Saturday, July 25, 2020

Số 29
Hưởng hồng ân Chúa dưới áp lực (Grace under Pressure)
Số 29 có lẽ là số XẤU NHỨT trong các số. Số này thử thách con nguời hay thực thể - mà nó đại diện - về sức mạnh tâm linh, thông qua những thử thách và nỗi đau khổ, nhắc nhớ (chúng ta) câu chuyện về ông Job trong Kinh Cựu Uớc (trials and tribulations echoing the Old Testament story of Job). Cuộc đời của họ thì đầy rẫy những bất trắc, sự phản bội và lừa gạt (the life is filled with uncertainties , treachery and deception) từ những nguời khác, bạn bè không đáng tin cậy, những nguy hiểm không ngờ (unexpected dangers) - và nhiều nỗi đau buồn và lo âu (and considerable grief and anxiety) tạo ra bởi nguời khác phái. Đó là số của cảnh báo nghiêm trọng (grave warning) trong mọi lãnh vực của đời sống cá nhân và nghề nghiệp. Nếu tên bằng 29, điều tất nhiên là phải đổi tên để lấy/bỏ đi tác động xấu nầy, trừ khi nguời đó là kẻ khổ dâm (it’s obvious that the spelling of the name should be changed to lift this difficult vibration , unless one is a masochist).
Nếu 29 là ngày sanh, và do đó không thể tránh đuợc, phải ý thức rằng mình phải cố gắng để giảm bớt và cuối cùng sẽ hủy bỏ, làm vô hiệu/mất tác dụng, hoặc xóa đi nghiệp quả này (conscious effort must be made to dilute and eventually to negate, neutralize, or erase this karmic burden). Nghiệp quả này, trong một chừng mực nào đó (to a great extent), có thể giảm nhẹ bằng cách chọn một cái tên mới có độ tích cực cao (be eased by choosing a new name with a strongly positive compound key number). Xa hơn nữa , nguời nào sinh vào ngày 29 nên làm mọi điều đã chỉ dẫn ở Chuơng 4 liên quan đến Nhân quả và luân hồi.
Trong truờng hợp đặc thù của số 29, cùng đến với nó là tác động thứ cấp của số 11; (số 11) cũng nên đuợc đọc/xem xét để tìm cách giảm nhẹ nghiệp quả này - hãy nhớ rằng sự phát triển của niềm tin tuyệt đối vào đức hạnh và sức mạnh của Bản ngã (development of absolute faith in goodness and the power of the Self) . . . liên tục và mạnh mẽ trau dồi/nuôi duỡng sự lạc quan (the constant and energetic cultivation of optimism) . . . sẽ tác động như là một liều thuốc kỳ diệu đối với những vấn đề của số 29.
Cuối cùng, những gánh nặng/món nợ của ông Job sẽ đuợc dở đi/lấy đi, một khi ông ta đã học cách chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những khó khăn/khốn khổ của ông, mà không đổ lỗi cho kẻ khác hoặc tìm cách trả thù cho những đau khổ mà ông đã hứng chịu (after all , Job’s burdens were finally lifted , when he had learned to accept full responsibility for his troubles, and not to blame others or seek revenge for the hurts he suffered). Cuối cùng, chẳng những vận số xui xẻo dài lâu của ông đã chấm dứt, ông còn nhận lại đuợc mọi thứ mà ông đã mất (not only did his long bad-luck streak end at last , he was given back everything he’d lost , several times over). Do đó, nếu bạn sanh vào ngày 29 , hãy thay đổi tác động của tên bạn bằng một số đầy quyền lực, như số 19; hãy theo guơng ông Job, và chẳng bao lâu bạn sẽ hạnh phúc như - hoặc hạnh phúc hơn - bất cứ ai khác ( change the vibration of your name to a powerful number, such as 19, follow Job’s example, and soon you’ll be as happy as - or happier than - anyone else). Thật là thú vị, tên “Job” lại bằng số 10 đầy quyền lực - một tác động khó mà đánh bại ( interestingly, the name “Job” equals the powerful compound number 10 - a difficult vibration to defeat). /.
Dịch từ trang 262-263 trong quyển Linda Goodman’s Star Signs.
Ý nghĩa của số 26
Sự hùn hạp làm ăn (Partnership)
Số kép nầy sẽ rung động, bằng một cách lạ kỳ, đưa tới một quyền lực độc đáo của thân ái/tử tế (kind power), (quyền này) đặt căn bản trên lòng nhân đạo (compassion) và sự không ích kỷ, với khả năng giúp đỡ những nguời khác, nhưng không luôn luôn giúp đuợc bản thân mình. Số 26 thì đầy mâu thuẫn. Nó cảnh báo về những nguy hiểm, thất vọng (disappointments), và thất bại, đặc biệt liên quan đến những tham vọng, gây ra (brought about) thông qua sự cố vấn sai lầm, liên kết với những kẻ khác, và những sự hùn hạp làm ăn không khéo chọn/không thích hợp (unhappy) dù lớn hay nhỏ. Nếu 26 là số kép của tên, điều tốt nhứt là đổi tên để có một ảnh huởng may mắn hơn. Nếu 26 là ngày sanh, và vì vậy không thể thay đổi, nguời này nên tránh hùn hạp làm ăn, và nên đeo đuổi nghề nghiệp một mình, không nghe theo sự cố vấn dù cho đầy thiện ý (well-intended) từ những kẻ khác, nhưng chỉ theo những linh cảm (hunches) và trực giác cá nhân – mặc dù những điều này nên đuợc tìm hiểu cẩn thận truớc khi hành động. Nguời số 26 nên ngay lập tức bắt đầu ổn định lợi tức , tiết kiệm tiền , không nên có thói quen tiêu xài hoang phí (behave in a extravagant manner) hoặc đầu tư dựa vào ý kẻ khác. Hãy đầu tư vào chính tuơng lai của bạn, hãy rộng luợng với kẻ khác, đặc biệt là nguời đang hoạn nạn (in need), nhưng cũng xây dựng một nền tảng vững chắc cho tuơng lai của chính bạn. Nếu tên cộng lại bằng 26, và nếu bạn lại sanh vào ngày 26, bạn hãy đọc cẩn thận đoạn nói về các số 4 và 8 ở cuối chuơng này. (2 cộng 6 bằng 8, do vậy 26 = 8). Đây là lời khuyên quan trọng nhứt đối với bạn – hay cho bất cứ ai mà tên bằng 4 hay 8, hay ai sanh vào ngày 8 tây – hay bất cứ ngày nào, sau khi thu nhỏ bằng 4 hay 8, như ngày 13, 1, 22, 26, và 31.
(Dịch từ trang 203 trong quyển Linda Goodman's Star Signs).
San Jose ngày 29 tháng 3 năm 2010.

