Cố Chuẩn tướng LÝ TÒNG BÁ
LÝ = 31 = 4
TÒNG = 4753 = 19 = 10 = 1
BÁ = 21 = 3
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Cố Chuẩn tướng LÝ TÒNG BÁ
LÝ = 31 = 4
TÒNG = 4753 = 19 = 10 = 1
BÁ = 21 = 3
NGUYỄN = 7
CHÍ = 351 = 9
VINH = 6155 = 17 = 8
Cộng lại: 7 9 8 = 24 = cực kỳ may mắn.
Thiếu tá Lê Xuân Phong: https://youtu.be/G55nNJK2Rto?si=Y6KbAxIPzwZ0xR3G
SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH RỬA HẬN CHO TÂN CẢNH VÀ DAK TO 2
- Ngay trong những ngày đầu tiên của trận Kontum 1972, sđ 23 bộ binh đã thắng lợi do binh sĩ dùng thuần thục M72, và tìm địch mà đánh -- như dàn quân dọc theo đường tiến quân của đối phương. Ngoài ra, Nam quân đã dùng pháo bắn tập trung vào đường tiến quân này cũng như được yểm trợ kịp thời bởi trực thăng Cobra, trực thăng trang bị phi đạn TOW và đặc biệt là B-52. Trong khi ở Tân Cảnh và Dak To 2, Nam quân trước đó đã co cụm về hai căn cứ này và thụ động chờ địch. Đã vậy binh sĩ ko được huấn luyện kỹ lưỡng về M-72, cũng như lần đầu tiên thấy T-54. "Một đại úy thiết giáp csbv đã viết trong hồi ký, khi đv của y tràn vào trung tâm hành quân của sđ 22, đã ko gặp bất cứ chống cự nào hết" -- Theo cựu tướng Lý Tòng Bá. Theo bài Tân Cảnh Thất Thủ, chỉ có ba T-54 bị bắn bởi máy bay Spectre nhưng một chiếc bị hư nhẹ và được bắc quân lái đi. Có một chiếc xe bồn chỡ xăng bị pháo binh sđ 22 bắn trúng và hai chiếc khác bị phá hủy bởi M-72 do lính của trung đoàn 42.
- Theo một tướng lãnh csbv, họ đã dùng đại bác phòng không tự hành 57 ly của LX trong trận Dak To - Tân Cảnh. Theo wiki, pháo đặt trên gầm xe của T-54. Xe chỡ 300 viên đạn, tầm hoạt động của xe 420 km/đường tốt, 320 km/đường xấu, tốc độ 50 km/đường tốt, 30 km/đường xấu.
Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 14 - 22 của chuyên khảo (memograph) đã dùng trong ba bài trước.
. . .
"Không kỵ Mỹ vẫn làm việc ngày đêm sau khi Tân Cảnh thất thủ. Những phi vụ hằng ngày trên chiến địa đã giúp họ phát hiện các đường chuyển quân, kho võ khí, và các hệ thống hầm hào mới tinh. Toán cố vấn ở QK-2 đã bắt đầu dùng một trực thăng chỉ huy và kiểm soát, còn gọi là trực thăng C-n-C (command and control) để các cố vấn cao cấp bay đến những nơi mà họ nghĩ là nơi tập trung quân, v.v... để dựa vào đó mà lập kế hoạch phòng thủ cho Kontum. Ngày 10/5, chuẩn tướng (BG) John Hill, cố vấn phó của QK-2, đã ghé Kontum để họp với đại tá John Truby, cố vấn của đại tá Bá về điều mà ông vừa thấy ở bắc Võ Định. Ông quả quyết khu vực này là một khu tập trung lớn của quân csbv. Một tù binh bị bắt cùng ngày đã xác nhận sđ 320 đã gần khu vực tập trung quân. Tiếp sau đó, B-52 đã oanh kích những vị trí tình nghi.
Sư đoàn 23 đã tiếp tục việc chuẩn bị phòng thủ Kontum. Đại tá Bá đã đích thân đi bộ ra chu vi phòng thủ. Ông đã chỉ trích những vị trí phòng thủ ko đúng cách và cổ võ tinh thần quân nhân các cấp. Một số thân (hull) của xe tăng cũ được đưa ra đồng trống để giúp nhiều người lính có cơ hội bắn hỏa tiển M-72 cũng như nhận sổ tay (companion) trong đó có hình các chiến sĩ VNCH đứng cạnh xe tăng mà họ phá hủy ở An Lộc và Quảng Trị. Mục đích là cho người lính VNCH tin rằng họ có thể bắn cháy chiến xa địch.
Các cấp chỉ huy đã phối hợp ở những điểm giới hạn (limiting point) và giám sát việc cải thiện ngụy trang. Những lực lượng được dùng làm trừ bị đã thực tập phản công khi phòng tuyến bị chọc thủng -- đây là những đv ở tuyến sau, chỉ xử dụng khi phòng tuyến phía trước bị chọc thủng -- người dịch. Pháo binh của sđ 23 lập hỏa tập dự phòng quanh chu vi phòng thủ. Các đv ĐPQ của tiểu khu được huấn luyện cách gọi pháo binh để cho họ thấy rằng sđ 23 sẵn sàng yểm trợ họ hết mình. Đại tá Bá đã tổ chức những cuộc hành quân hạn chế nhằm dụ đối phương để họ trở thành mồi ngon cho B-52. (He ordered limited operations which fixed the ennemy and developed targets for the B-52 missions).
Ngày 12/5, trung đoàn 44 thuộc sđ 23 đã hoàn tất việc thay thế LĐ 2 BĐQ dọc hai bên QL-14 -- có thể là trục tiến quân của địch. Vị trí của họ ở khoảng 4 km tây bắc tp Kontum. Nói thêm: cựu Trung tá Ngô văn Xuân, từng là trung đoàn phó của 44 trong trận Kontum 1972, hiện ở San Jose -- người dịch). Các chiến sĩ VNCH này rất tự tin (confident) và tin rằng sẽ bắn cháy chiến xa csbv với vũ khí cơ hữu của họ, ý nói M-72. Đại tá Bá còn tự tin hơn khi nghĩ rằng sđ 23 của ông đã sẵn sàng đánh địch. Lúc 0700 giờ ngày 13/5, nhờ nghe lén các mật điện, quân đồng minh đã biết sđ 320 csbv đã ở giai đoạn cuối của việc chuẩn bị tại khu vực tập trung, điều này đúng với những báo cáo của không kỵ Mỹ về một tập trung về thiết giáp và bộ binh ở kế phía nam của Võ Định.
