Sunday, December 4, 2022

         Chuyện Kỷ Niệm 40 năm trận chiến  

                Khánh Dương tháng 3 1975

 

                Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột
          Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương
                                                        Chậm chân người hởi nhè nhẹ bước
                   Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

                  Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.
                  Sao đành để lại một mình tôi
                 Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi
                Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

 

                           Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

      Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù. LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm. Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ,Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm. Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. Tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ/Tiền Sát/TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

           Hai thằng sĩ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17,18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra . Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong.Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền,nhưng 2 cô nói : Hai anh đợi ba em một chút ,còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy.Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

            Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì,thuốc lá , đồ hộp v.v. toàn là đồ ăn liền . Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn ,tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình.Một lát tôi mới có thể nói :Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc . Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình .Một lát sau bánh mì ,thuốc lá ,đồ hộp được phát ra cho anh em..

             Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây ,từng gói một quăng lên xe cho anh em .Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù .Bao nhiêu mệt mỏi ,thất vọng,bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan,vất vả tại Thường Đức tan biến hết .Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có . LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN . Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể.Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ. 


               Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra .Lãnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ, trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND, tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè, kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: "Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh". Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe.Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi: Đi đâu vậy ? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời :Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ . Ông bảo :Nhớ về đơn vị sớm .Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to :Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ,hú hồn. Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND.

                   Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh ,xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê.Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay .Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt,

 Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết chứ ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6, tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC, tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo, họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

       Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, Hiệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác). Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt, họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6. Quân số ít ỏi, không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là điều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành, TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt.

       ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều. Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối. Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm, cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất. Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống.Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK và dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi. Tôi tìm một chỗ kín đáo gần con suối, cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt vào ổ VC mà chúng cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

      Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ. Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. Trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2 ,2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả. Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái .Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú "tấp pi" đầu tiên của VC, chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó. Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới .

      Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi. Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác.Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan, người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi." Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được." Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. "Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh "-- tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mủ Đỏ



 


                                                                                  Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

                                                                              Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

                                                                                   Vũ trụ mình ta chân đạp gió

                                                                                   Không gian lơ lửng bắt mây trôi

                                                                                   Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

                                                                                   Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

                                                                                   Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

                                                                                    Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

                                                                                    Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

                                                                                    Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

                                                                                   Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

                                                                                    Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

                                                                                     Một không sáu hai đầy xác cộng

                                                                                    Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

                                                                                    Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

                                                                                    Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

                                                                                   Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

                                                                                   Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam 

                                                                                   Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

                                                                                   Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

                                                                                   Về mái trường xưa qua Đồng Đế

                                                                                   Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

                                                                                  Có người em gái nằm xỏa tóc 

                                                                                  Để đợi anh về dẩu trăm năm

                                                                                  Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

                                                                                  Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

                                                                                  Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7 

                                                                                  Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

                                                                                  Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

                                                                                  Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

                                                                                  Tứ bề thọ địch Đèo M'Rack

                                                                                  Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

                                                                                  Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

                                                                                  Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi                                                                               


                                                                                  Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

                                                                                  Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

                                                                                  Chí trai vị quốc không danh lợi 

                                                                                  Vong thân bất nhục đáng anh hùng

                                                                                  Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

                                                                                  Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

                                                                                  Nợ nước muôn đời trên vai nặng

                                                                                  Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.


             Những ngày cuối tháng 3 / 2015


                                   Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí


Saturday, December 3, 2022

 

Battle of Binh Gia - Battle

Battle

During the early hours of December 28, 1964, elements of the Viet Cong 271st Regiment and the 445th Company, signalled their main attack on Binh Gia by penetrating the villages’ eastern perimeter. There, they clashed with members of the South Vietnamese Popular Force militiamen, which numbered about 65 personnel. The South Vietnamese militia fighters proved no match for the Viet Cong and their overwhelming firepower, so they quickly retreated into underground bunkers, and called for help. Once the village was captured, Colonel Ta Minh Kham, the Viet Cong regimental commander, established his command post in the main village church and waited for fresh reinforcements, which came in the form of heavy mortars, machine guns and recoilless rifles. To counter South Vietnamese helicopter assaults, Colonel Kham’s troops set up a network of defensive fortifications around the village, with trenches and bunkers protected by land mines and barbed wire. The local Catholic priest, who was also the village chief, sent a bicycle messenger out to the Ba Ria district headquarter to ask for a relief force. In response, the Ba Ria district chief sent out elements of two Vietnamese Rangers battalions to retake Binh Gia. On December 29, two companies of the ARVN 33rd Ranger Battalion and a company from the 30th Ranger Battalion were airlifted into area located west of Bình Gia, by helicopters from the U.S. 118th Aviation Company to face an enemy force of unknown size.

However, as soon as the soldiers from the 30th and 33rd Ranger Battalions arrived at the landing zone, they were quickly overwhelmed by the Viet Cong in a deadly ambush. The entire 30th Ranger Battalion was then committed to join the attack, but they too did not initially succeed in penetrating the strong Viet Cong defensive lines. Several more companies of the Rangers then arrived for an attack from multiple directions. Two companies of the 33rd Ranger Battalion advanced from the northeast. One of them came to the outskirts of the village but was unable to break through the enemy defenses. The other one, trying to outflank the enemy, had been lured into a kill zone in open terrain at the coffee plantation and were quickly obliterated in an ambush by the three VC battalions using heavy weapons. The two companies suffered a 70 percent casualty rate, and survivors were forced to retreat to the nearby Catholic church. The 30th Rangers had more success by assaulting from the western direction and succeeded in fighting their way into the village, aided by local residents. It however also suffered heavy losses, with the battalion commander and his American adviser severely wounded. The local civilians in Bình Gia retrieved weapons and ammunition from the dead Rangers, and hid the wounded government soldiers from the Viet Cong. The 38th Ranger Battalion, on the other hand, landed on the battlefield unopposed by the Viet Cong, and they immediately advanced on Bình Gia from the south. Soldiers from the 38th Rangers spent the whole day fighting but they could not break through their enemies’ defences to link up with the survivors hiding in the church, and fell back after calling in mortar fire to decimate Viet Cong fighters moving to encircle them.

In the morning of December 30, the 4th South Vietnamese Marine Battalion moved out to Bien Hoa Air Base, waiting to be airlifted into the battlefield. The 1/4th Marine Battalion was the first unit to arrive on the outskirts of Bình Gia, but the 1st Company commander decided to secure the landing zone, to wait for the rest of the battalion to arrive instead of moving on to their objective. After the rest of the 4th Marine Battalion had arrived, they marched towards the Catholic Church to relieve the besieged Rangers. About one and a half hours later, the 4th Marine Battalion linked up with the 30th, 33rd and 38th Ranger Battalions, as the Viet Cong began withdrawing to the northeast. That afternoon the 4th Marine Battalion recaptured the village, but the Viet Cong was nowhere to be seen, as all their units had withdrawn from the village during the previous night, linking with other Viet Cong elements in the forest to attack the government relief forces. On the evening of December 30, the Viet Cong returned Bình Gia and attacked from the south-eastern perimeter of the village. The local villagers, who discovered the approaching Viet Cong, immediately sounded the alarm to alert the ARVN soldiers defending the village. The South Vietnamese were able to repel the Viet Cong, with support from U.S. Army helicopter gunships flown out from Vung Tau airbase.

While pursuing the Viet Cong, a helicopter gunship from the U.S. 68th Assault Helicopter Company was shot down and crashed in the Quang Giao rubber plantation, about four kilometres away from Bình Gia, killing four of its crewmen. On December 31, the U.S. Marines Advisory Group sent a team of four personnel, led by Captain Donald G. Cook, to Bình Gia to observe conditions on the battlefield. At the same time, the 4th Marine Battalion was ordered to locate the crashed helicopter and recover the bodies of the dead American crewmen. Acting against the advice of his American advisor, Major Nguyen Van Nho, commander of the 4th Marine Battalion, sent his 2/4th Marine Battalion company out to the Quang Giao rubber plantation. Unknown to the 4th Marine Battalion, the Viet Cong 271st Regiment had assembled in the plantation. About one hour after they had departed from the village of Bình Gia, the commander of the 2/4th Marine Battalion reported via radio that his troops had found the helicopter wreckage, and the bodies of four American crewmen. Shortly afterwards, the Viet Cong opened fire and the 2/4th Marine Battalion was forced to pull back. In an attempt to save the 2nd Company, the entire 4th Marine Battalion was sent out to confront the Viet Cong. As the lead element of the 4th Marine Battalion closed in on the Quang Giao rubber plantation, they were hit by accurate Viet Cong artillery fire, which was soon followed by repeated human wave attacks. Having absorbed heavy casualties from the Viet Cong’s ambush, the 2/4th Marine Battalion had to fight their way out of the plantation with their bayonets fixed. During the entire ordeal, the company did not receive artillery support because the plantation was beyond the range of 105mm artillery guns based in Phuoc Tuy and Baria. They however escaped with the crucial support of the U.S. aircraft and helicopters whose rocket attacks forced the enemy to pull back and halted their attempt at pursuit.

In the morning of December 31, the 4th Marines Battalion returned to the crash site with the entire force and the American graves were located and their corpses were dug up. At about 3 pm, a single U.S. helicopter arrived on the battlefield to evacuate the casualties, but they only picked up the bodies of the four American crewmen, while South Vietnamese casualties were forced to wait for another helicopter to arrive. At 4 pm, Major Nguyen Van Nho ordered the 4th Marine Battalion to carry their casualties back to the village, instead of continuing to wait for the helicopters. As the 4th Marine Battalion began their return march, three Viet Cong battalions, with artillery support, suddenly attacked them from three directions. The battalion's commanding and executive officers were immediately killed and air support was not available. Two ARVN Marine companies managed to fight their way out of the ambush and back to Bình Gia, however the third was overrun and almost completely wiped out. The fourth company desperately held out at a hilltop against Viet Cong artillery barrages and large infantry charges, before slipping out through the enemy positions at dawn. The 4th Marines Battalion of 426 men lost a total of 117 soldiers killed, 71 wounded and 13 missing. Amongst the casualties were 35 officers of the 4th Marine Battalion killed in action, and the four American advisers attached to the unit were also wounded. Backed by U.S. Air Force bombers, on January 1 three battalions of ARVN Airborne reinforcements arrived, they were too late as most of the Viet Cong had already withdrawn from the battlefield.

Read more about this topic:  Battle Of Binh Gia

Friday, December 2, 2022

 

An Hiên Quán – Ngày tháng cũ






Trần Thị Diệu Tâm
23 Tháng Mười Hai 2019




Nhà văn Tran Thị Diệu Tâm



Đang làm việc tại một cơ sở thuộc nhà sách Hachette, tôi đành bỏ ngang để làm nhà hàng với ông xã ở phố quận 13, Paris. Nghĩ rằng mở một cái tiệm ăn nhỏ tự đứng ra cai quản, coi bộ khỏe hơn đi làm nhân viên dưới quyền điều khiển của sếp đầm khó chịu .



Chọn cái tên cho tiệm ăn giống như tìm đặt tên cho đứa con của mình. Chợt nhớ quê nhà quê mình có một biệt phủ xưa tên gọi An Hiên. Hiên là mái nhà, an là bình an. Ai mà chẳng mong có một mái nhà an bình để sống.






Tôi không phải là người giỏi giang chi về bếp núc. Ở Việt Nam lúc đi học thì lo học chứ đâu để ý chi chuyện làm bếp. Khi lấy chồng thì có chị giúp việc nấu nướng ngon lành. Việc chi mà phải nhọc tay chân. Qua đây liều mình mở hàng ăn , quả thật mình có lá gan to của con ngỗng béo. Ở xứ sở này, nghề bếp núc nấu nướng lại là nghề có giá trị. Tìm được một người bếp giỏi không phải là chuyện dễ dàng. Tôi phải biến thành nhà bếp, bếp chính. Như thế mình không phải phụ thuộc vào bất cứ bếp chính nào. Chủ nhà hàng sợ nhất là khi quý vị bếp chính se mình nghỉ việc.



Quán ăn nhỏ đủ cho hai vợ chồng và một người phụ bếp. Cuối tuần khách đông có con gái nghỉ học ra phụ, hạn chế phí tổn tối đa may ra mới sống nổi ở xứ Xã Hội khó khăn này. Nghĩ bụng mấy năm học “Quản trị xí nghiệp” ở Đàlạt bộ không quản trị nổi cái quán ăn bé nhỏ này sao. Thật ra nhỏ hay lớn đều cần phải biết cân bằng chi thu, làm nhà hàng phải cần có số thu ít nhất hơn gấp 4 lần số chi, để có thể trang trải gánh nặng về thuế má. Nếu may ra số thu có tỉ lệ cao hơn nữa mới mong có lời. Một bài tính không dễ thực hiện với một người lơ mơ và ít tiền là tôi.




An Hiên có địa chỉ ngay quận 13, nơi này mọi thứ vật liệu Á Đông đều có người cung cấp đưa tận nơi, chỉ cần đặt hàng qua điện thoại. Nhà tôi có khá nhiều bạn hữu quen biết xưa nay, họ đến ủng hộ khá đông. Không những khách Ta mà có cả khách Tây. Anh ấy đứng két thu tiền, vừa có tiền lại vừa gặp bạn đến chơi mỗi ngày, nên vui lắm. Đa số khách Việt ta đều trả tiền mặt. Tôi rất thích, vì được chạm, sờ và đếm, vui hơn là nhìn những con số qua chi phiếu. Đúng là nhà quê thực tình. Nhưng số tiền giấy đó không phải thuộc về chúng tôi đâu, mà thuộc về thuế má chi phí phải thanh toán. Chuyện tiền bạc bỗng dưng trở thành gánh nặng lo lắng mỗi ngày.