Friday, July 24, 2020

Tính tình của người số 7
Định nghĩa sau đây áp dụng cho nguời và thực thể. Nguời số 7 có khuynh huớng có những giấc mơ đáng chú ý (remarkable). Đôi khi họ nói về những giấc mơ này – đôi khi họ lại giữ kín. Nhưng họ thuờng nằm mơ nhiều hơn những nguời khác. Một cách kín đáo (secretly), họ có thích thú mãnh liệt về những bí mật thuộc về bí truyền (esoteric), thần thoại, phi thuyền không gian hay vật lạ bay trong không gian (U.F.O.)... và toàn bộ cánh rừng của sự chưa biết (the unknown). Họ thuờng có khả năng trực giác và tiên tri (possesses the gifts of intuition and clairvoyance) và có một phần nào đó sự hấp dẫn làm cho nguời khác cảm thấy dễ chịu/giảm đi sự nóng giận (and a certain quieting, calming magnetism which has a great influence over others). Thuờng thuờng, sự xuất hiện đơn thuần của họ cũng có tác dụng làm cho nguời đang bị rối loạn cảm thấy dễ chịu (their mere presence has a soothing effect on a troubled person). Số 7 thuờng có liên quan về những tư tuởng khác thuờng về tôn giáo, sự không thích đi theo những con đuờng mà nguời khác đã đi, và một khuynh huớng chấp nhận những tư tuởng chính trị độc đáo và phần nào đó không chính thống ( peculiar ideas about religion, a dislike of following the beaten path, and a tendency to adopt political beliefs which are unique and somewhat non-orthodox). Là chuyện bình thuờng nếu một nguời số 7 khám phá, đã tìm thấy, và tin tuởng vào một quan niệm mới về tôn giáo (to discover, found, and believe in a new religious concept).
Nguời số 7 hoặc là sẽ du lịch rất nhiều vào một thời gian nào đó trong cuộc đời hay là đọc rất nhiều sách về những dân tộc và đất nuớc xa lạ ( will either travel extensively at some time in the life or else read avidly books about foreign people or faraway lands). Nhiều nguời ảnh huởng bởi số 7 bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi biển cả và một lúc nào đó lại thích đi thuyền buồm, các môn thể thao trên mặt nuớc, hoặc Hải quân ( sailing, water sports, or the Navy). Họ có khuynh huớng lo âu về tuơng lai, do vậy họ cần biết phải có một cơ nghiệp vững chắc về tài chính, đề phòng những đợt sóng của định mệnh quét tan ( need to know they have a rock of financial security somewhere in the background, lest the waters of fate sweep them away ) .
Tuy vậy, họ quan tâm rất ít về sở hữu vật chất hoặc tích lủy nhiều của cải (they care little about material possessions or accumulating great wealth). Nguời số 7 có thể kiếm đuợc nhiều tiền thông qua những ý nghĩ độc đáo, nhưng họ thích đóng góp đáng kể cho các cơ sở từ thiện. Khi họ cuốn hút (gravitated) bởi nghệ thuật, họ sẽ trở thành những vũ công, ca sĩ, thi sĩ, nam, hoặc nữ diển viên xuất sắc (fine).