Đối phương đã dự định càng đánh sớm càng tốt vì họ nghĩ rằng B-52 sẽ tấn công họ nếu họ đóng quân lâu dài ở tuyến xuất phát. Vann thì nghi ngờ về một tấn công lớn sắp xảy ra vì ko thấy đối phương dùng pháo bắn vào các vị trí của sđ 23 để mở đường. Dù có những cuộc chạm súng rải rác, nhưng kiểu dùng pháo binh bắn ồ ạt để phá nát phòng tuyến VNCH ở Tân Cảnh và các CCHL thì chưa xảy ra. Lúc 2230 giờ cùng ngày, một TĐ của trung đoàn 44 ở CCHL November báo cáo nhiều đèn sáng di chuyển về phía nam trên QL-14 hướng về vị trí của họ. Tin này lúc đầu ko gây báo động cho đến khi người ta nhận ra rằng chiến xa csbv ko quen hoạt động ban đêm nên trước đó họ đã mở đèn khi tấn công các vị trí ở Tân Cảnh. Một lát sau đó, đại tá Bá đã bước vào trung tâm hành quân (TTHQ) sư đoàn với một mật điện -- được gửi từ chỉ huy pháo binh của sđ 320 csbv đến một đv của y. Lịnh này viết rằng pháo binh sẽ nổ súng lúc 0400 giờ ngày 14/5 để hỗ trợ cuộc tấn công của sđ 320. Đại tá Truby, cố vấn của Bá, báo ngay cho Vann và phòng 3 QK. Vann đã tin rằng tốt hơn là nên chuẩn bị và nói với Truby rằng ông sẽ cung cấp cho Truby những cuộc không kích cần thiết khi trời sáng. Lúc 0400 giờ, ko có gì xảy ra. Trung tá Tiếu, phòng 2 sđ 23, lại mang vào TTHQ một mật điện vừa nhận được nói rằng tấn công sẽ được trì hoãn nửa giờ. Phòng 2 nghĩ rằng vì những lịnh này gửi từ bộ tư lịnh (BTL) của Mặt trận B-3 nên có thể theo giờ Hà Nội -- một giờ trể hơn giờ SG. Lúc 0430 giờ, CCHL November đã bắt đầu bị pháo kích với mức độ càng lúc càng gia tăng và kéo dài tới 0530 giờ, khi cuộc tấn công bắt đầu.
Bắc quân đã ngạc nhiên khi chiếm Tân Cảnh quá dễ dàng. Do vậy họ đã quyết định tấn công tp Kontum mà ko cần bắn dọn bãi mất nhiều thời giờ (time-consuming). Cuộc tấn công tiến theo ba trục, dựa theo QL-14 từ bắc và tây bắc. Trung đoàn 48 csbv và một đại đội của trung đoàn xe tăng 203 từ hướng tây bắc, dọc theo bờ tây của QL. Trung đoàn 64 csbv tiến dọc theo bờ đông của QL với một đại đội của trung đoàn xe tăng 203. Trung đoàn 28 csbv của mặt trận B-3 tấn công vào trung đoàn 53 từ phía bắc. Riêng trung đoàn 141 của sđ 2 csbv đã tấn công thăm dò các vị trí dọc theo sông Dabla ở phía nam tp Kontum do ĐPQ phụ trách.
Các máy bay đã chưa ứng trực trên không (on station) khi trung tâm hành quân (TTHQ) sđ 23 nhận tin hai đoàn quân địch có tăng yểm trợ đang tiến dọc QL14. Ứng trực trên không là bay vòng vòng phía trên khu vực để can thiệp kịp thời -- người dịch. Đại tá Truby phải gọi gấp về TTHQ của QK-2 để nơi này ra lịnh cho trực thăng Cobra và trực thăng trang bị phi đạn TOW xuất kích. Chỉ huy trưởng pháo binh của sđ 23 đã nhanh chóng ra lịnh bắn tập trung vào QL14, trung đoàn 44 đã gửi các toán diệt tăng bằng M72. Việc pháo binh bắn tập trung này đã khiến T-54 làm mồi ngon cho các toán diệt tăng vì đã tách tăng ra khỏi bộ binh. Trung tá Thomas McKenna, cố vấn trưởng của trung đoàn 44, đã báo cáo rằng, lúc đầu lính VNCH sợ các quái vật bằng sắt này, nhưng sau đó đã bò ra khỏi hố chiến đấu và bắn tăng bằng M72 với cự ly rất gần. Hai chiếc đã bị phá hủy bởi các toán diệt tăng này. Trong khi đó, các trực thăng gắn TOW đã có mặt trên bầu trời Kontum. Trước khi hai xe tăng chạy tới các bụi cây rậm rạp (undergrowth) dọc theo QL để núp, các phi đạn TOW đã khiến chúng ngừng lại (stop them dead in their tracks). Việc bắn tập trung của pháo binh nam quân và việc bị hủy diệt quá bất ngờ của những chiếc tăng dẫn đầu đã khiến cuộc tấn công đầu tiên đã chấm dứt lúc 0900 giờ sáng, dù pháo và tấn công thăm dò của csbv còn tiếp tục. Ngoài ra, máy bay của Mỹ và VNCH bay đầy trời, đã mãnh liệt (vigourously) tấn công các mục tiêu.
Toàn bộ tp Kontum đều bị tấn công bằng pháo và rốc két, nhưng không trợ đã thành công khi tìm ra vị trí đặt súng và làm chúng câm họng. Tuy nhiên, một vài khu vực, như sân bay và BTL của sđ 23 vẫn bị pháo nhẹ, chứng tỏ tiền sát viên đang điều chỉnh đường đạn. Khi đêm xuống của ngày 14, các phòng tuyến đã được tái chiếm bởi sđ 23 thông qua đánh sáp-lá-cà hay cận chiến ác liệt giữa đôi bên.
Lúc 2000 giờ, địch đã lần nữa tấn công trung đoàn 44 và 45. Trận này dữ dội hơn trận đầu tiên. Do chiến đấu vào ban đêm, hai trung đoàn đã ko phối hợp chặc chẻ khiến một TĐ csbv đã xâm nhập khe hở giữa 2 trung đoàn.
Thiếu tá Wade Lovings, cố vấn phó của 44, báo cáo với cố vấn sđ rằng trung đoàn trưởng của 44 đang yêu cầu hỏa tập dự trù và đúng lúc vào vị trí của họ. Lovings cũng yêu cầu máy bay Spectre có mặt trên chu vi phòng thủ của 44 đúng giờ. Vào lúc đó Lovings và trung tá Mckenna cảm thấy rằng họ đang đối diện với ba TĐ bắc quân ở trước mặt, hông phải, và phía sau. Spectre đã bay tới và Lovings lập tức yêu cầu Spectre bắn quanh chu vi phòng thủ mà vị trí các mục tiêu đã được chuyển từ các đv ở tuyến đầu thông qua trung đoàn trưởng.
Cùng lúc đó, tại trung tâm hành quân (TTHQ) của sđ, đại tá Truby và các cố vấn khác đang áp dụng một số biện pháp phòng thủ rất liều mạng (last-ditch), kiểu 5 ăn 5 thua, để bịt các phòng tuyến bị thủng. Họ muốn 2 phi xuất B-52, mỗi phi xuất 3 chiếc, thả bom xuống lúc 0300 giờ sáng vào địch quân đã chọc thủng phòng tuyến. Tình hình càng lúc càng nguy ngập vì nếu phòng tuyến ko bị bịt kịp thời, Kontum sẽ mất lúc rạng đông. Vì ko thể yêu cầu B-52 ném bom gần quân bạn hơn, đại tá Truby yêu cầu đại tá Bá lui quân một giờ trước giờ B-52 ném bom. Pháo binh đã được được dự trù gia tăng để thay thế chỗ trống do quân VN lui quân. Khi B-52 tới, chúng sẽ giết bắc quân giữa đồng trống khi họ ko có hầm hố gì cả. Lúc đó Bá cực kỳ lo lắng do tình hình bi đát và sẵn sàng làm mọi thứ để cải thiện tình hình. Truby báo cáo với Vann về kế hoạch này và yêu cầu chuẩn y. Van đã ngần ngại do sự phối hợp rất phức tạp giữa B-52 và điều quân trên đây của Bá. Cuối cùng, ông đồng ý sau khi thảo luận kỹ lưỡng với Truby và Bá. Trong vòng ba tới bốn giờ tới khi oanh kích, mọi đv đều cố gắng giữ vững vị trí. Trung đoàn 53 cam kết sẽ dùng trừ bị của họ để chận lổ thủng trong khu vực của họ. Với giúp đỡ của máy bay Spectre, trung đoàn 44 phải chiến đấu một mình với địch ở ba mặt.
