Friday, January 28, 2022

 Tiêu diệt chốt cầu 20 trên tỉnh lộ 8B

- 03 tháng 11, 2021 - 21:43

Từ trận đánh đồn Đạo Trung 31-1-1974…


http://cuuchienbinh.vn/tieu-diet-chot-cau-20-tren-tinh-lo-8b/


Từ sau khi quân ta tiến công và giải phóng Bù Bông ngày 4-11-1973, đoạn quốc lộ 14 từ Đắk Song đến Kiến Đức ta làm chủ hoàn toàn; do vậy việc đi lại từ Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk về thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Quảng Đức, địch chỉ dựa vào tỉnh lộ 8B. Đường 8B trở thành huyết mạch sống còn của địch. Và đồn Đạo Trung, trấn giữa đoạn đường từ Đắk Song về Gia Nghĩa, là “cái gai” đầu tiên ta phải nhổ.


Đồn Đạo Trung nay thuộc xã Nam BRang, huyện Đắk Song, là một chốt nằm cạnh cua hình chữ U sát tỉnh lộ 8B về phía đông, gần thị trấn Đức An tính từ Đắk Song đi Gia Nghĩa, cách ngã ba Thuận Hạnh nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh lộ 8B gặp quốc 14 chừng 8km, cách cầu 20 khoảng 4km.


Đồn Đạo Trung cao gần như nhất khu vực, về hướng tây có thể nhìn tới tận Bù Bông, còn hướng đông có thể khống chế các hoạt động trên dãy núi Nam Nung - nơi đặt các cơ quan giải phóng tỉnh Quảng Đức. Do chốt đặt ở khúc đường cua nên phía bắc địch nhìn thấy rất rõ mọi hoạt động của ta. Còn về hướng nam cũng dễ dàng phát hiện mọi thứ trong tầm mắt, địa hình phức tạp dễ thủ, khó công vì ba mặt dốc đường, hướng đông nam hơi thoai thoải, nhưng muốn đánh được thì quân ta phải vượt qua tỉnh lộ 8B, với đội hình đông người rất khó triển khai.


Bố trí của địch ở đây là Tiểu đoàn bảo an số 259 gồm 83 quân, chốt rải rác ở các quả đồi lân cận. Đồn Đạo Trung có một trung đội pháo binh trang bị hai khẩu 105 ly, một khẩu ĐK57, một khẩu cối 81. Bao bọc quanh đồn có 3 hàng rào đơn, 1 hàng rào mái nhà hẹp; giao thông hào chạy quanh chốt... Từ năm 1969, địch đã học được cách chống đặc công của ta nên chúng làm nhiều lô cốt giả, cần ăng-ten giả. Vào ban đêm, chúng bí mật kéo thêm một hàng rào đơn cắt ngang quả đồi giữa lô cốt giả và lô cốt thật, nếu điều nghiên không kỹ, khi ta đã cắt hết các hàng rào bên ngoài mà tấn công vào sẽ bất ngờ gặp hàng rào ban đêm chúng mới kéo ra; khi đó bộ đội sẽ bị kẹt ở giữa.


Muốn cô lập được thị xã Gia Nghĩa, Đắk Song, Đức Lập, quân ta phải tiêu diệt được Đạo Trung. Diệt được Đạo Trung sẽ hạn chế được rất nhiều việc địch bắn phá và đưa quân càn quét vùng giải phóng, nhất là khu vực núi Nam  Nung …


Đầu tháng 1-1974, Trung đoàn đặc công 429 cùng trinh sát Trung đoàn 271 ba lần đi trinh sát điều nghiên thực địa, vào chốt  kiểm tra kỹ cách bố phòng của địch; sau đó đắp sa bàn hướng dẫn các mũi tiềm nhập tấn công; ban ngày trinh sát đặc công đặt đài theo dõi các hoạt động của địch bên trong chốt.


Đêm 31-1, rạng sáng ngày 1-2-1974, Tiểu đoàn 14 Trung đoàn 429 đặc công và Tiểu đòn 4 Trung đoàn 271 bộ binh phối hợp tiến công đồn Đạo Trung, nhưng do bị lộ ngay trên đường tiềm nhập, các mũi tiến công không phát triển theo kế hoạch. Mặc dù các chiến sĩ của 2 tiểu đoàn chiến đấu rất kiên cường, dũng cảm xung phong, nhưng trận đánh không thành công. 39 cán bộ, chiến sĩ của hai đơn vị đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trận.


