Tuesday, September 12, 2023

 Đại úy Charles Carden, cố vấn của trung đoàn 47 bộ binh đã thuật lại như sau: Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau khi Tân Cảnh bị tấn công, 1 trực thăng UH1 đến Đắc Tô II đón 6 viên cố vấn Hoa Kỳ của sư 22 Bộ binh. Chiếc trực thăng này bị trúng đạn phòng không, cháy và rớt tại phía nam chu vi phòng thủ. Tại khu vực phòng thủ của trung đoàn, chính ông được mục kích 2 chiến xa T-54 địch tiến vào phi trường rồi chia làm 2 ngả. Một chiếc tiến về hướng Tây của phi trường, án ngữ lộ trình chuyển quân từ Bến Hét về Đắc Tô II. Chiếc kia từ hướng Bắc chạy vào giữa phi trường, tấn công vị trí phòng thủ của trung đoàn 47 bộ binh.

Ngay lúc đó, 2 xe tăng M41 thuộc chi đoàn 1/14 liền điều động và tác xạ. Mỗi chiếc M41 bắn 3 phát đại bác 76 ly vào sườn tây của chiếc xe tăng T-54 quân Giải Phóng. Lúc ấy cố vấn Carden, chỉ cách chiến xa địch khoảng 100 thứoc, nhìn thấy chiếc T-54 bị trúng đạn và bốc khói nhưng chưa bị hạ. Chiếc T-54, vỏ thép dầy 105 ly, nặng 36 tấn, đã hồi phục mau lẹ rồi quay nòng súng lại bắn hạ 1 chiến xa M41 bằng 2 quả đạn 100 ly. Ngay sau đó chiếc T-54 này cũng hạ chiếc M-41 còn lại bằng trái thứ ba. Đây là trận xa chiến cuối cùng tại mặt trận Đắc Tô II.

Đúng 4 giờ sáng, 2 chiếc PT76 của Cộng quân ở phía bắc kho đạn bắt đầu tác xạ. Chi đội 1/1 khai hỏa bắn trúng cả hai chiếc PT76, nhưng xe không cháy mà chỉ nằm quay ngang trước cổng kho đạn. Để phản công, Cộng quân phóng hỏa tiễn AT3 vào chi đội 1/1 do thiếu úy Trần Nhuần chỉ huy. Chiến xa chỉ huy bị trúng đạn, Thiếu úy Nhuần chết ngay tại chỗ. Đại đội thám kích giữ kho đạn tự động rút lui lúc nào không rõ.

Trại Đắk Tô phòng thủ sân bay Phượng Hoàng năm 1970 trước khi diễn ra trận Tân Cảnh - Đắk Tô 1972
Trại Đắk Tô phòng thủ sân bay Phượng Hoàng năm 1970 trước khi diễn ra trận Tân Cảnh – Đắk Tô 1972

Trong khi ấy, 4 xe tăng M41 còn lại và hai thiết xa vận M113 của ban chỉ huy chi đoàn đã cố gắng chống trả. Trung sĩ Nguyễn Văn Khánh, hạ sĩ quan truyền tin trên chiếc M113 đã nhảy lên thay thế xạ thủ đại liên 30 bị tử thương. Trong khi Trung sĩ Khánh đang bắn vào các bộ đội Cộng Quân đang bảo vệ 2 chiềc PT-76 thì 1 trái hỏa tiễn B40 của đối phương phóng trúng vào xe M113 chỉ huy. Kết quả trung sĩ Khánh tử thương và Đại úy Giang bị thương nặng. Đại úy Giang được đồng đội cõng chạy vào rừng. nhưng bị bắt vào ngày 3-5-1972.

Trận Tân Cảnh kết thúc vào 10h sáng ngày 24 tháng 4 khi Quân Giải Phóng chiếm căn cứ Tân Cảnh. còn đại tá Đạt có tin thì cho biết ông tự sát, có tin thì nói ông bị pháo kích bắn chết

Thất bại của quân Việt Nam Cộng Hòa ở trận Tân Cảnh khiến căn cứ Đắk Tô 2 (sân bay Phượng Hoàng) bị cô lập, quân Giải Phóng cho pháo binh bắn phá và nhanh chóng chiếm được căn cứ Đắk Tô 2

Thắng lợi ở trận Tân Cảnh, Đắk Tô khiến đường tiến xuống Kontum rộng mở với quân Giải Phóng, tuy nhiên, những thiệt hại nhất định khiến tướng Hoàng Minh Thảo phải tạm ngừng 20 ngày mới có thể tập trung, củng cố lực lượng đế tiến đánh Kontum

 

Sunday, September 10, 2023

Dựa vào Numerology, ta thay thế các chữ bằng số, ta có: 

N GUY Ễ N 

5 3 6 1 5 5 = 25 = 7

L Ệ 

3 5 = 8

H  Ằ N G 

5  1  5  3 = 14 = 5 

Cộng lại: 7 8 5 = 20.

Sau đây là ý nghĩa của số 20.

Sự tỉnh thức (awakening)

Ngoài việc được gọi là "sự tỉnh thức", số kép này được mô tả (is pictured) bởi người Can-Đê (Chaldean) là "Sự Phán Xét". Đó là một giải thích kỳ lạ (peculiar), và được tượng trưng bởi "một thiên thần có cánh, thổi kèn, trong khi từ bên dưới, một đàn ông, một đàn bà, và một đứa nhỏ sống lại/nổi lên (arise) từ một nấm mộ, với tay chấp lại cầu nguyện (hands clasped in prayer). Ở một lúc nào đó (at some time) trong kinh nghiệm/thử thách của người hay thực thể thay mặt bởi số 20, có một sự tỉnh thức mạnh mẻ, mang lại một mục tiêu mới, các kế hoạch mới, các tham vọng mới - (đó là) lời kêu gọi hành động cho đại nghĩa hay ý tưởng nào đó (some great cause or ideal). Thỉnh thoảng có thể có những trì hoãn hay chướng ngại cho kế hoạch cho y, nhưng những điều này có thể chinh phục hay vượt qua bằng cách phát triển kiên nhẩn (cũng là thách thức của số 20) và bằng cách tiếp tục trau dồi (cultivate) niềm tin vào các khả năng tự biến đổi của y (in one's own powers to transform). Số 20 đem lại phước lành (blessing) qua những giấc mơ sống động về nhận thức (vivid precognitive dream), cộng thêm khả năng bày tỏ những giấc mơ may mắn và triệt tiêu những giấc mơ tiêu cực (negative). Số 20 không phải là số vật chất (material number), vì thế ko chắc có được thành công về tài chánh (doubtful regarding financial success). Nếu cần thiết có số tiền lớn để hỗ trợ thực tế cho một đại nghĩa hay ý tưởng mới, sau đó y có thể chọn một con số nặng về vật chất tích cực hơn (a more positive materialistic number) bằng cách đổi tên, với giả dụ rằng 20 là ngày sanh. Nếu tên cộng lại bằng 20, hy vọng rằng, ngày sanh này sẽ ban cho (bestow) một tác động tài chánh may mắn hơn (the birth number will bestow a more fortunate financial vibration). Tuy nhiên, những ai hợp với sự tác động/rung động của số 20 ít khi để ý vấn đề tài chánh. Tiền bạc không quan trọng với họ -- và số 20 sẽ, như một luật phổ quát, cung cấp đủ cho những nhu cầu căn bản".
Dịch từ trang 257-8 của sách Linda Goodman's Star Signs.

Saturday, September 9, 2023


TÌNH HÌNH QK-2 TRƯỚC TRẬN TÂN CẢNH - DAK TO 2


- Trong sách A Duty Done, cựu trung tá Úc-đại-lợi Fred Fairhead đã nghi ngờ sự hữu hiêu của B-52 khi viết: "Mỗi phi xuất của B-52 gồm ba chiếc, mỗi chiếc mang theo khoảng 100 quả bom 500 cân Anh hay 226,7 kg, bay ở cao độ 50.000 bộ hay 15,24 km, và thả bom xuống một mục tiêu, còn gọi là một box, có bề ngang khoảng 1 km và dài 3 km. Vấn đề là các mục tiêu này phần lớn lại là những đv nhỏ và lưu động của đối phương mà các điện đài hay máy phát sóng của họ đặt xa căn cứ đóng quân của họ. Do vậy, nếu sau khi định vị nơi đặt máy phát sóng và ném bom xuống đó, gần như B-52 chỉ gây thiệt hại rất ít cho các căn cứ này. B-52 chỉ hữu hiệu khi đối phương tập trung đông đảo để tấn công vào một căn cứ của đồng minh, như lần họ bao vây căn cứ Khe Sanh của TQLC Mỹ năm 1968"-- người dịch.

- Dù máy bay thám sát báo cáo đã thấy xe tăng từ đầu năm 1972, nhưng cố vấn của QK2 vẫn không tin vì các toán viễn thám ko thấy tận mắt.    

Việc triệt thoái các TĐ chiến đấu Mỹ và việc chấm dứt nhiệm vụ của 60.000 cố vấn Mỹ đã dẫn đến kết quả là quân đội VNCH phải nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến trong khu vực của họ.



Đây là bài thứ ba trong chuyên khảo (monograph) được viết bởi các cố vấn Mỹ từng phục vụ tại VNCH. Sau đây là phần chuyển ngữ.

. . . 

"Quân khu 2, vùng chiến thuật lớn nhứt của Việt Nam Cộng Hòa (The Republic of Vietnam), chiếm 47/100 diện tích của đất nước; tuy nhiên, chỉ có ba triệu dân hay khoảng 1/5 dân số cả nước. Vì lý do trên, ko bên nào cố gắng hết sức để làm chủ mảnh đất thưa dân này. Mỗi năm trong mùa khô, Dãy Trường Sơn, còn gọi là Dãy Núi Trung Kì (Annamite Range) của tỉnh Kontum đã trở thành nơi diển ra các hoạt động gia tăng của địch; năm 1972 ko phải là ngoại lệ. (Nói thêm: Dãy Núi này dài chừng 1.100 km, là đường phân thủy của sông Mê Kông và hệ thống sông ngòi đổ vào biển Đông, đi song song với bờ biển, cũng là dãy núi phân chia ranh giới Việt Nam và Lào; cũng là nơi có cánh rừng nhiệt đới lớn của Á châu -- người dịch.                  

Việc triệt thoái (drawdown) các TĐ chiến đấu Mỹ và việc chấm dứt (relegration) nhiệm vụ của 60.000 cố vấn Mỹ đã dẫn đến kết quả là quân đội VNCH phải nhận lãnh trách nhiệm về cuộc chiến trong khu vực của họ. Việc thất bại của chương trình Việt Nam hóa chiến tranh này của Mỹ sẽ là một đòn tai hại cho chánh sách ngoại giao của Mỹ và cung cấp cho kẻ thù một thuận lợi quyết định ở bàn hội nghị. 

Từ ngay giữa tháng 12/1971, quân đồng minh tại Cao nguyên Trung phần của QK-2 đã bắt đầu nhận những báo cáo về những chuẩn bị của đối phương  cho một tấn công lớn trong dịp đông xuân của năm 1972. Những báo cáo về tình báo của VNCH và lời khai của tù binh và hồi chánh viên (HCV) đã phát hiện những cuộc chuyển quân với qui mô lớn từ các căn cứ địa ở Cam-bốt và Lào vào bắc tỉnh Kontum. Những nguồn tin này cũng cho biết rằng chiến dịch này gồm ba giai đoạn với Giai đoạn I từ 27/1 đến 7/2; Giai đoạn II từ 7/2 đến 14/2; Giai đoạn III từ 14/2 đến 29/2. Trọng điểm (high point) của cuộc tấn công này gồm các cuộc tấn công vào khu vực Tân Cảnh/Dak To 2, các CCHL trên Rặng Hỏa Tiển, và tp Kontum và Pleiku. Hơn nữa, hoạt động của lực lượng địa phương VC ở phần phía nam của QK-2 và các tỉnh ven biển sẽ gia tăng nhằm phân tán lực lượng VNCH và khiến vùng Cao nguyên Trung phần làm mồi ngon cho một cuộc tấn công gồm nhiều sư đoàn ở tỉnh Kontum. Với cuộc tấn công hỗ trợ của các đv VC tại Bình Định, một tỉnh mà lâu nay đã bị VC khống chế, một thành công trên chiến trường Kontum sẽ cho phép (would enable) Bắc quân cắt đôi VNCH và làm người ta ko còn tin tưởng chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Các nguồn tin tình báo đã nhận diện BCH đầu não của cuộc tấn công sắp xảy ra (impende) của bắc quân tại Cao nguyên là Mặt trận B-3. Các đv chánh yếu của họ là sđ 320 csbv, sđ 2 csbv, và những đơn vị tác chiến cơ hữu của Mặt Trận B-3, tương đương một sđ, tổng cộng là ba sđ. Những đv csbv này được sự tiếp sức của các đv chủ lực (main) và địa phương của VC và trung đoàn 203 chiến xa, trực thuộc bộ tổng tham mưu ở Hà Nội.

