Friday, July 24, 2020

Tính tình của người số 7
Định nghĩa sau đây áp dụng cho nguời và thực thể. Nguời số 7 có khuynh huớng có những giấc mơ đáng chú ý (remarkable). Đôi khi họ nói về những giấc mơ này – đôi khi họ lại giữ kín. Nhưng họ thuờng nằm mơ nhiều hơn những nguời khác. Một cách kín đáo (secretly), họ có thích thú mãnh liệt về những bí mật thuộc về bí truyền (esoteric), thần thoại, phi thuyền không gian hay vật lạ bay trong không gian (U.F.O.)... và toàn bộ cánh rừng của sự chưa biết (the unknown). Họ thuờng có khả năng trực giác và tiên tri (possesses the gifts of intuition and clairvoyance) và có một phần nào đó sự hấp dẫn làm cho nguời khác cảm thấy dễ chịu/giảm đi sự nóng giận (and a certain quieting, calming magnetism which has a great influence over others). Thuờng thuờng, sự xuất hiện đơn thuần của họ cũng có tác dụng làm cho nguời đang bị rối loạn cảm thấy dễ chịu (their mere presence has a soothing effect on a troubled person). Số 7 thuờng có liên quan về những tư tuởng khác thuờng về tôn giáo, sự không thích đi theo những con đuờng mà nguời khác đã đi, và một khuynh huớng chấp nhận những tư tuởng chính trị độc đáo và phần nào đó không chính thống ( peculiar ideas about religion, a dislike of following the beaten path, and a tendency to adopt political beliefs which are unique and somewhat non-orthodox). Là chuyện bình thuờng nếu một nguời số 7 khám phá, đã tìm thấy, và tin tuởng vào một quan niệm mới về tôn giáo (to discover, found, and believe in a new religious concept).
Nguời số 7 hoặc là sẽ du lịch rất nhiều vào một thời gian nào đó trong cuộc đời hay là đọc rất nhiều sách về những dân tộc và đất nuớc xa lạ ( will either travel extensively at some time in the life or else read avidly books about foreign people or faraway lands). Nhiều nguời ảnh huởng bởi số 7 bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi biển cả và một lúc nào đó lại thích đi thuyền buồm, các môn thể thao trên mặt nuớc, hoặc Hải quân ( sailing, water sports, or the Navy). Họ có khuynh huớng lo âu về tuơng lai, do vậy họ cần biết phải có một cơ nghiệp vững chắc về tài chính, đề phòng những đợt sóng của định mệnh quét tan ( need to know they have a rock of financial security somewhere in the background, lest the waters of fate sweep them away ) .
Tuy vậy, họ quan tâm rất ít về sở hữu vật chất hoặc tích lủy nhiều của cải (they care little about material possessions or accumulating great wealth). Nguời số 7 có thể kiếm đuợc nhiều tiền thông qua những ý nghĩ độc đáo, nhưng họ thích đóng góp đáng kể cho các cơ sở từ thiện. Khi họ cuốn hút (gravitated) bởi nghệ thuật, họ sẽ trở thành những vũ công, ca sĩ, thi sĩ, nam, hoặc nữ diển viên xuất sắc (fine).
Với phong thái trầm lặng, nhàn nhã của họ, dù cho họ có tham vọng, họ cũng không bàn luận với nguời khác, và những tham vọng này đều luôn luôn nhuộm quan điểm triết học (in their own, laid-back way, people influenced by the number 7 have ambitions they don't discuss with others, and these are always tinged with a philosophical outlook). Họ ban ân cho kẻ khác với thiện ý xuất phát từ sự thấu hiểu về tình cảm của họ truớc nỗi đau khổ của kẻ khác (they bless others with the grace of their sympathetic understanding of pain and suffering), do vậy bạn bè, thân nhân, đồng nghiệp thuờng nhờ họ giải quyết những khó khăn của mình ( which is why friends, relatives, and business associates unburden their troubles to the 7 person). Cũng có khuynh huớng rất mạnh về sự riêng tư nơi nguời số 7, và những nguời này thích giữ kín những vấn đề của riêng họ. Họ co lại truớc những câu hỏi có tính buơi móc và họ ghét cay đắng/ghê tởm thái độ “thích theo dõi và điều khiển kẻ khác “ hay bất cứ điều gì mà họ xem như soi mói vào đời tư của họ (they shrink from prying questions, and have a horror of “big brother” or anything they consider to be an invasion of their privacy).
Cách đối xử tao nhã, tính khí nghệ sĩ, và một bản tính dễ xúc cảm tạo nên bản chất của những nguời số 7, và bạn không nên để những nguời này đánh lừa bạn với bản tính đôi khi lầm lì /ít nói của họ . . . bạn sẽ ngạc nhiên nếu bạn biết tất cả những tư tuởng kỳ lạ đang xuất hiện trong tâm trí của họ (refined manners, an artistic temperament, and a sensitive nature make up the 7 essence, and don't let these persons fool you with their sometimes taciturn nature . . . you'd be surprised if you knew all the strange thoughts that swim through their minds when they're communing with themselves). Nếu bạn có thể thuyết phục họ nói về điều họ đang suy nghĩ, bạn chẳng những ngạc nhiên mà còn bị lôi cuốn khi bạn biết đuợc những bí mật của thế giới của sao Hải Vuơng của họ. Nhưng nguời số 7 phải biết rằng bạn đáng tin cậy truớc khi họ chia sẻ những nhận xét/chiêm nghiệm về tâm linh . . . và bạn chỉ có thể có đuợc niềm tin cậy này qua việc chứng tỏ rằng bạn không quá xét đoán/lý luận hay có thành kiến (but the 7 person must find you trustworthy before he or she shares these inner streams of contemplation . . . and you'll have to earn that trust by proving you're not judgmental or prejudged). Nguời số 7 ít khi có hai tính này (7 people are rarely either) ./.
(Dịch xong lúc 08:47 tối ngày 18/02/2010 từ trang 239-240 của quyển Linda Goodman's Star Signs)
Theo LTS, số này có cùng ý nghĩa với số 25.
Ý NGHĨA CỦA SỐ 25 VÀ 34: ÓC PHÁN ĐOÁN VÀ PHÂN TÍCH (DISCRIMINATION AND ANALYSIS)
Số 25 ban cho nguời mang số này: a/ sự minh triết về tâm linh (spiritual wisdom), sẽ đạt đuợc thông qua sự quan sát cẩn thận về nguời và việc, và b/ sự thành công về vật chất/trên trần thế (worldly success) bằng cách học hỏi qua kinh nghiệm. Sức mạnh của nguời số 25 đến từ: a/ việc vuợt qua những thất vọng/thất bại (disappointments) trong giai đoạn đầu của cuộc đời (early life) và b/ việc sở hữu một phẩm chất quý hiếm qua việc học hỏi từ những sai lầm trong quá khứ (past mistakes). Sự phán đoán của nguời này rất xuất sắc, nhưng số này lại không phải là số tạo ra của cải (it's not a material number); vì vậy, những lợi ích của nhu cầu vững mạnh về tài chính (financial benefits of a substantial nature) phải đạt đuợc thông qua sự phân tích thêm của Lý Thuyết Số về ngày sanh và tên họ của nguời này (through other Compound numbers in the full birth and name numerological analysis).
(Dịch từ trang 203 của sách đã dẫn).