…Đến chiến thắng chốt cầu 20 ngày 18-9-1974


Cuối tháng 6-1974, các đơn vị của Trung đoàn 271 thay nhau chốt các cao điểm để bảo vệ hành lang đường 14 đoạn Đắk Song - Kiến Đức. Riêng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 271  được điều về phía đông Bù Bông để huấn luyện và làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu của Trung đoàn.


Đầu tháng 8-1974, Trung đoàn 271 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 2 đi điều nghiên các vị trí địch trên tỉnh lộ 8B (đoạn từ Đạo Trung đi Gia Nghĩa), để tổ chức một số trận địa phục kích nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch.


Từ Bù Bông cắt về đường 8B khá xa. Rừng núi điệp trùng, bộ đội phải đi một ngày mới tới. Tiểu đoàn 2 cũng không dự kiến đánh đồn Đạo Trung, vì biết rằng sau bị tập kích ngày 31-1-1974 địch đã tăng cường bố phòng và cảnh giác cao độ.Tiểu đoàn cử nhiều đoàn cán bộ, trinh sát, điều nghiên bám nắm địch và tổ chức đặt đài quan sát để theo dõi địch trên tỉnh lộ 8B cả ngày lẫn đêm, nắm cho được quy luật hoạt động của địch. Tuy vậy chỉ phát hiện được từng tốp lính khi đi bộ, khi có xe chở đi tuần tiễu. Thỉnh thoảng mới có một xe quân sự chở hàng. Nói chung địch hoạt động không có quy luật.


Địa hình phức tạp nên tổ chức trận địa mai phục cũng gặp nhiều khó khăn Trong khi ta đang tìm chỗ phục, thì bất ngờ từ đài quan sát, anh em phát hiện một đại đội địch được mấy chiếc xe GMC chở đến. Sau đó, chúng hành quân lên một quả đồi trọc sát mép đường, đào hầm, xây dựng trận địa chốt để bảo vệ cầu 20 trên tỉnh lộ 8B. Tiểu đoàn 2 quyết định chọn chốt này làm mục tiêu tiến công.



Chốt cầu 20 nằm ở phía nam đồn Đạo Trung, nằm sát cầu 20, phía tây tỉnh lộ 8B, cách đồn Đạo Trung khoảng 3km theo đường chim bay, khoảng 4km theo đường 8B. Chốt do một đại đội quân ngụy Sài Gòn hành quân dã chiến chiếm giữ. Chốt được rào bằng gỗ và có một hàng rào dây thép gai phía trong. Địch đã xây dựng hầm hào công sự, nhưng chưa xây dựng kiên cố. Địch còn ở trong nhà che bằng ni lông.


Chốt cầu 20 từ khi địch đóng quân đã được Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 271 giám sát hằng ngày và tổ chức trinh sát nhiều lần, sau đó lên sơ đồ tác chiến thông qua chỉ huy Trung đoàn. Lực lượng tác chiến của ta chủ yếu là Tiểu đoàn 2 được tăng cường 2 đại đội phối thuộc là Đại đội cối 16, Đại đội công binh 19 và 2 khẩu đội ĐKZ 82 của Đại đội 17. Tiểu đoàn phân công như sau: Đại đội 3 làm chủ công, trực tiếp sử dụng 2 khẩu đội ĐKZ 82 phối thuộc, đánh từ trên đỉnh đồi xuống, Đại đội 1 đánh hướng bên trái, từ sườn đồi vào, Đại đội 2 để 2 trung đội làm dự bị cho Tiểu đoàn, cho 1 trung đội chốt chặn, phục kích đánh địch từ hướng đồn Đạo Trung xuống chi viện cho chốt cầu 20. Đại đội 19 của Trung đoàn tăng cường chốt chặn, phục kích sẵn sàng đánh địch từ hướng Gia Nghĩa lên. Không sử dụng pháo cối chi viện cho đơn vị đánh chốt cầu 20, mà Tiểu đoàn dùng cả 2 đại đội hỏa lực là Đại đội 4 của tiểu đoàn và Đại đội cối 16 của Trung đoàn tăng cường để tập kích và kiềm chế pháo từ đồn Đạo Trung. Pháo mặt trận sẽ kiềm chế pháo từ trận địa địch ở núi Lửa.