Để cảm thấy cuộc sống nhẹ nhàng hơn, tôi thường vẽ vời trong trí tưởng một cuộc đời khác bên lề, nó đi song song với cuộc đời đầy mắm muối này. Đó là sáng tạo các nhân vật truyện của mình. Trong lúc nấu nướng với bếp lửa xanh phừng phực cao độ, tôi ước chi được phút giây rảnh rỗi, tiếp tục viết tiếp câu nói trong câu chuyện ngắn dở dang. Không ai ngờ rằng thời gian làm bếp là thời gian tôi mê viết nhất, viết nhanh và viết gọn. Có lẽ viết là một cách thoát ra đời sống thường nhật với những tính toán tiền bạc vật chất, để đến với thế giới khác của riêng mình, cùng đem theo đôi điều suy nghĩ không thể nói ra trong cuộc đời thường.



Nếu cho rằng viết văn là một nghệ thuật, thì nấu bếp cũng là nghệ thuật vậy. Một bên là sản xuất món ăn cho cơ thể, một bên là sản xuất món ăn cho trí tuệ. Món nào cũng thấy cần thiết cho đời. Muốn nấu món ăn ngon, điều quan trọng là nêm nếm gia vị. Muốn viết hay cũng cần gia giảm tình tiết chữ nghĩa. Cả hai loại nghệ thuật này đều cần sự tận tâm tận tình. Một người bạn đến chơi nói đùa “nhà văn bây giờ trở thành nhà ăn”. Tôi chẳng phải nhà văn mà cũng chẳng phải nhà ăn, chỉ là mảnh ván cho tôi bám vào trôi nổi trên biển động trăm năm này.



Và hình như cái nhà vững chắc hơn cả đó là Nhà Tôi.



Điều làm cho hai vợ chồng chúng tôi phấn khởi làm việc là sự lui tới thường xuyên của thân hữu thuộc nhiều giới khác nhau. Những người ở xa ghé đến ăn không chỉ vì món ăn mà còn là dịp gặp gỡ. Nhà Tôi là người dạy học ở Sài Gòn, Đà Lạt, do đó học trò cũ khá đông. Có học trò cũ mắt ứa lệ khi thấy ông thầy giáo mình ngưỡng mộ năm xưa, nay vất vả kiếm sống nơi quê người. Nhưng làm việc tốt hơn thất nghiệp xin trợ cấp, trả lời đơn giản. Chúng tôi là những người không hề có mặc cảm, trước kia không tự tôn, nay không tự ti.



Người ta cho rằng quán ăn của chúng tôi là quán ăn nghệ sĩ, cũng đúng. Đa số người có “tâm hồn nghệ sĩ” thích đến đây, ăn xong thêm một tách cà-phê, có thể ngồi chuyện trò cà kê đến chiều với ông chủ quán. Những vị nào độc thân hay gần như độc thân (vì một lý do nào đó không tiện nói ra) thường đến vào buổi tối ít bận rộn hơn, và chúng tôi xin họ ngồi gần nhau để cùng ăn bữa cơm chung như trong một nhà. Như thế giá vừa rẻ cho mỗi người mà tiện cho việc nấu nướng. Vì đứng bếp vào buổi tối, tôi và anh phụ bếp cũng đều oải lắm rồi.



Từ lúc mở An Hiên quán, trong không gian nhỏ bé, chúng tôi được tiếp xúc khá nhiều nhân vật, những vị lãnh đạo cao cấp của quân đội, những nhân vật chính trị, những người giàu có của thời VNCH. Xưa kia dễ dầu gì chúng tôi được diện kiến họ. Những người Bên Ni, Bên Nớ khi đến Paris đều có lần đến “diện kiến” An Hiên !



Cô đầm lai TinTao (giống tên của một loại bia tàu), rất dễ mến thường đưa những bạn bè Pháp đến, có khi là một tác giả cuốn sách nổi tiếng, hay một đạo diễn xi-nê đi tìm vai diễn Á Đông cho phim. Có khi cô đưa một anh đàn ông hào phóng chịu chi cho chai rượu đắt tiền. Cô có duyên nói năng dịu dàng. Buổi tối, trong ánh đèn lung linh, người ta dễ dàng tâm sự đôi ba điều tình cảm. Những quán ăn ở xứ này đều có chung một khung cảnh ánh sáng trữ tình buổi tối. Có mấy lần Cô Tintao đưa bà Monique, vợ cuối của Hoàng Đế Bảo Đại đến ăn. Sau khi vua chồng mất, bà Monique thấy gầy ốm. Tôi hỏi sao lúc này bà gầy. Bà trả lời rằng “buồn vì chồng mới mất”. Không biết có thực không, bà đến hỏi riêng Nhà Tôi “trong tương lai, khi nào tôi có thể có chồng khác ?” ! Bà tặng tôi một tấm hình bà chụp cùng ông Bảo Đại. Tôi cất vào album. Dù sao bà này cũng là một chỗ dựa cuối đời của một vì vua nước tôi. Trước đây hoàng tộc cũng gửi cho chúng tôi một tấm hình của Vua với hoàng hậu Nam Phương rất đẹp chụp thời còn vương triều ở Huế. Tôi luôn mong muốn giữ mãi trong lòng sự cung kính đối với hoàng đế, nên đã từ chối lời đề nghị của một người quen, muốn tổ chức bữa ăn món Huế mời Ngài ngự ở An Hiên Quán. Nghĩ rằng khung cảnh quán không đủ sang trọng xứng đáng mời Ngài.



Chị Bích Hồng có ông chồng về ở Việt Nam, mỗi năm chỉ trở lại Pháp một lần để khai báo thuế má. Cũng xem chị như sống độc thân. Chị thường đến ăn buổi tối, và ở lại cho đến 11 giờ đóng cửa tiệm, chúng tôi đưa xe chị về luôn vì tiện đường. Chị đi du học Pháp từ lâu, gia đình rất giàu có xưa kia ở thành phố Đà Nẵng. Chị là người căn cơ có nhà cao cửa rộng, và thích đầu tư vào nhà cửa. Có một hai ông khách độc thân muốn ngắm nghé chị, nhưng chị dửng dưng. Chị nói “chán đàn ông”. Chồng chị về Việt Nam có nhân tình. Một hôm chị bắt được lá thư của cô bồ viết đòi hỏi chồng chị phải thế này thế nọ. Chị bèn đem lá thư sao photocopy, thuê tủ sắt ở ngân hàng để lưu trữ. Chị nói sau này ly dị, chị có bằng chứng tố cáo chồng có lỗi. Chị là người tính toán tiền bạc rất giỏi, tôi thường hỏi han chị nhiều điều không biết. Vì cùng giọng nói, lại là người dễ chịu, chị cần có bạn, tôi cũng vậy. Để giải khuây, chúng tôi thường đảo qua các phố phường Paris thượng vàng hạ cám lúc rỗi rảnh.



Sau thời gian sang bán quán ăn năm 2000, tôi ít gặp chị. Rồi chị gọi điện thoại hỏi tôi có thể cho chị ở tạm một phòng trong nhà được không. Tôi ngạc nhiên, mời chị đến chơi ở lại ăn cơm trưa, nhưng không thể làm theo đề nghị. Chị nói rằng chị rất đau, tôi thật thà hỏi chị đau gì, đâu ở đâu ? Chị khóc trả lời “sợ cô đơn và không muốn sống một mình”.



Không biết vì buồn chuyện tình hay buồn chuyện tiền, nói chung là buồn chuyện đời, chị Bích Hồng đã tìm đến cái chết một cách quyết liệt không chút luyến lưu.



Một vị khách quen thuộc khác, chúng tôi thường gọi bác Bửu, bác lớn tuổi du học Pháp từ rất lâu, sau khi thành tài về nước giữ chức vụ giám đốc đầu tiên của Truyền Hình Việt Nam. Người vợ của bác là chị ruột của bà Ngô Bá Thành, chủ tịch “Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống”, nổi đình đám chống đối chính quyền thời tổng thống Nguyễn văn Thiệu. Bác giận vợ chi đó, thuê nhà ở riêng tại phố quận 13, vậy là bác độc thân như ai. Bác xem An Hiên như một nơi chốn tìm về không khí ấm cúng, thân tình để hàn huyên những mẩu chuyện đời lý sự. Có chuyện chi vui buồn bác cũng kể cho chúng tôi nghe. Bác đề nghị trả trước hằng tháng số tiền ăn mỗi ngày, nhưng tôi từ chối. Bác hay kể chuyện xưa, cho biết có mấy cô ca sĩ nổi danh đã qua tay bác. Bác cao lớn, học giỏi thiếu gì cô muốn ngã vào lòng. Thỉnh thoảng bác kể về mối tình cũ xa xưa, tôi nhớ nhất là : “Thời trẻ ở Huế, có nhiều buổi chiều tui phải bơi dọc trên dòng sông Hương, chỉ để ôm lấy đôi bàn chân của một mỹ nhân đang ngồi đong đưa bên bến sông vắng người”. Chao ơi là tình. Tôi hỏi bác thế chắc chắn là phải hẹn hò trước chứ. Bác trả lời: “Thì cũng có, nhưng thành thói quen, hai người ai cũng muốn gặp gỡ như rứa mỗi chiều”.



Nhà tôi cứ nhớ mãi và lạ lùng cho cuộc hẹn hò trên sông nước này, cho rằng chỉ có thể xảy ra ở cái xứ lãng mạn Huế mà thôi. Tuy chưa bao giờ về thăm quê vợ, nhưng anh ấy thuộc hầu hết các tên tuổi giai nhân quê tôi, và cho rằng không ở đâu các cô gái có những cái tên đẹp và kỳ lạ như xứ Huế.



Sau thời gian không còn An Hiên nữa, bác Bửu ra đi về bên kia, nơi đó, linh hồn bác không còn chơi vơi giữa khoảng đời chập choạng tuổi già cô quạnh. Một ý kiến cho rằng nếu An Hiên còn, có lẽ bác hay chị BH không ra đi vội như thế. Có những nguyên nhân không đâu lại đưa người ta đến cái chết bất ngờ. Một hôm buổi tối trời mưa buồn, vắng khách, bỗng một vị khách ăn xong về nhà đem cây đàn guitar đến, vừa đàn vừa hát “La paloma”, chao ơi nghe mà lòng rưng rưng. Ông khách Tây bàn bên kia thích thú vỗ tay khen ngợi.



Chúng tôi nhớ đến nhà văn Duyên Anh mỗi lần từ Mỹ về, ông kéo lê chiếc vali nhỏ vào quán ăn uống trước khi về nhà. Dù tay bị liệt, sức khỏe yếu sau vụ bị hành hung ở bên đó, nhưng ông vẫn luôn vui sống xem nhẹ mọi chuyện. Làm nhà văn ở bên nhà xưa kia rất được chú ý quý trọng, nhất là những người nổi tiếng, vì đó là những người có tài. Chữ nghĩa hay, đâu phải ai cũng có thể viết được. Ngày xưa, tôi rất phục các văn sĩ, thi sĩ, cho rằng họ là những người đặc biệt có thiên phú. Có lần ông Duyên Anh vào quán ngồi ăn, tôi giới thiệu cho một thực khách về ông. Anh ta trả lời : Tôi không biết ông ấy là ai. Nên không đến chào hỏi. Nhà văn bèn tỏ ý thắc mắc, tại sao lại có một người Việt không biết đến tên tuổi Duyên Anh.



An Hiên cũng từng tiếp đón các tên tuổi khác trong văn học nước nhà khi đến Paris. Chị Thụy Khuê (nhà phê bình văn học) có mấy lần đưa Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp đến ăn cơm tối, hai nhà văn này đã làm dậy sóng một thời trong xã hội văn học VN. Tôi khoái truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chữ nghĩa trần trụi, và ác. Đọc chân thiện mỹ hoài chán, đọc cái ác cái xấu thấy hay, vì xã hội luôn tồn tại xấu ác. Viết thiện dễ, viết xấu ác mới khó.



Nhà thơ Cù Huy Cận, tác giả của Tràng Giang, Sóng gợn Tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng. Các câu thơ tôi thuộc nằm lòng lúc còn bậc trung học. Ông đi Paris cùng với phái đoàn, đến An Hiên ăn cơm tối. Ông gọi hai món ăn với nhiều thịt. Trong lúc mọi người trong đoàn chuyện trò râm ran, ông rất lặng lẽ, rất chú tâm vào món ăn không nói một lời nào. Ông ăn đến hết cọng rau cuối cùng phần mình, trong khi người khác bỏ lại vì quá no nê. Ông có dáng mập mạp hơn người, nên chuyện ăn nhiều là tốt là phải cách. Nhưng sao tôi cảm thấy thất vọng quá. Còn đâu hình ảnh cô liêu củi một cành khô lạc mấy dòng.



Những vị tướng những vị chỉ huy của VNCH, hay cả những vị giàu có ngày xưa chúng tôi đâu dễ gì được diện kiến, nay bỗng dưng tới quán ăn. Chúng tôi thật tình cảm động.



Vào một mùa thu năm nào, nhà soạn nhạc Tôn Thất Tiết, người sáng lập Hiệp Hội Âm Nhạc Pháp- Việt đến gặp chúng tôi, cho biết sắp đưa một đoàn văn công và ca nương sang trình diễn “Nhã Nhạc Cung Đình Huế”, đề nghị giá tiền tối thiểu bữa ăn cho khoảng 20 người trong thời gian ở tại Paris. Ông cho biết vì ngân sách khiêm tốn, nên phải tiết kiệm tối đa. Nặng tình với quê nghèo, tôi bằng lòng với giá ông đề nghị. Ông Tôn Thất Tiết là người soạn nhạc nền cho các phim của đạo diễn Trần Anh Hùng (Mùi đu đủ xanh, Xích Lô, Mùa Hè Chiều Thẳng Đứng).



