, pháo binh CSBV đã tới gần Sài Gòn đến độ pháo kích vào đài radar Phú Lâm bằng hỏa tiển 122 ly ngày 18.4. Hai dảy nhà chứa gia đình binh sĩ ở đài này bị phá hủy. Cuộc tấn công này chỉ cách phi đạo của Tân sơn Nhứt và VP Tùy viên Quân sự /DAO có 7 km, nói lên sự đe dọa nghiêm trọng cho SG.
Tại tỉnh Long An, SĐ 5 CSBV tiếp tục tấn công mạnh dọc theo ranh giới cũ giữa QK 3 và 4 , nhưng ngày 15.4 đã buộc phải rút về tây bắc.Tr.Đ 12/7 BB đã gây tổn thất nặng cho Tr.Đ. 6 và 275 CSBV gần tỉnh lỵ Tân An. Vào lúc này, những đv nhỏ, trang bị yếu của 2 Tr.Đ 41 và 42/22 BB – đang trong giai đoạn hồi phục – được triển khai tại Bến Lức và Tân An . Nhưng địch quân ngày càng mạnh. Các đv Bắc quân có mặt tại Long An và tây nam Hậu Nghĩa gồm năm SĐ: 3, 5, 8 và 9 và 27 đặc công. Thêm vào đó, Tr.Đ 262 và Lữ Đoàn 71 phòng không đã có mặt tại ranh giới Long an-Hậu nghĩa.
Các đường màu xanh là năm mặt trận bảo vệ Sài gòn: Bình Dương ở phía bắc, Biên Hòa ở phía đông bắc, QL 15 ở phía đông nam, Long An ở phía tây nam và Củ Chi ở phía tây bắc.
2/ Còn theo quyển Final Collapse của ĐT Cao văn Viên thì :
Tình hình tại QK 4 .
Tương phản với 3 vùng còn lại, tình hình tại qk 4 đã tương đối yên trừ những trận đánh liên tục nhưng ko có tính quyết định giửa SĐ 9 và công trường 5 của CSBV tại khu biên giới giữa Kiến Tường và Svay Riêng, Cambodia. Địch quân phần lớn nhắm vào các tiền đồn của ĐPQ và NQ, đặc biệt ở Chương Thiện và Kiên Giang. Nhưng giửa tháng 3 1975 và tiếp tục đến đầu tháng 4, địch đột ngột gia tăng các cuộc tấn công. Giờ đây, họ lại nhắm vào các cơ sở tiếp vận cũng như các tiền đồn ĐPQ dọc theo QL-4, con đường huyết mạch từ SG xuống vùng châu thổ.
Sau một thời gian dài bổ sung quân số và trang bị, công trường 5 CSBV tiến vào khu phía tây bắc Tân An, và tấn công quận lỵ Thủ Thừa, do ĐPQ và NQ bảo vệ, xem bản đồ số 11. Địch mưu toan, nếu chiếm được Thủ Thừa , sẽ cắt QL 4 đoạn giữa Tân An, tỉnh lỵ của Long An, và Phú Lâm, ngoại ô của SG; cũng như ngăn chặn SĐ 7 BB tiếp viện cho SG. Nhưng âm mưu đã bị bẻ gẫy; lực lượng tại Thủ Thừa đã đẩy lui địch quân và gây cho địch nhiều thiệt hại. Một mủi tấn công của địch nhằm vào quận lỵ Bến Tranh, nhưng tại đây lần nữa, cuộc tấn công bị bẻ gẩy bởi lực lượng phối hợp của SĐ 7 và 9 bb VNCH. Sau một ngày giao tranh, địch phải buộc rút lui , để lại gần 200 xác và hàng trăm vũ khí, bao gồm đại bác và súng phòng không. khoảng 20 địch quân bị bắt. Một nút chận khác của địch ở nam Tân An và khu vực Bến Tranh đã được dẹp tan. Kết quả, lưu thông trở lại bình thường từ SG đi Mỹ Tho . . .
San Jose , Monday, December 12, 2011
CẬP NHẬT NGÀY 6 tháng 10 2020."
Share