Ảnh của ba tôi và tôi, chụp tại nhà 12/7, Nguyễn thị Minh Khai, tên cũ Hồng Thập Tự, quận Nhứt Sài Gòn.
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Ảnh của ba tôi và tôi, chụp tại nhà 12/7, Nguyễn thị Minh Khai, tên cũ Hồng Thập Tự, quận Nhứt Sài Gòn.
TRUNG ĐOÀN 40 SĐ 22 VNCH TẠI MẶT TRẬN KHÁNH DƯƠNG THÁNG BA 1975.
- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần hỏa lực của đơn vị. Không có trung đoàn tồi, chỉ có đại tá (ĐT) tồi.-- Hoàng đế Pháp Napoléon.
LỜI NÓI ĐẦU: trong hai tháng cuối cùng của VNCH, trong khi có những đơn vị (đv) đã rút lui trước quân CSBV, thì cũng có nhiều đv đã anh dũng chống trả Bắc quân, dù chênh lệch rõ ràng về quân số và vũ khí -- trong đó có sđ 22 bộ binh ở Bình Định. Ví dụ tiểu đoàn 1/47, mà trung đoàn trưởng là trung tá Lê Cầu, chỉ trong chín ngày chiến đấu (từ 4 đến 13/3/75) để bảo vệ các vị trí trên QL-19, đã có bốn tiểu đoàn trưởng tử trận. Tiểu đoàn (TĐ) này phải về hậu cứ bổ sung quân số vì bị chết và bị thương 50/100. ĐT Nguyễn Hữu Thông, chỉ huy Trung đoàn 42, cũng thuộc sđ 22 bộ binh, sau khi sắp xếp các đv dưới quyền xuống tàu hải quân ở cảng Qui Nhơn, đã tự sát.
Sau đây là chuyển ngữ từ trang 226-229 của sách Black April.
===
. . .
"Tại tỉnh Bình Định, chuẩn tướng Phan Đình Niệm, TL của sđ 22 bộ binh VNCH đã ra lịnh trung đoàn 41, chỉ huy bởi ĐT Nguyễn Thiều, tấn công sđ 3 csbv đang ngăn chận QL-19. Ngày 16/3, trung đoàn này đã tiến tới đầu phía đông của đèo An Khê. Tuy nhiên, vì sự rút quân của Cao Nguyên vừa bắt đầu, trung đoàn 41 và 42, đã rút về vị trí phòng thủ ở Bình Khê trên QL-19. Trong khi đó, trung đoàn 47 đã tiếp tục giữ QL-1 gần biên giới với tỉnh Quảng Ngải để ngăn lữ đoàn 52 csbv tiến về nam. Trung đoàn 40 và ĐPQ Bình Định bảo vệ sân bay Phù Cát và đoạn QL-1 ở bắc và nam tỉnh lỵ Qui Nhơn. Vì tin rằng sđ 22 đã ổn định tình hình trên QL-19, tướng Phú đã rút trung đoàn 40 để tăng phái cho mặt trận Khánh Dương trên QL-21-- và chỉ để lại một tiểu đoàn (TĐ) ở Bình Định.