Ông là người có tâm huyết phục hồi cho nhạc dân tộc truyền thống mà chính quyền trong nước bỏ quên không đoái hoải tới. Sau khi trình diễn một vòng qua các nước Âu Châu, đoàn về Paris. Tôi có tham dự một buổi, khán phòng đông nghẹt, đa số là tây đầm bản xứ. Khi nghe và nhìn thấy những bản dân ca cổ truyền và điệu nhạc xưa quê mình, lòng tôi như nức nở. Nước mắt cứ chảy dài trong bóng tối. Sau mỗi màn kết thúc, tất cả khán thính giả đều đứng dậy vỗ tay vang dội không dứt. Bên cạnh chỗ tôi, một cặp vợ chồng người Pháp luôn miệng khen ngợi, cho thấy họ rất trân trọng yêu quý giá trị cổ nhạc Việt Nam. Không như người Việt trong nước, rất thờ ơ giá trị ấy của dân tộc.



Buổi tối mùa thu khá lạnh, đoàn đến ăn cơm nóng với món cá kho, canh rau cải, ai nấy suýt soa. Bao ngày qua đi trình diễn các nước Âu Châu, bữa nay mới được ăn bữa cơm quê nhà. Chúng tôi hỏi thăm tin tức chuyện trò. Chị ca nương Thanh Tâm lấy trong xắc một hũ mắm ruốc Huế trộn với cơm ăn cho đậm đà mặn miệng. Chị nói đi đâu tui cũng đem theo hũ mắm ni. Có hôm tôi đề nghị đổi món, ăn bánh mì với thịt nguội Pháp, ai nấy đều lắc đầu. Thấy mấy nhạc công lớn tuổi co ro, chúng tôi về nhà kiếm áo len dạ đem biếu mặc cho ấm, chứ tiền đâu sắm nổi áo quần ở đây. Họ sẽ đem về dùng tại xứ sở suốt đời mưa lạnh. Mấy anh nhạc công trẻ tuổi ăn xong ra ngoài ngồi kiểu “nước lụt” trước quán, miệng hút thuốc lá phì phèo. Báo hại mấy ông cảnh sát đi ngang qua tưởng có chuyện gì không ổn, định biểu tình chăng. Chúng tôi kéo họ vào gấp, một anh nói trọ trẹ: chi mô mà sợ. Có lẽ đấy là lần duy nhất họ được ra nước ngoài trình diễn. Sau này không nghe nói đến nữa.



Nguồn thực khách đến thường xuyên hằng ngày là giới tài xế taxi, vì trước quán là parking của taxi, đa số người Việt. Họ thích những món ăn ít dầu mỡ, và cùng nhau chuyện trò về công việc. Chúng tôi xem họ nhữ những người thân gia đình, nên các bữa cơm thắm thiết hơn (sau này khi chúng tôi bán cửa tiệm, gặp chúng tôi họ cứ tiếc và nhớ các món ăn của An Hiên, mong chúng tôi mở lại nơi khác, có anh nói nếu cần vốn thêm họ sẻ góp phần vào, vài người khác cũng muốn ủng hộ như vậy.)



Ngoài thực khách Việt, còn những khách Tây bản xứ. Những người Pháp có gia đình ông bà xưa kia đã một thời sống tại Viêt Nam, từng yêu mến nước non Việt. Các con cháu từng được nghe kể lại thời vang bóng vàng son ấy. Yêu mến đất nước Việt và yêu luôn món ăn Việt. Một buổi sáng vừa mở cửa, một anh Tây da đen vào, tôi nói nhỏ với phụ bếp : Sáng nay chưa chi mà thấy đen rồi. Tức thời, anh ta quay lại nói tiếng Việt : Đen nhưng ăn cũng trả tiền! Tôi vội vàng cười giả lã, tỏ vẻ thân thiện hỏi thăm: Sao anh nói tiếng Việt giỏi quá vậy? Trả lời: Tôi sinh tại Sài Gòn trước đây, qua Pháp theo diện con lai. Anh ta thường dẫn các bạn da màu đến ăn cơm Việt, (nên nói da màu cho tế nhị hơn, mình không kỳ thị chủng tộc).



Nói về tiệm ăn mà không nói về món ăn là vô cùng thiếu sót. Mấy món tôi chú tâm thực hành là những món bình dân quê nhà: Bún bò Huế, bánh Bèo, bánh Nậm và bánh Bột Lọc. Đặc biệt món bành bèo, tôi không muốn khiêm tốn, vì đó là món được nhiều người hâm mộ. Bánh được làm theo lối cổ truyền công phu, mỏng tang trong bóng, sắp đều đặn trên dĩa, điểm xuyết một lượt tôm tươi giã nhuyễn hồng nhạt, thêm chút hành lá xanh và tóp mỡ vàng óng. Khách ăn một lại muốn ăn hai. Bánh Nậm hay bánh bột Lọc đều được gói với lá chuối tươi chứ không gói bằng giấy nylon. Những loại bánh này do cô con gái út làm ở nhà đem ra tiệm. Cô bé khéo tay làm rất nhanh và gọn gàng. Món bún bò cũng thường được thực khách gọi tên.



Chúng tôi cũng chú ý một bà khách lớn tớn tuổi thường đến tiệm một mình, chỉ luôn gọi ăn món Bún Bò Huế, bà người miền Bắc có dáng quý phải. Nhà Tôi cho biết đó là phu nhân của ông Trịnh Xuân Ngạn, vị chánh án của Tối Cao Pháp Viện thời VNCH, và là thân mẫu của học giả về vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận nổi tiếng trong lãnh vực này. Sau thời gian đến thường xuyên bỗng không thấy nữa, nghe nói bà đã mất. Kể ra như thế cho thấy rằng cái món bún bò Huế của An Hiên Quán cũng không tệ.



Có hôm chúng tôi vừa đỗ xe xong vào mở cửa, thấy một ông khách đứng chờ. Tôi cho biết tiệm chưa đến giờ mở cửa đón khách. Ông nói : Tôi từ xa đến đây, thôi chốc nữa tôi ghé lại. Sau đó, ông vào ăn bún bò Huế. Vị khách đến sớm này hỏi : “Đây có phải là quán của nhà văn TTDT không ? Tôi muốn gặp”. Khi nghe đến tên mình dưới cái vỏ bọc nhà văn, tôi rất e dè, nhất là lúc mình đầy gia vị tiêu hành mắm muối tỏi ớt cay nồng. Hình ảnh thực tế này chẳng có chút nào thơ mộng, chẳng có chút gì bay bổng trên nền trời văn chương nghệ thuật cả. Nhất là dưới cái nhìn của một độc giả từ phương xa tới. Ông nói chuyện cho biết là độc giả ở đâu đó bên xứ Hoa Kỳ, tôi nghe mà ái ngại, tôi chỉ Dạ, rồi vô bếp làm việc. Hiện giờ mình là nhà bếp chứ không ai khác. Có lẽ thất vọng, ông một đi không trở lại.



Một người khách đăc biệt, chúng tôi rất yêu mến, đó là giai nhân xứ Huế có cái tên gợi cảm Diệm My. Người đẹp này thường đến ăn cơm tối sau buổi chiều đi làm về ở cơ sở thuộc bộ Ngoại Giao. My là thiếu nữ có vẻ đẹp rất thanh tú, dáng dấp thanh nhã, là một nhan sắc tôi rất ngưỡng mộ lúc nàng học cùng trường Đồng Khánh, dưới tôi hai lớp. Sắc đẹp của một mỹ nhân không thể dùng những chữ tầm thường diễn tả. Ta chỉ nên cảm nhận, chiêm ngưỡng. Nàng là người thiếu nữ mà Nhà Tôi nhớ mãi, dù anh chỉ được thấy một lần ở Sài Gòn trong hiệu sách Khai Trí trên đường Lê Lợi.



Bây giờ My là khách thường xuyên của An Hiên tha hồ ngắm giai nhân. Mỗi tối đến ăn, nàng đều có một chút quà để dành cho chúng tôi như một nhánh hoa, vài cây bút chì mới, hay một thứ lặt vặt nào đó, thật dễ thương. Trong ánh đèn lung linh của tiệm ăn, nhan sắc nàng khiến cô đầm ngồi bàn bên cạnh đã suýt soa khen ngợi. Buổi tối sau khi ăn xong, My trở về nhà với xe bus gần tiệm, nhiều tối trời đổ tuyết lạnh, tôi e ngại cho nàng. Một vị khách quen biết xin đưa nàng về bằng xe hơi. Nhưng nàng từ chối. My là một người không dễ tính. Nhìn dáng người đẹp lầm lũi bước trong đêm lạnh, thực tình chúng tôi rất thương cảm.



Họa sĩ Trịnh Cung ngồi ăn kể lại : Thời trẻ tuổi lúc ở Huế, hôm đó, khi bắt gặp nàng lúc tan trường, tui đã hấp tấp dựng chiếc xe đạp bên bờ tường (quên không khóa) để nối gót theo sau nhìn bóng giai nhân. Sau khi nàng vào nhà, tui trở lui lấy xe thì xe đã biến đâu mất, khổ thân tui, chiếc xe đó tui đi mượn của bạn mà!



Một chị bạn có lần kể, chị vào thăm một anh bạn nằm bệnh viện vì cơn bệnh Alzheimer giai đoạn cuối. Chị hỏi “Anh nhớ tôi là ai không ?” Anh bạn nhìn chị một hồi bèn thốt lên : “Diệm My”. Trong bóng đêm đen của căn bệnh mất trí nhớ, não bộ của người đàn ông này lại biết gìn giữ bóng hình và tên của một mỹ nhân. Nghe nói dạo nàng ở Paris du học, các anh sinh viên Việt rất đỗi ngưỡng mộ nàng. Ngưỡng mộ, nhưng khó ai thân thiết được nàng. Một lần lấy chồng một lần ly dị dở dang. Tôi chợt nghĩ e nàng là một tiên nữ trên cõi trời cao, vì một phút lầm lỡ, bị Ngọc Hoàng Thượng Đế đày xuống trần gian này. Do đó, đôi lúc thấy nàng chợt vui chợt buồn, đôi mắt đen huyền nhìn về cõi xa xăm nào, như nhớ nhung chốn thiên tiên của mình đã đánh mất. Ôi những người sống lẻ loi một mình…



Đến năm 2000, vào một mùa hè, chúng tôi đi ăn đám cưới ở ngoại ô xa Paris. Tai nạn xảy ra bất ngờ trên con đường đến lâu đài đám cưới, khiến tôi phải nằm nhà ba tháng liền. Xương vai, xương sườn gãy tuốt luốt. Nếu cái xe cam nhông kia tông mạnh hơn một chút, một chút thôi, có thể cột sống sẽ bị gãy đôi, hay tôi phải chết ngay trên ghế xe bên phải. Nằm bất động trên giường suốt thời gian ấy, tôi mới ngộ rằng chết và sống liền kề nhau trong một tích tắc đồng hồ. Vậy chuyện chi mình phải lo toan cho cuộc đời này ? Hãy rũ bỏ hết mọi thứ ràng buộc.



Thứ ràng buộc lớn nhất hiện tại của chúng tôi là cái quán nhỏ này. Đấy là huyết mạch làm ăn buôn bán kiếm sống. Nhưng giờ đây, tiền bạc cũng chẳng có giá trị gì trước hố đen thăm thẳm của cái chết. Mỗi tối sau khi nuốt trọn mấy viên thuốc giảm đau chứa chất morphin, tôi chìm vào cơn mê. Trong đó nhiều lần tôi thấy những người thân gia đình chết từ rất lâu, đến bên giường lay tôi thức dậy, bảo tôi đi theo họ. Tôi có vùng vẫy thoát thân. Tỉnh dậy mới biết mình còn sống.



Kề cận với “La mort”, tôi chẳng còn thiết tha chi với chốn bụi hồng này nữa. Vì chết là hết, khỏe ru, đơn giản. Ham chi nữa !



Cảm thán chuyện tai nạn, tôi kể lể sự tình qua bài “Còn lại với đời” như đôi lời tâm sự cho chính mình. Chúa hay Phật đều là nguồn an ủi tôi trên giường bệnh. Và trong lúc thấy được cái phận người mong manh bé nhỏ, tôi quyết định bán tiệm. Đó là một cú sốc đối với Nhà Tôi, và là cú sốc của bạn bè thân hữu. Bảng hiệu An Hiên biến mất không một lời giã biệt.



Sau khi thoát gánh nặng trên vai, tôi bình tĩnh sống thảnh thơi, như luôn chờ đợi một ngày ra đi. Có thời gian nhìn lại cuộc sống gia đình với các con các cháu. Riêng tôi có thời gian đọc sách báo tin tức TV. Thời gian này, qua sự giới thiệu, ông Nguyễn Thanh Hoàng, chủ nhiệm tờ Văn Nghệ Tiền Phong đề nghị tôi viết “Lá Thư Ba Lê”, mỗi tháng hai kỳ gửi qua Mỹ. Đây là một tờ báo gây nhiều tranh cãi nhất tại hải ngoại vào thời kỳ có bỉnh bút Lê Triết. Trong thời gian viết báo, vì phải đọc tin hằng ngày qua báo chí Pháp để viết sang tiếng Việt, nên quá bận bịu theo dõi thời sự. Quên bén mất những suy nghĩ về những dự tính viết riêng cho mình. Tôi để mất khoảng thời gian dài nhiều năm mà không “dzăn” ra một câu chuyện lãng mạn nào.



An Hiên Quán là một miền không gian chứa đựng nhiều kỷ niệm của chúng tôi, trong đó biết bao khuôn mặt, biết bao nhân vật nay còn nay mất. Dù không nhắc đến trên khuôn giấy hạn hẹp, nhưng chúng tôi luôn ghi nhớ họ, từng người một, hiện diện trong miền ký ức xa xăm thương nhớ ấy.



Người ta thường nói rằng thời gian đi mất không bao giờ trở lại, nhưng với tôi, thời gian không mất, vẫn luôn ở với chúng ta./



Paris, tiết Sương Giáng, 2019.