Đêm 17-9-1974, Tiểu đoàn 2 vào chiếm lĩnh trận địa. Trong quá trình tiềm nhập, hướng Đại đội 3 có đồng chí Lê Thanh Hải, trinh sát Đại đội 21 dẫn đường đạp phải mìn, hy sinh, nhưng đơn vị tiếp tục chiếm lĩnh trận địa. Ban đầu, địch có nghi ngờ nhưng có lẽ nghĩ là thú rừng đạp mìn và không dám đi kiểm tra, nên quân ta vẫn giữ được bí mật.


Khoảng 5 giờ sáng ngày 18-9-1974, Tiểu đoàn 2 nổ súng tấn công. Mặc dù quân địch chống trả điên cuồng, chúng tập trung bắn trả cả vào 2 hướng cửa mở của quân ta; mìn ĐH.10 không quét được hàng rào gỗ, nhưng các chiến sĩ ta vẫn dũng mãnh xông lên đột kích từ 2 hướng như đã phân công. Bộ đội kiên trì hạ từng hỏa điểm địch bằng B.40, B.41 hoặc lựu đạn, thủ pháo. Lần lượt chiếm từng đoạn công sự… Ở mũi Đại đôi 3, khẩu đội ĐKZ của Đại đội 17 phối thuộc do đồng chí Nguyễn Hoàng Phương - sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội làm Khẩu đội trưởng đã phát huy uy lực, bắn liên tiếp gần chục viên đạn, xóa sổ nhiều ổ đề kháng của địch. Sau trận này Phương được đơn vị đề nghị khen thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.


Sau 20 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 2 làm chủ trận địa. Toàn bộ đại đội địch 91 tên, một số bị tiêu diệt, số bị thương, 6 tên bị bắt sống, không một tên nào chạy thoát. Lính địch bị thương được quân ta băng bó rồi phóng thích tại trận địa.


Chốt bảo an cấp tiểu đội của địch ở ngay đầu cầu bị Đại đội 2 diệt ngay khi Tiểu đoàn 2 nổ súng tấn công Chốt Cầu 20.


Cùng lúc Tiểu đoàn 2 nổ súng tiến công chốt cầu 20. Đạn cối của Đại đội 4, Tiểu đoàn 2 và Đại đội 16 phối thuộc đồng loạt bắn chế áp pháo địch ở đồn Đạo Trung. Sau này ta được biết, tên sĩ quan chỉ huy pháo binh đồn Đạo Trung bị chết ngay từ loạt đạn đầu và do cối ta bắn cấp tập, chính xác nên pháo cối của đồn Đạo Trung hầu như không chi viện được gì cho bọn địch ở chốt cầu 20.


Một lực lượng bộ binh địch từ đồn Đạo Trung cơ động lên định chi viện cho chốt cầu 20 đã bị Đại đội 19 phục kích đánh phải tháo chạy.


Sau khi quân ta rút khỏi chốt cầu 20, Đại đội 2 triển khai bố trí đội hình dọc bìa rừng chân chốt. Mất chốt, địch dùng pháo các loại bắn dữ dội nhiều đợt vào gần khu vức chốt của Đại đội 2. Địch cho 2 xe tăng và đổ quân đến để giải vây, nhưng xe tăng địch không dám vượt cầu, vì sợ ta gài mìn. Chập choạng tối, địch cho quân cắt bìa rừng đánh tập kích vào khu vực chốt của Đại đội 2, nhưng bị nổ súng đánh trả quyêt liệt, địch không lên được phải rút lui. Ngay đêm đó vì trận địa chốt bị lộ, để bảo toàn lực lượng, Đại đội 2 được lệnh rút về tuyến sau để củng cố.


Bên ta, 10 đồng chí hy sinh trong trận đánh chốt cầu 20, gồm 5 đồng chí Đại đội 2 hy sinh trong trận đánh (Trần Văn Thắng, Nguyễn Huy Mão, Lê Sĩ Mão, Trần Văn Chuyên, Nguyễn Hữu Tư), 1 đồng chí hy sinh khi đi trinh sát (Nguyễn Thế Cải hy sinh ngày 3-9). Bốn đồng chí nữa của các đơn vị khác trong Trung đoàn hy sinh ở khu vực Đạo Trung là: Trịnh Xuân Lâm (Đại đội 19), Lê Thanh Hải (Đại đội 21), Phan Văn Thành (Đại đội 16) và Nguyễn Đình Vận (Đại đội 17).