Với phong thái trầm lặng, nhàn nhã của họ, dù cho họ có tham vọng, họ cũng không bàn luận với nguời khác, và những tham vọng này đều luôn luôn nhuộm quan điểm triết học (in their own, laid-back way, people influenced by the number 7 have ambitions they don't discuss with others, and these are always tinged with a philosophical outlook). Họ ban ân cho kẻ khác với thiện ý xuất phát từ sự thấu hiểu về tình cảm của họ truớc nỗi đau khổ của kẻ khác (they bless others with the grace of their sympathetic understanding of pain and suffering), do vậy bạn bè, thân nhân, đồng nghiệp thuờng nhờ họ giải quyết những khó khăn của mình ( which is why friends, relatives, and business associates unburden their troubles to the 7 person). Cũng có khuynh huớng rất mạnh về sự riêng tư nơi nguời số 7, và những nguời này thích giữ kín những vấn đề của riêng họ. Họ co lại truớc những câu hỏi có tính buơi móc và họ ghét cay đắng/ghê tởm thái độ “thích theo dõi và điều khiển kẻ khác “ hay bất cứ điều gì mà họ xem như soi mói vào đời tư của họ (they shrink from prying questions, and have a horror of “big brother” or anything they consider to be an invasion of their privacy).
Cách đối xử tao nhã, tính khí nghệ sĩ, và một bản tính dễ xúc cảm tạo nên bản chất của những nguời số 7, và bạn không nên để những nguời này đánh lừa bạn với bản tính đôi khi lầm lì /ít nói của họ . . . bạn sẽ ngạc nhiên nếu bạn biết tất cả những tư tuởng kỳ lạ đang xuất hiện trong tâm trí của họ (refined manners, an artistic temperament, and a sensitive nature make up the 7 essence, and don't let these persons fool you with their sometimes taciturn nature . . . you'd be surprised if you knew all the strange thoughts that swim through their minds when they're communing with themselves). Nếu bạn có thể thuyết phục họ nói về điều họ đang suy nghĩ, bạn chẳng những ngạc nhiên mà còn bị lôi cuốn khi bạn biết đuợc những bí mật của thế giới của sao Hải Vuơng của họ. Nhưng nguời số 7 phải biết rằng bạn đáng tin cậy truớc khi họ chia sẻ những nhận xét/chiêm nghiệm về tâm linh . . . và bạn chỉ có thể có đuợc niềm tin cậy này qua việc chứng tỏ rằng bạn không quá xét đoán/lý luận hay có thành kiến (but the 7 person must find you trustworthy before he or she shares these inner streams of contemplation . . . and you'll have to earn that trust by proving you're not judgmental or prejudged). Nguời số 7 ít khi có hai tính này (7 people are rarely either) ./.
(Dịch xong lúc 08:47 tối ngày 18/02/2010 từ trang 239-240 của quyển Linda Goodman's Star Signs)
Theo LTS, số này có cùng ý nghĩa với số 25.
Ý NGHĨA CỦA SỐ 25 VÀ 34: ÓC PHÁN ĐOÁN VÀ PHÂN TÍCH (DISCRIMINATION AND ANALYSIS)
Số 25 ban cho nguời mang số này: a/ sự minh triết về tâm linh (spiritual wisdom), sẽ đạt đuợc thông qua sự quan sát cẩn thận về nguời và việc, và b/ sự thành công về vật chất/trên trần thế (worldly success) bằng cách học hỏi qua kinh nghiệm. Sức mạnh của nguời số 25 đến từ: a/ việc vuợt qua những thất vọng/thất bại (disappointments) trong giai đoạn đầu của cuộc đời (early life) và b/ việc sở hữu một phẩm chất quý hiếm qua việc học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ (past mistakes). Sự phán đoán của nguời này rất xuất sắc, nhưng số này lại không phải là số tạo ra của cải (it's not a material number); vì vậy, những lợi ích của nhu cầu vững mạnh về tài chính (financial benefits of a substantial nature) phải đạt đuợc thông qua sự phân tích thêm của Lý Thuyết Số về ngày sanh và tên họ của nguời này (through other Compound numbers in the full birth and name numerological analysis).
(Dịch từ trang 203 của sách đã dẫn).