Do những chỉ dấu ngày càng gia tăng của một cuộc tấn công sắp xảy ra, các cố vấn Mỹ ở QK-2 đã làm việc chặc chẻ với các đồng nhiệm, ý nói các cấp chỉ huy VN mà họ làm cố vấn -- người dịch, để xử dụng sức mạnh quân sự còn lại của Mỹ tại VN. Sức mạnh này gồm có không kỵ, yễm trợ của không quân và các cuộc oanh tạc của B-52. Trang bị các thiết bị điện tử hiện đại, máy bay của không kỵ Mỹ được dùng để thu lượm (reconnoiter) tin tức trên các căn cứ địa của địch mà quân đồng minh đã biết dọc theo vùng tam-biên của Lào, Cam-bốt, và VN -- cũng như vùng bắc Kontum trong Thung lũng Plei Trap. Lực lượng không kỵ và các quan sát cơ L-19 hay OV-1 Mohawk của không quân Mỹ đã có thể (were able) phát hiện các khu vực huấn luyện trên đó có xe tăng giả (mock-up), các vị trí cối và các hệ thống hầm trú ẩn lớn. Nói thêm: Máy bay OV-1 Mohawk có thiết bị điện tử SLAR giúp nó có thể nhìn xuyên qua tán lá và lập bản đồ địa hình, cung cấp cho quan sát viên một cuốn phim về mặt đất bên dưới chỉ sau vài phút bay qua khu vực. Hình ảnh chia làm hai phần: địa hình và những mục tiêu di động. Khác với L-19, OV-1 được bọc giáp để tránh đạn súng nhỏ và trang bị một khẩu đại liên 12.7 ly và hai hỏa tiển M159. Nhờ vậy, đầu năm 1968, nó bắn rơi một phản lực MiG-17 của CSBV. OV-1 có thể cất và hạ cánh trên đường bay ngắn và hoạt động trong mọi thời tiết -- người dịch. 

Trong tuần cuối cùng của tháng Giêng 1972, máy bay đã trông thấy hoạt động của thiết giáp địch ở phía đông Căn Cứ Địa 609. Ngày 25/1, hai phi công trực thăng võ trang Cobra thuộc đại đội 361 trực thăng võ trang (Aerial Weapons Company) báo cáo đã tấn công (engage) hai xe tăng trong Thung lũng Plei Trap, ngay phía tây của Rặng Hỏa Tiển. Các phi công này cũng thấy bốn xe tăng khác, đậu dưới bóng cây, trong khu vực này. Trong cùng khu vực, một chiếc Cobra khác cũng thấy sáu vết xích sắt tạo ra bởi thiết giáp. Những toán viễn thám sau đó được thả xuống khu vực đã không tìm thấy các xe tăng này, nhưng các vết xích cho thấy ít nhứt một đại đội xe tăng trong khu vực. Ngày 30/1, các trực thăng võ trang đã báo cáo thấy xe tăng và sau đó thỉnh thoảng cũng thấy. Vì những báo cáo này không thể kiểm chứng (substantiate) bởi các toán viễn thám, nên toán cố vấn Mỹ của QK-2 hay SRAG đã không tin lắm. (Second Regional Assistance Group/SRAG).   

              

Tuy nhiên, dựa vào các báo cáo trên đây và các cuộc tuần tiểu của BĐQ biên phòng thuộc các trại Dak Pek, Dak Seang, và Ben Het, các cố vấn Mỹ đã tiến hành hơn 60 phi xuất B-52, mỗi phi xuất gồm ba chiếc, trong tháng 1/72.  ĐPQ và nghĩa quân (NQ) đã gia tăng các hoạt động của họ trong tháng 1/72 bằng cách tiến hành các các cuộc hành quân cấp TĐ bằng cách đi bộ hay trực thăng vận, trong khi lực lượng chính quy của VNCH tập trung vào việc cũng cố tuyến phòng thủ của họ trong tỉnh Kontum và Bình Định. 

Dựa trên việc đánh giá những tin tức tình báo có được, bộ tham mưu QK-2 của VNCH, chỉ huy bởi trung tướng Ngô Dzu, đã lập kế hoạch phòng thủ Cao nguyên Trung phần. Trong khi các cố vấn Mỹ theo dõi chặc chẻ mọi phát triển của tình hình, phía VN đã thiết kế (formulate) kế hoạch phòng thủ. Người Mỹ quan trọng nhứt trong quá trình này là ông John Paul Vann, một dân sự (civilian) duy nhứt được chọn để chỉ huy nỗ lực cố vấn tại một trong bốn QK của Nam VN. Vann đã sống hơn 11 năm tại VN, lúc đầu là một sĩ quan lục quân và kế đó là một thường dân, và rất được dân miền Nam quí trọng. 

Trong tuần lễ đầu của tháng Hai, Không quân VNCH và không kỵ Mỹ đã tiếp tục báo cáo thấy thiết giáp địch, trong khi tình hình đã bắt đầu sôi động. Những tài liệu tịch thu trong tuần lễ từ 4 đến 10 tháng Hai đã xác nhận sự có mặt của sđ 320 csbv trong Mặt trận B-3. Một tài liệu cũng cho thấy sđ 320 gồm các trung đoàn 48, 52, và 64 bộ binh và trung đoàn 54 pháo binh. Quân số tổng cộng của sđ này và các TĐ đặc biệt (special) của nó là 10.400 người. Một tài liệu khác đã cho thấy cả hai loại đại bác dã chiến 122 ly và 130 ly của Liên Xô (LX) với tầm bắn tới 17 dặm Anh hay 27.35 km đã được xâm nhập ở khu vực tam biên này.

Vì thông tin này, trung tướng Dzu đã ra lịnh cho đại tá Lê Đức Đạt, tư lịnh mới của sđ 22 bộ binh VNCH, dời bộ tư lịnh (BTL) tiền phương của sđ, các đv về tiếp vận của sđ, và trung đoàn 47, đến khu vực Tân Cảnh/Dak To 2; khu vực này đang canh giữ bởi trung đoàn 42. Nói thêm: trung đoàn 47 sẽ đóng ở căn cứ Dak To 2, cách căn cứ Tân Cảnh 5 km về phía tây, phía bắc căn cứ giáp tỉnh lộ (TL) 512, phía nam căn cứ có sông Dak Poko, có sân bay lớn tiếp nhận được máy bay Hercules C-130 -- người dịch. Việc di chuyển các thành phần chánh yếu về tham mưu và tiếp liệu từ hậu cứ của sđ tại Bà Gi, Bình Định, đã hoàn tất vào ngày 7 và 8 tháng hai. Ngoài ra, các thành phần của thiết đoàn 19 cũng được lịnh đến Tân Cảnh để tăng cường cho thiết đoàn 14 cơ hữu của sđ. Đại tá Đạt đã đưa lực lượng thiết giáp mới lên trại LLĐB Ben Het vì nghĩ rằng xe tăng csbv sẽ tiến từ hướng này. Trung tá Tường, chỉ huy trưởng thiết giáp của QK-2 phản đối việc này vì cho rằng thiết giáp ko nên đóng quân để giữ căn cứ, mà phải lưu động để dễ tiếp cứu các đv khác. Lữ đoàn 2 Dù, tuy là trừ bị chiến lược cũng được lịnh chiếm giữ các CCHL trên Rặng Hỏa Tiển. 

Đại tá Đạt được giao chỉ huy khu vực Dak To bao gồm các trại BĐQ biên phòng ở Ben Het, Dak Mot, Dak Peh, Dak Saeng, và các CCHL 5 và 6. Đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kontum, trách nhiệm bảo vệ tp Kontum, và đại tá Lê trung Tường, tư lịnh phó phụ trách hành quân bảo vệ tỉnh Pleiku. 

Tết âm lịch đã qua, và ko có cuộc tấn công nào. Tuy nhiên, những bằng chứng của địch chuẩn bị đánh lớn đã tiếp tục gia tăng. Trong một nỗ lực nhằm phá vỡ thời biểu tấn công của đối phương, không quân đã thực hiện trên 30 phi xuất B-52 tại khu vực Tân Cảnh trong 3 tuần đầu của tháng hai. 

Việc tổng thống Mỹ đi thăm TC từ 21 đến 28/2 đã khiến nhiều người tin rằng đối phương sẽ cố gắng mở rộng hoạt động nhằm coi thường hay hạ thấp (disrespect) cuộc gặp quan trọng này giữa hai cường quốc. Lại một lần nữa, địch đã hành động ngược với các ước tính tình báo này. Họ đã tiếp tục tránh đụng độ trực tiếp nhưng gia tăng đánh phá các trục lộ và các đồn nhỏ. Con số tù binh và hồi chánh viên đã giảm rất thấp. Ở những năm trước đây, điều này báo hiệu tấn công sắp xảy ra. Máy bay quan sát đã tiếp tục phát hiện một số lượng lớn, chưa từng thấy, chiến cụ của địch đã di chuyển, về hướng đông vào tỉnh Kontum. Tuy nhiên cuộc tấn công đã trì hoản vì các đv CSBV và VC đã gặp khó khăn khi chuyển chiến cụ đến các vị trí tấn công do các cuộc oanh kích dữ dội của B-52 và không quân chiến thuật trên các khu căn cứ của họ. Vì vậy những ngày Tết đã trải qua êm thắm. Tuy nhiên đối phương đã chuẩn bị đánh lớn gồm việc xây dựng các hầm trú ẩn, đường xá, hành quân thám sát hay điều nghiên, chuyển quân vào vị trí tấn công, tất cả các điều này đã báo trước (portend) một cuộc tấn công ồ ạt của đối phương. Cuộc tấn công này chỉ chờ đợi khi quân số và tiếp vận đầy đủ và thời tiết thuận lợi cho họ. 

Để đẩy mạnh hơn việc phòng thủ của cao nguyên, BTL của sđ Dù và một lữ đoàn Dù đã đến Kontum trong tuần đầu của tháng ba và trách nhiệm bảo vệ tp Kontum và phần phía nam của tỉnh. Sau giữa tháng ba, những cuộc chạm súng với những đv lớn của đối phương đã gia tăng đáng kể. Một sự kiện quan trọng đã xảy ra khi một đv của LĐ 2 Dù đã chạm súng trên Rặng Hỏa Tiển với một lực lượng csbv cấp TĐ; họ đã bắt vài tù binh và một hồi chánh. Điều này đã đánh dấu sự chấm dứt của thời kỳ mà đối phương né tránh đụng độ lớn. Tù binh và hồi chánh đã báo cáo sđ 320 csbv sẽ yểm trợ Mặt trận B-3 và tham gia một cuộc tổng tấn công từ tháng tư đến tháng 9. Những nguồn tin này cũng báo cáo rằng đã thấy nhiều xe tăng trong những khu căn cứ mà họ đã đi qua và nghe rằng các đv thiết giáp csbv sẽ yểm trợ các đv bộ binh của Mặt trận B-3 trong cuộc tấn công sắp tới. Họ cũng kể về những tổn thất về người và vật chất gây ra cho đv của họ vì các cuộc ném bom của B-52.