Thursday, July 23, 2020

Ý nghĩa của số 28
28 là số của những mâu thuẫn (conflict) khó giải quyết/gây bối rối (puzzling) và gây cản trở/làm thất vọng (frustrating). Nó tuợng trưng bởi một nguời hay (hay thực thể) có hứa hẹn tốt đẹp, ngay cả có THIÊN TÀI, có nhiều khả năng lớn lao (great possibilities), với khả năng đạt đuợc thành công gây ấn tuợng , và nguời 28 này thuờng thực hiện thành công như vậy, để rồi chỉ thấy mọi sự bị lấy mất/thất bại trừ phi ông ta hay bà ta đã chuẩn bị cẩn thận (has carefully provided) cho tuơng lai. Số này cho thấy sự thất thoát do đặt sai chỗ niềm tin vào kẻ khác, sự chống đối mạnh mẽ (powerful) từ những kẻ thù và kẻ cạnh tranh trong kinh doanh hoặc nghề nghiệp, sự nguy hiểm về những tổn thất trầm trọng tại tòa án – và khả năng phải bắt đầu làm lại cuộc đời nhiều lần (over and over again). Nếu tên cộng lại bằng 28, bạn nên đổi tên để có đuợc một số hài hòa và may mắn hơn. Nếu 28 là ngày sanh và do đó không thể thay đổi, những bài học (về nghiệp quả) của sự thận trọng, cảnh giác (caution), và những kế hoạch chuẩn bị kỷ luởng phải đuợc nghiên cứu và thực hành. Khi điều này đuợc thực hiện, khía cạnh tiêu cực của số 28 sẽ đuợc giảm đi một cách đáng kể (substantially). Điều quan trọng là phải nhìn truớc khi nhảy .
(Dịch từ trang 204 của quyển Linda Goodman's Star Signs . San Jose ngày 29/03/2010 lúc 7:58 tối )
.