Như thế, ngày 18-9-1974, Tiểu đoàn 2 tiến công chốt cầu 20 và chiến thắng giòn giã; đồng thời dùng cối tập kích đồn Đạo Trung, gây cho địch nhiều tổn thất, không dám cho quân ứng cứu chốt cầu 20.


Xuân Tảo, Hà Nội, ngày 19-8-2021


Chu Đức Tính - CCB Trung đoàn 271

Tuesday, January 25, 2022

 Tháng Ba Định Mệnh - Võ Đức Nhuận (hoiquanphidung.com)

 Jack Ma Yun[a

JACK = 1132 = 7

MA = 41 = 4

YUN = 165 = 12 = 3

 An Lao Valley Incident

by

Duane Vincent

145th Avn Plt CE

Date of Incident: Saturday, January 29, 1966

Binh Dinh Province, South Vietnam

Early stages of Operation “Masher”

The 145th Airlift Platoon had been working for several days out of Bong Son Special Forces (SF) Camp in support of Project Delta which was conducting Recon missions in the An Lao Valley.  I was the Crew Chief of a troop carrying “slick”, tail number 62045, call sign “Mardi Gras 6”.  The gunner was a Californian named Russell Issacs.  Nine of the ten helicopters in the Platoon were on the mission, six slicks, two gunships, and a “Hog,” while our tenth helicopter was back at our home base in Nha Trang undergoing maintenance.  Our mission, as I understood it, was to quietly insert the Delta teams into the valley, provide air cover with our gunships, and pick them up on demand.  Delta was to locate a large VC/NVA force in the valley then a Brigade of the 1st Cavalry Division, which was operating nearby in the Bong Son plain, would come in immediately, and destroy them.


The Delta teams in the valley were compromised almost from the start and I got an Air Medal for Valor for a ladder drop and covering fire during a five-man pickup on the side of a ridge on January 28th.  On the morning of January 29th, most of the Platoon was out flying Direct Support or Combat Assault missions in or around the An Lao valley.  Major Kevin Murphy, the Platoon Commander had gone off to the SF Camp to meet with Major Charlie Beckwith and other Delta operations staff.  045 was parked nearby in an adjacent graveyard where we had bivouacked the last few nights and Issacs and I were doing routine maintenance on the ship and our weapons.  All of a sudden, Major Murphy came running out and told us to “saddle up.”  One of the Recon teams was in contact and needed immediate pickup.  Major Beckwith arrived with three other Delta people (a First Sergeant, a radioman, and another Officer, I believe).  We immediately started the engine and Major Murphy got into radio contact with the rest of the Platoon.  They had either just landed or were on their way back to refuel and rearm at the camp airstrip and could not join up with us right away.  A quick decision was made for 045 to leave immediately in advance of the rest of the Platoon and to quickly locate the team.  We would then act as the Command & Control aircraft while the others made the pickup and delivered any required aerial gun support.  We took off with a crew of four (Aircraft Commander was Major Murphy, Co-pilot was CWO Southwell, Issacs and myself) and the four Delta members.


The weather was awful.  At that point it was cold, there was low cloud cover with a ceiling below 1,000 feet, and rain was falling.  I think that the best description of weather of that kind was in a Boston Publishing Co. book called “The Vietnam Experience/A Contagion of War.”  It noted “that a season of “crachin,” which is French for “spit” was prevalent in the area.  It described “crachin” as “A constant drizzle that could lighten to a mist or fall more heavily, crachin drifted down from slate gray clouds seldom higher than 3,000 feet.  Visibility usually extended no more than three miles.  In the early morning hours, low stratus clouds dropped below a 1,000 foot ceiling, and the fog that resulted lifted slowly, dissipating by middle-to-late morning.  Frequently, the fog persisted in the valleys, obscuring mountain ridges and peaks and creating perilous flying conditions.”


Since the ceiling was so low, we flew at an altitude of approximately 300 to 400 feet over the area just outside the SF camp and then over some farms, picking up speed as we flew.  Sitting in the open cargo door (pilot’s side), I was wearing my field jacket under my flak jacket and chicken plate and I had the visor down on my helmet in an attempt to stay warm and shield myself from the rain.  Each drop of rain that hit you hurt.  Even with this protection, the rain was still impacting on my hands and chin while water ran down my helmet visor, my neck, and inside my jacket.  The visibility was not good, but I could see fairly well along the ground from that altitude.  Few people were in view, but those I could see looked like farmers on their way somewhere.  Not far from the Bong Son airfield and before we had gotten to the narrow part of the valley, we suddenly broke into the open over some rice paddies.  Our altitude was still only a few hundred feet and in front of us and slightly to the left was a paddy dike lined with tall palm trees with another dike off to the far left.  I saw no people.