Cũng có ba cuộc chạm súng khác đáng chú ý. Một đã xảy ra 30 km bắc tp Kontum khi TĐ 23 BĐQ bị bao vây trong khi họ đánh giá một cuộc oanh kích của B-52. Máy bay chiến thuật, pháo binh, và B-52 đã giúp cho BĐQ phá vòng vây (breakout). Một chạm súng nhỏ hơn giữa TĐ 95 BĐQ biên phòng và trung đoàn 141, sđ 2 csbv ở bắc Ben Het. Cuối tháng này, các thành phần của trung đoàn 47 và LĐ 2 Dù lần nữa lại đụng nặng dọc Rặng Hỏa Tiển. Quân bạn đã gây thiệt hại nặng (take heavy toll of) cho quân csbv với sự yểm trợ của B-52 và không quân Việt - Mỹ. 

Những thành công trên đây của VNCH và việc đối phương ko thể tung ra cuộc tổng tấn công đúng theo thời biểu mà chúng đã định trước đã tác động lên bộ tham mưu QĐ-2; họ đã bắt đầu nghi ngờ về việc liệu đối phương có tấn công những mục tiêu đã đề ra. Họ đã nghĩ rằng việc liên tục áp lực lên đối phương thông qua gia tăng hành quân, việc LĐ 2 Dù đẩy mạnh tấn công, việc sử dụng ko ngừng nghỉ lực lượng không quân có được, đã trì hoãn chuẩn bị đánh lớn của chúng. Do đó, nếu tiếp tục tăng cường hành quân trên bộ và oanh kích ồ ạt sẽ khiến đối phương ko còn giữ ý định và giảm thiểu quy mô, thời gian của cuộc tấn công mà chúng đã dự định. 

Trong tuần đầu của tháng tư, dự báo này đã có vẻ chính xác khi trung đoàn 48 và 52 của sđ 320 csbv đã bị thiệt hại nặng khi tấn công các CCHL trên Rặng Hỏa tiển. B-52 và máy bay chiến thuật đã liên tục tấn công những đv địch đang tập trung tại khu này đến độ 4 tới 5 TĐ mất khả năng tác chiến. Một tù binh bị bắt đã xác nhận thông tin này. Tuy nhiên, theo y, viện binh đã đến mỗi ngày, và những đv này nhanh chóng lấy lại (regain) sức mạnh ban đầu. Điều này chứng tỏ việc dùng B-52 và máy bay chiến thuật đánh phá đường mòn HCM-con đường huyết mạch để nuôi sống lực lượng CS ở miền Nam đã ko còn nhiều như trước -- người dịch. Cùng lúc hai trung đoàn 42 và 47 VNCH đã đụng nặng ở bắc và đông Dak To với các thành phần của sđ 2 csbv và trung đoàn 66 của mặt trận B-3. Tù binh bị bắt trong chạm súng khai rằng nhiệm vụ của sđ 2 là chiếm sân bay Dak To 2 và BCH của trung đoàn 42 ở Tân Cảnh, cũng như những đv pháo binh dọc TL-512. Trung đoàn 66 đã điều nghiên căn cứ Tân Cảnh và đang trong giai đoạn chuẩn bị cuối cùng trước khi tấn công.Tù binh ko biết thời điểm nổ súng nhưng chắc chắn sẽ xảy ra. 

Sau khi nghe những báo cáo này, trung tướng Dzu đã nghĩ rằng ông ko đủ quân trong khu vực Dak To để đối phó với một cuộc tấn công nhiều sđ của csbv. Ông muốn tăng cường của lực lượng ở Dak To bằng tám TĐ quân chính quy lấy từ Bình Định; điều này sẽ khiến tỉnh này chỉ còn ĐPQ và NQ. Tuy nhiên, ông Vann đã thuyết phục tướng Dzu rằng làm như vậy là thảm họa. Vann đã đề nghị sđ 23 nên điều chỉnh khu vực trách trách nhiệm hay AOR (area of responsibility) để cho sđ này một số trách nhiệm ở Kontum và như vậy ko cần đưa quân từ Bình Định lên. Với kế hoạch này, dưới quyền đại tá Đạt có 13 TĐ trong đó có ba TĐ BĐQ biên phòng, tám TĐ bộ binh và các đại đội trinh sát, thiết kỵ, lực lượng của tiểu khu và 50 đại bác; sđ Dù có sáu TĐ tác chiến, một TĐ BĐQ biên phòng và 16 đại bác; tiểu khu Kontum có một liên đoàn BĐQ và lực lượng diện địa; và 50 chiến xa thuộc thiết đoàn 14 và 19 đóng rải rác giữa Pleiku và Ben Het. 

Việc dàn quân như thế này đã gây khó khăn rất nhiều (strain) cho việc tiếp tế cho các đv ở bắc Võ Định vì chỉ dựa một đường độc đạo là QL-14. Nếu QL này bị cắt đứt, các lực lượng này đễ dàng bị bao vây và cô lập.Tuy nhiên tướng Dzu đã coi thường những khó khăn về tiếp vận này, vì ông được lịnh của tổng thống là giữ đất bằng mọi giá. Tuy nhiên áp lực này tiếp tục gia tăng và địch tiếp tục chuẩn bị chiến trường.

Khó khăn này đã gia tăng bởi sự chỉ huy ko hiệu quả của đại tá Đạt, tư lịnh sđ 22: điển hình, có một lần, do chỉ huy kém cỏi, ông đã khiến TĐ 9 Dù bị thiệt hại hai trực thăng; lần khác ông đã ko thể khai thác kết quả hai vụ oanh kích của B-52 và sự chia rẻ giữa sđ 22 với sđ Dù." 

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 34 đến 38 của chuyên khảo (monograph) đã dẫn trong các bài trước. 

San Jose ngày 19 tháng 9 năm 2023.


Wednesday, September 6, 2023

 cuộc chạm súng ý nghĩa đầu tiên với đối phương tại quân khu (QK) 3 đã xảy ra sáng 2/4/1972. Chúng đã tấn công căn cứ hỏa lực (CCHL) Lạc Long trên quốc lộ (QL) 20, 35 km tay bắc tỉnh lỵ Tây Ninh, trong khu vực có tên Đầu Chó ở biên giới Việt-Miên. Có tên cũ do quân đội Mỹ đặt tên là Pace, căn cứ này đã bị tràn ngập chỉ trong vài giờ bởi một trung đoàn địch. Điều gây ngạc nhiên là cuộc tấn công này có xe tăng yểm trợ. Tin tức tình báo trước đây đã ko có bất cứ cảnh báo nào về xe tăng địch trong khu vực. Bảo về CCHL này là TĐ 1/49 của sđ 25 bộ binh, bị chết 10 người, 44 bị thương, 22 mất tích, và tổn thất đáng kể về vũ khí và trang bị. Đơn vị địch được phỏng đoán là trung đoàn 24 hay 371 biệt lập của csbv. 

Sau khi chiếm CCHL Lạc Long, đối phương tiếp tục tiến quân và khiến CCHL Thiện Ngôn trên QL 22, dẫn đến tp Tây Ninh từ phía đông bắc. Địch đã phục kích các đv trên đây khi họ rút lui nhưng vẫn chưa thể đe dọa cho tp Tây Ninh. Việc Thiện Ngôn bị thất thủ tác hại nhiều hơn so với Lạc Long vì CCHL này bảo vệ đường tiến sát về tp Tây Ninh. 

Tuesday, September 5, 2023

Cuối cùng, khi mọi thứ đã xong, điều quan trọng 

là những gì mà bạn đã làm. Hãy chôn tôi và đừng

 xây tượng đài gì  hết. Hãy để tay tôi ló khỏi quan

 tài, để mọi  người  biết  rằng  con  người đã từng 

làm chủ  thế  giới  này,  đã  ko  có gì trong tay khi 

chết. — Á-lịch-sơn Đại Đế.

Monday, September 4, 2023

 

Mặt trận Miền Đông vẫn yên tĩnh

LTS: Được sự khuyến khích của bằng hữu, chúng tôi xin phép mạo muội ghi lại đôi dòng chiến sự, mà người viết hân hạnh được tham dự trong những ngày cuối tàn cuộc chiến. Người viết, không có tham vọng gì cả, ngoài mục đích muốn vinh danh lực lượng Đia Phương Quân & Nghĩa quân tiểu khu Tây Ninh nói riêng và chiến sĩ QLVNCH nói chung. Vẫn kính mong quí đọc giả xem đây là một nén hương muộn màng, đốt lên tưởng niệm các anh linh đã vị quốc vong thân vì Tổ quốc VNCH thân yêu.

Vào đầu năm 1975, tỉnh lỵ Phước Long, một lần nữa, lại thất thủ về tay Cộng quân. Sau đó, các mặt trận Miền Đông rất yên tĩnh. Yên tĩnh một cách lạ thường tựa hồ như ‘ Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh’ trong Đệ nhị Thế chiến . Đặc biệt vùng Ngũ long ( Tây Ninh) tiếp giáp biên giới Campuchia về hướng Tây Nam, lại càng yên tĩnh hơn bao giờ hết. Kinh nghiệm chiến trường đã dạy cho chúng ta biết rằng một khi tình hình êm dịu, lắng đọng thì chắc chắn sẽ có một cuộc Tổng công kích lớn diễn ra.

Sơ lược tình hình quân bạn trú phòng. Từ Gò Dầu Hạ ( Quận Hiếu Thiện cũ), đi trên Quốc lộ 1 về hướng Nam Vang 9 cây số, gặp ĐĐ 2/339/ Đ P( tiểu khu Tây Ninh ) đồn trú cách về biên giới Việt- Miên khoảng 1 cây số. Do Tr/uy V.V.L làm Đ.Đ.T. bên kia biên giới Miên -Việt , cũng cách về biên giới độ 1 Km, có một ĐĐ lính Miên ( Cộng Hòa Lolnol ). Chạy dọc sâu vào trong 3 Km có ĐĐ 4/339/ Đ.P đồn trú tại Rừng Dầu ( Tiên Thuận) , do Th/uy N.G.K làm Đ.Đ.T và chúng tôi XHH- Đ.Đ.P. Phía giữa là Long Phi có Đ.Đ 1/339/ Đ.P đồn trú , Tr/uy- N.V.Q làm Đ.Đ.T. Kế bên là B.C.H Tiểu đoàn đồn trú , do Th/ t - N.M.M làm T.Đ.T( K- 23/ SQTBTĐ- đã hy sinh trong trại cải tạo Bắc Việt). Trú đóng trong cùng Long Giang là Đ.Đ 3/339/ Đ.P, do Tr/uy - L.N. H làm Đ.Đ.T( K- 25/ SQTBTĐ - đã tuẫn tiết ngày 14 tháng 3 năm 1975). Tất cả các Delta lớn nầy, đóng cách về biêngiới Việt- Miên trên- dưới 1 Km, làm thành một hành lang an ninh bảo vệ sông Vàm cỏ Đông. Có lần tên Văn tiến Dũng gọi nơi đây là hành lang máu. Ngoài ra, còn có một số Đống Đa nhỏ cấp trung đội không đáng kể.

Đầu tháng 3 năm 1975, chúng tôi và Tr/uy - V.V.L- Đ.Đ.T/ Đ.Đ2/ Đ.P có gặp một vị Th/t ( Phòng 7/ T.T.M) tại đồn Chợ Trời. Ông ta cho biết vào giờ G..........,ngày N........, Cộng quân sẽ tấn công Tiểu đoàn 339/ Đ.P cấp Trung đoàn bộ binh, đồng thời có thêm một Tiểu đoàn Pháo đủ loại, Tiểu đoàn Phòng không và vài chục chiếc tăng hỗ trợ. Ông ta từ Saì Gòn lên đây, quan sát địa hình thực tế và xem lại tình hình quân bạn trú phòng để thẩm định lại lần cuối, liệu rằng vùng Bến Cầu nầy có chịu đựng nổi cuộc tấn công vũ bão của Cộng quân sắp thực hiện hay không? Hầu mau chóng tìm biện pháp tiếp ứng. Vì chúng ta biết rõ ràng, nếu Bến Cầu mất, thì dọc theo hành lang nầy có Đức Hoà- Đức Huệ cũng phải mất luôn. Tạo áp lực nặng uy hiếp Sài Gòn và Quốc lộ 4. Nhìn nét mặt lo âu của vị Th/t ( P.7 T.T.M ) , làm cho chúng tôi nghĩ rằng, đây là nguồn tin tình báo có thể khả tin được. Vội vã trở về đơn vị để chỉnh đốn Đ.Đ và chờ đợi. Ông ta còn cho biết thêm, lực lượng địch quân tấn công lần nầy là một trong ba Công trường ( 5,7, và 9). Những Công trường ( Sư đoàn ) nầy là lực lượng chính qui Chủ lực Miền, thuộc Miền Đông Nam Bộ. Bọn chúng từng chuốc lấy thảm bại ê chề tại chiến trường ‘ An Lộc ’ năm xưa ( 1972). Chúng tôi đã đọ sức với bọn nầy vài lần, nhận xét, chúng chẳng có gì đáng ngại.