Trên QL-21, chạy từ Ban mê Thuột tới Nha Trang, sau khi trung đoàn 66 sđ 10 csbv chiếm căn cứ của trung đoàn 53, sđ 23 tại sân bay Phụng Dực Ban Mê Thuột ngày 17/3, trung đoàn này nhận thêm 13 xe bọc sắt (có lẽ là M-113 của VNCH, người dịch), và được lịnh tiếp tục hướng đông để chiếm quận lỵ Khánh Dương. Quận lỵ này nằm ở một thung lũng bằng phẳng bao quanh bởi núi cao. Đây là cứ điểm cuối cùng trước khi đến đèo M'Drak -- cửa ngõ để xuống bờ biển. QL VNCH đã dùng quận lỵ Khánh Dương làm điểm tập hợp những tàn quân (straggler) rút lui từ Ban Mê Thuột. Vài tiểu đoàn ĐPQ giữ tp này, với nhiều đại bác (multiple tubes of artillery). Thông thường, đây là một vị trí phòng thủ vững chắc, nhưng tinh thần của ĐPQ đã giao động (shaky) từ những thất trận trước đó. Hai tiểu đoàn của trung đoàn 40 kể trên đã tới Khánh Dương ngày 19/3. Một TĐ đã triển khai vài dặm ở tây bắc của tp, trong khi TĐ thứ hai bảo vệ Ql-21. Nói thêm: theo trung úy Bùi Anh Trinh, trưởng ban 3 của TĐ 231 ĐPQ của tỉnh Khánh Hòa thì trung đoàn 40 do trung tá Nguyễn Thành Danh chỉ huy. TĐ 2/40 (do thiếu tá Tốt chỉ huy) và pháo binh của trung đoàn này tới Khánh Dương sáng ngày 17/3. Trung đội 1 của đ.đ. 4 của TĐ 2/40 của chuẩn úy Lê Minh Quang đã được trực thăng bốc và thả xuống đồn Chu Cúc (ở phía tây của đồi 519); đồn này thuộc tỉnh Darlac, giáp với Khánh Hòa, và do một đại đội ĐPQ giữ). Đồi 519 đã bị trung đoàn 25 csbv chiếm giữ cả tuần rồi. Ngày 22/3, lúc 7 g sáng, TĐ 2/40 bị tràn ngập. Lúc 7:20, người lính mang máy của TĐ 2/40 báo cáo rằng thiếu tá Tốt và trưởng ban 3 tử trận.--người dịch.
Bản đồ Buôn Ea Thi, thông tin tính tới năm 1970: https://maps.lib.utexas.edu/maps/topo/vietnam/buon_ea_thi-6734-2.pdf
Cùng lúc đó, trong khi đang cố gắng cản trở (impede) bước tiến bắc quân trên QL-21, tướng Phú còn phải giữ hai phòng tuyến khác: một tại Bình Khê trên QL-19 và một tại Củng Sơn trên LTL-7. Giữ được ba phòng tuyến này sẽ cho phép nam VN có thể tạo một vùng đệm (buffer zone), tuy mỏng manh, để bảo vệ bờ biển, ý nói ba tỉnh Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa. Để làm điều này, tướng Phú cần TRỪ BỊ. Ông ra lịnh cho ĐPQ/NQ đã rút lui từ tỉnh Darlac (mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột) sát nhập vào ĐPQ của Khánh Hòa. Tàn quân của sđ 23 VNCH sẽ tái tổ chức ở một trại LLĐB cũ ở bắc Nha Trang. TT Thiệu cũng ra lịnh cho lữ đoàn 3 dù, trên tàu từ QK-1 về SG, đổ xuống Nha Trang. Tàu cập bến lúc 1:30 SÁNG 19 THÁNG BA. Nhiệm vụ của Mũ Đỏ là giữ đèo M'Drak và tăng viện hay hỗ trợ cho trung đoàn 40 và ĐPQ đang bảo vệ quận lỵ Khánh Dương. Nói thêm: LĐ 3 dù với 3 tiểu đoàn thiện chiến và một TĐ pháo binh cơ hữu nên dễ dàng yểm trợ cho ĐPQ và đặc biệt cho trung đoàn 40 bộ binh vì đv này đã giao động và mệt mỏi sau thời gian chiến đấu liên tục tại Bình Định --người dịch.
Không quân VNCH đã bị căng kéo tối đa. Sđ 2 Không quân ở sân bay Phù Cát đang yểm trợ sđ 22 và đang cố gắng phá hủy trang bị và hàng tấn tiếp liệu bỏ lại tại sân bay Cù Hanh Pleiku. SĐ 6 KQ, đặc biệt là không đoàn 72 của đại tá Lê văn Thảo tại Phan Rang, đã tả xông hữu đột tại nhiều mặt trận. Nào là yểm trợ các đv đang rút trên QL-7 và các đv bảo vệ QL-21, nào là phá hủy các xe bọc sắt bỏ lại ở tỉnh lỵ Cheo Reo của tỉnh Phú Bổn.