Thursday, July 23, 2020

Ý nghĩa của số 28
28 là số của những mâu thuẫn (conflict) khó giải quyết/gây bối rối (puzzling) và gây cản trở/làm thất vọng (frustrating). Nó tuợng trưng bởi một nguời hay (hay thực thể) có hứa hẹn tốt đẹp, ngay cả có THIÊN TÀI, có nhiều khả năng lớn lao (great possibilities), với khả năng đạt đuợc thành công gây ấn tuợng , và nguời 28 này thuờng thực hiện thành công như vậy, để rồi chỉ thấy mọi sự bị lấy mất/thất bại trừ phi ông ta hay bà ta đã chuẩn bị cẩn thận (has carefully provided) cho tuơng lai. Số này cho thấy sự thất thoát do đặt sai chỗ niềm tin vào kẻ khác, sự chống đối mạnh mẽ (powerful) từ những kẻ thù và kẻ cạnh tranh trong kinh doanh hoặc nghề nghiệp, sự nguy hiểm về những tổn thất trầm trọng tại tòa án – và khả năng phải bắt đầu làm lại cuộc đời nhiều lần (over and over again). Nếu tên cộng lại bằng 28, bạn nên đổi tên để có đuợc một số hài hòa và may mắn hơn. Nếu 28 là ngày sanh và do đó không thể thay đổi, những bài học (về nghiệp quả) của sự thận trọng, cảnh giác (caution), và những kế hoạch chuẩn bị kỷ luởng phải đuợc nghiên cứu và thực hành. Khi điều này đuợc thực hiện, khía cạnh tiêu cực của số 28 sẽ đuợc giảm đi một cách đáng kể (substantially). Điều quan trọng là phải nhìn truớc khi nhảy .
(Dịch từ trang 204 của quyển Linda Goodman's Star Signs . San Jose ngày 29/03/2010 lúc 7:58 tối )
.