Almost immediately, I heard the sharp, sub-sonic cracking of small arms and automatic weapons and I realized that we were taking fire from the tree line along the paddy dike that we were flying towards at about a 30-degree angle (my side of the helicopter).  I started to deliver some suppressive fire from my M-60 into the tree line, working from the right to the left.  Major Beckwith, who was sitting next to me, began firing his M-16 over my right shoulder and the First Sergeant, who was sitting on the floor in front of me, also began firing.  I was leaning forward in my seat, holding the 60 with both hands, my right elbow resting on my right knee and my left hand under the weapon to steady it as I fired.  I only got off about 20 or 30 rounds when WHAM!  I had my right hand literally blown off the M-60's pistol grip and felt an almost equal impact on my right thigh.  The world seemed full of red dots while the pain was beyond my powers of description.  At that moment, time seemed to slip into slow motion.


I looked down at my hand and I could see smoke coming out of the hole in the top.  I glanced at Beckwith and I could immediately tell that he had a gut wound and was hurt much worse than I was.  I then looked up at the First Sergeant and the look of absolute total surprise on his face; combined with the red spots all over his face and head made me start laughing, more in pain than in mirth.  I held out my arm to him because I wanted him to stop the bleeding.  I’m sure that he had no idea why I was doing this, but eventually he clamped down on my arm and slowed the blood loss.


It then began to get confusing for me.  There was a lot of smoke and confusion in the helicopter and a very active radio net assessing the situation.  I thought that Southwell got hit in the butt with shrapnel when something came up through the floor, but I'm not exactly sure what happened after I was hit.  The helicopter was shaking furiously as we continued on, banking somewhat to the right. I could hear Isaac’s M-60 working and the pain in my hand and the fear of getting hit again or worse yet crashing, made me decide to keep at it.  I took my weapon in my left hand and starting firing again, one-handed, toward the base of the treeline, which was now very close to us.  As we banked over the tree line along the paddy dike, I could see people in uniform tracking us with their weapons.  All of us were firing furiously, aiming at anything that moved.  Beckwith was half lying on the seat and in a lot more pain than I was, and I could hear his staff telling him to hold on.  The SF Officer told him, “Hold on Boss, you’re hit pretty bad.  We’re going to have to get you back.”   He then got on the radio and he and Major Murphy decided to abort and go directly back to the SF compound.


The fight seemed to last a very long time but I’m sure that it was only seconds.  We flew back to Bong Son and landed just outside the perimeter wire of the SF camp.  They unloaded Beckwith, and Issacs came over to my side of the helicopter and held me up, putting my left arm over his shoulders.  He carried me over to the narrow path leading through the wire where we encountered a journalist who was blocking the way.  Russell starting yelling at him to get out of the way, but the guy was just standing there with his mouth open, fumbling at his camera equipment, trying to get it out and take a picture, I guess.  When we got to him, Russell shoved him over the roll of barbed wire, where he landed on his back on top of more wire and fell to the ground.  I don’t think that he ever said a word to us.


Issacs then took me into the aid station and stayed with me for a bit while a medic gave me some morphine.  Things began to get hazy for me and I remember that they were working furiously on Beckwith.  After a while I heard Major Murphy start yelling.  It sounded like he was getting really angry because they were not working on me, and the Dustoff chopper was not there yet.  I also remember someone trying to calm him down.  Eventually, a medivac chopper picked me up and took me to the Hospital in Qui Nhon.


When I woke up from my surgery, Col. McKean, the Commander of 5th SF, was sitting on the bed next to mine while members of his staff circled in the background.  I was pretty groggy but what I remember of the conversation was that the 145th had done a good job and recovered the survivors of the team that we were after.  Overall casualties among the teams inserted into the valley were heavy but that they had found a large number of VC and that McKean had requested that a B-52 strike take place before the enemy had time to flee.  When I asked him where the backup we were promised was, he told me that the 1st Cavalry was unable to carry out their end of the mission because they were bogged down in a fight elsewhere.  I also remember asking him about certain Delta members and expressing a great deal of anger over taking these kinds of casualties to find an enemy who was then allowed to get away.