Tuy nhiên, cái mà Phú cần nhứt là THỜI GIAN. Nếu ông có thể lập được một phòng tuyến sơ sài đi nữa, các sđ của Văn Tiến Dũng buộc phải dừng lại và sẽ làm chậm đi kế hoạch tiến về SG của bộ chánh trị. Do đó Dũng đã quyết tâm ko cho Phú có thời gian để thở bằng cách ra lịnh cho các sđ tiến quân bất chấp các trở ngại về tiếp vận. Trên cả ba mặt trận--Bình Định, LTL-7B và QL-21--Bắc quân ồ ạt xông tới khiến cho Phú ko có thời gian để tập hợp lực lượng.
Áp lực mới này của Dũng chẳng bao lâu đã có kết quả. Tại phía đông Bình Định, việc rút trung đoàn 40 của sđ 22 bộ binh VNCH để tăng phái cho mặt trận Khánh Dương đã tạo chỗ trống cho hai trung đoàn cs--thành lập từ các lực lượng cs địa phương. Họ đã tấn công các đv ĐPQ/NQ trên QL-1, và với tinh thần quân VNCH xuống thấp (sag) vì những thất bại trên LTL-7 và quân khu I, ĐPQ đã sụp đổ. Trong một tuần, quân cs đã quét sạch phần lớn các vị trí ở bắc và nam của Qui Nhơn và đang đe dọa tp này. Trung đoàn 47 vnch đột nhiên đã thấy họ bị khóa đuôi. Sđ 3 csbv đã đưa (snuck) một trung đoàn đến phía sau hai trung đoàn VNCH tại Bình Khê, ngăn chận đường rút lui và đe dọa sân bay Phù Cát. Giờ đây hy vọng duy nhứt cho sđ 22 vnch là chiến đấu để rút về Quy Nhơn và lập chu vi phòng thủ mới.
Tại QL-21, từ Ban Mê Thuột đi Nha Trang, trung đoàn 66 sđ 10 csbv đã tổ chức thành hai cánh quân để tấn công Khánh Dương. Một cánh, với sáu xe bọc sắt (có lẽ là M-113 của vnch), chuẩn bị tấn công từ tây bắc. Cánh thứ hai, với bảy xe tăng, di chuyển trên ql-21. NGÀY 21/3, cánh tây bắc mở trận tấn công đầu tiên, nhưng trung đoàn 40 sđ 22 vnch vừa mới đến từ Bình Định đã đẩy lui sau khi máy bay vnch bắn cháy vài xe bọc sắt. Không bỏ cuộc, bình minh NGÀY 22/3, bắc quân tiếp tục tấn công. Cánh quân hướng tây bắc tấn công lần nữa, và lần này bị thiệt hại vài xe do máy bay. Cánh quân trên ql-21 tấn công, nhưng dừng lại do cầu bị giựt sập. Chỉ huy trung đoàn 66 ra lịnh cho cánh tây bắc, giờ đây chỉ còn một xe bọc sắt và một xe tăng với bộ binh, phải tiến lên. Lần này họ đánh bọc sườn những người lính chính quy VNCH và chạy thẳng về tp Khánh Dương. ĐPQ nhanh chóng sụp đổ. Lúc 12 g trưa, tướng Phú ra lịnh cho trung đoàn 40 rút lui và bảo vệ đường tiến sát phía tây của Nha Trang.
Sau khi cây cầu được sửa chữa, TL của sđ 10 csbv, thượng tá Hồ Đệ, đã ra lịnh cho những cánh quân khác chiếm Đèo M'Drak. Từ cao điểm thuận lợi (vantage) trên đèo, lữ đoàn 3 Dù đã thấy và chuẩn bị trận địa pháo. Khi bắc quân vào khu vực bằng phẳng ở trước đầu đèo, Nhảy Dù nổ súng. Một số xe bị bốc cháy và bắc quân rút lui. Họ phải chờ đến khi sđ 10 tập hợp đầy đủ để tấn công lần nữa".
. . .