Wednesday, July 22, 2020

DI TẢN VÀ VƯỢT BIÊN
KÝ ỨC VỀ NGƯỜI VIỆT TỴ NẠN CỘNG SẢN
Tác giảBùi Trọng Cường & Nguyễn Phục HưngNguồnNgười Việt Hải NgoạiTái đăng ngày: 2018-04-26
Sau ngày 30-4-1975, một ký giả Tây phương đã viết là ‘Dưới chính sách khắc nghiệt của Cộng sản, nếu cái cột đèn mà biết đi chắc nó cũng…vượt biên’. (Ginetta Sagan). Câu nói dí dỏm của Sagan đã diễn tả được một thực trạng rất bi hài của dân dộc Việt Nam trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm kể từ Tháng Tư, 1975 cho đến năm 1996.
Những người chạy trốn chế độ Cộng Sản có thể chia làm hai đợt chính: Đợt đầu được mệnh danh là người Di Tản vì họ rời Việt Nam ngay trong khoảng tháng Tư 1975 và đợt thứ hai thường được mệnh danh là ngưòi Vượt Biên, dù bằng đường bộ hay đường biển.
Di Tản Ngày 30 tháng 4, 1975 là ngày chính thức ghi nhân sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hoà trước làn sóng xâm lăng của cộng quân. Cuối tháng 4,1975 đã có những đợt rời Việt Nam của các nhân viên và gia đình các sứ quán, công ty ngoại quốc cũng như nhừng người Việt có phương tiện riêng hoặc được các cơ quan Hoa Kỳ và các nước đồng minh bảo trợ. Ngày 29 tháng tư 1975, Tổng Thống Hoa Kỳ Gerald Ford chính thức ra lịnh khỏi động chiến dịch “Frequent Wind” để di tản quân nhân, nhân viên dân sự Mỹ và một số người Việt đã từng cộng tác hay liên hê với chính phủ Mỹ và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rời khỏi Việt Nam để tránh bị Cộng Sản trả thù.
Cùng thời điểm này, rất nhiều người Việt Nam cũng đã quyêt đinh di tản. Họ là những người mà đã ít nhất một lần bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, bỏ mồ mả ông bà, tổ tiên để di cư vào Nam năm 1954, họ là những người đã có ít nhiều hiểu biết, kinh nghiệm về cộng sản, họ là những người đã may mắn vượt thoát được sau cuộc triệt thoái của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa khỏi miền Cao nguyên và miền Trung, họ là những người chối bỏ chế độ cộng sản. Ðó là lý do mà làn sóng người di tản trong tháng Tư 1975 đã làm nhiều người ngạc nhiên với con số khoảng 300 ngàn người và các cơ quan cứu trợ quốc tế đã phải mất nhiều thời gian để giúp họ định cư ở các nước tự do nhất là Mỹ, Canada, Úc, Tân Tây Lan và các trai tạm cư ở Subic Bay (Philippines), Guam, Wake Island, California, Arkansas, Florida, Pensylvania ãa phải mở mãi cho đến cuối năm 1975.
Chiến dịch ‘Frequent Wind” trên nguyên tắc chỉ kéo dài từ 3:30 chiều ngày 29 tháng tư và chấm dứt vào đúng 21 giờ ngày 30 tháng tư, 1975 khi người lính Mỹ cuối cùng được trục thăng bốc khỏi Sàigòn và trụ sở của cơ quan DAO (Defence Attachés Offfice) của Hoa Kỳ được Thủy quân lục Chiến Hoa kỳ cho phá nổ. Tuy nhiên với làn sóng người di tản rầm rộ đổ ra biển Thái Bình Dương bằng các tàu hải quân, thương thuyền và cả các tàu đánh cá nhỏ, việc cứư vớt người vẫn được tiếp tục trong nhiều tuần sau đó. Hạm đội số 7 của Hải quân Hoa Kỳ với các hàng không mẫu hạm Hancok , Midway và nhiều tàu chiến hạm cũng như nhiều thương thuyền Hoa kỳ và quôc tế đã tham dự vào chiến dịch cứu vớt người trên biển rồi chuyển qua các trai ty nạn ở Subic, Guam trước khi phân tán họ đi tị nạn tai Hoa kỳ và các nước tự do khác như Canada, Uc, Pháp, Anh, vân vân. Trên thực tế, giai đoan di tản và vượt biên không có sư gián đoạn. Có chăng chỉ là sự phân chia thời điểm chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến dịch vớt người trên biển mà thôi, còn sự ra đi của người Việt vần tiếp tục không ngừng.
Những hình ảnh sau đây ghi nhận cảnh hãi hùng của một cuộc di tản chưa từng có trong lich sử Việt Nam và thế giới.