Khi giờ khắc quan trọng đã tới, Bá ra lịnh cho quân lính thụt lui và ra lịnh cho pháo binh bắn liên tục trong một giờ để bù đấp phòng tuyến bị bỏ trống do lui quân. Hai phi xuất của B-52 đã ném bom gần đến nỗi răng của những người lính phòng thủ "đánh bò cạp", nghĩa là liên tiếp đập vào nhau vì sợ (shake the tooth) cho đến cơn chấn động do bom tạo ra chấm dứt. Khi trời mới hừng đông, các thành phần của hai trung đoàn di chuyển vào khu vực bị đánh bom, đã phát hiện vài trăm xác chết và những phần thân thể trong quân phục xanh lá cây và mang dép râu. Phần lớn những tên đã chọc thủng phòng tuyến là đặc công chỉ mang AK-47 và chất nổ. Ở khu vực phòng tuyến, nhiều súng cộng đồng được tìm thấy với xạ thủ nằm chết tan xác gần đó. Lovings và McKenna xác nhận hơn 200 xác địch chết trước vị trí của họ với 189 tên khác theo báo cáo của thiếu tá Perry của trung đoàn 53. Bảy xe tăng bị phá hủy bởi phi đạn TOW, M-72 và máy bay chiến thuật trong ngày 14/5. Nam quân nói rằng đã phá hủy 11 tăng và cả bộ tham mưu của sđ 23 và cố vấn Mỹ đều tin rằng xe tăng T-54 ko phải là bách chiến bách thắng. Vann và bộ tham mưu của ông ở QK-2 đã nghĩ rằng bắc quân đang cố gắng tiết kiệm thời gian bằng cách tấn công với chiến xa mà ko dọn bãi kỹ lưỡng bằng pháo binh. Đối phương có vẻ đã hy vọng rằng quân phòng thủ sẽ bỏ chạy khi thấy T-54 như ở Tân Cảnh khoảng 3 tuần trước. Dù chưa tới 3 ngàn quân CSBV tham chiến trong các trận đầu, bộ tham mưu của Vann biết rằng nguyên một sđ 10.000 người sẽ được tung vào trận trong 2 hay 3 ngày tới.
Trong khi lục soát khu vực bị oanh kích bởi B-52, TĐ 2/53 đã tìm thấy 23 xác và một kẻ bị thương nằm rất gần nhau. Kẻ sống sót cho biết đại đội của y chỉ còn 25 người. Y cho biết vừa mới bắt đầu tấn công thì bom bắt đầu rơi. Đại tá Bá cho một số đv nhỏ vào các khu đã bị B-52 ném bom tối hôm trước để biết các vị trí mới của bắc quân hầu lập kế hoạch tấn công bằng phi pháo. Trong những hoạt động này, các thành phần của trung đoàn 44 và 55 bị tấn công liên tục bằng cối và súng liên thanh. Trực thăng gắn phi đạn TOW đã phá hủy một xe tải chỡ đạn, một kho đạn, và một hầm trú ẩn lớn ở đông bắc của tp. Không kỵ Mỹ cũng báo cáo địch gia tăng hoạt động ở đông bắc, đông nam, và tây của tp. Hoạt động như vậy cũng được phát hiện xa hơn ở tây tp gần sông Dak Poko.
Việc địch quân tập trung ở phía nam phòng tuyến làm các cố vấn sđ rất lo âu. Vì họ biết rằng lính ĐPQ ở phòng tuyến phía nam có thói quen buổi tối bỏ phòng tuyến và vào tp ở với gia đình. Việc này sẽ tạo các lổ hở trên phòng tuyến và nếu địch biết sẽ xâm nhập tp.
Một cuộc không vận lớn đã bắt đầu ngày 15 để di tản các gia đình tị nạn người Thượng. Những người tị nạn này sẽ chỡ tới Pleiku. Khoảng 2.500 đàn ông Thượng được giao võ khí và đưa vào các đv dân quân bảo vệ tp. Khoảng 30.000 người cũng di tản khỏi tp để đến vùng ven biển và các tỉnh phía nam ngay sau khi Tân Cảnh thất thủ.
Sự yên tỉnh tương đối của ngày 15 đã gián đoạn lúc 0200 giờ ngày 16/5 khi địch gia tăng pháo kích. Một số là đạn 100 ly bắn từ sáu xe tăng T-54. Một xe Jeep Mỹ gắn phi đạn TOW vừa được triển khai ngày 14 ở Kontum đã bắn cháy một T-54. Một cuộc tấn công của bộ binh bắc quân vừa bắt đầu trước phòng tuyến của trung đoàn 53 khi bom B-52 rơi trên quân tấn công lúc 2240 g. Cuộc tấn công bằng pháo binh (attacks-by-fire) đã tiếp tục trên toàn tuyến của sđ cho tới khoảng 2300 g thì giảm dần và chấm dứt. Từ đó về sau ko có hoạt động nào đáng kể của địch cho tới 0615 g thì xe tăng lần nữa bắn vào vị trí của trung đoàn 44, nhưng ko có tấn công thăm dò vào lúc này.
Đại tá Bá đã xem xét kết quả của những tấn công thăm dò này. Ông đã thấy phòng tuyến bị chọc thủng và sđ của ông đã tránh thảm họa trong gang tất. Vì sợ điều này xảy ra lần nữa khiến ông thắt chặt chu vi phòng thủ. Bá đã thảo luận điều này với thiếu tướng Toàn, tư lịnh mới của QK, và ông Vann khi họ đến Kontum ngày 16. Họ đồng ý để trung đoàn 44 về làm trừ bị tại bịnh viện và thay thế vị trí của họ bằng trung đoàn 45. Theo hồi ký của đại tá Bá, trung đoàn 44 là thiện chiến nhứt của sđ 23 --người dịch.
Sân bay Kontum bị gia tăng pháo kích vào chiều 16. Mỗi khi trực thăng đến để tiếp xăng thì bị pháo 9 tới 12 quả cối hay đại bác. Ba trực thăng đã bị thiệt hại như vậy trong chiều này. Hai máy bay C-123 của VNCH đang đậu đã bị trúng pháo và phá hủy. Ngoài máy bay bị hư hại, phị đạo cũng hư hại vì hơn 50 đạn pháo rơi xuống sau 1700 g. Sân bay đã đóng cửa cho tới 0645 g ngày 17.
Lúc 1430 g ngày 17, một C-130 của Mỹ đang bốc dỡ (unload) đạn dược xuống đất ở đầu phía tây của sân bay thì hỏa tiển rới xuống sân bay. Viên phi công cố gắng cất cánh dù đạn dược chưa bốc dỡ hết và cửa sau (ramp) chưa kéo lên. Cửa sau bị kéo trên phi đạo khiến máy bay ko thể đạt tốc độ: máy bay cắt ngang nóc của một xưởng gạch VN ở đầu phía đông của phi đạo. Sau đó cánh phải đụng đất và máy bay đã lật ngửa (flip onto its back). Một trực thăng Mỹ đã bốc hai trong 5 người của phi hành đoàn. Vì tai nạn này và vì pháo (do tiền sát viên điều chỉnh ngày càng gia tăng vào sân bay) nên Vann chỉ cho máy bay có cánh được lên xuống vào ban đêm.