San Jose ngày 16 tháng 4 2021
Tài Trần
Tháng 3/75 , sau cuộc triệt thoái của Sư Đoàn 1BB và các đơn vị TQLC từ Huế về Đà Nẵng thì các tỉnh Quảng Ngãi , Quảng Tín cũng như các quận lỵ Ba Tơ , Minh Long , Sơn Hà , Trà Bồng , Tiên Phước, Hiệp Đức , Quế Sơn v.v...ở phía Nam Đà Nẵng và BTL Sư Đoàn 2BB tại căn cứ Chu Lai lần lượt xụp đổ như những quân Dominoes chỉ sau vài loạt pháo kích . Lãnh thổ Quân Đoàn I càng thu hẹp dần với hai tỉnh cuối cùng là thị xã Đà Nẵng và tỉnh lỵ Hội An tức Biệt Khu Quảng Đà tạm thời còn đứng được khi còn căn cứ Hỏa Lực Nông Sơn của Liên Đoàn 1 BĐQ [?] vì đó chính là cửa ngõ ngăn chặn mức tiến của Cộng quân từ Trường Sơn ra vùng đồng bằng tỉnh Quảng Nam đánh vào thị xã Đà Nẵng .
Nông Sơn là một ngọn núi trọc như khối đất khổng lồ , lớn cùng cỡ như núi Bà Đen ở vùng III nhưng không cao quá 1500 feet và nằm tách rời với dãy Trường Sơn rậm rạp ở phía sau , trong vùng rừng núi phía Tây Nam các quận Đức Dục , Đại Lộc và Thượng Đức thuộc lãnh thổ tỉnh Quảng Nam . Xung quanh tứ bề bao bọc bởi các thung lũng sâu thẳm, cùng đổ vào dòng sông Thu Bồn chảy ra cửa biển Hội An nên những mùa mưa lớn năm nào dân chúng cũng chịu cảnh lũ lụt lầm than .
Bên dưới chân núi là khu vực kỹ nghệ An Hòa còn gọi là khu mỏ than Nông Sơn với con đường xe lửa ngoằn ngoèo uốn theo sườn núi từ mỏ than ra tận Trà Kiệu và Duy Xuyên là huyết mạch chính yếu để vận chuyển than đi các vùng ngoài .
Từ trên đỉnh Nông Sơn nhìn xuống , phi trường An Hòa nằm giữa những thửa ruộng ô vuông đều đặn như hình bàn cờ . Một phi đạo nho nhỏ chạy dài theo hướng East/West song song với con sông , đa số chỉ dành cho trực thăng và các fixed- wings loại nhỏ . Những ngày chiến trường sôi động khi còn quân đội Mỹ vào những năm 69-70 , phi trường An Hòa lúc nào cũng nhộn nhịp từng đoàn trực thăng lên xuống để refills sau những phi vụ hành quân trực thăng vận mỗi ngày . Liên Đoàn 41 tác chiến khi ấy bên trực thăng VN mới chỉ có một mình PĐ 213 . Các phi vụ HQ phần đông bay cho Biệt động Quân hoặc Trung đoàn 51 Biệt Lập với những phi vụ "search & destroy" ầm ĩ vui nhộn cả vòm trời ... Ở đầu phi trường hướng Đông Bắc , nối liền An Hòa với Quận Đại Lộc là cây cầu Tự Do [ Liberty Bridge ] ; có lẽ không binh sĩ Mỹ nào đã từng đóng quân ở ĐNG lại có thể quên được cái tên quen thuộc ấy vì đó là trục lộ quân sự rất quan trọng , rất nhộn nhịp lúc bấy giờ .
Bản doanh BCH Liên Đoàn I BĐQ nằm trên chóp đỉnh Nông Sơn . Trung tá Phất , chỉ huy trưởng , là một sĩ quan trẻ cùng gốc Võ Bị Đà Lạt với Tr/tá Cao Q. Khôi , PĐT 213 . Thỉnh thoảng anh hay ghé phi đoàn thăm nên rất thân thiện với anh em trực thăng . Với vóc dáng cao ráo mảnh mai trong bộ quân phục rằn ri BĐQ và chiếc nón beret màu nâu nghiêng nghiêng trên mái tóc , anh giống như một Michael Cain oai hùng trong các film chiến tranh hồi xưa .. Mấy ngày 26 , 27 cuối tháng 3/75 , tự dưng mọi phi vụ HQ đều bị đình trệ, suốt ngày không có phi cơ nào cất cánh ngoại trừ những chuyến bay di tản . Anh em chán nản ngồi chờ trong những phi vụ trực standby , đánh bài mãi cũng không hết giờ . Tuy mới biệt phái Chu Lai về nhưng thấy có phi vụ vào Nông Sơn , tôi hăng hái đi bay liền !