Đoàn người Di tản từ miền Trung


Helicopter Evacuation From the American Embassy


Dân Di Tản Chạy ra Tr ực Thăng tại Trụ sở DAO, Saigon


Dân Di Tản đến Midway bằng trực thăng Hoa Kỳ


Một máy bay VNCH chở người di tản đáp xuống Midway


Một Thuyền Đánh Cá chở người Di Tản được Midway tiếp cứu
Cuộc Di Tản tháng tư năm 1975 đã có nhiều cảnh đẫm máu và nước mắt nhưng tình nhân loai cũng đã được biểu lộ rõ rệt từ những quân nhân và các cơ quan từ thiện. Sau khi đã đến đựợc Mỹ hay các nước mở vòng tay đón nhân, dân Di Tản còn phải trải qua nhiều khó khăn như sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, vân vân để tạo lại cuộc sống.
Vượt Biên
Họ ra đi mà không biết mình đi đâu, sẽ đến đâu; đa số không biết gì về đại dương cùng những nguy hiểm của những chuyến hải hành cũng như không biết gì về những khó khăn khác đang chờ đợi họ. Ðó là lý do mà có lúc người ta đã nói “ nếu có ba người vượt biên thì chỉ có một người đến bến an toàn, một người chết trên biển vì bảo tố, đói khát và hải tặc và một người sẽ bị bắt lại và đi tù”.
The State of the World’s Refugees 2000:
50 Years of Humanitarian Action
Những Người Vượt Biên là ai và tai sao họ phải liều mình đi tìm Tự Do?
Họ chính là những người chậm chân trong giai đoạn Di Tản. Có thể lúc đó họ còn chút hy vọng là những người Cộng sản cũng còn chút lương tâm và sáng suốt không nỡ đối xử với những người dân miền Nam như kẻ thù không đội trời chung và họ sẵn sàng cộng tác với những người Cộng sản để cùng xây dựng một Đât nước Thông Nhất trong Hòa Bình. Họ đã lầm sau bao nhiêu ngày lầm than tôi mọi cho những người Cộng Sản vô lương. Họ đã mất hết tài sản, tự do và cả phẩm giá con người dưới chánh sách trả thù tàn bạo của Cọng sản. Họ có thể chịu nghèo khổ để hy vọng vào một tương lai xán lạn. Nhưng tương lai chỉ có tù đầy, thù hận và dối trá. Thế hệ của họ coi như bỏ vì họ đã lỡ tin Cộng Sản. Nhưng còn thế hệ con cái họ? Họ không thể chịu cực khổ nhìn con cái họ trở thành những con vật trong xã hội Cộng sản Xã hội Việt Nam đã lùi lại hơn 30 năm sau cái ngày gọi là ‘giải phóng’. Tương lai họ còn gì đâu ngoài một lối đi duy nhất: Vượt Biên. Nếu may ra thoát được qua bờ Tự Do thì con cái họ còn có hy vọng sống được một cuộc đời đáng sống. Còn không, đời sống ở Việtnam có khác gì đã chết. Bới vậy Họ đã quyết chí liều mình Vượt Biên qua Cam-pu-chia, đến Thái Lan hay Vượt Biển qua Mã Lai, Nam Dưong, Phi Luật Tân nơi nào cũng được, miễn là ra khỏi điạ ngục Việt Nam bất chấp sự bắt bớ lùng xét của công an, hiểm nguy của hải tặc, bão tố hãi hùng ngoài biển Đông.
Sau đây là vài trích đoạn từ các tác phẩm viết về tỵ nạn:
“Người Việt Nam chỉ ra đi trong thế cùng, không còn cách nào có thể sinh sống tại quê hương của mình. Ðây là một cuộc bỏ phiếu vĩ đại chống lại chế độ cộng sản Hà Nội bằng chính mạng sống của mình. Trong số nầy, rất nhiều người mang hoài bảo sẽ có một ngày trở về quang phục quê hương. Số người tử nạn trên bước đường vượt biên không thể thống kê chính xác được. Người ta phỏng chừng từ 400.000 đến 500.000 thuyền nhân bỏ mình trên biển cả hay bị hải tặc bắt giết.
Vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngoại vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam kể từ ngày lập quốc. Ðây là một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với Nam Việt, Bắc Việt, Hoa Kỳ và cả thế giới. Trước đó, không một ai có thể tiên đoán được phong trào vượt biên sẽ xảy ra đến mức lớn lao như thế. Phong trào vượt biên kéo dài từ 1975 đến 1996 ngang bằng với thời gian chiến tranh từ 1954 đến 1975. Tổng số người rời bỏ đất nước bằng tất cả các cách, cộng với những người tử nạn trên đường vượt biên, lên đến khoảng gần bằng tổng số dân chúng và quân nhân Việt Nam cả Nam lẫn Bắc tử trận trong cuộc chiến từ 1954 đến 1975 (khoảng 3,000,000).


Những Thuyền Nhân nằm la liệt trong khoang tàu
Những đợt vượt biên ào ạt, bất chấp mạng sống đã làm rúng động lương tâm nhân loại, và đã phơi trần bản chất độc ác của chế độ Cộng Sản Việt Nam (CSVN) trước công luận thế giới. Sự kiện nầy là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với nhân loại về “Thiên Đường Cộng Sản” và trở thành động cơ thúc đẩy các nước Ðông Âu ly khai chủ nghĩa cộng sản, và dẫn đến sự sụp đổ của khối cộng sản năm 1990-1991?
Phỏng theoTrần Gia Phụng
‘‘Bước vào đầu thế kỷ 21, Việt Nam vẫn là một trong các nước chậm tiến trên thế giới, mặc dầu có sẵn tiềm năng, nhưng vì sai lầm nghiêm trọng của đường lối Xã Hội Chủ Nghĩa. Những thảm trạng xẩy ra trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cần phải được ghi nhớ, trong đó có hai sự kiện gần nhất là việc nhà cầm quyền cộng sản giam cầm công dân vô tội trong tù cải tạo và việc người dân trốn ra ngoại quốc trong những điều kiện bất trắc đầy nguy hiểm. Giam giữ người vô tội trong các trại tập trung cải tạo, chế độ cộng sản đã một mặt vi phạm tội ác, một mặt phung phí năng lực quốc gia để phục vụ mục tiêu đảng phái. Đảng Cộng Sản không chịu thú nhận rằng chính tàn bạo của họ là nguyên nhân khiến người dân phải bỏ nước ra đi, mà họ còn lợi dụng cơ hội ra đi đó để cướp đoạt tài sản, thu vàng bán bãi, mặc cho tài năng quốc gia thất thoát ra ngoài và biết bao người dân lương thiện đã bị chết kinh hoàng trên biển cả.
Phạm Hữu Trác – Vàng Máu và Nước Mắt
Trong 2 năm qua, nhất là từ tháng 9 năm 1978, làn sóng người tị nạn từ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang tràn ngập các trại tị nạn ở Ðông Nam Á. Ngoài ra, hàng trăm ngàn người Việt Nam đã bị chính quyền Hà Nội bắt buộc ra đi trên những con tàu không thể đi biển được, và đã biến mất trên Biển Ðông đầy bất trắc. Ở một số bờ biển Thái Lan, các ngư dân đã phải quay tàu về đất liền khi chứng kiến cảnh hãi hùng như một phần thi thể của người vượt biển vướng vào lưới, vân vân.