Ngày 17/5 đại tá Rhotenberry đã thế đại tá Truby làm cố vấn cho Bá. Ngày đầu tiên của ông tình hình yên tỉnh trừ pháo tiếp tục rớt vào sân bay. Tin tức tình báo cho biết địch sẽ dội pháo ồ ạt ngày 18 để kỷ niệm sinh nhựt HCM. Đêm 17, buổi sáng và buổi chiều ngày 18 ko có hoạt động đáng kể của địch. Từ 1740 giờ đến 1940 giờ hơn 200 đạn pháo và cối rơi xuống quân phòng thủ. Các toán tiền đồn của trung đoàn 44 báo cáo với trung tá McKenna là bảy T-54 trước mặt phòng tuyến. Một tiền sát viên không quân (FAC) đã thấy các xe tăng này và gọi máy bay Mỹ bắn cháy một chiếc. Vị trí của các tăng này cách lính phòng thủ khoảng 2 dặm hay 3.2 km chứng tỏ địch ngại hỏa lực chống tăng của VNCH. Cũng phi công này đã thấy hai khẩu 130 ly đặt gần trại Polei Kleng để bắn Kontum. Y cũng thấy hai phòng không 23 ly. Dù bị phát hiện, súng địch vẫn bắn cho tới khi bị phá hủy bởi chiến đấu cơ.
Lúc 2345 g ngày 18/5, pháo binh bắn ồ ạt để mở đường cho trung đoàn 48 csbv xung phong vào các tiền đồn của trung đoàn 44. Mìn claymore gài sẵn trên chu vi đã gây thiệt hại cho quân tấn công. Pháo binh Nam quân, sự gan dạ của người lính của trung đoàn 44 và tàn phá của mìn claymore đã cản trỡ cuộc tấn công này. Một phi xuất B-52 lúc 0015 g ngày 19/5 đã chấm dứt cuộc tấn công này.
Chỉ có một hoạt động ý nghĩa vào ngày 19 đã xảy ra lúc 2115 g khi lính csbv đã bắn lựu đạn cay mắt (CS gas) vào phòng tuyến VNCH, theo sau là tấn công bộ binh. Cuộc tấn công đã nhanh chóng thất bại bởi pháo binh và bộ binh VNCH. Trước bình minh, lúc 0345 g ngày 20, trung đoàn 53 đã bị đợt xung phong đầu tiên trong ba đợt vào vị trí của họ. Ở đợt xung phong cuối cùng, lính phòng thủ đã bị đẩy lui khỏi vị trí trong những giờ đầu của buổi sáng. Việc này là hậu quả của nhiều tuần chiến đấu mệt mỏi.
Suốt ngày Nam quân đã cố gắng nhiều lần tái chiếm vị trí nhưng ko thành công. Chỉ huy một số đv đã vài lần báo cáo láo rằng đã tái chiếm. Lúc 1645 g, Bắc quân đã đào một đường hầm dài 20 mét bên trong vị trí của trung đoàn 53, quá gần đến nỗi ko thể ném bom. Mỗi lần nghe tin một vị trí được tái chiếm, đại tá Rhotenberry đã gửi một cố vấn dùng trực thăng C-n-C để kiểm chứng và khuyên đại tá Bá cũng nên làm như vậy để kiểm soát tình hình này. Suốt ngày hôm đó, đại tá Bá ko muốn cho thiết giáp vào trận hay đi kiểm tra các báo cáo của cấp dưới. Cuối cùng Vann tới và họp với Bá để khuyên ông dùng trừ bị của sđ. Thành công đã đến khi chín chiếc M-41 bắn thẳng vào địch với hỗ trợ của gunship. Kết quả: đơn vị CS đột nhập vào phòng tuyến của trung đoàn 53 đã bị đẩy lui. Trong khi đó không kỵ Mỹ lại báo hoạt động nhộn nhịp của địch trong vùng bắc và đông của tp Kontum. Bắc quân trong khu này đã chuyển quân theo một thung lũng chạy dọc đường 5B để đến gần tuyến phòng thủ. (Nói thêm: đường 5B từ Kontum đi Quảng Ngải nhưng phần lớn ko dùng do mất an ninh -- người dịch).
Đêm của ngày 20/5 đã trải qua trong yên tỉnh cho đến 0500 g của ngày 21. Trung đoàn 44, theo dự trù sẽ thay thế bởi trung đoàn 45, lại bị pháo dữ dội. Nấp dưới làn mưa pháo, TĐ 406 đặc công đã bọc sau lưng của TĐ 3/44 và cắt QL-14 ở 3 km tây bắc tp Kontum. Cùng lúc một TĐ khác đã chọc thủng phòng tuyến giữa TĐ 4/45 và 2/53. TĐ 3/44 đã nhanh chóng tiến về phía nam, dọc theo QL trong khi TĐ 4/44 và 1/45 tiến theo QL đánh về phía bắc. Yểm trợ bởi gunship và máy bay chiến thuật, sau khi chiến đấu ác liệt, hai lực lượng này đã bắt tay với nhau và dọn sạch đặc công trên QL. Trước đó, khi hay tin phòng tuyến giữa trung đoàn 44 và 53 bị chọc thủng, đại tá Bá đã nhanh chóng yêu cầu máy bay chiến thuật và pháo binh tấn công phòng tuyến địch. Sau đó đại tá Bá đã đến thăm khiến tinh thần mọi chiến sĩ nâng cao.
Từ Pleiku, không quân VNCH gửi một AC-47 Spooky trang bị ba minigun 7.62 ly. 30 phút sau đó phi cơ đã tưới đạn vào các vị trí địch. Trong khi đó một máy bay C-130 của Mỹ đã đáp xuống sân bay Kontum để tiếp tế cho quân phòng thủ. Đây là chiếc máy bay cánh cố định đầu tiên đáp xuống trong hai ngày qua.
Thêm hai cuộc tấn công của địch trong hai giờ kế đã trùng hợp với các phi xuất B-52 trên vị trí của họ, làm câm họng quân tấn công. Cuộc tấn công thứ 5 và cuối cùng đã bắt đầu sau 0400 g ngày 21/5. Đây là một trận cận chiến ác liệt khi hai bên đều dùng lựu đạn. Cuộc phối hợp, đã rất tốt suốt buổi tối giữa các đv Nam quân trên phòng tuyến, đã ko còn vào lúc rạng đông. Đối phương đã xuyên thủng một nơi trên phòng tuyến. Lovings đã gọi gunship Cobra tìm cách bịt lại lổ hổng này. Gunship đã tấn công quân xâm nhập này và đẩy chúng về phía bắc nơi mà hai phi xuất B-52 sẽ tấn công chúng. Các gunship báo cáo nhiều xác chết tung lên trời. Tổng cộng năm cuộc tấn công đã bị đẩy lui bởi bộ binh và không quân, và việc dùng B-52 ở sát phòng tuyến mỗi giờ.
Trong đêm này 12 phi xuất của C-130 mang đạn dược và hàng hóa đến sân bay Kontum. Hai túi plastic khổng lồ, mỗi túi chứa 10 ngàn ga-lông hay 37.850 lít xăng từng bị hủy diệt ngày 17 đã được thay thế và điểm tiếp xăng đã hoạt động lúc rạng đông."