Ngày11 tháng 3 năm 1975, khoảng 8 giờ sáng, các toán tiền đồn báo cáo về Đ.Đ cho biết: Sinh hoạt trong Xã-Ấp hôm nay rất khác thường, chợ búa, trường học, chùa chiền và đồng án..........v.v đều ngưng hoạt động. Nhận thấy hiện tượng lạ, chúng tôi liền ban lệnh báo động đồng thời quan sát những điểm khả nghi xung quanh Delta. Quả thật, chúng tôi phát hiện địch quân mới vừa đào công sự chiến đấu ( chưa hoàn tất ), vội vã cắm lá ngụy trang lên trên, nằm trong rừng chồi thuộc hướng tây Nam của Delta và cách Delta khoảng 200 mét . Sau khi liên lạc, biết rõ không có đơn vị bạn hoạt động trong vùng trắch nhiệm mình. Chúng tôi liền ban lệnh hành quân. Th/uy N.G.K-Đ.Đ.T, là một Sĩ quan đặc biệt, lớn tuổi, gan dạ, già
giặn kinh nghiệm, dẫn một toán 10 binh sĩ cũng gan dạ không kém, ra ngoài cửa Delta nằm chờ đợi. Ông ta đã ra lệnh cho chúng tôi : ‘ Hãy bắn khoảng 100 quả đạn cối 60 ly kể cả 81 ly ( ngoài cấp số) vào vị trí tình nghi’. Sau khi thi hành đúng lệnh trên, Th/uy - K dẫn toán binh sĩ nhào lên xung phong đánh cận chiến bằng lựu đạn. Kết quả đạt được, địch bỏ xác tại trận 13 tên, một tên chạy thoát được. Phe ta vô sự. Tịch thu được một số vũ khí cá nhân và 2 khẩu Cộng đồng : một cối 82 ly ( bị hư hại bởi đạn pháo ta, không xài được ), một khẩu Phòng không 12 ly 7 và một máy vô tuyến P.R.C - 25, địch lấy của ta trước đây ( cả hai thứ nầy còn xài tốt ). Đơn vị đang tưng bừng náo nhiệt về chiến lợi phẩm vừa tịch thu được thì bỗng nhiên bên ngoài Delta pháo địch ầm ĩ rơi xuống, không nhiều lắm, chỉ vài chục quả đạn pháo đủ loại. Thật ra, bọn chúng đang điều chỉnh tác xạ Pháo binh. Liên lạc với các đơn vị bạn trong cùng T.Đ, các nơi ấy vẫn lắng dịu, chưa có chuyện gì xãy ra. Chúng tôi rất ngỡ ngàng lẫn lo ngại, không biết Cộng quân định đánh chiến thuật gì? Mà giờ nầy, có một toán Việt cộng nhỏ đã vào và bị đánh bại, chết sát bên Delta lớn.

Trung tuần tháng 3 năm 1975, C.S.B.V mở màn chiến dịch ‘Tây nguyên’ bằng cách đánh chiếm Thị xã Ban mê Thuột. Thì tại nơi đây, rạng sáng ngày 12 tháng 3 năm 1975, vùng Bến Cầu thuộc Tiểu khu Tây Ninh, Cộng quân ồ ạt tấn công Tiểu đoàn 339/ Đ.P chúng tôi với cấp độ Trung đoàn trở lên, có Pháo binh, Phòng không, và xe tăng yểm trợ.

Mở đầu cuộc chiến, Cộng quân xử dụng Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ, hòng chụp tinh thần chiến đấu của ta. Thú thật, lần đầu tiên đụng phải thứ nầy, chúng tôi hơi bối rối, vì sức công phá mãnh liệt của nó. Nhưng sau đó lấy lại bình tĩnh,điều chỉnh Phở bắc dập tắt được nó. Tiếp theo đó, một đợt mưa pháo đủ loại trút xuống trong- ngoài Delta chúng tôi. Đồng loạt các đơn vị bạn cũng bị pháo tương tự như thế. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ hứng chịu đủ loại đạn pháo địch gồm: Hỏa tiễn 122 ly, hỏa tiễn 107 ly, cối 81 ly & 82 ly, cối 61 ly & 60 ly, và B 40 & B 41. Địch quân bắt đầu xung phong biển người, nhưng mọi đợt xung phong của bọn chúng điều bị quân ta bẻ gãy, đập tan. Kết quả sơ khởi, địch bỏ xác bên ngoài chiến hào, đếm được hơn 30 tên, phe ta bị thương nhẹ vài người, còn tác chiến được. Giờ đây, biết được, Cộng quân đang dùng chiến thuật cổ điển ‘ Tiền pháo hậu xung’ ( C.S dùng biển người). Chúng tôi vô cùng e ngại. Bởi lẽ, chiến thuật ấy đã từng làm đảo lộn các chiến trường. Mà lịch sử cận đại đã chúng minh được điều đó. Cũng chính chiến thuật ‘ Tiền pháo hậu xung ‘ nầy, mà ngày hôm qua ( ngày 11 tháng 3 năm 1975 ), chúng tôi đã gặt hái được kết quả bất ngờ. Chiến thuật ấy, luôn luôn được đưa lên hàng đầu binh thư của Thế giới. Nhận rõ, tầm mức vô cùng lợi hại cuả chiến thuật đó. Th/uy - K- Đ.Đ.T và chúng tôi phân chia nhiệm vụ rõ ràng, hợp đồng tác chiến cho hữu hiệu hơn. Ông ta đảm trách tần số nội bộ và chỉ huy tổng quát bên trong. Còn chúng tôi trách nhiệm Không-Pháo yểm. Không để chậm trễ, liên lạc ngay với ‘ Trung tâm phối hợp hỏa lực’ đồng thời xin số nhà các tiệm Phở bắc trong vùng. Thông qua Đ/uy - T Sĩ quan Không yểm cho bộ binh đóng tại B.C.H.T.K.T.N. Chúng tôi có được tần số Không - Lục, liên lạc trực tiếp với Không quân bạn bay bao vùng. Mặt khác, lệnh cho khui hầm tiếp liệu dự phòng ra xài khi hữu sự gồm; lương khô, gạo sấy, thịt hộp, bao cát, đạn dược, lựu đạn...........v.v. Phân phát cho binh sĩ, đặc biệt mỗi người lính phải có 3 thùng lựu đạn kế bên hầm chiến đấu, và cũng không quên ra lệnh tất cả lựu đạn phải tháo bỏ chốt an toàn phụ, cùng nấp đậy cho từng quả. Các công tác đó đang thực hiện chưa xong thì khoảng 4 giờ 30 chiều cùng ngày, địch quân tiếp tục pháo kích đợt 2, địch pháo nhiều hơn và lâu hơn ban sáng, sau gần 2 giờ pháo đủ loại, địch ồ ạt xung phong biển người, nhưng đợt nầy, quân ta chận đứng dễ dàng bằng hỏa lực cơ hữu đã chuẩn bị sẳn, đồng thời chúng tôi liên lạc trực tiếp với pháo binh diện địa đóng tại Bến kéo ( Cẩm Giang ) bắn qua, gây cho chúng thiệt hại nặng nề về nhân mạng. Địch bỏ xác bên ngoài chiến hào khoảng 40 tên. Vào lúc nầy, các đơn vị bạn cũng bị áp lực tương tự, chúng tôi phân biệt rõ tiếng đạn nổ của ta lẫn của địch ầm ĩ vang vội cả bầu trời. Xuyên qua hệ thống máy vô tuyến, được biết, Đ.Đ 2/339/ Đ.P tại đồn ChợTrời bị áp lực địch rất là nặng, nhưng họ đã bắn cháy 2 chiếc xe tăng địch, nằm bất động sát bên ngoài Delta. Sau đó, họ còn phải dang tay ra đón nhận một số đơn vị bạn tá túc, đó là lính Cộng hòa Miên, đã bị tràn ngập tự bao giờ.

Ngày chiến đấu đầu tiên, được Phở bắc nấu đầy đủ, làm ấm lòng các chiến sĩ, quân ta vẫn ghìm tay súng chờ đợi. Một đêm yên tĩnh trôi qua, đoán biết đợt ba, địch quân sẽ tấn công vào lúc 6 hay 7 giờ sáng, nên 5 giờ sáng ngày 13 tháng 3 năm 1975 cho lệnh tu bổ lại bờ thành, cùng các chiến hào bị hư hại hôm qua bởi đạn Sơn pháo 85 ly của địch, đồng thời tái phối trí kế hoạch phòng thủ cho chặt chẽ hơn. Để tránh cho phòng tuyến không bị vỡ, chúng tôi cho xen kẽ lính B.C.H.Đ.Đ cùng với lính ở trung đội tác chiến. Vừa hoàn tất công việc đó, thì 6 giờ 30 sáng, một lần nữa, địch quân chào mừng quân ta cũng bằng Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ hàng loạt. Từ xa vọng lại, nghe rõ tiếng nổ ì đùng ở các đơn vị bạn. Như vậy, rõ ràng, đó là hiệu lệnh tấn công của địch. Chúng tôi nhanh chóng phản pháo địch bằng súng cối cơ hữu và Đại liên 50 (ngoài cấp số) cùng 12 ly 7 lấy được của địch. Giống như hôm qua, địch quân bắt đầu pháo kích dữ dội vào Delta chúng tôi, và hôm nay, địch pháo tương đối chính xác hơn, có lẽ địch đã bố trí xong trận địa. Qua tần số nội bộ, nghe báo cáo, hiện tại Đ.Đ 1/ 339/ Đ.P ở Long Phi và B.C.H.T.Đ ở Long Khánh đang bị tấn công bằng chiến xa. Biết tình thế ngày càng căng thẳng, chúng tôi liền cầu cứu Pháo binh Sư đoàn 25 B.B đóng tại căn cứ Trà Vỏ bắn cản chiến xa địch, có một vài chiếc đang từ từ tiến về hướng Delta chúng tôi. Trong khi ấy, ngoài trời Chim Sắt ta cũng chuẩn bị tham chiến gồm: Oanh tạc cơ Phản lực A- 37, Trực thăng võ trang và L - 19 quan sát. Cộng quân đáp lễ bằng những tràng phòng không đủ loại, mà chúng bố trí vội vàng, ( có một số ít Phòng không địch di động ), để tạo thành một hàng rào lửa, ngăn chận phi cơ yểm trợ. Vào lúc nầy, Cộng quân tăng cường thêm pháo 105 ly, từ bên Miên bắn vào, cũng vào giờ nầy pháo ta, pháo địch hỗn độn, rất khó phân biệt, cường độ pháo, mỗi lúc càng ác liệt, và địch đã pháo không ngừng nghỉ suốt hơn 4 tiếng đồng hồ. Nhìn về hướng biên giới xa xăm, nghe văng vẳng tiếng Depart 105 ly của địch, nhưng vì trên đất bạn, pháo binh ta và phi cơ không thể phản pháo, bây giờ chuyện đó là chuyện nhỏ, chúng tôi cần nỗ lực nhiều hơn, ngoan cường hơn, để đối phó với những đợt xung phong biển người. Chợt nghe tiếng la xung phong inh ỏi bên ngoài Delta, đồng thời pháo địch dịu dần . Những con thiêu thân từ từ ập tới từng cơn, tựa như những con sóng vỗ. Không thể để cho địch tiến gần, hỏa lực cơ hữu chống trả mãnh liệt và Phở bắc 2 nơi nấu đầy đủ. Dĩ nhiên, địch thất bại não nề như hôm qua. Bây giờ, chúng tôi không còn thiết tha đếm xác địch, cảnh tượng thật ghê rợn, xác người tan nát văng tứ tung, chỉ ước lượng mức xung phong mà báo cáo tổn thất địch. Cả hai bên cùng mệt mỏi, nghỉ giải lao, nghỉ ngơi chưa được 3 tiếng, thì 4 giờ chiều cùng ngày, cộng quân tiếp tục pháo kích nữa.