Thuyền Nhân trên đường vượt biển
Vì sao quá nhiều người liều mạng bỏ trốn khỏi Việt Nam? Ta có thể tìm thấy câu trả lời khá dễ dàng trong các chính sách hậu chiến đã được công khai thực hiện: “tiêu diệt các thế lực thù nghịch: trừng trị những kẻ bù nhìn, đánh bại giới tư bản, đánh đuổi người Trung Hoa.”
Hiện tượng thuyền nhân đã phản ảnh được cái đau khổ của người phải rời bỏ quê hương. Họ không phải chỉ kín đáo đi từ bên này sang bên kia biên giới, chờ đợi cơ hội quay về khi mọi chuyện đã trở lại bình thường hay theo ý họ mong muốn. Họ ra đi, không hề biết trước mình sẽ đến đâu, không có viễn ảnh hồi hương, và cam chịu mọi hiểm nguy. Họ phải đang tâm cắt bỏ những ràng buộc với quê hương và dân tộc.
Thuyền nhân là những người không chịu đựng được chính sách hà khắc của chính quyền cộng sản Họ là những người mà trước năm 1975, không bao giờ muốn rời bỏ quê hương. Trớ trêu thay, lịch sử đã đảo lộn, đã thay đổi cuộc đời ho vượt xa sức họ tưởng tượng, đến mức họ phải quyết định bỏ lại sau lưng tất cả những người và những gì yêu quý, liều mạng sống của mình cũng như chấp nhận mọi nỗi kinh hoàng của một tương lai bất định, để rời khỏi Việt Nam.
Lesleyanne Hawthorne - Refugee - The Vietnamese Experience
Những ‘thuyền nhân’, danh từ thế giới gán cho họ, thường phải chịu nhiều rủi ro lớn lao, từ rất lâu trước khi đặt được chân xuống tàu. Trong khi cố gắng tìm cách để thoát được công an và lính biên phòng, họ đã chấp nhận rủi ro bị bắn, hoặc nhẹ nhất là, bị bắt lại và bỏ tù. Những ai may mắn xuống được tàu phải ra đi trên các thuyền đánh cá mỏng manh đầy ắp người không thích hợp để đi vượt đại dương. Thường thường, họ nhắm hướng đi đến Thái Lan hoặc Mã Lai, nhưng lại cập bến ở đâu đó giữa Hồng Kông và Úc Ðại Lợi. Biển cả cũng cướp đi một số người mà không ai biết được là bao nhiêu.