. . .
Chuyển ngữ từ trang 14 đến 22 trong chuyên khảo đã dùng trong ba bài trước.
San Jose ngày 10/1/2023
Tài Trần
Đại úy Charles Carden, cố vấn của trung đoàn 47 bộ binh đã thuật lại như sau: Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau khi Tân Cảnh bị tấn công, 1 trực thăng UH1 đến Đắc Tô II đón 6 viên cố vấn Hoa Kỳ của sư 22 Bộ binh. Chiếc trực thăng này bị trúng đạn phòng không, cháy và rớt tại phía nam chu vi phòng thủ. Tại khu vực phòng thủ của trung đoàn, chính ông được mục kích 2 chiến xa T-54 địch tiến vào phi trường rồi chia làm 2 ngả. Một chiếc tiến về hướng Tây của phi trường, án ngữ lộ trình chuyển quân từ Bến Hét về Đắc Tô II. Chiếc kia từ hướng Bắc chạy vào giữa phi trường, tấn công vị trí phòng thủ của trung đoàn 47 bộ binh.
Ngay lúc đó, 2 xe tăng M41 thuộc chi đoàn 1/14 liền điều động và tác xạ. Mỗi chiếc M41 bắn 3 phát đại bác 76 ly vào sườn tây của chiếc xe tăng T-54 quân Giải Phóng. Lúc ấy cố vấn Carden, chỉ cách chiến xa địch khoảng 100 thứoc, nhìn thấy chiếc T-54 bị trúng đạn và bốc khói nhưng chưa bị hạ. Chiếc T-54, vỏ thép dầy 105 ly, nặng 36 tấn, đã hồi phục mau lẹ rồi quay nòng súng lại bắn hạ 1 chiến xa M41 bằng 2 quả đạn 100 ly. Ngay sau đó chiếc T-54 này cũng hạ chiếc M-41 còn lại bằng trái thứ ba. Đây là trận xa chiến cuối cùng tại mặt trận Đắc Tô II.
Đúng 4 giờ sáng, 2 chiếc PT76 của Cộng quân ở phía bắc kho đạn bắt đầu tác xạ. Chi đội 1/1 khai hỏa bắn trúng cả hai chiếc PT76, nhưng xe không cháy mà chỉ nằm quay ngang trước cổng kho đạn. Để phản công, Cộng quân phóng hỏa tiễn AT3 vào chi đội 1/1 do thiếu úy Trần Nhuần chỉ huy. Chiến xa chỉ huy bị trúng đạn, Thiếu úy Nhuần chết ngay tại chỗ. Đại đội thám kích giữ kho đạn tự động rút lui lúc nào không rõ.

Trong khi ấy, 4 xe tăng M41 còn lại và hai thiết xa vận M113 của ban chỉ huy chi đoàn đã cố gắng chống trả. Trung sĩ Nguyễn Văn Khánh, hạ sĩ quan truyền tin trên chiếc M113 đã nhảy lên thay thế xạ thủ đại liên 30 bị tử thương. Trong khi Trung sĩ Khánh đang bắn vào các bộ đội Cộng Quân đang bảo vệ 2 chiềc PT-76 thì 1 trái hỏa tiễn B40 của đối phương phóng trúng vào xe M113 chỉ huy. Kết quả trung sĩ Khánh tử thương và Đại úy Giang bị thương nặng. Đại úy Giang được đồng đội cõng chạy vào rừng. nhưng bị bắt vào ngày 3-5-1972.
Trận Tân Cảnh kết thúc vào 10h sáng ngày 24 tháng 4 khi Quân Giải Phóng chiếm căn cứ Tân Cảnh. còn đại tá Đạt có tin thì cho biết ông tự sát, có tin thì nói ông bị pháo kích bắn chết
Thất bại của quân Việt Nam Cộng Hòa ở trận Tân Cảnh khiến căn cứ Đắk Tô 2 (sân bay Phượng Hoàng) bị cô lập, quân Giải Phóng cho pháo binh bắn phá và nhanh chóng chiếm được căn cứ Đắk Tô 2
Thắng lợi ở trận Tân Cảnh, Đắk Tô khiến đường tiến xuống Kontum rộng mở với quân Giải Phóng, tuy nhiên, những thiệt hại nhất định khiến tướng Hoàng Minh Thảo phải tạm ngừng 20 ngày mới có thể tập trung, củng cố lực lượng đế tiến đánh Kontum
Dựa vào Numerology, ta thay thế các chữ bằng số, ta có:
N GUY Ễ N
5 3 6 1 5 5 = 25 = 7
L Ệ
3 5 = 8
H Ằ N G
5 1 5 3 = 14 = 5
Cộng lại: 7 8 5 = 20.
Sau đây là ý nghĩa của số 20.
Sự tỉnh thức (awakening)
Ngoài việc được gọi là "sự tỉnh thức", số kép này được mô tả (is pictured) bởi người Can-Đê (Chaldean) là "Sự Phán Xét". Đó là một giải thích kỳ lạ (peculiar), và được tượng trưng bởi "một thiên thần có cánh, thổi kèn, trong khi từ bên dưới, một đàn ông, một đàn bà, và một đứa nhỏ sống lại/nổi lên (arise) từ một nấm mộ, với tay chấp lại cầu nguyện (hands clasped in prayer). Ở một lúc nào đó (at some time) trong kinh nghiệm/thử thách của người hay thực thể thay mặt bởi số 20, có một sự tỉnh thức mạnh mẻ, mang lại một mục tiêu mới, các kế hoạch mới, các tham vọng mới - (đó là) lời kêu gọi hành động cho đại nghĩa hay ý tưởng nào đó (some great cause or ideal). Thỉnh thoảng có thể có những trì hoãn hay chướng ngại cho kế hoạch cho y, nhưng những điều này có thể chinh phục hay vượt qua bằng cách phát triển kiên nhẩn (cũng là thách thức của số 20) và bằng cách tiếp tục trau dồi (cultivate) niềm tin vào các khả năng tự biến đổi của y (in one's own powers to transform). Số 20 đem lại phước lành (blessing) qua những giấc mơ sống động về nhận thức (vivid precognitive dream), cộng thêm khả năng bày tỏ những giấc mơ may mắn và triệt tiêu những giấc mơ tiêu cực (negative). Số 20 không phải là số vật chất (material number), vì thế ko chắc có được thành công về tài chánh (doubtful regarding financial success). Nếu cần thiết có số tiền lớn để hỗ trợ thực tế cho một đại nghĩa hay ý tưởng mới, sau đó y có thể chọn một con số nặng về vật chất tích cực hơn (a more positive materialistic number) bằng cách đổi tên, với giả dụ rằng 20 là ngày sanh. Nếu tên cộng lại bằng 20, hy vọng rằng, ngày sanh này sẽ ban cho (bestow) một tác động tài chánh may mắn hơn (the birth number will bestow a more fortunate financial vibration). Tuy nhiên, những ai hợp với sự tác động/rung động của số 20 ít khi để ý vấn đề tài chánh. Tiền bạc không quan trọng với họ -- và số 20 sẽ, như một luật phổ quát, cung cấp đủ cho những nhu cầu căn bản".
Dịch từ trang 257-8 của sách Linda Goodman's Star Signs.