Trong khi mặt trận Bến Cầu đến hồi gay cấn, thì bên kia sông Vàm cỏ Đông, quận lỵ Khiêm Hanh ( Tây Ninh ). Tiếp giáp Dầu Tiếng ( Bình Dương ), Cộng quân bất thần mở đợt tấn công qui mô vào 2 Tiểu đoàn bạn là T.Đ 312/ Đ.P và T.Đ313/ Đ.P, hiện đồn trú tại các trọng điểm : Bến Củi, Suối Ông Hùng, Bào Đồn, Truông Mít. Vì vậy, pháo binh ta bắt buộc phải quay súng sang hướng đó để yểm trợ cho đơn vị bạn. Thế là chiều nay không có ai‘ âu yếm’ chúng ta. Nhưng lạ thay! Áp lực địch giờ đây, dường như giảm nhẹ dần, có lẽ địch tiêu hao nhiều, chờ bổ sung, tiếp tế. Nửa khuya đêm 13 rạng 14, Th/uy K- Đ.Đ.T cho chúng tôi biết tin buồn. Đ.Đ 1/339/ Đ.P đóng ở Long Phi và Bộ chỉ huy Tiểu đoàn ở Long Khánh đã di tản chiến thuật, hơi thất vọng, như để xác minh lời anh ta vừa nói, chúng tôi liền gọi:
* Thanh Thế đây Nguyên Linh, Thanh Thế đây Nguyên Linh.
* Thủy Tinh đây Nguyên Linh, Thủy Tinh đây Nguyên Linh. Tất cả máy vô tuyến đều im lặng,( im lặng giống như sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975).

Sau khi hai đơn vị đó di tản, vô tình đã bỏ ngỏ trống trải cạnh sườn Tây Nam Delta của chúng tôi, qua quan sát thấy rõ, chiến xa địch gồm: Thiết vận xa M-113( địch lấy của ta từ trước), T- 54, P.T- 76, chia thành hai mũi tiến quân. Một, chúng hướng về Long Giang, nơi có Đ.Đ3/339/ Đ.P còn trấn thủ. Hai, chúng hướng về Delta quân ta. Chúng tôi liền gọi về ‘ Trung tâm phối hợp hỏa lực’ xin phi cơ lên vùng ngay.

Yêu cầu vừa xong, bỗng pháo địch từ xa nhiều hướng dội về. Đã quen rồi, chúng tôi không hề nao núng. Địch không áp dụng chiến thuật ‘ Nhị thức tùng Thiết’ ( Bộ binh - Thiết giáp), mà chỉ ở đằng xa khoảng 400 mét bắn đại bác 100 ly trực xạ vào Delta, với mụch đích làm cho bể bờ thành phòng thủ, hòng phá vỡ B.C.H.Đ.Đ. Nhưng hầm nầy rất kiên cố, sâu ở dưới đất 2 mét, và nổi lên trên mặt đất 2 mét rưỡi, phần trên nầy là vỉ sắt lẫn bao cát xen nhau, được xây dựng bởi Đ/uy - N năm 1972 ( ông đã hy sinh tại chiến trường Bào Đồn tháng 3/1975). Hiện giờ, trên bầu trời có 4 phi tuần A-37 lên vùng, bay gầm thét vang vội như trút cơn thịnh nộ xuống đoàn quân xâm lược. Dưới đất bên ngoài Delta, đủ các phương hướng, Phòng không địch bắt đầu gõ như Roulé trống, liên tục, đồng thời một hỏa lực pháo hùng hậu tiếp tục đổ xuống trong - ngoài Delta. Lúc nầy, súng cối cơ hữu bên trong hư hại cả, không xử dụng được khẩu nào. Nhưng bù lại, chúng tôi đã liên lạc được thêm một tiệm Phở bắc của Sư đoàn 25 B.B, đóng tại Suối Sâu - Suối Cục. Lát nữa đây, khi dứt pháo, bọn chúng xung phong biển người, thì phở bắc nhà ta sẽ luộc bọn chúng như luộc xương bò. Nghĩ như vậy, chúng tôi mở cờ trong bụng. Bỗng nhiên bên ngoài, nhìn lên bầu trời, chúng tôi thấy rõ1 chiếc L-19 quan sát bị bắn rơi lả tả, đang từ từ đáp xuống được, nhưng một vị SQ Pilot và một vị SQ cao cấp của ta bị bắt sống. Tiếp theo sau đó 20 phút, phe ta lại rớt thêm một chiếc trực thăng võ trang ( phi hành đoàn đoàn vô sự ). Như để trả mối hận đó, 4 chiếc A-37 gan lì, vượt vòng lửa đạn truy kích chiến xa và phòng không địch. Kết quả ghi nhận được, qua tần số Không- Lục, cua sắt bị rang muối 5 hay 6 chiếc, nằm lăn lóc cạnh bìa rừng. Chưa hả cơn giận dữ, A-37 tiếp tục lồng lộn trên bầu trời hung hiểm đó và bổ nhào xuống đánh tiếp Pass cuối cùng, trước khi vút lên cao, chúng tôi thấy rõ 3 ổ phòng không bị hất tung lên và tan xác. Tuy đang giao chiến, thỉnh thoảng chúng tôi qua tần số nội bộ để nghe ngóng tình hình bạn. Bây giờ, là 10 giờ 30 sáng ngày 14-3-1975, được biết Đ.Đ 3/ 339/ Đ.P của Tr/uy - H bị tràn ngập. Tràn ngập, một danh từ nghe‘ ướt át’, thế nhưng giới quân sự ít khi nào muốn nghe nhắc đến. Tr/uy- H rút ra ngoài Delta,, chúng tôi đã liên lạc được với ông ta. Chúng tôi có thỉnh cầu ông ta rằng ‘ Anh có thể rút về đây để phụ giúp chúng tôi’. Vì lẽ, chúng tôi sợ rằng với kiến thức quân sự hạn hẹp, không đủ khả năng điều động Không - Pháo yểm. Anh ta chỉ trả lời cho chúng tôi, chỉ vỏn vẹn có một câu: ‘ Tao đang bị bao vây, chắc không tới chổ mầy được’.( Tr/uy- H, Th/uy- K và chúng tôi rất thân thiết nhau, nên thường xưng hô với nhau bằng anh - em hơn là bằng cấp bực). Quay sang gọi Th/uy - T là Đ.Đ. P của Tr/uy - H, cũng không liên lạc được với T. Đột nhiên, nghe nhiều tiếng súng nhỏ vang lên trong máy truyền tin, và sau đó 2 tiếng nổ lớn ầm......ầm......tiếp theo. Sau nầy, được biết, đó là 2 quả lựu đạn do Tr/uy - H bung ra để tự sát cùng với Cộng quân. Thế là, coi như Đ.Đ3/ 339/ Đ.P tan hàng từ đó. ( Đ.Đ3 thiệt hại 70%). CQ và chúng tôi giao tranh suốt 7 tiếng đồng hồ, nhưng bọn chúng cứ tiếp tục xung phong như nhũng con thiêu thân. Có bằng chứng cho thấy CQ dùng thuốc kích thích như một loại trợ chiến để kích động lòng can đảm trong người. Khoảng 5 giờ chiều cùng ngày, cường độ giảm dần và tắt hẳn. Vào lúc ấy, chúng tôi nhận được một tin buồn nữa, đó là Đ.Đ 2/ 339/ Đ.P đóng tại Chợ Trời cũng đã di tản lúc 4 giờ chiều. Cả 2 bên đều mệt mỏi, cần nghỉ ngơi. Hiện tại, coi như chúng tôi đang chiến đấu đơn độc, biết vậy, chúng tôi cố gắng nghiên cứu ‘ Sơ đồ hỏa tập’ và bản đồ thêm. Tìm những tọa độ khả nghi mà trong‘ Ước hiệu địa hình’ có nhắc đến, ghi chép ra sẳn sàng, để khi phi cơ lên vùng. Âm thoại viên chúng tôi có thể hướng dẫn dể dàng. Đang làm công tác đó, thì chú lính truyền tin chúng tôi đến kế bên khẽ bảo: Th/uy , Vẹm, nó mò được ‘ Đường lên thiên thai’ và kêu gọi chúng ta ‘ đầu hàng.’ Chúng tôi quay sang đánh thức Th/uy - K, báo cho biết điều đó, anh ta bật dậy như cái lò so, chụp lấy Combiné, khẩu chiến với CQ khoảng nửa tiếng. Sau đó, liền ra lệnh truyền tin lấy bộ K.Đ.C còn lại ra xài. Còn chúng tôi‘ lân la’ các tiệm Phở bắc và T.T.P.H.H.L báo cho họ biết, chúng tôi đổi số nhà mới.

Vừa xong những việc đó, thì khoảng 8 giờ đêm ( 14-3-1975 ), âm thoại viên tên Q đến gần, bảo nhỏ lần nữa: ‘ Th/uy , mình đã sang số nhà mới rồi, thế mà, nãy giờ có ai đó xưng là 63, gọi hoài, chưa xác minh được là ai? Em không dám trả lời. Đoán biết được, là ai? Chụp ống liên hợp, chúng tôi trả lời ngay:

- Nguyên Linh đang nghe Mặt Trời 63.

Ông ta mừng rỡ, vội đáp trả:

- Cho Qua gặp thẩm quyền của thằng Nguyên Linh.

Không do dự, chúng tôi cũng đáp lại ngay:
( Lúc nầy, Th/uy- K bị cơn đau bao tử hành hạ, vì vậy, mọi vấn đề đều do chúng tôi giải quyết).

- Trình Mặt Trời 63, dạ thưa: tôi đây.

Vẫn còn nhớ rõ câu hỏi đầu tiên của ông ta ( T.K.T Tiểu khu T.N ):

- Cấp bậc của mấy em ở dưới là gì? ( Ông ta đang bay C&C )

- Dạ chúng tôi là một mùa xuân hồng hà.

Ông ta khen ngợi:

- Các em làm ăn khá lắm, bầy giờ Qua nói vắn tắt với các em thế nầy nhé: ‘ Các em có giữ nổi Đống đa cho tới sáng ngày 17-3-1975 không? Lúc ấy, sẽ có 2 thằng 2 râu-9 nút lên bắt tay với các em.’

Chúng tôi chần chờ, không hứa hẹn đều đó. Và đã trả lời:

- Trình Mặt trời 63, như Mặt trời đã thấy, áp lực địch rất là nặng, trong khi vùng Bến Cầu bây giờ chỉ còn lại một mình Đ.Đ của chúng tôi. Điều mà Mặt trời yêu cầu, chắc không thể thỏa mãn.

Ông ta lại khẩn thiết yêu cầu:

- Qua lập lại một lần nữa: ‘ Nếu mấy em giữ nổi Delta đến sáng ngày 17-3-1975, thì mọi người ở trong Delta của em, Qua cho lên một cấp.

Để cho xong chuyện, chúng tôi hứa liều với ông ta:

- Trình Mặt Trời 63, chúng tôi sẽ cố gắng thực hiện điều đó.

Sau đó ông ta bay đi khỏi, để lại bầu không khí cô đơn và lạnh lẽo.
Sáng ngày 15-3-1975, khoảng 7 giờ sáng, chưa thấy pháo địch rót vào, chúng tôi nhìn về hướng Đông , cách Delta gần 1 Km, thấy CQ đang xôn xao. Nhìn rõ hơn, được biết chúng đang bổ sung và bàn giao quân số. Như vậy, địch chuyển sang chiến thuật ‘Xa luân chiến’ , và cũng thấy quân xa địch, chạy từng đoàn đến để thay thế quân. Chúng tôi có gọi pháo binh bắn vào chổ đó, nhưng rất tiếc pháo binh trả lời rằng: ‘ Chúng ta không có đủ đạn để bắn như vậy, chỉ để dành khi các bạn bị tấn công’. Gọi Không quân, cũng trả lời giống như trên.