Thuyền chở 162 người vượt biển bị đắm lúc sắp đáp được vào
Tuy vậy, cuối cùng thì câu chuyện về những người tị nạn Ðông Dương là câu chuyện về những người bị từ chối. Trước tiên và đau đớn nhất, họ bị chính quyền của chính nước họ khước từ. Họ cũng nhiều lần bị cự tuyệt bởi các quốc gia lân bang nơi họ đến xin tạm trú, và bị từ chối ít nhất là vào lúc đầu bởi các nước Tây Phương và Nhật Bản, những quốc gia duy nhất có khả năng và tấm lòng cứu vớt thuyền nhân.
Barry Wain - The refused: The Agony of The Indochina Refugees
“Chúng tôi cần gạo và thực phẩm. Trong những ngày này, chúng tôi không có tiền để mua thêm thức ăn. Chúng tôi không được phép có công việc làm. Nếu thực phẩm được phát trễ, chúng tôi chỉ việc nhịn đói. Chúng tôi có rất ít nước uống, vì đang là mùa khô. Tôi nghĩ nếu mọi chuyện không thay đổi, chúng tôi sẽ chết hết.”
Refugee: Thailand, 1978
“Trong bệnh viện, một người đàn ông và đứa con trai đang khóc trên lán. Tàu họ đã đến đêm hôm trước, nhưng bị lật úp. Người vợ, người mẹ đã chết đuối.”
Delegates of ‘Society of Friends’: Malaysia, 1979
“Các lính tuần tra phát hiện có những bao ni-lông xoáy tròn trên mặt nước. Họ chuẩn bị tăng tốc độ vọt đi tiếp, thì khám phá ra rằng, các bao nhựa này đã được thổi phồng, căng lên, để chở hai em bé sơ sinh, dĩ nhiên là chưa biết bơi. Người mẹ đang ra sức đẩy chúng. Người cha đã không may chết đuối trước đó.”
Report: Mekong River Crossing, 1978
Người mẹ của một em trai 14 tuổi kể lại, tàu của cô bị hải tặc từ một tàu cào của Thái Lan nhảy sang. “Tôi biết bọn chúng sẽ làm gì”, cô vừa kể vừa khóc nức nở. “Tôi van xin chúng đừng làm gì trước mặt con trai tôi. Vì thế, chúng đưa tôi vào cabin tàu, rồi 7 tên cưỡng hiếp tôi trong đó.”
Refugee: Malaysia, 1979
Anh Huỳnh Văn Trân, 34 tuổi, ngồi trên 1 băng ghế gỗ ở trại tị nạn Songkhla ở 1 bờ biển cực nam của Thái Lan, thuật lại câu chuyện của mình lần thứ ba.
Anh ra đi trên một chiếc tàu gồm 62 người đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Họ may mắn gặp thời tiết và gió thuận lợi, và không bị rắc rối gì về máy tàu. Vào ngày thứ 5 trên biển, một chiếc tàu mã lực lớn dài 15 mét đến cặp sát mạn tàu anh. Có 12 người đàn ông trên thuyền, tất cả đều trang bị vũ khí đầy đủ. Trước hết, chúng ra lệnh cho hai người trong số phụ nữ sang tàu chúng. Một trong hai người này là vợ anh Huỳnh Văn Trân. Cô này bị ghì chặt xuống, súng trường kê sát thái dương, và bị ra lệnh không được kêu la. Cô bị chúng cưỡng hiếp. Bọn hải tặc sau đó nhảy qua tàu tị nạn, cướp đi mọi thứ có giá trị, bắn một người đàn ông còn do dự khi chúng cướp. Sau đó chúng tăng tốc độ phóng đi với các món của cải chiếm được, nhưng thình lình quay ngoắt lại. Vẫn giữ nguyên tốc độ tối đa, chúng nhắm thẳng vào tàu tị nạn và đâm mạnh. Chiếc tàu hải tặc đã lập đi lập lại hành động này trong khi nhóm người tị nạn đang hốt hoảng ngoi ngóp giữa biển khơi. Bọn cướp biển cố ý lái tàu cán qua vô số chiếc đầu đang nhấp nhô, có lẽ vì không muốn để sót lại nhân chứng nào. Khi vợ anh Trân còn đang chới với trên mặt nước, với đứa con trai mới lên 3 đang níu chặt cổ mẹ, cả hai đã bị tàu cán qua và chết đuối. 10 người trong số họ sống sót, sau đó được vớt lên và đưa tới Songkhla.
Toàn thể thính giả đều nín lặng. Ðó là một câu chuyện thương tâm hơn những chuyện khác, nhưng hẳn nhiên không phải là ngoại lệ, hiếm có. Có rất nhiều tàu tị nạn đã bị hải tặc tấn công nhiều hơn một lần.”
UNHCR: 1979
Bao nhiêu thuyền nhân đã chết ngoài biển khơi? Không ai biết chắc cả. Nhiều người nói với chúng tôi rằng có lẽ 5% các tàu rời Việt Nam đã bị mất tích, nhưng nhiều người lại cho là có đến 70% tàu không hề đến được bờ.
Delegates of ‘Society of Friends’: Pulau Bidong, 1979
Georgina Ashworth The boat people and the road people
Trong vài năm đầu những thuyền tỵ nạn còn được tiếp đón tử tế bởi dân chúng và chính phủ các nước láng giềng nhưng vì làn sóng tỵ nạn ngày càng nhiều nên những niềm nở ban đầu đã bị giảm xuống hoặc tệ hơn đã bị thay bằng thái độ xua đuổi như đã từng xẩy ra ở Thái Lan, Mã Lai. Tầu của người tỵ nạn, khi bị tầu hải quân Mã kéo trở ra hải phận quốc tế có một số đã bị chìm và làm chết oan một số người. Do đó nếu như may mắn không bị bắt lại, thoát được gió bão, không hư máy dọc đường và không gặp hải tặc các thuyền nhân vẫn chưa chắc sẽ đến được các trại tạm cư. Ðó là chưa kể đến những khó khăn về đủ mọi phương tiện từ vệ sinh, y tế, nước uống, thực phẩm…nơi các trại tỵ nạn. Thật ra dùng chữ trại tỵ nạn cho lịch sự vậy thôi chứ vào thời điểm ấy không một quốc gia nào có thể lường được là con số người chạy cộng sản, bỏ nước ra đi sẽ đông đến như vậy. Do đó chẳng có quốc gia nào đã có những sửa soạn để có thể đón tiếp một số lượng người đến quá ào ạt và nhiều đến thế. Trại tỵ nạn đã là những kho xưởng, những trại lính, những chiếc phà cũ, những chiếc phao nổi, những hòn đảo san hô hoặc đảo hoang, nhỏ nằm chơ vơ giữa đại dương. Ðặt được chân trên đất là phải đi tìm cỏ, đốn cây để dựng lều để tạm trú tránh cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm….Còn nhiều nhiều nữa, kể sao cho hết những cái khổ của kiếp lưu vong. Ðến năm 1988 vì quá mệt mỏi với số người tỵ nạn phải cưu mang trên hơn mười năm, Cao Ủy tỵ nạn và các quốc gia có trại tạm cư đã quyết định áp dụng hệ thống thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị của các thuyền nhân nếu họ đến sau ngày 16-6-1988. Quyết định này cũng đã gây ra khá nhiều thảm cảnh rất đáng thương như được kể lại dưới đây.
Sau đây là vài trích đoạn về những thảm cảnh đầy nước mắt đó.
“0 giờ ngày 16-6-1988 mở đầu một định mệnh khác cho những người Việt Nam vượt biển đến Hồng Kông. Kể từ ngày này họ sẽ bị đối xử như những người nhập cảnh bất hợp pháp và phải chờ chính phủ thanh lọc để xác định tư cách tỵ nạn chính trị, trước khi được cứu xét cho đi định cư ở nước thứ ba. Thời điểm phủ nhận ý nghĩa ban đầu sự ra đi của người vượt biển. Thời điểm đánh đổ mọi luận cứ sắp sẵn về quyền tỵ nạn, về quyền đi tìm chỗ trú, và đồng thời che dấu luôn sự bất lực của con người trước thảm cảnh của đồng loại, sự hấp hối của lương tri trước nỗi khổ của những cuộc khởi hành muộn. Như một tấm màng nhện giăng ra chận bắt những cuộc đời lưu lạc, thời điểm 16-6 dựng nên những trại giam khổng lồ trên khắp thuộc địa Hồng Kông, ghi thêm một thảm cảnh thời đại.”
Lê Ðại Lãng - NƯỚC MẮT TRONG TIM
“Ngày 20/5/1994, Lê Xuân Thọ, 28 tuổi, tự rạch bụng mình và tự thiêu. Sau đó anh đã chết vì phỏng nặng.” Phạm Văn Châu, một cựu quân nhân Việt Nam, tự thiêu ở trại tị nạn Galang, Nam Dương ngày 26/4/1994. Hai ngày thì anh qua đời.