Trần Thị Diệu Tâm




Nguồn: https://www.diendantheky.net/2019/12...gay-thang.html

Wednesday, November 30, 2022

 

BÌNH GIẢ - Trước cuộc đổ bộ 1965

Do Đại Tá Frank P Eller, TQLCHK (Hồi hưu)
 
Trong những ngày cuối năm 1964, một trận chiến dựng nên trong chiến tranh Việt Nam cho đến lúc này, đã xảy ra trong pham vi và ngoài làng Bình Giả. Lúc tôi phục vụ với tư cách là cố vấn chính cho Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, đơn vị làm lực lượng trừ bị cho Quân Đoàn III và đóng quân tại Dĩ An, gần Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn và Phi trường Biên Hòa.. Tiểu đoàn đã lâm chiến, cùng với hai Tiểu đoàn khác, đã gánh chịu những tổn thất lớn. Bài viết này để tưởng nhớ những người đã tử trận và mất tích trong cuộc chiến ấy.     

Tình hình suốt cả Miền Nam Việt Nam lúc này rất mỏng manh nhất. Tiếp theo cú đảo chánh Tháng 11 năm 1963 đã tạo hậu quả việc lật đỗ và sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đất nước đã bị chìm sâu trong năm bất ổn và biến động. Hấu hết các cấp chỉ huy Tĩnh và Quận đều bị thay thế cũng như một số Tư lệnh phải trao quyền. Đáng kể nhất là chương trình Ấp Chiến Lược, vốn nói chung thành công trong việc chia cắt dân chúng xa lìa bọn Việt Cộng ở vùng nông thôn héo lánh. VC đã lợi dụng tình hình bất an và sa sút trong việc lãnh đạo để tấn công  những thôn làng chiến lược, và từ đó chúng mở rộng tầm ảnh hưởng ra ngoài nơi đông dân cư. Thêm nửa, VC đã tung ra hai cuộc tấn công thành đạt chống lại Hoa Kỳ- cuộc tấn kích vào Phi trường Biên Hòa vào tháng 11, gây ra hậu quả cho một số người Mỹ thương vong cũng như hư hại nhiều phi cơ, và cuốc đánh phá vào cư xá Sĩ quan độc thân Mỹ vào tháng 12 cũng gây tổn thất cho người Mỹ.

Từ khi tôi gia nhập Tiểu đoàn vào tháng 5 1964, đơn vị đã tham chiến một số cuộc hành quân suốt Quân Khu II và IV, thường là bao gồm khu vực miền nam của đất nước. Mắc dầu thường xuyên gặp địch quân nhưng ít khi quá cấp một Trung đội. Thỉnh thoảng trong các cuộc hành quân chúng tôi nhận được tin những đơn vị địch lớn hơn hoặc đi qua những khu vực đóng quân của những đơn vị lớn hơn nửa. Chúng tôi thường bị pháo kích và bắn tỉa và tổn thất do mìn gài nổ, nhưng địch quân đã tránh né và chúng tôi cũng không thể gài chúng vào trận đánh lớn. Việc này thay đổi đáng kể tại Bình Giả. Trong suốt thời gian trước trận Binh Gia, Tiểu đoàn gần như lâm chiến liên tục vào những trấn đánh như kể trên suốt ròng 3 tháng. Trước Mùa Giáng Sinh, Đơn vị được phép tạm nghỉ trở về hậu cứ ở Vũng Tàu để tái trang bị và cho người lính TQLC thăm gia đình. Vào buổi sáng Ngày Giáng Sinh, chúng tôi trở lại Dĩ An vá tái tục nhiệm vụ Trừ bị cho QĐII. Vị Tiểu đoàn trưởng và tôi thường lên Bộ Tư Lệnh QĐ nghe thuyết trình về tình hình mổi ngày cũng như gặp các Sĩ quan Tham Mưu và cố vấn và được cho biết tổng quát tình hình chiến thuật của Quân Khu II.

Ngày 28 tháng 12, một đơn vị đích không rõ quân số tấn kích quyết liệt và chiếm giử làng Binh Giả gồm từ 6 đến 8 ngàn người tỵ nạn Thiên Chúa giáo chạy trốn Miến Bắc Việt Nam trước đây. Dù quyết liệt đánh trả nhưng dân quân đã bị tràn ngập. Họ đã mất liên lạc do chạy thoát hay ẩn nấp nơi nào đó. Kết quả là hai Đại đội của Tiểu Đoàn 30 đã phản công từ phía Tây nhưng bị đánh bật trở ra. Rỏ ràng là một đơn vị khá lớn của địch đã chiếm giử Bình Giả và nhất quyết bám chặt.

Ngày 29 tháng 12, QĐ II cho toàn bộ TĐ30 và TĐ 33 Biệt Động Quân vào cuộc chiến.. Trong giai đoạn này hai chiếc trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ đã bị băn rơi và một nửa Tiểu Đoàn 33 BĐQ đã bị bao vây và tràn ngập, và hai Cố vấn Hoa Kỳ đã bị bắt.. Số quân BĐQ còn lại quyết chiến và đã giừ được một góc làng nhờ thêm vào yểm trợ trên không.  BĐQ đã tiếp tục chống trả suốt đêm và đẩy lui được địch quân. Tin tức cho biết không còn nghi ngờ gì nửa quân số đáng kể của địch không còn kiểm soát được Binh Giả. Cuối ngày 29 Tiểu đoàn chúng tôi nhận lệnh chuẩn bị tham chiến vào ngày 30 tháng 12 để đánh trả và đuổi địch ra khỏi Binh Giả. Tiểu đoàn trưởng ( Thiếu Tá Nguyễn Văn Nho) và tôi cùng với Phụ tá cố vấn ( Trung úy Phillip Brady mới về đơn vị 1 tháng trước), với các Sĩ quan Tham Mưu Tiểu đoàn phối hợp với BTL QĐII  nhận bản đồ và lệnh hành quân cùng tin tức tình báo. Phối hợp với Trực thăng của LQHK lãnh nhiệm vụ  chở quân chúng tôi vào điểm đổ bộ LZ phía Tây Bắc của làng được xếp đặt với hỏa lực yểm trợ của Phi đội cánh quạt cùng với trực thăng võ trang, cũng như trao đổi tần số liên lạc. Cũng còn có quyết định không có pháo binh yểm trợ vì ngoài tầm băn và QĐ cũng không  muốn chuyển pháo lên vị trí để yểm trợ chúng tôi ngừa khi đánh lớn.

Vào khoảng 8:30 ngày 30 tháng 2, đợt đổ quân đầu tiên cất cánh rời phi trường Biên Hòa. Dù được không yểm mạnh mẻ nhưng không thấy có dấu hiệu hỏa lực của địch và Tiểu đoàn xuống quân không bị chống trả và tiến vào Binh Giả rừ phía Tây. Tiểu đoàn mở rộng kỹ càng xuyên qua làng và lục soát cẩn thận. Dân làng cho biết quân số địch ít nhất là 750. Báo cáo cho hay có cả quân Bắc Việt và Trung Cộng. Nếu đúng như thế, mực độ cuộc chiến đến lúc ấy có nghỉa là nhiếu đơn vị cấp Tiểu đoàn địch đã tấn kích và chiếm giử làng. Thêm nửa, đơn vị bạn dưới hầm trú ẩn cho hay trong khi địch chiếm cứ chứng tỏ chúng rất kỹ luật và chỉ huy đàng hoàng. Sau khi lập lại an ninh ngôi làng, Tiểu đoàn đã trợ giúp tản thương lấy hài cốt cho các BĐQ thương vong. BĐQ sống sót đã cùng thiết lập phòng thủ ngôi làng. Vào thời điểm này, TĐ4TQLC đã hoàn thành nhiệm vụ và chờ lệnh của QĐII.

Vào cuối ngày hôm ấy, một trực thăng võ trang khởi đầu một trận oanh kích vào một địa điểm cách độ 1 ngàn 500 thước về phía Đông Nam của làng do báo cáo tập trung lớn quân địch trước đó. Trong cuộc tấn kích này, do tôi quan sát  một chiếc phi cơ đã bị phòng không của địch bắn rơi. Chiệc trực thăng bốc cháy và bị nhào xuống ở một góc độ nhanh cho tới khi chạm đất và nổ tung trong khói lửa. Vụ rơi máy bay này đã lập ra một loạt những biến cố thảm khốc cho TĐ4TQLC. Dù không có hy vọng có người sống sót nhưng QĐ đã ra lệnh cho một toán lục soát ngay tức thì để xác nhận nơi bị nạn, liệu có người sống sót hay không, nếu không thì thu nhặt thi thể phi hành đoàn. Thiếu tá Nho nói chuyện với Trung tâm trưởng hành quân và tôi với cố vấn Hoa Kỳ của Trung tâm cho họ biết rằng, không thể nào có người sống sót. Kết quả là có lệnh cho một toán tuần sát vào sáng sớm hôm sau do đã trể rồi. Tối hôm ấy, địch mở cuộc tấn công vào làng nhưng không sao chọc thủng được vòng phòng thủ của chúng tôi. Hỏa châu thả sáng suốt đêm và khu trục yểm trợ hỏa pháo.

Rạng sáng ngày hôm sau, 31 tháng 12, một Đại đội khởi hành từ góc Đông Nam của làng theo phương hướng địa bàn đến nới máy bay rớt. Tôi đi theo Đại đội để xin phi cơ yểm trợ nếu cần..Chúng tôi có phi cơ võ trang và khu trục từ căn cứ Biên Hòa. Ngoài phi cơ ra chúng tôi chỉ còn có súng cối để yểm trợ. Sự thiếu sót pháo binh đè nặng trên tôi khi chúng tôi di chuyển thận trọng vào khu rừng nơi máy bay bị rớt và vào nơi chắc chắn sẽ có địch quân trú đóng. Ngay khi đến điểm máy bay rơi ai cũng biết chắc là không có thể còn ai sống sót. Chiếc trực thẵng đã bị cháy ruội và hài cốt bị cháy đen nằm trong vòng một đường kính độ 2 thước. Phía bên ngoài có vài mảng dất mới đào dấu hiệu quân địch đã chôn thi hài của phi hành đoàn. Đại đội trưởng (Trung Úy Đỗ Hữu Tùng) đã lập vòng phòng thủ quanh địa điểm. Lúc này khi TQLC tiến ra vị trí vài tên địch đã xuất hiện. Lập tức chúng bị băn ngả một tên bị baăn lộn đẩu ngả xuống. Bọn kia bỏ chạy. Tôi theo chân anh em TQLC lên xem tên địch bị bắn. Theo tôi quan sát, tên địch có vẻ no tròn với độ 180 cân anh, cao ít nhất cũng 1 thước 70, quân phục đầy đủ sạch sẻ với dây lưng đạn và mang khẩu carbine..Không có giấy tờ căn cước gì trên người. Theo tôi tên này hoặc là Bắc quân hay Trung Cộng. Sau vụ chạm súng này, có vẻ địch quân đang bao vây chúng tôi. Ngay khi Địa đội chạm súng, địch đã bắn pháo vào vào vị trí chúng tôi với đại liên và súng phòng không. Tôi báo cáo ngay cho phi vụ ứng chiến và xin yểm trợ ngay ngoài phòng tuyến.. Tôi cũng gọi xin khu trục A 1 E cánh quạt từ Biên Hòa. Vào thời điểm này, nổ lực tìm kiếm thi hài của phi hành đoàn phải ngưng lại vì chạm súng khắp nơi. Tổn thất tăng lên khi địch tiến sát vào vòng phòng thủ với hàng loạt biển người khích động bởi tiếng kèn thúc quân. Nơi ẩn núp duy nhất danh cho chúng tôi là thân cây cao su, nhưng TQLC và phi cơ không sao ngăn chặn được tiến quân của địch. Vừa đúng lúc một viên đạn thù trúng ngay nón sắt của tôi đánh ngả tôi xuống. Khi vừa tỉnh dậy tôi không còn thấy gì và cặp mắt tôi phỏng nặng. Tôi tự nhiên quẹt tay lên mắt và khi nhìn thấy rỏ được là hai tia máu vọt ra từ mặt tôi. Tôi bắt đầu lấy băng cá nhân đeo trên dây lưng và nay trước khi lấy được tôi đã thấy một Y tá ngay bên cạnh cười toét miệng và liền băng bó ngay cho tôi. Tôi cũng nghiệm ra rằng đa số người lính TQLC Việt Nam đã cười khi tình hình nguy biến và tôi biết là dấu hiệu xấu đã đến. Sau này khi xem lại, tôi thấy viên đạn đã trúng xéo một bên nón sắt và làm vở tung ra. Phần miểng đã gây thương tích xuống mủi và khuôn mặt của tôi. Nếu viên đân nhích lên một tí hay nhích xuống một tí chắc là thội đời rồi. Tôi tìm người mang máy truyền tin nhưng không thấy đâu nên tôi bò tới chổ vị Đại đội trưởng nhưng máy của ông cũng bị trúng đạn hư hỏng. Chúng tôi bị hỏa lực địch nặng nề hơn khi chúng tiến sát , nhảy  từ gốc cao su này sang gốc khác, TQLC đã rút gọn về quanh vị trí chiếc máy bay rơi. Khi địch càng gần sát, Nhận thấy sẽ bị địch bao vây nên Đại đội trưởng đã ra lệnh rút lui. Đại đội mất liên lạc và dưới làn đạn rút lui về phía Bắc và rồi về lại Bình Giả, mang theo những người bị thương nhưng phải bỏ lại 12  TQLC tử trận cộng thêm với phi hành đoàn trực thăng. Trên đường lui quân về Binh Giả. Một chiếc trực thăng tản thương LQHK đáp xuống và chúng tôi đã di tản  được vài TQLC bị thương.