Later on, I decided that I really appreciated his visit.  He made me feel like I had contributed to an important mission and that I had the respect of people that I thought of as among the bravest people that I had ever met.  It was also the only time in that war that anyone ever took the time to give me an explanation of how our efforts fit into the larger campaign picture and why it was worth it.


To this day, I still do not know what I was hit with!  In the hospital, Russell Issacs told me that it was a .30 caliber armor piercing round and that it had been given to Beckwith.  Since Beckwith was sitting right behind me, firing over my shoulder and the round went through my hand and then nicked my right leg, it had to have been the same round that hit him in the stomach.  We were both hit at exactly the same time and in his book, Charlie said that he was hit with a .51 caliber round.  The round made an M-16 size hole in the back of my hand and larger exit wound in my wrist.  If it was a .51 caliber, then it seems like I should have lost my entire hand.


Even though it has been a while since this incident, I still think about it often.  I spent a year at Madigan Army Hospital in Tacoma, Washington getting my hand repaired.  I then went back to college, graduated, went to work, got married and had kids.  Life has been good for me, but every day I remember the men I served with in the 145th Airlift Platoon.


Reconstructed from 35 year-old memories

By former PFC Duane D. Vincent

November 19, 2000

Friday, January 21, 2022

Remembering The 'Nam

DSCN0495


HÃY NHỚ VIỆT NAM.

"Ngày lễ Giáng Sinh 1969 tại trại LLĐB Bu Prang bị bao vây tại cao nguyên trung phần của Nam Việt Nam. Lợi dụng lúc Cộng quân ngưng pháo kích, một đại tá và nữ nhân viên của Hội Hồng Thập Mỹ (Doughnut dollies of the Red Cross) đến thăm binh sĩ. Những người lính của pháo đội TĐ 2/17 Pháo binh, thuộc lực lượng 1 Dã chiến Mỹ đã thấy trẻ em Thượng bị thương trong trại và chỉ huy của họ, đại úy Coleman chết. Đại úy đã thăm họ một ngày trước đó và mang tiền lương của họ (dù ko phải việc của ông) đã bị trúng đạn và trung sĩ của họ đã bị mất chân vì pháo. Trước khi trực thăng tới, đại úy Coleman đã chết trong tay của hiệu thính viên pháo đội. Hơn 1.400 viên đã rớt bên trong hàng rào phòng thủ của trại.Trong thời gian bị bao vây, các pháo thủ vẫn ra khỏi các hầm trú ẩn hay bunker để bắn đại bác vào các đồi chung quanh. Họ ko bao giờ bị tràn ngập.

Ảnh giữa: Pháo đội C và các nữ nhân viên Hồng Thập Tự.

Ảnh cuối: Các pháo thủ ở trại Bu Prang, đã uống rượu sau khi ăn gà tây Giáng Sinh. Họ đã hãnh diện,"Chúng tôi bắn như điên,"nhưng ko vui về việc được truyền thông khen ngợi hay không. Vì lúc đó, báo chí Mỹ quan tâm về Thảm sát Mỹ Lai, hơn là cả trăm câu chuyện về dũng cảm và danh dự của lính Mỹ. (Tôi đã đăng chuyện này cho tờ Saigon Post*, vì các chủ báo ko quan tâm). Pháo đội C cũng nói với tôi rằng các người lính LLĐB Mỹ, dù ở trong hầm suốt thời gian Bắc quân pháo kích, nhưng đều được giấy khen cho từng người, trong khi họ phải ra ngoài để điều khiển đại bác, lại chỉ được giấy khen tập thể. Và tôi đã biết chắc chắn rằng, người CS đang thắng Cuộc Chiến Truyền Thông và người Mỹ đang thua. Nhưng phải chờ sáu năm sau đó, khi Sài Gòn Sụp Đổ, trong lúc làm tin cho hãng CBS News sau khi các nhân viên của hãng đã bỏ chạy do sợ tắm máu như đồn đải, tôi đã cái nhìn sâu sắc ko thể quên của luật chơi này. Và Walter Cronkite, "phát thanh viên truyền hình được tin tưởng nhứt nước mỹ,"đã ko bao giờ làm chuyện đó. 

* Đây là tờ báo Anh ngữ phát hành tại SG vào lúc đó. 