TÌNH HÌNH QK-2 TRƯỚC TRẬN TÂN CẢNH - DAK TO 2
- Trong sách A Duty Done, cựu trung tá Úc-đại-lợi Fred Fairhead đã nghi ngờ sự hữu hiêu của B-52 khi viết: "Mỗi phi xuất của B-52 gồm ba chiếc, mỗi chiếc mang theo khoảng 100 quả bom 500 cân Anh hay 226,7 kg, bay ở cao độ 50.000 bộ hay 15,24 km, và thả bom xuống một mục tiêu, còn gọi là một box, có bề ngang khoảng 1 km và dài 3 km. Vấn đề là các mục tiêu này phần lớn lại là những đv nhỏ và lưu động của đối phương mà các điện đài hay máy phát sóng của họ đặt xa căn cứ đóng quân của họ. Do vậy, nếu sau khi định vị nơi đặt máy phát sóng và ném bom xuống đó, gần như B-52 chỉ gây thiệt hại rất ít cho các căn cứ này. B-52 chỉ hữu hiệu khi đối phương tập trung đông đảo để tấn công vào một căn cứ của đồng minh, như lần họ bao vây căn cứ Khe Sanh của TQLC Mỹ năm 1968"-- người dịch.
- Dù máy bay thám sát báo cáo đã thấy xe tăng từ đầu năm 1972, nhưng cố vấn của QK2 vẫn không tin vì các toán viễn thám ko thấy tận mắt.
- Việc triệt thoái các TĐ chiến đấu Mỹ và việc chấm dứt nhiệm vụ của 60.000 cố vấn Mỹ đã dẫn đến kết quả là quân đội VNCH phải nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến trong khu vực của họ.
Đây là bài thứ ba trong chuyên khảo (monograph) được viết bởi các cố vấn Mỹ từng phục vụ tại VNCH. Sau đây là phần chuyển ngữ.
. . .
"Quân khu 2, vùng chiến thuật lớn nhứt của Việt Nam Cộng Hòa (The Republic of Vietnam), chiếm 47/100 diện tích của đất nước; tuy nhiên, chỉ có ba triệu dân hay khoảng 1/5 dân số cả nước. Vì lý do trên, ko bên nào cố gắng hết sức để làm chủ mảnh đất thưa dân này. Mỗi năm trong mùa khô, Dãy Trường Sơn, còn gọi là Dãy Núi Trung Kì (Annamite Range) của tỉnh Kontum đã trở thành nơi diển ra các hoạt động gia tăng của địch; năm 1972 ko phải là ngoại lệ. (Nói thêm: Dãy Núi này dài chừng 1.100 km, là đường phân thủy của sông Mê Kông và hệ thống sông ngòi đổ vào biển Đông, đi song song với bờ biển, cũng là dãy núi phân chia ranh giới Việt Nam và Lào; cũng là nơi có cánh rừng nhiệt đới lớn của Á châu -- người dịch.
Việc triệt thoái (drawdown) các TĐ chiến đấu Mỹ và việc chấm dứt (relegration) nhiệm vụ của 60.000 cố vấn Mỹ đã dẫn đến kết quả là quân đội VNCH phải nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến trong khu vực của họ. Việc thất bại của chương trình Việt Nam hóa chiến tranh này của Mỹ sẽ là một đòn tai hại cho chánh sách ngoại giao của Mỹ và cung cấp cho kẻ thù một thuận lợi quyết định ở bàn hội nghị.
Từ ngay giữa tháng 12/1971, quân đồng minh tại Cao nguyên Trung phần của QK-2 đã bắt đầu nhận những báo cáo về những chuẩn bị của đối phương cho một tấn công lớn trong dịp đông xuân của năm 1972. Những báo cáo về tình báo của VNCH và lời khai của tù binh và hồi chánh viên (HCV) đã phát hiện những cuộc chuyển quân với qui mô lớn từ các căn cứ địa ở Cam-bốt và Lào vào bắc tỉnh Kontum. Những nguồn tin này cũng cho biết rằng chiến dịch này gồm ba giai đoạn với Giai đoạn I từ 27/1 đến 7/2; Giai đoạn II từ 7/2 đến 14/2; Giai đoạn III từ 14/2 đến 29/2. Trọng điểm (high point) của cuộc tấn công này gồm các cuộc tấn công vào khu vực Tân Cảnh/Dak To 2, các CCHL trên Rặng Hỏa Tiển, và tp Kontum và Pleiku. Hơn nữa, hoạt động của lực lượng địa phương VC ở phần phía nam của QK-2 và các tỉnh ven biển sẽ gia tăng nhằm phân tán lực lượng VNCH và khiến vùng Cao nguyên Trung phần làm mồi ngon cho một cuộc tấn công gồm nhiều sư đoàn ở tỉnh Kontum. Với cuộc tấn công hỗ trợ của các đv VC tại Bình Định, một tỉnh mà lâu nay đã bị VC khống chế, một thành công trên chiến trường Kontum sẽ cho phép (would enable) Bắc quân cắt đôi VNCH và làm người ta ko còn tin tưởng chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Các nguồn tin tình báo đã nhận diện BCH đầu não của cuộc tấn công sắp xảy ra (impende) của bắc quân tại Cao nguyên là Mặt trận B-3. Các đv chánh yếu của họ là sđ 320 csbv, sđ 2 csbv, và những đơn vị tác chiến cơ hữu của Mặt Trận B-3, tương đương một sđ, tổng cộng là ba sđ. Những đv csbv này được sự tiếp sức của các đv chủ lực (main) và địa phương của VC và trung đoàn 203 chiến xa, trực thuộc bộ tổng tham mưu ở Hà Nội.
Do những chỉ dấu ngày càng gia tăng của một cuộc tấn công sắp xảy ra, các cố vấn Mỹ ở QK-2 đã làm việc chặc chẻ với các đồng nhiệm, ý nói các cấp chỉ huy VN mà họ làm cố vấn -- người dịch, để xử dụng sức mạnh quân sự còn lại của Mỹ tại VN. Sức mạnh này gồm có không kỵ, yễm trợ của không quân và các cuộc oanh tạc của B-52. Trang bị các thiết bị điện tử hiện đại, máy bay của không kỵ Mỹ được dùng để thu lượm (reconnoiter) tin tức trên các căn cứ địa của địch mà quân đồng minh đã biết dọc theo vùng tam-biên của Lào, Cam-bốt, và VN -- cũng như vùng bắc Kontum trong Thung lũng Plei Trap. Lực lượng không kỵ và các quan sát cơ L-19 hay OV-1 Mohawk của không quân Mỹ đã có thể (were able) phát hiện các khu vực huấn luyện trên đó có xe tăng giả (mock-up), các vị trí cối và các hệ thống hầm trú ẩn lớn. Nói thêm: Máy bay OV-1 Mohawk có thiết bị điện tử SLAR giúp nó có thể nhìn xuyên qua tán lá và lập bản đồ địa hình, cung cấp cho quan sát viên một cuốn phim về mặt đất bên dưới chỉ sau vài phút bay qua khu vực. Hình ảnh chia làm hai phần: địa hình và những mục tiêu di động. Khác với L-19, OV-1 được bọc giáp để tránh đạn súng nhỏ và trang bị một khẩu đại liên 12.7 ly và hai hỏa tiển M159. Nhờ vậy, đầu năm 1968, nó bắn rơi một phản lực MiG-17 của CSBV. OV-1 có thể cất và hạ cánh trên đường bay ngắn và hoạt động trong mọi thời tiết -- người dịch.