Đêm 25/3/75 căn cứ Chu Lai bị thất thủ cùng với BTL/SĐ 2 BB . Phi đoàn phái tôi vô bốc Đại tá TMT và một số sĩ quan tham mưu SĐ2BB còn sót lại . Chúng tôi xuống được bãi VIP bên cạnh BTL trong cảnh đạn nổ và lửa cháy bập bùng nhưng lập tức các binh sĩ ùa lên phủ kín cả thân tàu như ổ kiến không tài nào cất cánh nổi . Mấy lần bốc tàu lên lại rớt xuống , cuối cùng tôi đành phải chịu bỏ lại phi cơ , dẫn theo mấy sĩ quan tham mưu BB cùng chạy xuống bãi biển Kỳ Hà. Chúng tôi núp trong những khe đá dưới bãi biển , chờ đến gần 3 giờ sáng thì Không Đoàn 51 mới cho phi cơ của PĐ 257/ tản thương vô đón về .
Buổi sáng , cất cánh bay vào Nông Sơn tôi vô tình quên cả sự dè dặt với tình hình chiến sự mới . Vừa ra khỏi vòng đai phi trường ĐNG tôi đã xà xuống khu cầu Cẩm Lệ , bay là là trên những ruộng dưa hấu xanh tươi rậm rạp trải rộng hai bên bờ sông Cẩm Lệ như tìm vui chút cảm giác thanh bình mơ hồ nào đó . Những trái dưa xanh lớn và dài bò tua tủa trên mặt cát vàng dưới gầm cầu trông thú vị ... Sau đó mới nhẹ nhàng kéo cyclic móc đầu lên lấy hướng Tây Nam rồi bay thẳng vào Nông Sơn không chút do dự như những phi vụ đã quen bay trước kia .
Vùng đồi 55 [ BCH/TRĐ51 ] và quận lỵ Đại Lộc vẫn còn im lìm dưới lớp sương mờ buổi sáng . Khi qua khỏi khu cầu Tự Do và phi trường An Hòa tôi mới ngạc nhiên để ý thấy cảnh dân chúng lũ lượt quẩy gánh từ các miền thung lũng dưới chân núi kéo ra rất đông [ vì sắp có chiến trận ] nhưng không tìm hiểu thêm làm gì ! Quẹo trái qua vùng thung lũng phía Nam để lấy thêm cao độ rổi theo hướng Bắc vào thẳng bãi đáp nhỏ bé có hình chữ H nằm sát bìa núi . Bên phải là hầm Chỉ Huy chồng chất nhiều lớp bao cát trên nắp rất kiên cố . Lá cờ vàng ba sọc đỏ trước miệng hầm tung bay phất phới theo chiều gió khá mạnh... Ở bãi đáp chờ đợi một lát vẫn không thấy ai ra liên lạc , tôi định tắt máy nhưng gió quá lớn cánh quạt phi cơ không chịu ngừng , con tàu dập dình như muốn lao xuống triền núi ! Tôi quay máy trở lại rồi cho HSQ cơ phi vào liên lạc BCH . Vị sĩ quan phụ tá nói Tr/tá bảo chúng tôi về ĐNG chờ , Ông sẽ gọi lại ... Không ngờ đó cũng là phi vụ cuối cùng tôi bay vào Nông Sơn !