Wednesday, July 22, 2020

DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN
KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
Tác giả: Bùi Trọng Cường & Nguyễn Phục HưngNguồn: Người Việt Hải NgoạiTái đăng ngày: 2018-04-26
Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Những người chạy trốn chế độ Cộng Sản có thể chia làm hai đợt chính: Đợt đầu được mệnh danh là người Di Tản vì họ rời Việt Nam ngay trong khoảng tháng Tư 1975 và đợt thứ hai thường được mệnh danh là ngưòi Vượt Biên, dù bằng đường bộ hay đường biển.
Di Tản Ngày 30 tháng 4, 1975 là ngày chính thức ghi nhân sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà trước làn sóng xâm lăng của cộng quân. Cuối tháng 4,1975 đã có những đợt rời Việt Nam của các nhân viên và gia đình các sứ quán, công ty ngoại quốc cũng như nhừng người Việt có phương tiện riêng hoặc được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh bảo trợ. Ngày 29 tháng tư 1975, Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford chính thức ra lịnh khỏi động chiến dịch “Frequent Wind” để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Mỹ và một số người Việt đã từng cộng tác hay liên hê với chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rời khỏi Việt Nam để tránh bị Cộng Sản trả thù.
Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt Nam cũng đã quyêt đinh di tản. Họ là những người mà đã ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 1954, họ là những người đã có ít nhiều hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đã may mắn vượt thoát được sau cuộc triệt thoái của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa khỏi miền Cao nguyên và miền Trung, họ là những người chối bỏ chế độ cộng sản. Ðó là lý do mà làn sóng người di tản trong tháng Tư 1975 đã làm nhiều người ngạc nhiên với con số khoảng 300 ngàn người và các cơ quan cứu trợ quốc tế đã phải mất nhiều thời gian để giúp họ định cư ở các nước tự do nhất là Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan và các trai tạm cư ở Subic Bay (Philippines), Guam, Wake Island, California, Arkansas, Florida, Pensylvania ãa phải mở mãi cho đến cuối năm 1975.
Chiến dịch ‘Frequent Wind” trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3:30 chiều ngày 29 tháng tư và chấm dứt vào đúng 21 giờ ngày 30 tháng tư, 1975 khi người lính Mỹ cuối cùng được trục thăng bốc khỏi Sàigòn và trụ sở của cơ quan DAO (Defence Attachés Offfice) của Hoa Kỳ được Thủy quân lục Chiến Hoa kỳ cho phá nổ. Tuy nhiên với làn sóng người di tản rầm rộ đổ ra biển Thái Bình Dương bằng các tàu hải quân, thương thuyền và cả các tàu đánh cá nhỏ, việc cứư vớt người vẫn được tiếp tục trong nhiều tuần sau đó. Hạm đội số 7 của Hải quân Hoa Kỳ với các hàng không mẫu hạm Hancok , Midway và nhiều tàu chiến hạm cũng như nhiều thương thuyền Hoa kỳ và quôc tế đã tham dự vào chiến dịch cứu vớt người trên biển rồi chuyển qua các trai ty nạn ở Subic, Guam trước khi phân tán họ đi tị nạn tai Hoa kỳ và các nước tự do khác như Canada, Uc, Pháp, Anh, vân vân. Trên thực tế, giai đoan di tản và vượt biên không có sư gián đoạn. Có chăng chỉ là sự phân chia thời điểm chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến dịch vớt người trên biển mà thôi, còn sự ra đi của người Việt vần tiếp tục không ngừng.
Những hình ảnh sau đây ghi nhận cảnh hãi hùng của một cuộc di tản chưa từng có trong lich sử Việt Nam và thế giới.