Ảnh và bài của phóng viên chiến trường Dan Cameron Rodill.

https://gringoman.typepad.com/usa/2009/05/remembering-the-nam.html 

==========================

(fotos copyright dan cameron rodill)

Christmas Day, 1969 at beseiged Special Forces Camp Bu Prang in the central highlands of South Vietnam(the 'Nam, as the 'grunts' of US Infantry called it,) With a lull in a month of intense Communist shelling, a Colonel and two Doughnut Dollies from the Red Cross arrived by helicopter to greet the soldiers. These  'Redlegs' of  Charley Battery, 2/17th Artillery, First Field Forces  had seen Montagnard children wounded in camp and their own XO (Executive Officer). Captain Coleman killed.  The Captain had visited them  one day with their pay (although he didn't have to)  was hit and his Sergent's leg blown off. Before he could be medevaced,  Captain Coleman died in the arms of Charley Battery's radio man. Over 1400 shells had landed inside  Camp Bu Prang's barbed wire perimeter. During that period the young Redlegs never failed to come out of their bunkers, man the big guns and pour fire back into those surrounding hills. They were never overrun.

MIDDLE FOTO   Charley Battery and the Donut Dollies

BOTTOM FOTO. Gunners at Camp Bu Prang, enjoying some liquid refreshment after their Christmas turkey dinner etc. They were proud, "We shell like hell," but not happy about the recognition they would or would not get. It was not just that the US media at this time was far more interested in a story of American disgrace, the My Lai Massacre, than in a hundred stories of American valor and honor (I covered this story for the Saigon Post, as US editors were not interested.) Charley Battery also claimed to me that the Army would pin individual citations on the Special Forces who remained inside their bunkers during the heavy North Vietnamese bombardments, while giving the 'Redlegs' who came out and manned the guns only a group citation. What I knew for sure, despite leaning to liberal politics at the time, was that the Communists were winning the Media War and Americans were losing it. But it wasn't until almost six years later, during the Fall of Saigon, covering for CBS News after its entire staff fled in the panic of a rumored bloodbath, that I got unforgettable insight into the rules of the game. And Walter Cronkite, "America's most trusted broadcaster," was never going to broadcast it.



DSCN0454

DSCN0456

Sunday, January 16, 2022

 1/ Nguyễn Mai Anh Tùng sanh 22 tháng 12 năm 1995 là con trai lớn của con đó Chú..

NGUYỄN = 7

MAI = 411 = 6

ANH = 155 = 11 = giữ nguyên

TÙNG = 4653 = 18 = 9

Cộng lại: 7 6 11 9 = 33 = rất may mắn. Sau đây là ý nghĩa.

"Số này không có ý nghĩa riêng của nó, nhưng ngoài việc mang đến sự tác động/ảnh huởng của số 24 (một số rất may mắn.-- người dịch) – còn có ma lực (magic) của tình yêu, mức độ/kích cở (extent) của sự độc đáo và sáng tạo, và những hứa hẹn của thành công sau cùng (eventual) về tài chính thì sâu rộng hơn (deepened and increased) số 24. Do có số 3 kép, nguời có tên bằng 33 thì may mắn hơn trong mọi mặt (every way) khi dính dáng tới việc hùn hạp hay làm ăn hài hòa ở dạng nào đó với nguời khác phái, điều này áp dụng trong nghề nghiệp cũng như những quan hệ lãng mạn và hôn nhân. Đây là số huởng NGHIỆP QUẢ TỐT TỪ KIẾP TRƯỚC. Nguời mang số 33 đuợc khuyên không nên lạm dụng sự may mắn gây kinh ngạc (astounding luck) này sẽ đến với họ vào một lúc nào đó (sometime) trong cuộc đời khi họ để sự may mắn này làm cho họ luời biếng, tin tuởng quá mức, và cảm giác tự tôn (superiority). Khi tinh thần hài huớc và khiêm tốn (humility) thật sự đi cùng với tác động của số 33, thì số này sẽ là số may mắn một cách kỳ lạ (wonderfully)"./.

Dịch từ trang 206 của sách Linda Goodman's Star Signs.

2/ NGUYỄN MAI ANH TÚ sanh ngày 15/12/2004.

NGUYỄN = 7

MAI = 6

ANH = 11 = giữ nguyên

TÚ = 46 = 10 = 1

Cộng lại: 7 6 11 1 = 25. Sau đây là ý nghĩa của số này.


Enter

Mai