Trở về lại Bình Giả, Đại đội trưởng và tôi đã cho Tiểu đoàn trưởng biết chi tiết toàn vẹn về lực lượng địch chúng tôi đã chạm súng tại địa điểm rơi máy bay, nói rõ là một đơn vị khá đông đảo được trang bị tới chốn, với binh lính kỹ luật, và được yểm trợ hỏa lực hùng hậu với súng cối, đại liên và phòng không. Tiếp theo sau cuộc tường trình ngắn và theo đề nghị của Tiểu đoàn trưởng tôi cần được chửa trị thương tích nên tôi đã về một góc làng chờ trực thăng tản thương đến đón. Sau đấy, tôi được di tản về Quân Y viện Hải Quân Sài Gòn để chửa trị vết thương. Không rõ là ai cho lệnh cho lệnh Tiểu đoàn vào lại nơi máy bay rớt. Hoặc Thiếu Tá Nho được lệnh  hành quân hay do quyết định của chính ông cũng không rõ. Cả hai vị Tiểu đoàn trưởng và Tiểu đoàn phó đều là chiến binh dày dạn kinh nghiệm chiến trường và họ từng biết không cần tìm vào những hiểm nguy không cần thiết. Quyết định đưa một Đại đội vào nơi máy bay bị bắn hạ đã là một hiểm nguy tính toán khiến cho Thiếu Tá Nho bất đắc dỉ phải thi hành. Bấy giờ, với tin tức mới nhận được từ nới máy bay rơi, cộng thêm hậu quả cuộc trận đánh của những ngày trước, thiếu pháo binh yểm trợ, và sự thật là địch đã chiến đấu trên địa thế thuận lợi cho chúng, cùng với nghi vấn trong việc khéo léo rút quân  tức thời không còn có tăng quân trợ lực. Tuy thế, Thiếu Tá Nho đã chuyển quân sau đó với một Đại đội trừ để lại Binh Giả vào nơi phi cơ bị hạ. Hài cốt của Phi hành đoàn Trực thăng đã được di tản nhưng trước khi 12 thi thể TQLC tử trận được bốc chuyển, Tiểu đoàn đã bị tấn công dữ dội bởi một lực lượng sau này được biết là thành phần của hai Trung đoàn của Sư đoàn 9 VC, là đơn vị tham chiến lớn nhất cho đến giờ phút ấy. Chúng được yểm trợ bởi Pháo đoàn 80 chỉ huy bởi SQ Bắc Việt được trang bị súng cối 81 ly, pháo 70 ly, súng không giật 75 ly và đại liên phòng không 12.7 ly. Đơn vị này chỉ huy bởi một Tướng VC và vượt quân số của TĐ4TQLC ít nhất từ 7 đến 8 trên 1. Thua sút về quân số và tệ hại hơn là không có Pháo binh yễm trợ, TQLC đã chiến đấu dũng cảm nhưng không sao vượt qua nổi trở lực quá tầm mức ấy. Một Địa đội đã rút lui về Bình Giả với tổn thất nặng nề. Một Đại đội bị tràn ngập và một Đại đội chiến đấu cho đến đêm khuya mới thoát ra khỏi trận địa lui quân về Bình Giả. Cho tới viên đạn cuối cùng, TĐ4TQLC đã chịu tổn thất  gồm 122 tử trận, bao gồm 29 Sĩ quan trong quân số 35 của Tiểu đoàn và 71 người bị thương. Thêm vào đó, Đại úy TQLCHK Donald Cook , được đưa đến Tiểu đoàn 30 ngày trước, đã bị thương và bị bắt cầm tù ( Xin đọc quyển sách do Cựu Đại tá TQLCHK Donald L. Price về The First Marine captured in Vietnam: A Biography of Donald G. Cook, Tháng 7/2007) .Trung Úy Trần Ngọc Toàn, Đại đội trưởng Đại đội I đã viết lại cuộc chiến với Mặt  trận Bình Giả. Với 3 vết thương trên người, Trung úy Toàn đã một mình ôm khẩu súng AR15 bò về tới làng Bình Giả và được trực thăng chuyển về Quân Y viện Đại Hàn Vũng Tàu vào ngày 3 tháng 1 năm 1965……
 
Bản dịch do Trần ngọc Toàn, cựu Tiểu đoàn trưởng TĐ4 TQLC

Tuesday, November 29, 2022

 Cuộc đời của KTS Võ Trọng Nghĩa.

Thay thế các chữ trong tên họ bằng trị số tương ứng, ta có:

VÕ = 67 = 13 = 4

TRỌNG = 42753 = 21 = 3

NGHĨA = 53511 = 15 = 6

Cộng lại: 4 3 6 = 13.

Sau đây là một phần ý nghĩa của số này thích ứng với cuộc đời của vị KTS này.

Đọc thêm:

Võ Trọng Nghĩa: Góc khuất ở những công trình nổi tiếng thế giới và cuộc sống khó tin của kiến trúc sư lừng danh (cafef.vn)