Trở về ĐNG , liên lạc báo cáo HQCC thì được lệnh hủy bỏ phi vụ vì căn cứ Nông Sơn đã bị overun , sau chưa đầy mấy phút ! Nếu không vì gió lớn có lẽ chúng tôi đã cùng chung số phận với các chiến sĩ BĐQ và Tr/tá Phất trên núi Nông Sơn . Có thể là số còn may mắn ; nhưng sự việc xẩy đến đối với tôi như một phép lạ nhiệm màu hơn là một sự hên xui ! Tôi thầm khấn nguyện cám ơn Thượng Đế - Ngài vừa cho tôi an toàn ở Chu Lai giờ lại bảo vệ tôi ở Nông Sơn - Tội nghiệp cho Tr/tá Phất và các chiến binh của ông không biết sau này [ sau 75 ] gia đình và thân nhân có tìm được thân xác của các anh để mang về mai táng cho đàng hoàng ? Họ là những chiến sĩ vô danh trong giờ phút đen tối nhất của lịch sử Việt Nam như biết bao anh hùng khác của Quân Lực VNCH .
Đêm hôm sau , 28/3/75 , từ vùng núi Nông Sơn hướng Tây Nam , Cộng Sản tha hồ tự do ồ ạt tấn công bằng hằng loạt đại pháo vào phi trường và thị xã Đà Nẵng mang theo sự xụp đổ cuối cùng của Quân Đoàn I và Vùng I Chiến Thuật .
Các tài liệu lịch sử sau 75 cũng như hồi ký của các vị tư lệnh ở Vùng I có trách nhiệm bảo vệ Thị Xã Đà Nẵng trong những ngày cuối cùng của tháng 3/75 , hầu như không ai nhắc đến trận chiến cuối cùng của các chiến sĩ BĐQ trên đỉnh Nông Sơn buổi sáng ngày 27/3/75 . Phỏng theo hồi ký [ The 25 year Century pages 363,364,365,366...] của tướng Lâm Quang Thi , tư lệnh QĐ I Tiền Phương kể lại thì vào ngày giờ ấy [ chiều 27 và sáng sớm 28/3 ] các tướng lãnh đang bận rộn tìm đường thoát thân rời khỏi Đà Nẵng bằng chiến hạm HQ 404 và 405 của HQ Vùng I Duyên Hải. Tướng Trưởng TL/QĐI và tướng Khánh TL/SĐIKQ phải bỏ trực thăng mà bơi ra tàu Hải Quân ! Không biết dựa vào nguồn tình báo nào mà các tướng lãnh lại nghĩ rằng Đà Nẵng đã mất vào tay CS ? Trong khi trên thực tế nửa đêm 28/3 tôi còn đáp chiếc trực thăng cọc cạch nhất [ luôn luôn có chứng bệnh kinh niên - rung và hydraulic rỉ dầu trường kỳ ] mang số 107 của phi đạo 213 xuống sân bay Non Nước và ngủ một giấc ngon lành trên bãi cỏ bên cạnh đường phi đạo cho đến sáng 29/3/75 khi Tr/tá Ng.V Mai [PĐT 247] đáp chiếc Chinook bên cạnh làm giật mình thức dậy . Anh Mai hỏi tôi " Sao mày chưa đi ? Tụi nó bay hết rồi ! "... Suốt ngày 29/3 cho đến gần 5.00pm chiều tôi mới cất cánh rời ĐNG cùng với PHĐ 213 gồm Đ/úy Vui , Cang, Đương và Xiêm; khi ấy những toán quân VC đầu tiên từ vùng biển Hội An tiến về tiếp thu ĐNG mới chỉ tới khu đồn Đại Hàn cũ cách Non Nước [ Khu Ngũ hoành Sơn ] chừng 2 miles / South .
Để sự hy sinh cao cả của các anh không bị quên lãng vô nghĩa ... Tôi xin phép được ghi lại biến cố này như nén hương lòng dâng kính anh linh các Anh Hùng chiến sĩ LĐ I BĐQ trên căn cứ Hỏa Lực Nông Sơn / Vùng I Chiến Thuật !!!
Th/hg
Song Chùy 213 / KĐ 51 CT / SĐ IKQ
Phi vụ cuối cùng vào Căn Cứ Hỏa Lực Nông Sơn


CUỘC RÚT QUÂN THÀNH CÔNG CỦA QUÂN ĐOÀN 10 MỸ THÁNG 12/1950 TẠI HÀN QUỐC
LƯƠNG = 36753 = 24 = 6
QUỐC = 1673 = 17 = 8
VIỆT = 6154 = 16 = 7