Trong tuần cuối cùng của tháng Giêng 1972, máy bay đã trông thấy hoạt động của thiết giáp địch ở phía đông Căn Cứ Địa 609. Ngày 25/1, hai phi công trực thăng võ trang Cobra thuộc đại đội 361 trực thăng võ trang (Aerial Weapons Company) báo cáo đã tấn công (engage) hai xe tăng trong Thung lũng Plei Trap, ngay phía tây của Rặng Hỏa Tiển. Các phi công này cũng thấy bốn xe tăng khác, đậu dưới bóng cây, trong khu vực này. Trong cùng khu vực, một chiếc Cobra khác cũng thấy sáu vết xích sắt tạo ra bởi thiết giáp. Những toán viễn thám sau đó được thả xuống khu vực đã không tìm thấy các xe tăng này, nhưng các vết xích cho thấy ít nhứt một đại đội xe tăng trong khu vực. Ngày 30/1, các trực thăng võ trang đã báo cáo thấy xe tăng và sau đó thỉnh thoảng cũng thấy. Vì những báo cáo này không thể kiểm chứng (substantiate) bởi các toán viễn thám, nên toán cố vấn Mỹ của QK-2 hay SRAG đã không tin lắm. (Second Regional Assistance Group/SRAG).
Tuy nhiên, dựa vào các báo cáo trên đây và các cuộc tuần tiểu của BĐQ biên phòng thuộc các trại Dak Pek, Dak Seang, và Ben Het, các cố vấn Mỹ đã tiến hành hơn 60 phi xuất B-52, mỗi phi xuất gồm ba chiếc, trong tháng 1/72. ĐPQ và nghĩa quân (NQ) đã gia tăng các hoạt động của họ trong tháng 1/72 bằng cách tiến hành các các cuộc hành quân cấp TĐ bằng cách đi bộ hay trực thăng vận, trong khi lực lượng chính quy của VNCH tập trung vào việc cũng cố tuyến phòng thủ của họ trong tỉnh Kontum và Bình Định.
Dựa trên việc đánh giá những tin tức tình báo có được, bộ tham mưu QK-2 của VNCH, chỉ huy bởi trung tướng Ngô Dzu, đã lập kế hoạch phòng thủ Cao nguyên Trung phần. Trong khi các cố vấn Mỹ theo dõi chặc chẻ mọi phát triển của tình hình, phía VN đã thiết kế (formulate) kế hoạch phòng thủ. Người Mỹ quan trọng nhứt trong quá trình này là ông John Paul Vann, một dân sự (civilian) duy nhứt được chọn để chỉ huy nỗ lực cố vấn tại một trong bốn QK của Nam VN. Vann đã sống hơn 11 năm tại VN, lúc đầu là một sĩ quan lục quân và kế đó là một thường dân, và rất được dân miền Nam quí trọng.
Trong tuần lễ đầu của tháng Hai, Không quân VNCH và không kỵ Mỹ đã tiếp tục báo cáo thấy thiết giáp địch, trong khi tình hình đã bắt đầu sôi động. Những tài liệu tịch thu trong tuần lễ từ 4 đến 10 tháng Hai đã xác nhận sự có mặt của sđ 320 csbv trong Mặt trận B-3. Một tài liệu cũng cho thấy sđ 320 gồm các trung đoàn 48, 52, và 64 bộ binh và trung đoàn 54 pháo binh. Quân số tổng cộng của sđ này và các TĐ đặc biệt (special) của nó là 10.400 người. Một tài liệu khác đã cho thấy cả hai loại đại bác dã chiến 122 ly và 130 ly của Liên Xô (LX) với tầm bắn tới 17 dặm Anh hay 27.35 km đã được xâm nhập ở khu vực tam biên này.
Vì thông tin này, trung tướng Dzu đã ra lịnh cho đại tá Lê Đức Đạt, tư lịnh mới của sđ 22 bộ binh VNCH, dời bộ tư lịnh (BTL) tiền phương của sđ, các đv về tiếp vận của sđ, và trung đoàn 47, đến khu vực Tân Cảnh/Dak To 2; khu vực này đang canh giữ bởi trung đoàn 42. Nói thêm: trung đoàn 47 sẽ đóng ở căn cứ Dak To 2, cách căn cứ Tân Cảnh 5 km về phía tây, phía bắc căn cứ giáp tỉnh lộ (TL) 512, phía nam căn cứ có sông Dak Poko, có sân bay lớn tiếp nhận được máy bay Hercules C-130 -- người dịch. Việc di chuyển các thành phần chánh yếu về tham mưu và tiếp liệu từ hậu cứ của sđ tại Bà Gi, Bình Định, đã hoàn tất vào ngày 7 và 8 tháng hai. Ngoài ra, các thành phần của thiết đoàn 19 cũng được lịnh đến Tân Cảnh để tăng cường cho thiết đoàn 14 cơ hữu của sđ. Đại tá Đạt đã đưa lực lượng thiết giáp mới lên trại LLĐB Ben Het vì nghĩ rằng xe tăng csbv sẽ tiến từ hướng này. Trung tá Tường, chỉ huy trưởng thiết giáp của QK-2 phản đối việc này vì cho rằng thiết giáp ko nên đóng quân để giữ căn cứ, mà phải lưu động để dễ tiếp cứu các đv khác. Lữ đoàn 2 Dù, tuy là trừ bị chiến lược cũng được lịnh chiếm giữ các CCHL trên Rặng Hỏa Tiển.
Đại tá Đạt được giao chỉ huy khu vực Dak To bao gồm các trại BĐQ biên phòng ở Ben Het, Dak Mot, Dak Peh, Dak Saeng, và các CCHL 5 và 6. Đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kontum, trách nhiệm bảo vệ tp Kontum, và đại tá Lê trung Tường, tư lịnh phó phụ trách hành quân bảo vệ tỉnh Pleiku.
Tết âm lịch đã qua, và ko có cuộc tấn công nào. Tuy nhiên, những bằng chứng của địch chuẩn bị đánh lớn đã tiếp tục gia tăng. Trong một nỗ lực nhằm phá vỡ thời biểu tấn công của đối phương, không quân đã thực hiện trên 30 phi xuất B-52 tại khu vực Tân Cảnh trong 3 tuần đầu của tháng hai.
Việc tổng thống Mỹ đi thăm TC từ 21 đến 28/2 đã khiến nhiều người tin rằng đối phương sẽ cố gắng mở rộng hoạt động nhằm coi thường hay hạ thấp (disrespect) cuộc gặp quan trọng này giữa hai cường quốc. Lại một lần nữa, địch đã hành động ngược với các ước tính tình báo này. Họ đã tiếp tục tránh đụng độ trực tiếp nhưng gia tăng đánh phá các trục lộ và các đồn nhỏ. Con số tù binh và hồi chánh viên đã giảm rất thấp. Ở những năm trước đây, điều này báo hiệu tấn công sắp xảy ra. Máy bay quan sát đã tiếp tục phát hiện một số lượng lớn, chưa từng thấy, chiến cụ của địch đã di chuyển, về hướng đông vào tỉnh Kontum. Tuy nhiên cuộc tấn công đã trì hoản vì các đv CSBV và VC đã gặp khó khăn khi chuyển chiến cụ đến các vị trí tấn công do các cuộc oanh kích dữ dội của B-52 và không quân chiến thuật trên các khu căn cứ của họ. Vì vậy những ngày Tết đã trải qua êm thắm. Tuy nhiên đối phương đã chuẩn bị đánh lớn gồm việc xây dựng các hầm trú ẩn, đường xá, hành quân thám sát hay điều nghiên, chuyển quân vào vị trí tấn công, tất cả các điều này đã báo trước (portend) một cuộc tấn công ồ ạt của đối phương. Cuộc tấn công này chỉ chờ đợi khi quân số và tiếp vận đầy đủ và thời tiết thuận lợi cho họ.