Monday, November 28, 2022

 Tỉnh Bình Thuận: Khu KTM Đức Linh, Mồ Chôn Tập Thể Dân Phan Thiết

28/11/200500:00:00(Xem: 5566)
Mường Giang
- (Viết nhớ đồng đội và đồng bào Phan Thiết-Bình Thuận đã chết thảm tại Trại cải tạo Huy Khiêm và Kinh tế mới Đức Linh.)
Hơn ba thế kỷ thăng trầm, một vùng đất rộng mông mênh lần lượt bị cắt chia, tan hợp. Rốt cục Bình Thuận trước sau gì cũng vẫn là Bình Thuận, cũng cát, gió, tháp Chàm, những con sông mùa nắng cạn nước và biển xanh sóng dậy ven bờ Mọi người bảo Bình Thuận là đất vua ở, vì nơi đây có Lạc Trị, Hâu Quách, Tịnh Mỹ, Phố Hải, Ma Lâm Chàm.. còn lưu dấu đầy bia ký, lăng mộ, cùng nhiều kỷ vật thời xưa của các vị tiên vương Chiêm quốc, đó là chưa kể Phố Hải từng là nơi phát tích của thị tộc Cau Kramucavamca ở phương nam vào thế kỷ thứ VI sau Tây Lịch, mà di tích còn sót lại tới ngày nay là hai tháp Chàm trên đồi Ngọc Lâm.
Mọi người cũng bảo Bình Thuận là đường vua đi vì khắp nơi từ Bảo Sơn tự ở Tuy Phong vào tới Bửu Sơn tự trên núi Cố,ra tới đảo Phú Quý, đều có vết chân của chúa Nguyễn Ánh trong thời gian tẩu quốc. Bình Thuận là nơi Nguyễn tất Thành trong lúc bị dồn vào đường cùng vì cha là Nguyễn sinh Sắc bị bãi chức tri huyện Bình Khê, Bình Định do uống ruợu say đánh chết người, nên Thành phải tìm đường mưu sinh và được vào dạy học tại trường Dục Thanh Phan Thiết. Bình Thuận là nơi cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm từng làm quan hai lần, Tri Phủ Hoà Đa và Tuần Vũ Bình Thuận. Ninh Chử, Phan Rang, trước khi tách ra tỉnh Ninh Thuận, cũng thuộc đất Bình Thuận cổ, là sinh quán của cố Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu.
Tất cả những người đã đặt chân qua Bình Thuận như Nguyễn Ánh, Nguyễn tất Thành, Ngô Đình Diệm và Nguyễn văn Thiệu về sau đều làm Vua, Chủ tịch, Tổng Thống. Ngày nay nhắc tới vua Gia Long Nguyễn Ánh, người Bình Thuận hoài niệm về những công trình dựng và mở nước Việt, trong đó có đất Thuận Thành, và những quốc tự khắp nơi trong tỉnh, qua những cai tên trang trọng ý nghĩa được Ngài sắc tứ ban tặng.
Ngày nay nhắc tới Hồ chí Minh - Nguyễn tất Thành, ngoại trừ phe đảng và VC, thử hỏi có ai muốn nhắc tới trường Dục Thanh bởi vì những chứng tích của nó làm nát hồn mọi người khi đau lòng nhớ lại nỗi đời dâu biển, thế thái nhân tình của những tên ăn chén đá bát Việt gian Bình Thuận Thôi thì cứ quên để khỏi nhớ thêm hổ thẹn trăm chiều trước nỗi vẽ rắn thêm chân, chỉ hươu nói ngựa.
Ngày nay nhắc tới Ngô Đình Diệm, người Bình Thuận lại nhớ tới những xóm làng thôn ấp mọc lên từ các vùng lau sậy hoang vu, những nơi có thần cây đa ma cây gáo, những đồi hoang biển vắng khắp Phan Thiết, La Gi, Đức Linh , Sông Mao, Thanh Hải.. nhưng kỹ niệm ấm lòng nhất của người quá cố, là câu chuyện của hai người bạn tri kỷ, tri tâm: Ngô Đình Diệm - Hoàng Tỷ, trong những ngày cuối năm, ông Tổng Thống của một nước đứng trước mồ cố nhân, sụt sùi kể lễ, nhắc nhớ tâm tình. Và cuối cùng, ngày nay nhắc nhở tới Nguyễn văn Thiệu, người Bình Thuận thường nhắc tới một giai đoạn lịch sử thăng trầm, trong đó có một khoảng thời gian ngắn ngủi từ 1967-1975, khi người làm Tổng Thống, ít ra người dân xứ biển cũng được no cơm ấm áo trong cảnh hạnh phúc thanh bình.
Hỡi ôi Bình Thuận là bãi chiến trường ba trăm năm cũ, người đến người đi dấy lên rồi tàn lụn, xô nghiêng hay tạo dựng sông núi để được tiếng đời là minh quân hay bạo chúa, thì nay đổi đời đã rỏ, dù sử sách hôm nay hay ngày mai ghi không hết kịp, thì đã có bia đời, bia miệng như người Bình Thuận đã ghi những chuyện Việt Minh, Tây Tà qua suốt bao năm. Ngày nay khách phương xa tới chơi Bình Thuận, nơi từng là đất vua ở, đường vua đi, vào giữa độ xuân về hay trong các mùa lễ hội, không có gì thích thú cho bằng leo lên chiếc xe ngựa cũ kỷ hiện vẫn còn chạy đầy Phan Thiết. Bởi vì chỉ có trong khoãng không gian này, rất có thể giữa tiếng vó ngựa lộp cộp xen lẫn tiếng lục lạc len keng, bác xà ích sẽ kể cho mọi người nghe những giai thoại thật đẹp của miền biển mặn mấy mươi năm về trước và sự đổi thay của mấy mươi năm về sau, nhưng sau trước gì thì Bình Thuận cũng vẫn là chốn thân quen của mọi người , với những buồn vui, nhất là những năm tháng bị đoạ đày trên núi rừng ma thiêng nước độc, mà VC gọi là Kinh tế mới. Đời đã khác đi nhiều nhưng vẫn là cái nền mờ tỏ của bao đời tạo dựng, cho nên đâu có ai xóa được "
1- KINH TẾ MỚI ĐỨC LINH, MỒ CHÔN TẬP THỂ NGƯỜI PHAN THIẾT
Tháng bảy ở Phan Thiết, trời hay hờn dỗi nên cứ trút mau những cơn mưa ngày thật buồn. Phường phố quẩn quanh nhỏ nhoi thêm ngụp lặn dưới màn nước xám mù mịt nên càng tiêu điều, tĩnh mịch. Mấy hàng phượng vỹ ven đường, hoa đã rụng hết, chỉ còn trơ lại ít cụm lá hoang, co rúm ngả nghiêng với gió. Ve sầu rên khóc trong hốc cây, sóng vổ ỳ ầm xoáy mạn bờ sông Mường Mán, có tiếng người ca sĩ nào đó, từ chiếc loa khuếch thanh trên đỉnh lầu nước giữa vườn hoa độc lập, nức nở ngậm ngùi qua ca khúc 'đêm buồn tỉnh lẽ' của Tú Nhi, bất chợt khiến cho ta bâng khuâng héo hắt.
Nhưng buồn rầu mấy mấy rồi cũng qua khi trời dứt cơn gió mưa, mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Người người rộn rịp, vui vẻ vì tháng bảy là thời điểm tốt nhất trong năm của dân Phan Thiết. Mùa cá nục, cá chim đã kết thúc sau sáu tháng vất vả vật lộn trên sóng nước. Ngư phủ giờ đây hoan hỉ với túi tiền rủng rỉnh được chia, tha hồ mua sắm. Thật vậy kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa có chương trình cải tiến nông ngư nghiệp, dân làm biển được vay tiền trả góp dài hạn, lãi suất thật nhẹ để đóng tàu, thuyền, mua thủy động cơ và ngư cụ, mà khỏi phải qua trung gian đầu cơ cắt cổ thuở xưa.
Nhờ cải cách này, đời sống của ngư dân được cải thiện, những túp lều tranh vách lá xiêu vẹo tồi tàn được thay thế bằng những căn nhà tôle vách gạch tuy cổ điển nhưng khang trang ấm cúng. Thuyền bè chạy bằng buồm cổ lỗ bị phế thải, nghìn trăm tàu đánh cá nhỏ, lớn đóng theo kiểu Thái Lan, gắn máy kéo Nhật, sơn phết lòe loẹt, san sát xuôi ngược trên sông, biển. Thanh niên nam nữ trong giới này đã biết hưởng thụ vật chất theo thành thị. Khu phố 6, 7, 8, 9 của phường Đức Thắng, dọc bến Ngư Ông, là một trong nhiều xóm làng kiểu mẫu, sau cơn đại hỏa hoạn năm 1956, nói lên sự thành công mỹ mãn của ngư dân.
Ven thị xã, đồng ruộng bát ngát đang ngút ngàn trổ hạt, hương lúa mới thoang thoảng bốc thơm trong gió, đó đây trai gái vui vẻ gặt hái. Lúa đầy kho, khoai sắn la liệt nằm phơi khắp sân, thêm vào đó có đàn heo con ủn ỉn bấu níu vú mẹ trong chuồng, là những món tiền đáng kể. Như ngư dân, nông gia cũng được hưởng chương trình trợ vốn trả góp của Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp và Ty Nông Nghiệp, Ty Khuyến Nông.. để mua lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu rầy và nái giống. Riêng xi măng xây chuồng và thực phẩm dành cho gia súc, được cấp không. Sau ba tháng chăn nuôi, chỉ hoàn lại chính phủ ba con heo con mà thôi, nái được giữ lại. Quỷ phát triển của ngân hàng Á Châu bán máy cày, máy gặt trả góp, trâu bò nay bớt nhọc nhằn phần nào. Mái ngói đỏ chen chúc mọc, nhà nhà vang tiếng nhạc lời ca, phát ra từ chiếc máy thu thanh xinh xắn. Đời sống êm đềm hạnh phúc nơi thôn dã, với những mối tình chân mộc mạc.
Hoa quả chen chúc trên đất, gỗ quý bất tận chốn rừng hoang, cá tôm hải sản đầy sông biển với khí hậu quá điều hòa thích hợp. Phan Thiết - Bình Thuận đúng là miền đất hứa lý tưởng đời đời của mọi người, nếu không có cuộc chiến tranh trường kỳ do cộng sản quốc tế đề xướng. Rồi thì chiến tranh và máu người dân bất hạnh triền miên chảy suốt non sông, cơ hồ tưới xanh luống mạ. Mộ chí hoang vu lũ lượt chớm mọc khắp nơi, sang hồ, xừ sang, hồ sang xế.. tiếng đàn nhị hồ đưa đám não nuột như bất tận. Miền đất hứa biến thành vùng biển động, sự sống và nỗi chết không phân biệt ranh giới với thời gian, thấy đó chết đó vì mìn bẫy, bom đạn, pháo kích, ám sát và nạn đạn lạc, bắn lầm. Buồn ngồi nhai lại các bài hát thời thượng năm nào của cả hai phía, để thêm tức tủi, ngậm ngùi: 'đời ta thêm vui thắm tươi, vườn mộng xanh khắp nơi, hòa theo tiếng hát tươi vui, mừng thay chúng em nay sống nơi tự do.. là rế rế la phà, mì rề mì, mì mì rề rề rề la mí..' hay '.. bài phong kiến bốc lột, diệt thực dân, đem ấm no hạnh phúc..' Được sống sót trong đêm rã ngũ 18-4-1975 để đối mặt nhận diện bọn việt cộng nằm vùng hay a dua theo kẻ thắng trận, cờ lọng, đèn đóm, phủ phục hai bên vệ đường đón mừng giặc Hồ phương Bắc vào hoan hỉ với túi tiền rủng rỉnh được chia, tha hồ mua sắm. Thật vậy kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa có chương trình cải tiến nông ngư nghiệp, dân làm biển được vay tiền trả góp dài hạn, lãi suất thật nhẹ để đóng tàu, thuyền, mua thủy động cơ và ngư cụ, mà khỏi phải qua trung gian đầu cơ cắt cổ thuở xưa.
Nhờ cải cách này, đời sống của ngư dân được cải thiện, những túp lều tranh vách lá xiêu vẹo tồi tàn được thay thế bằng những căn nhà tôle vách gạch tuy cổ điển nhưng khang trang ấm cúng. Thuyền bè chạy bằng buồm cổ lỗ bị phế thải, nghìn trăm tàu đánh cá nhỏ, lớn đóng theo kiểu Thái Lan, gắn máy kéo Nhật, sơn phết lòe loẹt, san sát xuôi ngược trên sông, biển. Thanh niên nam nữ trong giới này đã biết hưởng thụ vật chất theo thành thị. Khu phố 6, 7, 8, 9 của phường Đức Thắng, dọc bến Ngư Ông, là một trong nhiều xóm làng kiểu mẫu, sau cơn đại hỏa hoạn năm 1956, nói lên sự thành công mỹ mãn của ngư dân.
Ven thị xã, đồng ruộng bát ngát đang ngút ngàn trổ hạt, hương lúa mới thoang thoảng bốc thơm trong gió, đó đây trai gái vui vẻ gặt hái. Lúa đầy kho, khoai sắn la liệt nằm phơi khắp sân, thêm vào đó có đàn heo con ủn ỉn bấu níu vú mẹ trong chuồng, là những món tiền đáng kể. Như ngư dân, nông gia cũng được hưởng chương trình trợ vốn trả góp của Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp và Ty Nông Nghiệp, Ty Khuyến Nông.. để mua lúa giống, phân bón, thuốc trừ sâu rầy và nái giống. Riêng xi măng xây chuồng và thực phẩm dành cho gia súc, được cấp không. Sau ba tháng chăn nuôi, chỉ hoàn lại chính phủ ba con heo con mà thôi, nái được giữ lại. Quỷ phát triển của ngân hàng Á Châu bán máy cày, máy gặt trả góp, trâu bò nay bớt nhọc nhằn phần nào. Mái ngói đỏ chen chúc mọc, nhà nhà vang tiếng nhạc lời ca, phát ra từ chiếc máy thu thanh xinh xắn. Đời sống êm đềm hạnh phúc nơi thôn dã, với những mối tình chân mộc mạc.
Hoa quả chen chúc trên đất, gỗ quý bất tận chốn rừng hoang, cá tôm hải sản đầy sông biển với khí hậu quá điều hòa thích hợp. Phan Thiết - Bình Thuận đúng là miền đất hứa lý tưởng đời đời của mọi người, nếu không có cuộc chiến tranh trường kỳ do cộng sản quốc tế đề xướng. Rồi thì chiến tranh và máu người dân bất hạnh triền miên chảy suốt non sông, cơ hồ tưới xanh luống mạ. Mộ chí hoang vu lũ lượt chớm mọc khắp nơi, sang hồ, xừ sang, hồ sang xế.. tiếng đàn nhị hồ đưa đám não nuột như bất tận. Miền đất hứa biến thành vùng biển động, sự sống và nỗi chết không phân biệt ranh giới với thời gian, thấy đó chết đó vì mìn bẫy, bom đạn, pháo kích, ám sát và nạn đạn lạc, bắn lầm. Buồn ngồi nhai lại các bài hát thời thượng năm nào của cả hai phía, để thêm tức tủi, ngậm ngùi: 'đời ta thêm vui thắm tươi, vườn mộng xanh khắp nơi, hòa theo tiếng hát tươi vui, mừng thay chúng em nay sống nơi tự do.. là rế rế la phà, mì rề mì, mì mì rề rề rề la mí..' hay '.. bài phong kiến bốc lột, diệt thực dân, đem ấm no hạnh phúc..' Được sống sót trong đêm rã ngũ 18-4-1975 để đối mặt nhận diện bọn việt cộng nằm vùng hay a dua theo kẻ thắng trận, cờ lọng, đèn đóm, phủ phục hai bên vệ đường đón mừng giặc Hồ phương Bắc vào thành phố, có thấy cảnh xử giảo, có nghe tiếng rên xiết của hàng loạt nạn nhân quằn quại dưới trận đòn thù trong đêm tiếp thu và nhiều đêm liên tiếp, mới biết sự đổi đời rất có ý nghĩa, nhất là đối với đám âm binh 30-4, với những kẻ cầu an lừng khừng, với bọn trí thức không tưởng quen bóp méo sự thật, qua cái lăng kính, bất lương, bất bình thường..