Vietnamese refugees were allowed to come on shore at the Government Dockyard at Canton Road. A number of water taps were installed for them to take a cold shower.
Ngày 12/4/1992, Nguyễn Văn Quang, một hạ sĩ thuộc Tiểu đoàn 1 Không vận của Nam Việt Nam, đã treo cổ tự tử ở trại Galang, Nam Dương, sau khi bị khước từ tư cách tị nạn chính trị, và đơn kháng cáo của anh cũng bị bác. Anh mất đi để lại 1 góa phụ và 3 đứa bé mồ côi cha còn nhỏ dại.
Ngày 30/8/1991, tại trại Galang, Nam Dương: cô Trịnh Kim Hương, 28 tuổi, tự thiêu sau khi bị phủ nhận tư cách tị nạn chính trị.
Hoàng Thị Thu Cúc, 26 tuổi, một trong số vài người sống sót khi vượt biên khỏi Việt Nam. Cha cô là lãnh tụ của một chính đảng chống cộng và đã chết trong ‘trại cải tạo’ của cộng sản. Gia đình cô bị trục xuất khỏi nhà, tới một trại lao động cưỡng bức. Bản thân Cúc cũng bị đuổi khỏi trường vì ‘lý lịch gia đình xấu’. Bất kể những sự kiện trên, cô vẫn bị khước từ quy chế tị nạn. Tháng 12/1992, khi đơn kháng cáo của cô cũng bị bác bỏ, cô đã treo cổ tự tử, để lại bốn anh em trai ở trại Sikiew, Thái Lan.
Vụ tự sát của Lâm Văn Hoàng, 22 tuổi, đã gây nên một cuộc biểu tình phản đối ở trại tị nạn Pulau Bidong, Mã Lai. Anh đã lao mình từ vách đá xuống biển, sau khi bị từ chối tư cách tị nạn chính trị vào tháng giêng năm 1991.
Trần Văn Minh, cựu Trung úy, treo cổ tự tử ngày 10/10/1992. Ông được cấp quy chế tị nạn chính trị, nhưng người con trai Trần Minh Khôi, 18 tuổi, đã bị rớt ‘thanh lọc’. Vì Khôi không có 3.000 đôla Mỹ mà các viên chức duyệt xét đòi hỏi, đơn kháng cáo của anh sau đó cũng bị bác.
Ngày 8/12/1993, Trần Anh Dung từ trần khi lên cơn suyễn, sau khi Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đóng cửa trạm y tế duy nhất trong trại tị nạn.
Tháng 2/1993, Lưu Thị Hồng Hạnh, một em gái 16 tuổi không người thân thích, đã tự thiêu sau khi Cao ủy tị nạn LHQ rút lại quy chế tị nạn của em.


Vietnamese refugees arriving at Hong Kong by junks.


Crowd of refugees
“Chị thương, hôm nay em đã bị từ chối tư cách tị nạn chính trị. Rạng sáng mai, em sẽ treo cổ tự tử để thoát mọi đau khổ. Nhưng lúc nào em cũng sẽ ở bên cạnh chị để che chở cho chị và các cháu”
(Thư tuyệt mệnh của anh Nguyễn Văn Hai, 27 tuổi, viết cho chị, vào buổi tối trước khi tự tử trong Trại cấm Whitehead, Hồng Kông, ngày 16/2/1990.)
“Bản tường trình của luật sư đã khiến tôi phải sống trong lo sợ. Nó đã dần dần đẩy tôi vào chỗ chết.”
(Trịnh Anh Huy, 20 tuổi, tự thiêu ngay trước văn phòng của Cao ủy tị nạn LHQ ở Galang, Nam Dương, ngày 27/8/1992.)
“Tôi chết đi không phải vì tuyệt vọng, mà vì tôi muốn đem lại niềm hy vọng và sự sống cho nhiều người khác.”
(Vài hàng tuyệt mệnh của Nguyễn Ngọc Dung, 25 tuổi. Ngày 3/5/1993, anh đã tự đâm vào tim và chết tức khắc trước văn phòng Cao ủy tị nạn LHQ tại trại Sungei Besi, Mã Lai.)