Để đẩy mạnh hơn việc phòng thủ của cao nguyên, BTL của sđ Dù và một lữ đoàn Dù đã đến Kontum trong tuần đầu của tháng ba và trách nhiệm bảo vệ tp Kontum và phần phía nam của tỉnh. Sau giữa tháng ba, những cuộc chạm súng với những đv lớn của đối phương đã gia tăng đáng kể. Một sự kiện quan trọng đã xảy ra khi một đv của LĐ 2 Dù đã chạm súng trên Rặng Hỏa Tiển với một lực lượng csbv cấp TĐ; họ đã bắt vài tù binh và một hồi chánh. Điều này đã đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ mà đối phương né tránh đụng độ lớn. Tù binh và hồi chánh đã báo cáo sđ 320 csbv sẽ yểm trợ Mặt trận B-3 và tham gia một cuộc tổng tấn công từ tháng tư đến tháng 9. Những nguồn tin này cũng báo cáo rằng đã thấy nhiều xe tăng trong những khu căn cứ mà họ đã đi qua và nghe rằng các đv thiết giáp csbv sẽ yểm trợ các đv bộ binh của Mặt trận B-3 trong cuộc tấn công sắp tới. Họ cũng kể về những tổn thất về người và vật chất gây ra cho đv của họ vì các cuộc ném bom của B-52.
Cũng có ba cuộc chạm súng khác đáng chú ý. Một đã xảy ra 30 km bắc tp Kontum khi TĐ 23 BĐQ bị bao vây trong khi họ đánh giá một cuộc oanh kích của B-52. Máy bay chiến thuật, pháo binh, và B-52 đã giúp cho BĐQ phá vòng vây (breakout). Một chạm súng nhỏ hơn giữa TĐ 95 BĐQ biên phòng và trung đoàn 141, sđ 2 csbv ở bắc Ben Het. Cuối tháng này, các thành phần của trung đoàn 47 và LĐ 2 Dù lần nữa lại đụng nặng dọc Rặng Hỏa Tiển. Quân bạn đã gây thiệt hại nặng (take heavy toll of) cho quân csbv với sự yểm trợ của B-52 và không quân Việt - Mỹ.
Những thành công trên đây của VNCH và việc đối phương ko thể tung ra cuộc tổng tấn công đúng theo thời biểu mà chúng đã định trước đã tác động lên bộ tham mưu QĐ-2; họ đã bắt đầu nghi ngờ về việc liệu đối phương có tấn công những mục tiêu đã đề ra. Họ đã nghĩ rằng việc liên tục áp lực lên đối phương thông qua gia tăng hành quân, việc LĐ 2 Dù đẩy mạnh tấn công, việc sử dụng ko ngừng nghỉ lực lượng không quân có được, đã trì hoãn chuẩn bị đánh lớn của chúng. Do đó, nếu tiếp tục tăng cường hành quân trên bộ và oanh kích ồ ạt sẽ khiến đối phương ko còn giữ ý định và giảm thiểu quy mô, thời gian của cuộc tấn công mà chúng đã dự định.
Trong tuần đầu của tháng tư, dự báo này đã có vẻ chính xác khi trung đoàn 48 và 52 của sđ 320 csbv đã bị thiệt hại nặng khi tấn công các CCHL trên Rặng Hỏa tiển. B-52 và máy bay chiến thuật đã liên tục tấn công những đv địch đang tập trung tại khu này đến độ 4 tới 5 TĐ mất khả năng tác chiến. Một tù binh bị bắt đã xác nhận thông tin này. Tuy nhiên, theo y, viện binh đã đến mỗi ngày, và những đv này nhanh chóng lấy lại (regain) sức mạnh ban đầu. Điều này chứng tỏ việc dùng B-52 và máy bay chiến thuật đánh phá đường mòn HCM-con đường huyết mạch để nuôi sống lực lượng CS ở miền Nam đã ko còn nhiều như trước -- người dịch. Cùng lúc hai trung đoàn 42 và 47 VNCH đã đụng nặng ở bắc và đông Dak To với các thành phần của sđ 2 csbv và trung đoàn 66 của mặt trận B-3. Tù binh bị bắt trong chạm súng khai rằng nhiệm vụ của sđ 2 là chiếm sân bay Dak To 2 và BCH của trung đoàn 42 ở Tân Cảnh, cũng như những đv pháo binh dọc TL-512. Trung đoàn 66 đã điều nghiên căn cứ Tân Cảnh và đang trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng trước khi tấn công.Tù binh ko biết thời điểm nổ súng nhưng chắc chắn sẽ xảy ra.
Sau khi nghe những báo cáo này, trung tướng Dzu đã nghĩ rằng ông ko đủ quân trong khu vực Dak To để đối phó với một cuộc tấn công nhiều sđ của csbv. Ông muốn tăng cường của lực lượng ở Dak To bằng tám TĐ quân chính quy lấy từ Bình Định; điều này sẽ khiến tỉnh này chỉ còn ĐPQ và NQ. Tuy nhiên, ông Vann đã thuyết phục tướng Dzu rằng làm như vậy là thảm họa. Vann đã đề nghị sđ 23 nên điều chỉnh khu vực trách trách nhiệm hay AOR (area of responsibility) để cho sđ này một số trách nhiệm ở Kontum và như vậy ko cần đưa quân từ Bình Định lên. Với kế hoạch này, dưới quyền đại tá Đạt có 13 TĐ trong đó có ba TĐ BĐQ biên phòng, tám TĐ bộ binh và các đại đội trinh sát, thiết kỵ, lực lượng của tiểu khu và 50 đại bác; sđ Dù có sáu TĐ tác chiến, một TĐ BĐQ biên phòng và 16 đại bác; tiểu khu Kontum có một liên đoàn BĐQ và lực lượng diện địa; và 50 chiến xa thuộc thiết đoàn 14 và 19 đóng rải rác giữa Pleiku và Ben Het.
Việc dàn quân như thế này đã gây khó khăn rất nhiều (strain) cho việc tiếp tế cho các đv ở bắc Võ Định vì chỉ dựa một đường độc đạo là QL-14. Nếu QL này bị cắt đứt, các lực lượng này đễ dàng bị bao vây và cô lập.Tuy nhiên tướng Dzu đã coi thường những khó khăn về tiếp vận này, vì ông được lịnh của tổng thống là giữ đất bằng mọi giá. Tuy nhiên áp lực này tiếp tục gia tăng và địch tiếp tục chuẩn bị chiến trường.
Khó khăn này đã gia tăng bởi sự chỉ huy ko hiệu quả của đại tá Đạt, tư lịnh sđ 22: điển hình, có một lần, do chỉ huy kém cỏi, ông đã khiến TĐ 9 Dù bị thiệt hại hai trực thăng; lần khác ông đã ko thể khai thác kết quả hai vụ oanh kích của B-52 và sự chia rẻ giữa sđ 22 với sđ Dù."
. . .
Chuyển ngữ từ trang 34 đến 38 của chuyên khảo (monograph) đã dẫn trong các bài trước.
San Jose ngày 19 tháng 9 năm 2023.