Nụ cười hy vọng ngày nào đã tắt hẳn trên môi giới ngư dân, khi tàu thuyền đánh cá vào hợp doanh, chủ nhân là đảng. Song song nhà phố, cơ sở công thương nghiệp, rạp hát, bệnh viện tư, ruộng vườn, nông cơ, nông cụ cả trâu bò.. hoặc vào hợp tác, hoặc là tài sản xã hội chủ nghĩa. Dân làm chủ không, nhà nước, cán bộ đảng xử lý. Cơ cấu phường xã cũng lần lượt thay đổi, anh Chín bí thư, chị Ba phụ nữ mấy hôm đầu, sau đợt cướp ngày, kiếm được cái xe, căn lầu, vàng bạc đô la, lần lượt biến mất hay cũng chỉ như ta sống phất phơ bên lề thế sự, dù vẫn dép râu, nón cối, vai lũng lẳng cái xà cột cho oai.
Cán Bắc, công an răng thưa má hóp vùng Nghệ Tĩnh, thanh niên nam nữ cán bộ đảng chánh hiệu, đầy Bình Thuận, nhởn nhơ dòm ngó, vây bủa đồng bào kín hơn thiên la địa võng. Người Phan Thiết giờ phờ đi với gạo, dầu, phân bón, thuốc men, thức ăn và quần áo. Tay trắng hoàn tay trắng vì sản lượng chi tiêu quái ác. Đời sống văn minh của xã hội miền Nam như cái xe không phanh, vun vút tuộc dốc cầu Mường Mán, từ chết cho đến bị thương thê thảm. Nhiều mẹ Việt Cộng, nhất là miền đất thành đồng Đại Nẩm, Bình Lâm, Tường Phong.. uất ức tự tử vì biết dại, biết hối thì đã quá muộn màng trong cảnh trắng tay, chồng con thành liệt sĩ, còn gia đình thì nghèo đói mạt rệp. Thương ai cho bằng thương thân, những người còn chút phương tiện vội vã bồng bế nhau liều chết vượt biển tìm tự do. Rốt cục lãnh đủ vẫn là giới bần cố nông, vô sản, chỉ được đảng ban phát cho cái vỏ sơn phết, mà bụng thì trống rỗng hơn bao giờ hết vì bế tắc công ăn việc làm. Đói rách, bệnh tật và tuyệt vọng hằng hằng thường trực hành hạ họ.
Như cả nước, năm 1977 người Phan Thiết hoàn toàn sạch hết ngoài cái nhà trống bó buộc phải giữ để lây lất sống, giữa lúc cướp giựt bốc cao, Thuận Hải (Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Tuy) được đảng ưu ái chọn làm thí điểm 101 'KINH TẾ MỚI'.
Phan Thiết hoang vắng như bãi tha ma, đường phố khắp nơi thay tên chất ngất. Những anh hùng liệt nữ dày công đối với xã tắc sơn hà như Nguyễn Hoàng, Lương ngọc Quyến, Huyền Trân Công Chúa, Trần quý Cáp.. được thay bằng những tên Trương Tam, Lý Tứ lạ hoắc, không biết đâu mà mò lý lịch, vì trong dòng sử Việt không hề nói tới. Các phố chính trước năm 1975 như Lê văn Duyệt, Nguyễn văn Thành, Gia Long, Đồng Khánh.. chỉ còn là cái bóng mờ với hằng loạt căn nhà bị niêm phong khép kín. Một vài tiệm buôn của người Hoa còn bị kẹt lại, chưa vượt biên hay đi nước ngoài bán công khai, co rúm sau cánh cửa sắt thu hẹp, buôn bán vặt vãnh chờ thời như chổi, dép râu, cờ đảng, ảnh 'bác'. Thầy giáo Thành, nay là cố chủ tịch nước có hình treo khắp nơi. Cờ đỏ, bảng vàng sơn phết, giăng mắc che kín mặt trời, làm vẩn đục không khí trong lành nơi miền biển mặn. Vườn hoa hoang phế, rạp hát bẩn thỉu vì phim ảnh VC và khối cộng sản tuyên truyền hạ cấp, rẻ tiền, ngày qua tháng lại với hình ảnh Điện biên Phủ, bắn máy bay Mỹ, Anh Trổi, chị Sáu.. Tòa Hành Chánh Bình Thuận cũng như các Ty sở, Tiểu Khu ngày xưa là nơi chốn khang trang lịch sự, nay thành chỗ sống chung hòa hợp, hòa giải, trung lập giữa Cán Bộ từ miền Bắc vào và dòng họ Trư bát Giói. Mùi cám lợn, phân heo và thuốc lào, bốc ra tận đường Chu Mạnh Trinh, Hải Thượng nơi đài chiến sĩ Quốc Gia Việt Nam, khiến khách bộ hành phải nhanh chân rời xa vùng xú uế. Nghĩa trang QLVNCH cạnh QYV Đoàn mạnh Hoạch, tượng Phật Bà Quan Âm lộ thiên trên triền đồi Lầu ông Hoàng bị san bằng, đập bỏ. Chợ lớn trên đường Gia Long vẫn xám đen màu khói từ đêm binh biến 2-4-1975, cầu sắt trên sông Cà Ty gãy nhịp nào ai ngó tới, dù vàng ngọc, tiền bạc và tài sản của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để lại đã không cánh mà bay mất. Các nhà lều sản xuất nước mắm danh tiếng nhất nhì của Việt Nam từ thời tiền chiến tại Đức Thắng, Bình Hưng, Lạc Đạo sập tiệm vì ngày lại ngày, hàng hàng lớp lớp các xe vận tải, Molotova, GMC giải phóng đưa về Bắc, cho tới nước bổi cũng không chừa. Người người dửng dưng như kẻ lạ xa, mặc sâu bọ cầm quyền trị nước.
Nhớ lại chương trình tị nạn cộng sản của Bộ Xã Hội và chính sách an cư Việt kiều Kampuchia hồi hương năm 1970 của bác sĩ Quốc Vụ Khanh Phan quang Đán, thời Việt Nam Cộng Hòa mà ngao ngán cho kinh tế mới của Việt Cộng tại Đức Linh. Đây là tên ghép của hai quận Tánh Linh và Hoài Đức, tỉnh Bình Tuy thời Việt Nam Cộng Hòa. Vào năm 1961, Tổng Thống Ngô Đình Diệm vì có tình cảm liên quan mật thiết với Bình Thuận khi giữ chức Tri Huyện Hòa Đa và Tuần Vũ tỉnh, hơn nửa có tình bạn sâu nặng với nhà giáo lão thành Hoàng Tỷ, nên Ông đã cấp một ngân khoản lớn để cho đồng bào nghèo tại các quận Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi vào khẩn hoang lập ấp tại vùng hoang sơn trù phú của huyện Tuy Định, sau này là quận Tánh Linh. Vùng đất mới được tách thành một quận mới, đó là Hoài Đức, quận lỵ đóng tại Vỏ Đắc. Đây là vùng đất đỏ cao độ hoang vu của tỉnh Đồng Nai Thượng xưa, được tách ra từ tỉnh Bình Thuận, nằm trong sơn hệ Di Linh - Lâm Đồng, phần cuối cùng của rặng Trường Sơn, thuộc cao nguyên nam Trung Phần. Toàn vùng lúc đó chỉ là núi rừng hiểm trở, lắm ác thú như cọp, voi, heo rừng, mảng xà, rắn độc. Khắp nơi muỗi mòng, đỉa vắt sền sệt như bánh canh, đâu có thua gì vùng U Minh, Đồng Tháp. Giang sơn của người thượng Roglai và Chàm, khí hậu ẩm thấp, phong thổ độc địa. Sông La Ngà lắm ghềnh thác, thường gây lũ lụt bất thường vì lưu lượng nước lên xuống không đều, ảnh hưởng của triền núi nơi sông chảy qua. Do trên mực độ dân số trong vùng rất thưa thớt, ngoại trừ Võ Đắc, Lạc Tánh.. là nơi các Trung Đoàn thuộc SĐ18BB thường tạm đóng trong lúc hành quân.
Ngay khi có lệnh đi kinh tế mới, ba câu hỏi đã được đồng bào bàn tán lén lút: đi hay là ở lỳ, cưỡng lệnh sẽ ra sao và Đức Linh là chốn nào nhỉ" Một số còn tiền, chạy vội cái giấy về đất cũ nơi các thôn xóm ven đô như Phú Lâm, Phú Hội, Lại An, Phú Long.. Số khác may mắn hơn được xuất ngoại chính thức bằng tàu của Đảng đậu trước Trường Nữ tiểu học năm 1977, sau khi đóng hết vàng, đô la và hiến nhà cửa cho cán bộ. Chiếc tàu này sau đó đến được trại tị nạn Pulau Bidong của Mã Lai Á, mang số 67, hầu hết là người Việt gốc Hoa giàu có của Bình Thuận. Những người không có tên đi kinh tế mới, thì phải đi nghĩa vụ lao động tại Đức Linh, không phân biệt nam nữ, số tuổi hạn định 17-50, đó là chưa kể tới các nghĩa vụ thanh niên xung phong và nghĩa vụ quân sự, điều kiện ắt có để làm dân thường trú Phan Thiết có sổ gia đình, hộ khẩu và tem phiếu mua nhu yếu phẩm chỉ có bán tại cửa hàng quốc doanh. Viết sao cho hết đây, nỗi thương tâm đau khổ trong những ngày cuối cùng của dịch kinh tế mới. Khắp nơi vang tiếng khóc, người người ủ rũ tựa hồn ma. Chống đối dữ dội lệnh trên, cũng vẫn là những kẻ được đảng nâng niu dụ dỗ buổi trước, đó là mấy bác phu xe, gánh mướn, các chị bán mẹt buôn bưng, anh thợ nề, chú dân biển.. ở các khu phố xôi đậu ven đô buổi trước tại Đức Long, Đức Nghĩa, Phú Trinh, Hưng Long.. Vì là thành phần vô sản chuyên chính và có công với đảng, nên các cán bộ khu, phường đều lánh né, mặc sức cho họ tru tréo, trong lúc sắp đi xa. Những người khác, nhất là thành phần bị gán bậy là ngụy quân, ngụy quyền, tư sản mại bản.. thì biết phận, vặt vãnh bóp chắt những thứ còn lại sau cuộc phong trần, bán để có tiền mua đinh, lá, dây lạt và thức ăn khô dự trữ, để bắt đầu làm một cuộc hành trình mới như cha ông ta đã làm từ 300 năm trước, có điều lúc đó tiền nhân ra đi trong phấn khởi đầy lạc thú và hy vọng, còn giờ con cháu lên đường bởi cùm gông và bạo lực. Để gọi là ưu ái với dân, nhà nước tại Bình Thuận cấp tem phiếu mua thuốc phải trả tiền và như thế, lớp lớp người nối đuôi nhau trước nhà thuốc tây quốc doanh duy nhất, trước là nhà thuốc Phạm tư Tề, để mua vài thứ thưốc nội chế bằng võ cây đường bột, ký ninh nivaquine và những loại thuốc chống sốt rét nước độc tại chợ đen đều lên giá vùn vụt theo ngày cách mạng từ rừng vào tiếp thu Phan Thành, để không bị cảnh trâu sau uống nước bùn trâu trước, nhưng biết làm sao hơn"
Phút cuối bị súng đạn bó buộc phải xa rời nơi chôn nhao cắt rún, sao mà buồn quá đổi. Mười ba năm sống đời quân ngủ, ta đã đi cùng khắp mọi nẻo đường đất nước, từ biển lên rừng, chốn đồng quê cho tới thành thị, vẫn được trở về, dù về trong nỗi đau phải mất mát một phần thịt da của mẹ. Nay thì hết thật rồi, nhà xưa thành hoang phế, sự nghiệp nát hơn tương, thân nhân, bằng hữu.. kẻ chết kẻ còn bị tù đầy, còn ta tuổi xanh chịu đời vất vưởng, bất lực. Chỉ còn biết lau nước mắt, cắn nát môi và uất nghẹn căm hờn, lần chót nhìn lại mảnh tường đổ của mái ấm vừa bị hạ, nếp sống cũ bị xóa mờ, chấp nhận làm kẻ lưu vong trên chính quê hương mình.
Một đêm không ngủ, một đêm náo loạn tập thể, kẻ ở người đi gạt lệ an ủi quyến luyến. Các gia đình 'ưu việt' thuở trước tru tréo đảng và nhà nước không tiếc lời. Trưởng khu, chủ tịch, bí thư kể cả công an khu vực trốn mất suốt đêm, vì sợ bọn điên cùng đường trả thù. Cảnh tử biệt sinh ly sao mà buồn lắm thế.
2-ĐƯỜNG LÊN SƠN CƯỚC :
Năm giờ sáng ngày 17-7-1977, trong lúc nạn nhân chưa được hoàn hồn sau một đêm thức trắng thì máy nói, từ đỉnh cao của lầu nước, mở hết tốc độ âm thanh, tru tréo, ra rã thúc hối đồng bào sẵn sàng lên đường. Đoàn thanh niên nam nữ 30-4 theo lệnh hối hả, khuân vác đồ đạc của các nạn nhân ra xe. Phường khóm, tổ khu phố lũ lượt kéo tới chúc mừng, có cả phóng viên, nhà báo, quả là một chuyện ngược ngạo lì lợm, kinh thiên động địa, chưa từng thấy trong lịch sử con người.
Đúng 7 giờ sáng, tất cả xe cộ của chín phường trong thị xã, sau khi hốt đủ người, tập trung tại vườn hoa nhỏ đầu đường Gia Long. Năm Lý, Trung Tá Việt Cộng, chủ tịch ủy ban Kinh Tế Mới Đức Linh, một người phát xít nhưng được hầu hết dân chúng bị đi Kinh Tế Mới rất ái mộ vì ông hiền từ, chân thật, còn có nhân tính con người, trong xã hội hết tình người, đã đọc diễn văn, cắt băng khánh thành rồi ban lệnh khởi hành. Ngay từ đó, hàng trăm tên du kích, công an hầm hầm áp tãi 10.000 người Phan Thiết và 2500 nạn nhân KTM miền Trung trốn trại, lên Kinh Tế Mới Đức Linh để xây dựng cuộc đời mới trong thiên đàng xã nghĩa.
Đoàn xe dài lê thê, hàng nối hàng, chạy vòng quanh vườn hoa nhỏ trước nhà sách Vui Vui, ngược chiều phố Gia Long, Đồng Khánh, Trần quý Cáp với tốc độ chậm, để các nạn nhân được nhìn lại nơi chốn thân yêu lần chót, sau đó nhấn hết ga, mặc kệ đồng bào đang bị chèn ép sau thùng xe vận tải, khiến cho người, đồ đạc, gia súc chen chúc ngồi đứng, dở khóc, dở cười.
Phan Thiết - Đức Linh cách xa 178 km, trừ đoạn đường 58 km trên quốc lộ 1 tráng nhựa tốt, số còn lại từ căn cứ 6 đến Võ Đắc, gọi là Tỉnh lộ 1, chỉ là đường đất đá gồ ghế, nhiều chỗ cầu bị gẫy chưa được sửa chữa, phải chạy vòng dưới lòng suối sâu vô cùng nguy hiểm. Rừng lá tuy được khai quang, nhưng nhiều nơi xe vẫn chui luồn dưới những tàn cây mịt mù sương khói, không nhìn thấy mặt trời, khắp nơi vượn khỉ nhảy nhót trong lùm cây, đa đa gù vang đây đó. Một vài chú sóc tinh nghịch, khi biến, lúc hiện trước đầu xe như trêu chọc người phố thị. Bình Tuy đang mùa nắng cháy, hơi núi bốc nóng như thiêu, cộng với bụi đường đất đỏ, khiến cho ai cũng rã rượi, mệt nhừ vì khát nước, nhồi xốc, chen lấn và tủi phận.
Đường bộ băng ngang thiết lộ tại ga Suối Kiết, muôn năm nằm ngủ quên dưới chân núi Ông mịt mù mây phủ. Từ đây đường bắt đầu lên dốc xuống đồi, nhiều quãng cây cối mọc be ra tới ngoài che kín lối đi. 12 giờ trưa cùng ngày, xe mới tới phố huyện Lạc Tánh, cũng là cửa ngõ vào thiên đàng Kinh Tế Mới Đức Linh. Có tất cả 8 khu vực, 1 nằm bên nam sông là Vỏ Su, kế cầu Lăng Quăng, nối tiếp với Kinh Tế Mới Duy Cần dành cho đồng bào các quận 8, 9, 10 Sài Gòn và Trại cải tạo dân quân Huy Khiêm. Các khu vực khác đều ở bên bắc sông La Ngà, gồm có Đồng Kho, Tà Pao, Bắc Ruộng 1, 2, Nghị Đức, Mê Pu và Sùng Nhơn. Sự sắp xếp tùy theo đoàn xe tới sớm hay chậm, không cần biết khu, phường hay liên hệ gia đình, khiến cho nhiều hộ, cha mẹ ở nam, con cái tại bắc, nhưng đã đến đường cùng, đành cắn răng, bấm bụng, gạt nước mắt mà sống qua ngày.