Đoàn người Di tản từ miền Trung


Helicopter Evacuation From the American Embassy


Dân Di Tản Chạy ra Tr ực Thăng tại Trụ sở DAO, Saigon


Dân Di Tản đến Midway bằng trực thăng Hoa Kỳ


Một máy bay VNCH chở người di tản đáp xuống Midway


Một Thuyền Đánh Cá chở người Di Tản được Midway tiếp cứu
Cuộc Di Tản tháng tư năm 1975 đã có nhiều cảnh đẫm máu và nước mắt nhưng tình nhân loai cũng đã được biểu lộ rõ rệt từ những quân nhân và các cơ quan từ thiện. Sau khi đã đến đựợc Mỹ hay các nước mở vòng tay đón nhân, dân Di Tản còn phải trải qua nhiều khó khăn như sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, vân vân để tạo lại cuộc sống.
Vượt Biên
Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết gì về đại dương cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như không biết gì về những khó khăn khác đang chờ đợi họ. Ðó là lý do mà có lúc người ta đã nói “ nếu có ba người vượt biên thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù”.
The State of the World’s Refugees 2000:
50 Years of Humanitarian Action
Những Người Vượt Biên là ai và tai sao họ phải liều mình đi tìm Tự Do?
Họ chính là những người chậm chân trong giai đoạn Di Tản. Có thể lúc đó họ còn chút hy vọng là những người Cộng sản cũng còn chút lương tâm và sáng suốt không nỡ đối xử với những người dân miền Nam như kẻ thù không đội trời chung và họ sẵn sàng cộng tác với những người Cộng sản để cùng xây dựng một Đât nước Thông Nhất trong Hòa Bình. Họ đã lầm sau bao nhiêu ngày lầm than tôi mọi cho những người Cộng Sản vô lương. Họ đã mất hết tài sản, tự do và cả phẩm giá con người dưới chánh sách trả thù tàn bạo của Cọng sản. Họ có thể chịu nghèo khổ để hy vọng vào một tương lai xán lạn. Nhưng tương lai chỉ có tù đầy, thù hận và dối trá. Thế hệ của họ coi như bỏ vì họ đã lỡ tin Cộng Sản. Nhưng còn thế hệ con cái họ? Họ không thể chịu cực khổ nhìn con cái họ trở thành những con vật trong xã hội Cộng sản Xã hội Việt Nam đã lùi lại hơn 30 năm sau cái ngày gọi là ‘giải phóng’. Tương lai họ còn gì đâu ngoài một lối đi duy nhất: Vượt Biên. Nếu may ra thoát được qua bờ Tự Do thì con cái họ còn có hy vọng sống được một cuộc đời đáng sống. Còn không, đời sống ở Việtnam có khác gì đã chết. Bới vậy Họ đã quyết chí liều mình Vượt Biên qua Cam-pu-chia, đến Thái Lan hay Vượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân nơi nào cũng được, miễn là ra khỏi điạ ngục Việt Nam bất chấp sự bắt bớ lùng xét của công an, hiểm nguy của hải tặc, bão tố hãi hùng ngoài biển Đông.
Sau đây là vài trích đoạn từ các tác phẩm viết về tỵ nạn:
“Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình. Ðây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của mình. Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.
Vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày lập quốc. Ðây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới. Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000).


Những Thuyền Nhân nằm la liệt trong khoang tàu
Những đợt vượt biên ào ạt, bất chấp mạng sống đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trước công luận thế giới. Sự kiện nầy là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nhân loại về “Thiên Đường Cộng Sản” và trở thành động cơ thúc đẩy các nước Ðông Âu ly khai chủ nghĩa cộng sản, và dẫn đến sự sụp đổ của khối cộng sản năm 1990-1991?
Phỏng theoTrần Gia Phụng
‘‘Bước vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam vẫn là một trong các nước chậm tiến trên thế giới, mặc dầu có sẵn tiềm năng, nhưng vì sai lầm nghiêm trọng của đường lối Xã Hội Chủ Nghĩa. Những thảm trạng xẩy ra trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cần phải được ghi nhớ, trong đó có hai sự kiện gần nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm công dân vô tội trong tù cải tạo và việc người dân trốn ra ngoại quốc trong những điều kiện bất trắc đầy nguy hiểm. Giam giữ người vô tội trong các trại tập trung cải tạo, chế độ cộng sản đã một mặt vi phạm tội ác, một mặt phung phí năng lực quốc gia để phục vụ mục tiêu đảng phái. Đảng Cộng Sản không chịu thú nhận rằng chính tàn bạo của họ là nguyên nhân khiến người dân phải bỏ nước ra đi, mà họ còn lợi dụng cơ hội ra đi đó để cướp đoạt tài sản, thu vàng bán bãi, mặc cho tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và biết bao người dân lương thiện đã bị chết kinh hoàng trên biển cả.
Phạm Hữu Trác – Vàng Máu và Nước Mắt
Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tràn ngập các trại tị nạn ở Ðông Nam Á. Ngoài ra, hàng trăm ngàn người Việt Nam đã bị chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những con tàu không thể đi biển được, và đã biến mất trên Biển Ðông đầy bất trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đã phải quay tàu về đất liền khi chứng kiến cảnh hãi hùng như một phần thi thể của người vượt biển vướng vào lưới, vân vân.