Trong 2 ngày 15 &16-3-1975, vì biết rõ quân ta tại vùng nầy đã di tản hết, nên CQ dồn tất cả hỏa lực hiện có của chúng, đánh một cú chót để tiêu diệt Delta. Chúng tôi đã chịu một cơn mưa pháo vô cùng kinh khiếp, kể cả Sơn pháo 85 ly bắn trực xạ,kèm thêm chiến xa địch, vừa bắn Đại bác 100 ly ,vừa tiến. Bụi mịt mù, khói lửa, thuốc súng dầy đặc, không thấy ánh sáng để xem bản đồ, thậm chí phải dùng quạt để thở, vì thiếu không khí, không đủ tay chân để là những động tác đó. Có những lúc tưởng chừng như sụp đổ toàn diện. Còn nhớ rõ, vào giữa trưa ngày 16-3-1975, CQ tấn công biển người vũ bão, có lúc Pháo binh ta bắn không kịp , bởi vì địch quân chi phối hỏa lực của ta bằng cách tiến đánh quận lỵ Khiêm Hanh ( Tây Ninh ). Cho nên pháo binh phải quay hướng súng liên tục, để âu yếm cho nhiều đơn vị bạn bị tấn công cùng một lúc, và có những lúc Pháo binh ta yểm trợ tối đa, thì chúng tôi có thời giờ diệt tăng địch, có một chiếc M-113 liều lĩnh len lỏi đến gần Delta độ 70 mét, bị chúng tôi bắn cháy. Và cũng có những tình huống bi đát, là đương âu yếm thân thiết, chợt Phở bắc báo tin:’ Chúng tôi đang bị mưa rơi và bị thiệt hại, các bạn tự lo liệu lấy’. Gặp tình trạng nầy, chúng tôi qua tần số Không - Lục, nhờ Không quân đánh bom gần Đống Đa để uy hiếp tinh thần địch quân. Có vài lần, chúng tôi sắp bị tràn ngập, mà bất hạnh thay! Các tiệm Phở bắc đều bị mưa rơi nhiều, nên không thể yểm trợ cho quân ta được. Nhưng vì có tiên liệu trước, chuẩn bi lựu đạn đầy đủ, chúng tôi lệnh cho đánh bằng lựu đạn tối đa, nếu cần cũng cho binh sĩ đánh ngược lựu đạn vào trong Delta, bởi vì hiện có một vài tên CQ đã vào được bên trong Delta. Cuối cùng, chúng tôi đã trấn áp được nhiều đợt xung phong biển người của địch. Tuy nhiên, trước khi rút lui hoặc bị lính ta bắn chết CQ đã bắn được vài quả B- 40, B- 41 vào cửa hầm B.C.H.Đ.Đ. Sức nóng 3.000 độ Fahrenheit luồng vào bên trong, làm hư mắt vài thương binh, đã được chúng tôi cho mang lên đây để dưỡng thương. Cũng may, hầm hình chữ CHI ( Zigzag ), nên mãnh đạn không văng vào được. Chiến đấu lẻ loi đến lúc nầy, thật tình, chúng tôi vô cùng mệt mỏi. Trong Delta có 3 cái giếng, tất cả đều bị hư thúi bởi xác CQ, đạn dược đã cạn kiệt, không còn bao nhiêu, trong khi đó hầm tiếp liệu bị sập một lần nữa, và bắt đầu phát hỏa nhỏ, Antenna 292 và 7 đoạn, đều hư hại cả, chỉ xài Anten lá lúa, thời tiết xấu, chỉ nghe được 2 trên 5, rất là trở ngại cho việc điều động không - Pháo yểm. Thay vào đó, chúng tôi có 2 máy PRC-25. Một ở tần số Không - Lục ( lấy của địch ngày đầu ) và một cái nữa ở tần số giải tỏa, nên việc điều động cũng được nhanh nhẹn. Mang danh nghĩa là một Đ.Đ, nhưng quân số trong Delta đang tác chiến, khoảng nửa Đ.Đ. Căn cứ trên‘ Khả năng tham chiến’ lúc ban đầu là 99 người. Nhưng có một toán thám báo và hai trung đội tác chiến hoạt động tiền đồn bên ngoài Delta,( khoảng 54 người). Trong Delta chỉ còn lại 45 người, sau vài ngày chiến đấu,chết và bị thương nặng - nhẹ 9 người. Con số khả dụng được bây giờ, là 36 người. Thế mà CQ vẫn chưa làm gì được chúng ta. Thiết tưởng, điều đó đủ nói lên tinh thần chiến đấu dũng cảm của các chiến sĩ Q.L.V.N.C.H. _

Vào lúc nầy, 6 giờ 45 chiều ngày 16-3-1975, tất cả các loại đạn của ta và địch thi nhau nổ vang rền cả một bầu trời Tây Nam. Cũng bầu trời đó, rực lửa quân thù, được bắn lên bởi những khẩu Phòng không đủ loại, tạo thành một màng lửa đỏ, quyện vào nhau tựa như một tấm lưới đỏ đang hình thành. Quả thật, trực thăng võ trang không thể vào không phận nầy được, mà chỉ ở đằng xa bắn Rocket để yểm trợ cho A-37 đánh bom. Bất chợt, chúng tôi thấy một chiếc A-37 bị hỏa tiễn tầm nhiệt cầm tay S.A-7 bắn rơi ( sau nầy được biết vị đại úy đó đã hy sinh). Lòng chúng tôi nghe đau xót lẫn cảm phục. Nhờ những vị Phi công gan lì, anh dũng nầy, mà chúng tôi không bị đè bẹp nhiều lần bởi chiến xa địch. Cũng như, nhờ vào sự yểm trợ tận tình, nhanh nhẹn, chính xác, và thần kỳ của pháo binh ta, mà chúng tôi không bị tràn ngập nhiều lần.

Nhìn tương quan lực lượng đôi bên. Dĩ nhiên, chúng tôi không tài nào giữ được Delta thêm nữa. Thấy tình thế ngày càng nguy ngập, đành phải chọn giải pháp lui binh. Trên phương diện Chiến thuật & Chiến lược, thì tấn công lúc nào cũng chiếm được thế thượng phong và dễ dàng hơn. Còn phòng ngự hay lui binh thì sẽ gặp vô vàn khó khăn. Chúng tôi đang ở trong tình huống tồi tệ nhất. Đó là chuẩn bị lui binh, nhưng lui bằng cách nào, đó cũng là một vấn đề nan giải. Dù thế nào đi nữa, bắt buộc cũng phải mở đường máu, bằng cách. Lợi dụng trong lúc còn đánh nhau, nhờ Phở bắc, bắn dọn dẹp sạch sẽ phía cuối cánh A, tiếp giáp cánh C của Delta. Và sau khi pháo binh ta dứt tác xạ, chúng tôi liền dẫn một binh sĩ và một âm thoại viên tên Q xông ra ngoài trước, vừa bò, vừa đánh cận chiến bằng lựu đạn. Cuối cùng, chúng tôi đã ra ngoài được an toàn, kiểm lại quân số, bây giờ chỉ còn lại 22 người. Mặc dù đã di tản chiến thuật, nhưng T.Đ 339/ Đ.P ( T.K.T.N ) đã gây cho địch tổn thất nặng nề về nhân mạng. Theo sự phối kiểm của P-3 ( T.K.T.N ), lúc bay C&C chỉ huy và quan sát, chúng tôi ghi nhận được kết quả tổn thất địch như sau: 14 chiếc tăng đủ loại bị rang muối nằm ngổn ngang, hơn 20 ổ Phòng không lẫn Pháo binh địch bị tiêu diệt. Những thứ nầy, hầu hết do Không quân ta đánh và địch bỏlại tại chiến trường khoảng 450 tên. Đó là cái giá phải trả cho hành lang máu nầy. Về phía ta, Pháo binh thiệt hại không đáng kể. Không quân bị rơi 3 chiếc: 1-A-37, 1- L-19, và 1 trực thăng võ trang. Tiểu đoàn 339/ Đ.P thiệt hại 1 phần 3 quân số ( chết, bị thương nặng, bị bắt sống ).

Sau cùng, một lần nữa, thay mặt đơn vị cũ, chúng tôi trân trọng cám ơn các vị cựu SQ và binh sĩ Pháo binh Diện địa T.K.T.N, các vị cựu SQ và binh sĩ Tiểu đoàn 250 & 251 Pháo binh, thuộc Sư đoàn 25 B.B. Cùng toàn thể các vị cựu SQ Pilot anh hùng, thuộc Sư đoàn 3- K.Q ( Biên Hòa), Sư đoàn 5- K.Q ( Tân sơn nhứt ), đã yểm trợ cho chúng tôi tận tình trong những giờ phút ngút ngàn khói lửa.

HA HUU HOI @ ( C.S.V.S.Q/T.B/T.X – K.4/71 ) & H.O - 4 )


- Delta, Đống đa ( đồn bót )
- Số nhà ( Tần số liên lạc )
- Lân la ( Liên lạc )
- Phở bắc ( Pháo binh )
- Đường lên thiên thai ( Đặc lệnh truyền tin )
- Âu yếm thân thiết ( Yểm trợ tận tình )
- Mặt Trời 63 ( Danh hiệu truyền tin của Tiểu khu Trưởng T.K.T.N )
- Thủy tinh ( Danh hiệu truyền tin của B.C.H .T.Đ 339/ Đ.P )
- Thanh thế ( Danh hiệu truyền tin của Đ.Đ 1/ 339/ Đ. P )
- Nguyên linh ( Danh hiệu truyền tin của Đ.Đ 4/ 339/ Đ.P )
- Hai thằng 2 râu - 9 nút ( 2 Tiểu đoàn của Sư đoàn 18 B.B )
- Vẹm ( Việt cộng )
- Cua sắt ( Xe tăng )
- Chim sắt ( Phi cơ )
- T.T.P.H.H.L ( Trung tâm phối hợp hỏa lực )
- Mưa rơi ( Bị địch pháo)

( Vì lần đầu tiên, diễn tả cảm nghĩ của mình qua dạng hồi ký, chắc chắn, có nhiều thiếu sót đáng trách. Người viết, kính mong quí Huynh trưởng, quí Chiến hữu, và quí Độc giả niệm tình tha thứ, bỏ qua cho ).

Đa tạ

 

Sunday, September 3, 2023

 BÀI 2 - CĂN CỨ DAK TO II THẤT THỦ  

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đv. Không có trung đoàn tồi mà chỉ có đại tá tồi - Hoàng đế Napoléon.


Căn cứ Tân Cảnh, chụp bởi một ng lính Mỹ thuộc sđ 4 bộ binh. 


Đây là bài thứ hai, trong chuyên khảo (monograph) sau đây, ghi chép các báo cáo của các cố vấn Mỹ thuộc SĐ 22 VNCH. Những thông tin này trước đây được xếp vào loại Mật, sau này được giải mã; và chưa bao giờ đăng trên báo chí Việt ngữ ở hải ngoại.


- Đang đóng quân chung với một pháo đội Dù tại CCHL Lam Sơn, phía nam Võ Định trên QL-14, dù chỉ bị pháo kích và tấn công thăm dò, hai tiểu đoàn 34 và 35 thuộc liên đoàn 6 BĐQtheo lịnh của trung tá liên đoàn trưởng, đã rút khỏi CCHL này để về Kontum. Vị liên đoàn trưởng này đã bị tướng Ngô Dzu cách chức sau đó mấy ngày.

- Đại úy Ken Yonan, cố vấn của trung đoàn 42, đã lên tháp nước để hướng dẫn không kích. Lúc đầu mọi người nghĩ rằng ông đã chết vì tháp nước đã nhiều lần trúng đạn đại bác, nhưng ông đã sống sót và được trao trả vào năm 1973.

- Hai trung đội xe tăng M-41 và một trung đội bộ binh từ Ben Het kéo về tiếp viện cho Tân Cảnh nhưng bị phục kích và đánh tan ở kế cầu Dak Mot, phía tây của Dak To II. 

- Sông Dak Poko, nằm ở phía nam của Dak To II và Tân Cảnh, gần như bị tắc nghẽn vì xác chết cũng như người bị thương do hỏa lực Bắc quân khi họ vượt qua cầu treo.

- Khi tấn công vào trại LLDB Ben Het, dù pháo kích dữ dội và tấn công bằng bộ binh, và mất 11 xe tăng và hơn 100 lính, nhưng Bắc quân vẫn ko chiếm được trại này.


Sau đây là phần chuyển ngữ

. . . 