Lối về đất chết đầy ghê rợn, cồn mây heo hút chắn lối đi, thêm trận mưa rừng đầu mùa, khiến mọi người càng đứt ruột. Xe đã vào truôn, đây là Đồng Kho tre mây nối vòng tay lớn che mát đường đi, lố nhố khắp nơi từng dãy nhà sàn của bộ lạc Roglai xơ xác rã rời với cát bụi thời gian. Rồi thì bờ bụi, lau lách như muốn nuốt trửng con lộ đất đỏ ngoằn ngoèo đầy ổ gà, ổ voi, len lỏi hai bên vách núi cao ngất, dẫn tới thung lũng Đoàn Kết, ủ rủ cheo leo dưới chân rặng núi Ông, đang chực chờ đón người Kinh Tế Mới. Nhiều xe lại bị tách rời, lại những bàn tay khẳng khiu đau khổ đưa vội, vẫy vẫy chào chào, hẹn ngày tái ngộ. Rồi Tà Pao, vùng đất úng thủy, mệt mỏi ngủ lỳ giữa tiếng thác ghềnh gào thét. Chiếc cầu sắt vừa mới được bắc ngang sông La Ngà, còn thơm mùi sơn đỏ, từ xe nhìn xuống thăm thẵm vực sâu, kẻ ở người đi ngàn trăm lưu luyến. Rừng núi cũng hân hoan đón người lạc bước nhưng dân địa phương, đa số là Quảng Ngãi thù ghét ra mặt, lòng dạ sâu hiểm hơn rắn rết, một ngụy hai ngụy, xin nước uống cũng không cho, làm cho ai nấy thêm não nùng cho thân phận con người bại trận, mất nước.
Huy Khiêm, Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn, Madogui, đèo Chuối trên quốc lộ 20, những địa danh một thời in mòn gót giầy của người lính trận Trung Đoàn 43, SĐ18BB, nay thành chỗ giam giữ nô lệ Phan Thiết. Ngày nóng, đêm lạnh, gió núi, sương rừng se sắt buốt lịm thịt da. Sơn cốc bị đá xanh, mây xám, bụi đỏ miên viễn mịt mờ. Rừng già, rừng xanh chằng chịt, từ đây chúng ta thành sơn nhân, dã thú, ngày ngày ngắm mây trắng la đà ngâm câu 'Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại' của Hàn Dũ khi bị đầy, cho bớt nhớ nhà.. Bắc Ruộng 2, hay Tà Lễ 2 sau là thôn 3, xã Bắc Ruộng, quận Tánh Linh, lừng danh nhất trong 9 địa điểm giam cầm người Phan Thiết. Đây là một làng chiến đấu cũ của Việt Cộng trước năm 1975, vùng oanh kích tự do nên quanh quẩn khắp nơi còn in dấu nhiều nền đất xám, bìm cỏ rậm rịp, đụn mối cao ngất, hầm chông hố bom còn nguyên vẹn chưa được lấp lấy. Thêm vào đó rừng sát đường nên ban đêm văng vẳng tiếng cọp gầm, voi rống, cú vạc tru tréo cầm canh, thay thế tiếng chó gà báo thức. Pháp trường cây xoài quéo, nơi ngã ba vào Nghị Đức như còn ẩn hiện các hồn ma oan khiên Việt Nam Cộng Hòa bị Việt Cộng kết tội Việt gian, đem xử giảo rồi quăng xác xuống suối cho thú dữ ăn. Máu người hòa với nước mưa làm cho nước lạch lúc nào cũng đỏ thắm không bao giờ cạn và đổi màu.
Nhiều dãy lều Kinh Tế Mới được các nghĩa vụ lao động dựng vội vã cho đạt chỉ tiêu, dọc theo hai bên đường cho tới bìa rừng. Không biết phải dùng cái danh từ gì để gọi nó cho hợp lý, vì láng cũng chẳng phải là láng mà nhà lại càng kỳ cục vì chỉ có mái lá lợp thưa thớt nên các tia nắng mặt trời ban ngày hay ánh trăng đêm tha hồ nằm bên trong thưởng thức. Thảm nhất là hàng cột con ốm yếu, khẳng khiu như kiếp cơ hàn của người dân Việt trong xã nghĩa, chỉ chực gãy mỗi khi gió rừng nổi giận. Chỉ có cái nền nhà là được khai quang, còn bên ngoài cỏ lau xanh ngắt. Đồ đạc, người ngợm bị vứt bên đường, ỳ ạch khuân vác vào địa điểm vừa bốc thăm nhà, đã muốn ngất ngư chết xỉu. Tội nghiệp và thảm thê vô cùng là các gia đình quân công cán cảnh Việt Nam Cộng Hòa có chồng đang còn tù tội, chỉ có một góa phụ và mấy đấng trẻ nít, làm sao đúng tiêu chuẩn lao động sản xuất đây, vậy mà cũng bị hốt lên rừng để xây dựng kinh tế mới.
Mọi sự rồi cũng phải qua, dù thích hay không muốn. Lấy sức người sỏi đá cũng thành cơm, thì sá gì phần ruộng dành cho người Phan Thiết. Kinh Tế Mới lúc đó vẫn còn đắm chìm dưới biển lau sậy, tận hồ Lạc, dưới chân núi Bảo Đại mù mịt hơi sương. Ngày tháng vùn vụt lướt nhanh, người người phờ phạc vì lao tác và thiếu dinh dưỡng. Dầm mưa đội nắng, suốt ngày ngâm mình trong bùn, sình, nước đục, cuốc, đắp, phát quang.. quanh đi quẩn lại, từ 5 giờ sáng thức giấc theo tiếng kẻng gọi hồn cho tới tối mù mịt mới mò về nhà, cũng bấy nhiêu thôi. Tình cờ soi gương, thấy mình như đổi khác, ta đã thành sơn nhân, thành tên ma đói chập chờn vất vưởng trong cõi đời trầm thống não nùng. Thương sao là thương mấy bà, mấy cô em học sinh trung tiểu học năm nào, ngây thơ, bé bỏng, phải xếp bút nghiên theo cha mẹ đi lao động. Mệnh phụ, tiểu thơ, thanh tân, đài các, mắt phượng da ngà, chỉ sau một thời gian ngắn dầu dãi phong trần, tất cả biến thành cô gái lọ lem, quần áo rách rưới, da dẻ xám xịt gầy gò, khấp khểnh vác cây cuốc xã hội chủ nghĩa cao hơn đầu người, tức tủi thương cho phận hồng nhan đa truân, giữa buổi đất trời nổi cơn gió bụi, khóc thét khi đỉa vắt bám vào chân, đùi, nước mắt ràn rụa như không bao giờ vơi trên các khuôn mặt đẹp của một thời hoa bướm, nay chỉ còn hốc hác, héo mòn. Đàn ông, thanh niên, thương gia, trí thức, dân lao động, làm biển.. cũng đâu có sung sướng gì. Tất cả lết lê quằn quại trong địa nguc trần gian. Thần chết cũng đánh hơi bạo lực, bắt đầu đến với người Kinh Tế Mới. Thôi thì đủ thứ, từ chuyện phong thổ u uất ẩm thấp, nước uống thức ăn thiếu vệ sinh và chất bổ dưỡng, muỗi rừng ào ạt tấn công người gây bệnh thổ tả và các loại sốt chết bất đắc kỳ tử. Ngoài bệnh tật, còn chết vì đốn cây, chặt tre vô ý, đi ruộng không coi chừng bị rắn độc cắn cũng chết, đói quá ăn rau nấm bậy bạ trúng độc cũng chết, mìn chông hố bom lựu đạn ngày xưa để lại, thỉnh thoảng nổ bậy, ai bất hạnh trờ tới đúng lúc cũng chết.
Tang tóc, lầm than, khổ đau và nhục nhả vây kín người Phan Thiết bị hốt đi Kinh Tế Mới trong giai đoạn này. Hỡi ơi những năm tháng đời quân ngũ, ta đã chôn người thật nhiều, chôn xác bạn trên chiến trường vội vã, chôn xác thù giữa trận địa hoang liêu. Rồi qua nhiều lò cải tạo, nay đến miền kinh tế mới, lại tiếp tục lo việc chung thân cho bao nhiêu người, nào đồng đội, đồng bào, thân nhân, bằng hữu, tất cả chỉ có hai bàn tay, vài thanh tre, một cái hố thẳm, gói ghém một đời người bất hạnh trót sinh nhằm thế kỷ, ngủ yên trong manh chiếu rách hay chiếc mền tả tơi, bụng rỗng xương sống xương sườn đếm đủ. Tất cả chỉ là cát bụi, 'sinh ký tử qui', thế gian là cõi không không miên trường. Chôn người đâu có gì khó" nhưng đứng nhìn xác chết lạnh tanh, với cảnh thống khổ biệt ly giữa biển nước mắt, nghe lời nỉ non kể lể của quyến thuộc người xấu số, để làm như một kẻ dửng dưng không hề có tình người như người Việt Cộng là một điều cười ra nước mắt:
'.. sao thấy cay xè trên chót môi
rờ tay mới biết lệ mình rơi,
đời người, sinh tử là qui, ký
thì có gì đâu phải rã rời"'
Thế là hết, những người Phan Thiết một đời bỏ đi làm cách mạng, chỉ mong mang lại no cơm ấm áo cho đồng bào mình nhưng họ đã lạc lầm chạy theo chủ nghĩa ngoại lai, nhắm mắt tuân theo mệnh lệnh của cộng đảng quốc tế từ Mạc tư Khoa, Bắc Kinh, Hà Nội, mang thương đau về cho xứ sở, chốn chôn nhao cắt rún, cho thâm tình bằng hữu và mọi gia đình, để đổi lấy chút tem phiếu và quyền lợi thừa mứa do đảng và nhà nước vung vãi khi đã ôm ngập tới đầu. Đói, chết, tuyệt vọng trùng trùng đã khiến cho người Phan Thiết quật cường trở lại. Thế là bất chấp du kích công an, đồn canh trạm gác, kiểm soát khắp nơi như thiên la địa võng, mọi người khăn gói bồng bế nhau trở về. Đây là cuộc di tản cuối cùng của người Việt Phan Thiết sau ngày mất nước 30-4-1975.
Từ đó Phan Thiết trở thành quê hương của đói rách lầm than. Người người dửng dưng trước thời cuộc, nhắm mắt xuôi tay chấp nhận kiếp số. Phó mặc cho đảng và cán bộ đẩy đưa, xếp đặt, coi như mình không có hiện diện trong cõi đời này. Phố Gia Long, nay đổi thành Nguyễn Huệ, nhưng có mang cái tên gì chăng nữa thì đó cũng thành khu chợ trời công khai, người ta, kể cả cán bộ Bắc hồi kết Nam, mang những thứ của công chiến lợi phẩm hay mua rẻ hoặc móc ngoặc từ quốc doanh, nhà kho.. ra bán cho phó thường dân với giá cắt cổ. Đây cũng là chốn bàn bạc áp phe và toan tính chuyện vượt biên, vượt biển. Ao rách bạc mầu vá víu chen lẫn với bò vàng cán ngố, cười đó rồi trở mặt đó, tuồng hát cứ quay tít trong sự lường gạt đấu trí với nhau để sống còn. Riêng các nạn nhân Kinh Tế Mới, bắt rồi thả, sáng nay đẩy lên xe về rừng, mai mốt đã thấy xuất hiện nơi phố chợ. Nhà tù chật cứng, tư cách gì bắt dân thường đi cải tạo, hơn nữa chỉ tiêu Tỉnh đã đạt được 150%, nhà của Họ cũng đã bị chiếm, thôi làm lơ cho yên việc. Từ đó quán cà phê mọc lên như nấm vẫn không đủ chỗ cho người thất nghiệp. Nhà ga xe lửa Phan Thiết, vườn hoa đường Nguyễn Hoàng, bến cá Cồn Chà.. thành khách sạn miễn phí của người tay trắng từ Kinh Tế Mới chạy về. Ngày tỏa ra khắp nơi kiếm ăn, tối tụ lại ngủ chung tập thể khắp sân ga, hiên người, tắm nước sông, uống nước máy, biến thành con ma chơi, kẻ tha nhân ngay chính trên quê hương do Tổ tiên, cha ông và ngay bàn tay gầy dựng của mình.
3-RỦ NHAU BỎ XỨ MÀ ĐI VƯỢT BIỂN :
Người Bình Thuận đã bỏ xứ mà đi ngay khi giặc về đêm 18-4-1975, đa số là người Bắc di cư ở các phường ven biển như Thanh Hải, Phan Rí, Vĩnh Thủy, Vĩnh Phú và nhất là Bình Tuy. Từ những năm 1977 tới 1980, đảng Cộng Sản qua công an và hải quan 'bán chính thức' tổ chức vượt biển để lấy vàng, dù trước đó, luật pháp của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, luật hình sự, điều 85, mục 2 và điều 88, xử phạt nặng kể cả công an, cán bộ cưỡng ép, xúi giục người trốn ra nước ngoài. Năm 1977 khởi đầu thử nghiệm chuyện xuất cảng người, mà đối tượng là giới tài phiệt Việt-Hoa, theo thời giá mỗi đầu người 10 lạng vàng y, trị giá 4000 đô la Mỹ. Cũng trong năm này, Phan Thiết có tổ chức đi bán công khai nhưng sau đó dẹp luôn vì ai cũng muốn đi chui, vừa rẽ lại an toàn.
Có một điều tréo cẳng ngỏng là Bình Thuận là nơi có nhiều cửa sông, bến cảng, ghe thuyền lớn và rất nhiều, nhưng hầu như có ít tầu ghe vượt biên, ngoại trừ số ra đi năm 1975. Tại trại Pulau Bidong, từ năm 1977 cho tới 1980, có tới mấy trăm tàu vượt biên, nhưng ghe Bình Thuận chỉ có chừng 5 chiếc, một là tàu đi bán công khai năm 1977, số còn lại là chiếc giã Nùng Phan Rí, I chiếc khác mang số Phan Rí là tàu quốc doanh và chiếc duy nhất có 32 người Phan Thiết, đi ngày 31-10-1978 tại bãi Thương Chánh, mang số PT1109, là tàu số 100 của trại Bidong, Mã Lai Á. Vào tháng 9/1978, lợi dụng Việt Cộng Bình Thuận no say ăn mừng, một chiếc tàu đánh cá hạng trung tại Bình Hưng, chở trên 200 người, công khai ra biển vào ban ngày. Chiếc tàu vượt biên may mắn trên lại gặp may mắn lần nữa khi tiếp cận với một chiếc tầu dầu Mỹ, tất cả được vớt và gởi tạm thời tại một trại tị nạn ở thủ đô Jakarta, Nam Dương.
Sau này, nhiều người Phan Thiết vượt biển kể rằng sở dĩ họ không dám vượt biên ở tỉnh nhà vì hầu hết những người có tàu thuyền tại địa phương rất gian xảo, đồng ý tổ chức lấy vàng, rồi đi báo công an, sau đó tiếp tục làm lại từ đầu. Nhưng theo dân biển, thì họ cũng bị người đi vượt biên gạt bằng cách chung vàng giả, chỉ có lớp vàng mạ ở bên ngoài, bên trong là chì, bạc hay là đồng. Tóm lại ai thật ai giả, không biết đâu mà mò. Nhưng có điều chắc chắn là từ sau năm 1980, gần 90% các chủ ghe tàu Bình Thuận đã đem tàu thuyền của họ ra đi không trở lại, mãi tới đầu năm 1990, khi Đông Au, Liên Xô giã từ thiên đàng xã nghĩa, Việt Cộng đói quá chịu mở cửa đón Việt kiều khúc ruột xa khơi trở về, các chương trình đoàn tụ gia đình, diện con lai, HO.. và trên hết quốc tế chấm dứt nhận người vượt biển, người Bình Thuận mới chịu chấm dứt mộng du học ngoại quốc bằng đường biển.
Lai thêm một năm buồn ly xứ sắp tới, đêm nay trời Xóm Cồn bổng lạnh buốt, như những lời thơ thảm tuyệt của bạn già gửi từ Kinh tế mới Đức Linh tới :
' thư bạn gửi từ vùng kinh tế mới
đến tay ta hơn sáu chục ngày dài
giọng đùa cợt như thuở chớm đôi mươi
nhưng bút mực làm sao che nước mắt
*
Đọc thơ bạn giữa đất trời cô độc
đêm nay buồn thổn thức với quê hương
thảm thương ơi bao bè bạn đoạn trường
giờ vẫn trả nợ trai thời tao loạn.
Xóm Cồn, Chạp 2005
MƯỜNG GIANG

Monday, November 21, 2022

Bạn có thể mua kiến-

thức MIỄN-PHÍ nhưng

bạn có thể phải trả

giá RẤT ĐẮC cho sự

ngu-dốt của mình.