Thuyền Nhân trên đường vượt biển
Vì sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể tìm thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đã được công khai thực hiện: “tiêu diệt các thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nhìn, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa.”
Hiện tượng thuyền nhân đã phản ảnh được cái đau khổ của người phải rời bỏ quê hương. Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay về khi mọi chuyện đã trở lại bình thường hay theo ý họ mong muốn. Họ ra đi, không hề biết trước mình sẽ đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và cam chịu mọi hiểm nguy. Họ phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc với quê hương và dân tộc.
Thuyền nhân là những người không chịu đựng được chính sách hà khắc của chính quyền cộng sản Họ là những người mà trước năm 1975, không bao giờ muốn rời bỏ quê hương. Trớ trêu thay, lịch sử đã đảo lộn, đã thay đổi cuộc đời ho vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những gì yêu quý, liều mạng sống của mình cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai bất định, để rời khỏi Việt Nam.
Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience
Những ‘thuyền nhân’, danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng tìm cách để thoát được công an và lính biên phòng, họ đã chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông và Úc Ðại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai biết được là bao nhiêu.


Thuyền chở 162 người vượt biển bị đắm lúc sắp đáp được vào
Tuy vậy, cuối cùng thì câu chuyện về những người tị nạn Ðông Dương là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm lòng cứu vớt thuyền nhân.
Barry Wain - The refused: The Agony of The Indochina Refugees
“Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm. Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, vì đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết.”
Refugee: Thailand, 1978
“Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đã đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đã chết đuối.”
Delegates of ‘Society of Friends’: Malaysia, 1979
“Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối trước đó.”
Report: Mekong River Crossing, 1978
Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. “Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì”, cô vừa kể vừa khóc nức nở. “Tôi van xin chúng đừng làm gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó.”
Refugee: Malaysia, 1979
Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba.
Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì về máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla.
Toàn thể thính giả đều nín lặng. Ðó là một câu chuyện thương tâm hơn những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có. Có rất nhiều tàu tị nạn đã bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần.”
UNHCR: 1979
Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đã bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được bờ.
Delegates of ‘Society of Friends’: Pulau Bidong, 1979
Georgina Ashworth The boat people and the road people
Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn còn được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng vì làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đã bị giảm xuống hoặc tệ hơn đã bị thay bằng thái độ xua đuổi như đã từng xẩy ra ở Thái Lan, Mã Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mã kéo trở ra hải phận quốc tế có một số đã bị chìm và làm chết oan một số người. Do đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió bão, không hư máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư. Ðó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm…nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có quốc gia nào đã có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đã là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi, những hòn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa đại dương. Ðặt được chân trên đất là phải đi tìm cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm….Còn nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. Ðến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra khá nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây.
Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó.
“0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ý nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển. Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi tìm chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6 dựng nên những trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh thời đại.”
Lê Ðại Lãng - NƯỚC MẮT TRONG TIM
“Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng mình và tự thiêu. Sau đó anh đã chết vì phỏng nặng.” Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân Việt Nam, tự thiêu ở trại tị nạn Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày thì anh qua đời.


Vietnamese refugees were allowed to come on shore at the Government Dockyard at Canton Road. A number of water taps were installed for them to take a cold shower.
Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Không vận của Nam Việt Nam, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại.
Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.
Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi Việt Nam. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống cộng và đã chết trong ‘trại cải tạo’ của cộng sản. Gia đình cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bức. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì ‘lý lịch gia đình xấu’. Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng 12/1992, khi đơn kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.
Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991.
Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt ‘thanh lọc’. Vì Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác.
Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.
Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em.


Vietnamese refugees arriving at Hong Kong by junks.


Crowd of refugees
“Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu”
(Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)
“Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy tôi vào chỗ chết.”
(Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.)
“Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.”
(Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mã Lai.)