TRẬN ĐÁNH TẠI CĂN CỨ DAK TO 2 

"Trong khi đó, chưa tới một giờ sau khi cuộc tấn công vào căn cứ Tân Cảnh bắt đầu, căn cứ Dak To 2 đã bị gia tăng pháo kích và một số tấn công thăm dò của bộ binh địch. Một chiếc trực thăng lúc đầu định dùng làm trực thăng C-and-C (command and control/chỉ huy và kiểm soát) cho sđ 22 nhưng sau đó được chuyển qua Dak To 2 để bốc sáu cố vấn của sđ. Đại úy Carden, cố vấn của trung đoàn 47, đã đánh dấu các vị trí phòng không CSBV trên bản đồ và gọi máy báo cho phi công biết. Máy bay đã bay từ phía đông nam và tiến về bãi đáp trực thăng nơi mà 6 cố vấn đang chờ. Dù bị bắn bởi súng nhỏ từ rừng rậm bên ngoài chu vi phòng thủ nhưng máy bay đã đáp và cất cánh vô sự. Tuy nhiên, vì ko theo chỉ dẫn trước đó, phi công đã bay về tây bắc và đi vào đường đạn của 2 súng phòng không. Máy bay đã bốc cháy và rơi xuống bờ phía nam của chu vi. Carden kết luận ko ai sống sót.

Trong khi đó, ở căn cứ của trung đoàn 42, tại Tân Cảnh, Dobbins, quyền cố vấn trưởng của trung đoàn, đã chọn ở lại tới phút cuối. Ông và trung tá Thông, trung đoàn trưởng, cuống cuồng (feverishly) làm mọi cách để phục hồi tuyến phòng thủ đã tan nát của trung đoàn này. Lúc 0630, các thiết giáp, theo sau bởi bộ binh địch, đã chọc thủng chu vi đông bắc. Tuy lúc đầu, đại đội trinh sát đã đẩy lui một TĐ bộ binh địch ở chu vi phía nam, nhưng sau đó do quân số ít ỏi nên họ bị tràn ngập, dù đã hạ trên 100 địch. Chu vi phía tây bắc bị chọc thủng bởi một TĐ bộ binh và một trung đội T-54.

Pháo binh địch đã liên tục giã vào căn cứ. Cuối cùng, khi thời tiết sáng tỏ, Dobbins thông báo mục tiêu cho quan sát cơ L-19 để chiếc này đánh dấu bằng đạn khói. Các xe tăng ngừng lại và có vẻ ko lẩn trốn: chúng làm mồi (decoy) để nhử cho máy bay vào lưới phòng không. Tuy nhiên khi phòng không 37 ly nổ súng, chúng đã bị đánh dấu bởi quan sát cơ. Dobbins và Thông đã tiếp tục đi chuyển từ hầm này sang hầm khác, bằng cách trốn trong các cống nước (culvert) và bất cứ thứ gì có thể che dấu họ. Lúc 10:00 g, trung tá Thông ko còn liên lạc với các đơn vị dưới quyền, và cả hai đã quyết định ko thể làm gì hơn để cải thiện tình hình này. Trước đó Dobbins định liên lạc với Ken Yonan, cố vấn của vị trung đoàn phó của 42, nhưng ko được. Có vẻ Yonan ko còn sống khi khu vực của y bị pháo nặng. (Ghi chú của ban biên tập: Đại úy Yonan có tên trong danh sách tù binh được phóng thích bởi Hà Nội cuối tháng giêng 1973.) Dobbins đi theo Trung tá Thông về doanh trại (quarters) của ông này trong chu vi phòng thủ. Theo họ là khoảng 19 người lính. Tới một căn nhà, Thông mở một cửa để lộ ra một hầm ngầm. Trèo vào bên trong, họ đóng cửa lại và nghỉ ngơi (settle into) trong bóng tối vì mệt lả trong khi cuộc chiến đấu trên đầu họ, nay chỉ là những ổ kháng cự rời rạc.

Sau khi báo cáo chiếc UH-1 bị rơi ở Dak To 2, đại úy Carden và trung tá Brownlee, cũng là cố vấn của trung đoàn 47, đã ko thể tìm thấy các đồng nhiệm (counterpart) VN của họ cũng như BCH của trung đoàn 47. TTHQ của trung đoàn trống vắng, và có vẻ BCH của trung đoàn đã rời bỏ khu vực nguy hiểm này. Trong khi tìm kiếm một cấp chỉ huy VNCH, đại úy Carden thấy hai T-54 tới phi đạo. Một chiếc chạy tới đầu phía tây của sân bay, nằm dọc (along) theo con đường phía bắc của căn cứ, nhằm khống chế tỉnh lộ 512 đến Dak To từ Ben Het, nơi mà đại tá Đạt đã sai lầm khi bố trí phần lớn thiết giáp ở đây. Chiếc T-54 thứ hai từ phía bắc chạy vào giữa của sân bay và đã tấn công có hệ thống các hầm trú ẩn của BCH của trung đoàn 47. Hai chiếc M-41 của VNCH đột ngột xuất hiện và chạy về phía hông phải của chiếc T-54 này và mỗi chiếc bắn 3 phát về đối thủ. Carden lúc đó chỉ cách chiếc T-54 khoảng 100 m và thấy nó trúng đạn, bốc khói, nhưng ko bị phá hủy. Chiếc T-54 bắn trả 2 phát và chiếc M-41 đã bị phá hủy bởi phát thứ hai, và ngay sau đó chiếc T-54 đã bắn cháy chiếc M-41 còn lại chỉ bằng một phát. Những người lính bị thương bỏ chạy khỏi thiết giáp bị cháy của mình.

Vào lúc này, hai trung đội M-41 và một trung dội bộ binh từ Ben Het kéo về để tiếp viện cho Dak To 2. Họ đã vượt cầu Dak Mot và đã bị phục kích bởi một lực lượng lớn CSBV đang chiếm giữ cao điểm ở phía đông kế cầu. Hỏa lực B-40 và súng không giựt đã hủy diệt tất cả M-41 và đánh tan đơn vị bộ binh này. Đây là cuộc phản công CUỐI CÙNG của VNCH trong ngày 24/4. 

Sau trận xa chiến này, Carden đã gặp lại Brownlee. Cả hai đã tin rằng căn cứ Dak To 2 sắp bị tràn ngập vì thiếu vắng sự hiện diện của trung đoàn 47 và TĐ 9 Dù, từng đóng trong căn cứ này. Khoảng 10:00 g, Carden trông thấy quân bạn đang tiến về phía nam. Sự ra đi của lính Dù, việc di tản của các cố vấn Mỹ, và sự bỏ chạy (desertion) của BCH là cú đấm CUỐI CÙNG làm tan nát tinh thần chiến đấu của trung đoàn 47. Vì ko còn ai chỉ huy, họ đã bắt đầu rời vị trí và chạy khỏi căn cứ. Brownlee và Carden đã thấy rõ (realize) rằng họ ko thể kiểm soát tình hình và sẽ ko còn đv nào chiến đấu nữa trong ngày này. Họ đã gom góp máy truyền tin, lương thực, đốt bỏ một số giấy tờ, và rời căn cứ tiến về đông nam. Hai cố vấn này, các thông dịch viên của họ và tài xế định vượt qua một cầu treo dành cho người đi bộ, bắc qua sông Dak Poko, chảy dọc theo bờ nam của căn cứ. Tuy nhiên TĐ Dù và các thành phần của trung đoàn 47 đi theo họ, đã bị cầm chân bởi hỏa lực dữ dội của địch. Con sông giờ đây gần như bị tắc (clog) vì xác chết cũng như kẻ bị thương khi họ vượt qua cầu treo này. Vì biết rằng ko thể vượt sông ở chỗ này, Brownlee và Carden đi dọc bờ sông về hướng tây cho tới khi gặp một khúc sông cạn (ford) có thể lội qua được, cách cầu treo khoảng 700m. Khi họ định vượt sông ở khúc sông cạn này, họ đã bị bắn bằng đủ loại súng. Khi nhóm của họ đã vượt sông và trèo bờ dốc để lên bờ, Carden đã thấy trung tá Brownlee gặp khó khăn khi leo lên bờ. Lúc đó hỏa lực địch lại gia tăng, Carden buộc lòng phải bỏ bờ sông và chạy nhanh đến bụi cây thấp cách đó khoảng 100m. Đợi khi giảm bớt (slack off) tiếng súng, ông cẩn thận đi ngược bờ sông để tìm trung tá Brownlee. Ông cũng đi tới lui vài trăm mét dọc theo dòng nước để tìm kiếm Brownlee nhưng vô vọng. Cuối cùng Carden và hai người lính VN đã bắt đầu đi về hướng nam và gặp CCHL Vida nơi mà họ được bốc đi 2 ngày sau.

Suốt ngày không quân Mỹ đã tấn công địch chung quanh Tân Cảnh và làm rung chuyển hầm trú ẩn mà Dobbins và 20 quân nhân VNCH ẩn núp. Lúc 20:00 g, Dobbins chia họ thành các toán 3 người và chuẩn bị lẩn trốn. Vì là lúc trăng tròn nên họ đã bị phát hiện khi gần hàng rào phía tây nam. Bốn người đã bị giết trước khi nhóm này cuối cùng tìm được chỗ núp trong một chuồng heo (pigpen) ở tuyến phòng thủ phía đông. Vào nửa đêm, họ lại lẩn trốn. Lần này họ bị phát hiện bởi một hỏa châu do Spectre bắn ra khi tấn công mục tiêu trong khu vực. Lần này họ bị mất thêm vài người do súng nhỏ của địch. Họ đã trở lại chuồng heo và chờ đến 4 g sáng. Một lớp sương mù thấp đã giúp họ vượt được chu vi phòng thủ. Họ đi về phía nam vài km và được bốc đi ngày kế.

Lực lượng tấn công Tân Cảnh và Dak To 2 là các thành phần của sđ 2 CSBV. Các TĐ của trung đoàn 1 và 141 và TĐ đặc công D-10 đã tấn công hai nơi này. Các xe tăng hỗ trợ cuộc tấn công thuộc một TĐ của trung đoàn xe tăng 203. Cuộc tấn công đã phối hợp kỹ càng dù có sai sót nhỏ về giờ giấc, và việc dùng những chiến thuật cổ điển này ko có gì mới mẻ ở Chiến tranh Đông Dương. Tuy nhiên điều đáng chú ý là sự có mặt của lính CSBV trong mọi trận đánh, Trong trận Tết 1968, các đơn vị VC dẫn đầu mọi tấn công, nhưng trận Tân Cảnh toàn là lính CSBV. Trong ngày 24 và 25/4, Bắc quân đã cũng cố các thành quả và mở rộng kiểm soát về phía Tây của sân bay Dak To 2 và phía nam tới Diên Bình. Vũ khí VNCH bị mất gồm 25 khẩu 105 ly, 7 khẩu 155 ly, 14,000 đạn đại bác, và các chiến cụ khác. Trong số người mất tích có đại tá Đạt và toàn bộ tham mưu của ông.

Trong lúc Tân Cảnh và Dak To 2 bị tấn công, sđ 320 CSBV đã tiếp tục tạo áp lực lên các CCHL còn lại trên Rặng Hoả Tiển. Ngày 25/4, tướng Dzu đã rút bỏ CCHL 5 và 6, khiến quân CSBV ít gặp nguy hiểm khi tiến về Kon-Tum. Cùng lúc với áp lực này tại tỉnh Kon-Tum, sđ 3 CSBV và các đơn vị chủ lực của VC đã tấn công 3 quận phía bắc của tỉnh Bình Định. Dù trung đoàn 40 và 41 của sđ 22 đã thành công trong những trận đánh gần đây với VC, quân CSBV tại tỉnh Bình Định đã buộc họ phải rút khỏi Bãi Đáp (landing zone) English và các CCHL khác trong khu vực. Điều này đã tập trung chú ý của quân Việt- Mỹ về mối đe dọa với Kon-Tum, vì Bắc quân sắp đạt mục đích là cắt Nam VN làm hai. Bộ tổng tham mưu VNCH và bộ tư lịnh Mỹ tại VN đã bắt đầu tin tưởng hơn vào nhận định của Vann, cố vấn trưởng của QĐ 2 rằng chiến dịch của địch tại Quảng Trị và An Lộc Bình Long có giới hạn về qui mô và rằng mục đích thực sự của Bắc quân là chiếm các tỉnh Kon-Tum, Pleiku, Bình Định bằng các cuộc tấn công cấp nhiều sđ suốt cao nguyên. 