Living in the Refugee Camp
VIETNAMESE BOAT PEOPLE – A CRY TO HUMANITY


Inside the Refugee Camp


Boat people were waiting for medical checks before transferring to refugee camps
Lời Kết
Cuộc Di Tản và Vượt Biên sau ngày 30 tháng tư năm 1975 là một bản án muôn đời đối với chính sách vô nhân đạo của Cộng Sản Việt Nam. Những cảnh tượng đau thương, kinh hoàng mà người Di Tản và Vượt Biên phải gánh chịu thật không bút nào ta hết. Tuy nhiên trong biến cố đầy bất hạnh đó, cũng không thiếu những tấm lòng bao dung, thể hiện rõ tình người, của binh sĩ và dân chúng Hoa Kỳ cũng như các quốc gia trong thế giới tự do, nhất là các nước vùng Đông Nam Á đã bao dung chúng ta tại các trai tị nạn.
Chúng ta mang ơn dân chúng và chính phủ các quốc gia đã cưu mang người Việt tỵ nạn, giúp chỗ tạm cư, cho phép định cư hoặc đã cứu vớt tầu tỵ nạn khi lạc lối, hết lương thực hay máy tầu bị hỏng. Chắc chắn là sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại, sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giới Tự Do vào thời điểm đen tối đó.
Ngày hôm nay, sau hơn 30 năm tỵ nạn, viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau của dân tộc để chúng ta ôn lại và ghi nhớ một sự kiện lịch sử không phải là của riêng Việt Nam, mà là của thế giới, trong đó chính chúng ta vừa là tác nhân, vừa là nhân chứng.


Các em tới Trại Tỵ Nạn . . . và thành công trên quê hương thứ hai
Hơn 30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để góp phần xây dựng lại quê hương lạc hậu, giúp cho dân tộc ta sớm được sống trong không khí Tự Do, Dân Chủ đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng.
Ðiều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi riêng tư và thoát được sự chi phối của các thế lực chính trị quốc tế.
* * *
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tran Gia Phung – Speech Delivered at Montreal, Canada on April 30, 2002
- Nguyễn Văn Canh - Cộng Sản Trên Ðất Việt - Kiến Quốc 2003
- Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People – Quartemaine House 1979
- Phạm Hữu Trác – Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ – 2000
- Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest December 1979
- Grant Bruce – The Boat People: An ‘AGE’ Investigation – Penguin Books 1979
- Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford University Press 1982,
- Wain Barry – The Refused: The Agony Of The Indochina Refugees – Simon & Schuster 1981
- Lê Ðại Lãng – Bút Ký Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990, p. I
- Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY – 1994
* * *

Tuesday, July 21, 2020

LỚP HỌC ESL CủA TÔI TẠI SAN JOSE , CALI KHOẢNG NĂM 1998 .
14 năm đã trải qua với biết bao vật đổi sao dời và có người trong ảnh có thể đã qua đời !
Khi mới qua Mỹ , tôi ko đi học gì hết . Khoảng năm 1995-96 , tôi thi đậu vào ĐH cộng đồng West Valley ở San Jose với hạng cao nhưng ko học ; các người cùng thi với tôi đều tốt nghiệp trung học/high school tại Mỹ nhưng điểm thi thấp hơn tôi .
Mãi tới năm 1997-98 , nghe lời khuyên của chú Cầu , tôi đã học một lớp ESL căn bản với HS phần đông là lớn tuổi , từ VN mới qua và học để thi quốc tịch Mỹ . Tôi học lớp này để đầu óc thanh thản chớ ko hợp với trình độ của tôi ; tôi (khi ấy ở độ tuổi 51) đã có nhiều kỷ niệm đẹp khi học lớp này .
Người ngồi , mặc áo khoác màu vàng là cô Thi , cô giáo của lớp ESL . Đứng sau là thầy Morris . Còn lại đều là học viên của lớp ESL này . Chụp nhân tiệc mừng Tết Con Cọp 1998 . Hình con cọp và cây mai được tôi cắt dán và vẽ thêm vào .
Ngồi đầu bàn , mặc áo xanh và đội nón xanh là tôi . Đối diện là ông Om , khá lớn tuổi nhưng rất minh mẫn . Bên phải ông Om là cô Thi , dạy lớp ESL này . Hàng đứng phía sau , tôi chỉ nhớ được tên của anh Điểu (thứ 1 từ trái đếm sang) và anh Trợ (thứ 5) ; còn lại ko nhớ được tên ai . Chụp nhân dịp picnic tại công viên Lake Cunningham tại San Jose .