                  


ĐỊCH QUÂN TIẾN GẦN KON TUM

Để đối phó với thành công này của Bắc quân, bộ tham mưu của QK2 đã kích hoạt kế hoạch sau. Đại tá Bá, tư lịnh của sd 23, chỉ huy mọi lực lượng ở tỉnh Kon-Tum. Bốn TĐ BĐQ sẽ chiếm giữ các vị trí án ngử ở Võ Định và phía nam dọc sông Dak Poko. Trung đoàn 53 bảo vệ tp Kon-Tum. TĐ 22 BĐQ chuyển đến Polei Kleng để tăng cường cho TĐ BĐQ biên phòng ở đây. Ngoài ra Vann cho B-52 ném bom dọc Rặng Hoả Tiển và các CCHL đã di tản. Hàng ngàn người tị nạn, tàn quân của sđ 22, và các cố vấn mất tích trong vùng địch chiếm đã hạn chế các cuộc không kích của B-52. Để giảm nhẹ vấn đề này Không quân Chiến Thuật hay TACAIR đã được xử dụng với hơn 180 phi xuất từ 24 đến 28/4.

Ngày 28/4, hầu như bộ tham mưu của sđ 23 đã lên đường tới Kon-Tum. Đại tá Bá đã có nhiệm vụ khó khăn là kết hợp các đơn vị khác thành một tổ chức chặc chẻ (cohesive). Đơn vị duy nhứt của sđ 23 dưới quyền ông là trung đoàn 53. Trong khi đó, hai LĐ 2 và 6 BĐQ, một LĐ Dù, và các lực lượng ĐPQ dưới quyền của đại tá Nguyễn bá Long, tỉnh trưởng Kon-Tum, là các đơn vị mà chỉ huy của họ dưới quyền chỉ huy của 9 BCH khác nhau. Vài vị đại tá ko bằng lòng vì bị chỉ huy bởi một đại tá khác. Vì vài liên đoàn trưởng BĐQ hay lữ đoàn trưởng Dù cũng mang cấp đại tá — người dịch. Nhiều lần họ ko dự họp hành quân mà để cấp phó thay thế. Để giải quyết vấn đề này, Vann đề nghị với tướng Dzu cử thiếu tướng Phong và phó của Vann là chuẩn tướng John Hill, bay đến Kon-Tum mỗi sáng lúc 0800 để chủ tọa các buổi họp. Sự có mặt của họ bảo đảm mọi người phải có mặt và việc phòng thủ sẽ tốt đẹp. Đại tá Truby, quyến cố vấn trưởng của sd 23, được giao nhiệm vụ cố vấn cho bộ tham mưu (BTM) của sđ về quan niệm phòng thủ quy ước trong một thời gian ngắn. Các cố vấn của sđ phải giải thích những chi tiết như các điểm hạn chế, sự phối hợp giữa các đv trên tuyến phòng thủ, giảm thiểu những nơi có thể bị xuyên thủng, v.v…

Để bảo đảm sđ có tối đa thời gian để huấn luyện và chuẩn bị việc phòng thủ, đại tá Bá giao cho LĐ 2 và 6 BĐQ có nhiệm vụ trì hoãn chiến trên QL14 giữa Tân Cảnh và Kon-Tum. Tuyến phòng thủ ngoài cùng ở bảy km từ trung tâm TP Kon-Tum, tuyến thứ hai cách tuyến cuối cùng 4km. Tuyến cuối cùng nằm ở rìa của TP. Bốn khẩu 155 ly và 44 khẩu 105 phụ trách yểm trợ cho họ. Đường tiến sát phía tây và bắc dược giao cho BĐQ, trong khi trung đoàn 53 lo phía đông và nam.

Ngày 26/4, tướng Dzu được lịnh về SG để gặp TT Thiệu. Khi trở lại Pleiku, ông cho biết bị đau tim và phải điều trị ở một bịnh viện tại SG. Dzu đã có vẻ bị sốc sau chuyến đi SG và ko muốn nói điều đó với ai. Cuối cùng Dzu về SG để nhập viện và thay thế bởi thiếu tướng Toàn.

LIÊN ĐOÀN 6 BĐQ THAY THẾ LỮ ĐOÀN 2 DÙ

Liên đoàn (LĐ) này từ chiến trường Huế, nơi mà họ đụng nặng với địch, đã tới QK 2 ngày 24/4. Thiếu tá James Givens, cố vấn trưởng của liên đoàn 6 BĐQ đã hay tin Tân Cảnh thất thủ trên radio khi liên đoàn tiến vào vị trí ở CCHL Bravo. Căn cứ này ở bắc của Võ Định, nơi mà liên đoàn đã đóng chung với BCH của lữ đoàn () 2 Dù. Ngày kế lữ đoàn Dù được xe GMC chỡ tới Kontum để không vận về SG và liên đoàn 6 chuyển tới CCHL November để gần Kontum hơn. Từ căn cứ Lam Sơn, một cao điểm trên QL-14, có cái nhìn khống chế về phía Bắc của Võ Định và về phía nam tới Kon-Tum, Givens và phụ tá, đại úy Vannie, đã thấy TÀN QUÂN của sđ 22 vượt qua vị trí của hai người trong từng nhóm 5 tới 15 người, với vài súng nhỏ và ko có súng cộng đồng; nhiều kẻ ko còn nón sắt hay ba lô (web gear). Họ đã bỏ những thứ này trong lúc rút chạy. Dù ko có chỉ huy, nhưng họ ko hoảng loạn.

Suốt ngày 25 và 26, địch gia tăng pháo kích BCH liên đoàn. Dù ko có thương vong, nhưng lúc 1500 của ngày 27, Givens và Vannie và BCH liên đoàn đã được trực thăng vận tới CCHL November dù Givens chống đối vì ông nghĩ rằng BCH nên ở tại căn cứ Lam Sơn với những đơn vị lớn của liên đoàn. Các TĐ BĐQ còn ở Lam Sơn, gồm 34 và 35, tiếp tục bị pháo kích và tấn công thăm dò. Lúc 05:00 ngày 1/5, lính của bốn xe M-41 tại Lam Sơn đã bỏ xe khi Bắc quân tấn công. Bắc quân chiếm xe nhưng bị không quân VNCH và một AC-130 bắn cháy và cuộc tấn công bị đẩy lui.

Lúc 18:00 g toán cố vấn của sđ 23 báo cho Givens rằng pháo đội của Dù đã rút khỏi căn cứ Lam Sơn. Ông liền gặp ngay trung tá Đệ  liên đoàn trưởng BĐQ để hỏi chuyện. Ông này trả lời ko liên lạc được với hai TĐ ở Lam Sơn. Lúc 19:30 liên lạc đã tái lập. Hai TĐ này đang di chuyển về phía nam của Lam Sơn, mang theo 50 thương binh và súng cộng đồng. Về việc pháo binh Dù bỏ Lam Sơn, Givens đã khám phá rằng liên đoàn trưởng BĐQ đã ra lịnh cho hai TĐ của ông bỏ căn cứ, do vậy pháo binh Dù phải rút theo vì ko còn ai bảo vệ. Ngày 4/5 tướng Dzu cách chức liên đoàn trưởng này.

Vấn đề này đã khiến Vann thuyết phục tướng Dzu rằng nên đưa hai trung đoàn 44 và 45 của sđ 23 lên Kon-Tum để thay thế hai liên đoàn BĐQ và lữ đoàn Dù. Dzu đã đồng ý. Ngày 6/5, trung đoàn 45 từ Pleiku theo QL-14 để thay thế LĐ 6 BĐQ.

===

Từ 24/4 đến 5/5, các cuộc pháo kích vào các trại BĐQ nằm kế bên đường tiếp tế của CSBV gia tăng. Hai trại Ben Het và Polei Kleng bị nặng nhứt do họ là trở ngại cho việc tiếp tế cho các khu tập trung quân để đánh tp Kon-Tum. Lúc 1200 ngày 6/5 Polei Kleng bị pháo nặng. Hơn 50 quả rơi trong một giờ rưỡi trước khi máy bay Mỹ tạm thời làm ngừng hỏa lực địch. Tuy nhiên khi quan sát cơ rời nhiệm sở tác chiến lúc 1515, pháo địch lại lần nữa gia tăng đến 500 quả tính tới 1900 cùng ngày. Các bunker trong căn cứ này lần lượt bị sụp đổ chứng tỏ pháo đã điều chỉnh chính xác. Vị trưởng trại, mà cố vấn là đại uý MacLaren và trung úy Paul McKenna đang điều khiển không kích, đã bị thương. Lúc 1730 một quả làm sập tường và thổi bay một cửa làm bằng gỗ sồi. Hai cố vấn đào đất để chun ra và tới một hố chiến đấu gần chu vi phòng thủ. Pháo địch đã hủy diệt một cách hệ thống mọi nhà cửa trên mặt đất, tất cả các bunker, và làm sập cột an-ten. Cuộc pháo kích liên tục và chính xác này đã làm mất tinh thần lính phòng thủ. Khi McKenna định gặp TĐ trưởng lúc 18:00 g, ông phát hiện y đã rời trại. Khi trở lại hố chiến dấu, ông thấy địch  đang dùng đèn đỏ chớp sáng để thông báo với bộ binh đang chờ để tấn công trại. Lúc 1900, dù phòng không dầy đặc, một OH-6 đáp xuống để bốc cố vấn. Trại tiếp tục chiến đấu thêm ba ngày dù liên tục bị pháo và bộ binh tấn công thuộc trung đoàn 64 CSBV. Việc Bắc quân tập trung lực lượng để chiếm Polei Kleng đã cung cấp mục tiêu hấp dẫn cho 16 phi xuất B-52, mỗi phi xuất 3 chiếc, vào khu vực này trong 3 ngày trên. Một hồi chánh viên (HCV) sau này thừa nhận đại đội 100 người của y đã chết 40 người và nhiều hơn bị thương vì B52. Lúc 0500 ngày 9/5, sau một tấn công bởi chiến xa và bộ binh, lực lượng VNCH tại Polei Kleng đã buộc phải rút lui. Tướng Dzu đã ra lịnh trại này từ nay được xếp vào vùng oanh kích tự do.        

                 ĐÈN CHỚP SÁNG MÀU ĐỎ 

Trong giai đoạn này, trại Ben Het đã nhận từ 400 đến 500 đạn đại bác đủ loại. Ngày 7/5, TĐ 71 BĐQ đã nổi loạn, ra tối hậu thư cho TĐ trưởng phải bốc họ ra khỏi trại trong 43 g. Trước khi cuộc bốc quân hoàn tất, hỏa lực phòng không đã vây kín trại.

Vào lúc rạng đông của ngày 9/5, Bắc quân xua chó vào hàng rào phòng thủ để nổ mìn. Lúc 0600, chúng tấn công bằng bộ binh có 6 PT-76 yểm trợ. Hai chiếc, có bộ binh tùng thiết, tấn công cổng chánh, nhưng bị bắn cháy bởi M-72 của BĐQ. Lúc 0730, năm PT-76 tấn công chu vi phòng thủ phía đông, hai chiếc bị phá hủy bởi M-72. Số xe tăng còn lại rút lui sau khi bộ binh chiếm chu vi phía đông. Suốt ngày hôm đó BĐQ đã đẩy lui địch.

Lúc 1700, BĐQ tái chiếm chu vi phía đông. Bắc quân đã mất 11 xe tăng và hơn 100 lính khi tấn công Ben Het. Dù BĐQ tiếp tục bị quấy rối, họ ko còn bị tấn công ồ ạt bằng bộ binh. Trại Ben Het ko là một mục tiêu ngon xơi với Bắc quân, một phần do hỏa lực trong trại rất mạnh vì có nhiều M-41 đưa lên từ trước theo lịnh đại tá Đạt — người dịch".

. . .

Chuyển ngữ từ trang 42 đến 47 của: 

Wayback Machine (archive.org)

San Jose ngày 10 tháng 9 năm 2023.

Tài Trần