Living in the Refugee Camp
VIETNAMESE BOAT PEOPLE – A CRY TO HUMANITY


Inside the Refugee Camp


Boat people were waiting for medical checks before transferring to refugee camps
Lời Kết
Cuộc Di Tản và Vượt Biên sau ngày 30 tháng tư năm 1975 là một bản án muôn đời đối với chính sách vô nhân đạo của Cộng Sản Việt Nam. Những cảnh tượng đau thương, kinh hoàng mà người Di Tản và Vượt Biên phải gánh chịu thật không bút nào ta hết. Tuy nhiên trong biến cố đầy bất hạnh đó, cũng không thiếu những tấm lòng bao dung, thể hiện rõ tình người, của binh sĩ và dân chúng Hoa Kỳ cũng như các quốc gia trong thế giới tự do, nhất là các nước vùng Đông Nam Á đã bao dung chúng ta tại các trai tị nạn.
Chúng ta mang ơn dân chúng và chính phủ các quốc gia đã cưu mang người Việt tỵ nạn, giúp chỗ tạm cư, cho phép định cư hoặc đã cứu vớt tầu tỵ nạn khi lạc lối, hết lương thực hay máy tầu bị hỏng. Chắc chắn là sự thành công của thế hệ thứ hai trong Cộng Ðồng Người Việt Hải Ngoại, sẽ không bao giờ xảy ra nếu không có sự cưu mang của các quốc gia trong Thế Giới Tự Do vào thời điểm đen tối đó.
Ngày hôm nay, sau hơn 30 năm tỵ nạn, viết lại một phần nhỏ trong những nỗi khổ đau của dân tộc để chúng ta ôn lại và ghi nhớ một sự kiện lịch sử không phải là của riêng Việt Nam, mà là của thế giới, trong đó chính chúng ta vừa là tác nhân, vừa là nhân chứng.


Các em tới Trại Tỵ Nạn . . . và thành công trên quê hương thứ hai
Hơn 30 năm sống lưu vong, lúc nào đa số chúng ta cũng vẫn mong có ngày trở về để góp phần xây dựng lại quê hương lạc hậu, giúp cho dân tộc ta sớm được sống trong không khí Tự Do, Dân Chủ đích thực mà dân ta chưa bao giờ được hưởng.
Ðiều này chỉ có thể xảy ra khi người Việt trong và ngoài nước thật tâm đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên mọi quyền lợi riêng tư và thoát được sự chi phối của các thế lực chính trị quốc tế.
* * *
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tran Gia Phung – Speech Delivered at Montreal, Canada on April 30, 2002
- Nguyễn Văn Canh - Cộng Sản Trên Ðất Việt - Kiến Quốc 2003
- Ashworth Georgina – The Boat People and The Road People – Quartemaine House 1979
- Phạm Hữu Trác – Hội Quốc Tế Y Sĩ Việt Nam Tự Do – VÀNG MÁU và NƯỚC MẮT: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ – 2000
- Paul Anthony – Why They Flee Their Homeland – Reader’s Digest December 1979
- Grant Bruce – The Boat People: An ‘AGE’ Investigation – Penguin Books 1979
- Hawthorne Lesleyanne – Refugee The Vietnamese Experience – Oxford University Press 1982,
- Wain Barry – The Refused: The Agony Of The Indochina Refugees – Simon & Schuster 1981
- Lê Ðại Lãng – Bút Ký Hồng Kông: NƯỚC MẮT TRONG TIM – 1990, p. I
- Support Committee for Refugees from Vietnam – Vietnamese Boat People: A CRY TO HUMANITY – 1994
* * *

Tuesday, July 21, 2020

LỚP HỌC ESL CủA TÔI TẠI SAN JOSE , CALI KHOẢNG NĂM 1998 .
14 năm đã trải qua với biết bao vật đổi sao dời và có người trong ảnh có thể đã qua đời !
Khi mới qua Mỹ , tôi ko đi học gì hết . Khoảng năm 1995-96 , tôi thi đậu vào ĐH cộng đồng West Valley ở San Jose với hạng cao nhưng ko học ; các người cùng thi với tôi đều tốt nghiệp trung học/high school tại Mỹ nhưng điểm thi thấp hơn tôi .
Mãi tới năm 1997-98 , nghe lời khuyên của chú Cầu , tôi đã học một lớp ESL căn bản với HS phần đông là lớn tuổi , từ VN mới qua và học để thi quốc tịch Mỹ . Tôi học lớp này để đầu óc thanh thản chớ ko hợp với trình độ của tôi ; tôi (khi ấy ở độ tuổi 51) đã có nhiều kỷ niệm đẹp khi học lớp này .
Người ngồi , mặc áo khoác màu vàng là cô Thi , cô giáo của lớp ESL . Đứng sau là thầy Morris . Còn lại đều là học viên của lớp ESL này . Chụp nhân tiệc mừng Tết Con Cọp 1998 . Hình con cọp và cây mai được tôi cắt dán và vẽ thêm vào .
Ngồi đầu bàn , mặc áo xanh và đội nón xanh là tôi . Đối diện là ông Om , khá lớn tuổi nhưng rất minh mẫn . Bên phải ông Om là cô Thi , dạy lớp ESL này . Hàng đứng phía sau , tôi chỉ nhớ được tên của anh Điểu (thứ 1 từ trái đếm sang) và anh Trợ (thứ 5) ; còn lại ko nhớ được tên ai . Chụp nhân dịp picnic tại công viên Lake Cunningham tại San Jose .

Monday, July 20, 2020

https://911gfx.nexus.net/vietnam/maps/ne48-16/ne48_16c.html

SNOUL: Trận chiến hào hùng của Lữ Đoàn 3 KB/LLXKQDIII (Ngụy Sàigòn)
Lời nói đầu: Bài viết nầy không nhằm mục đích chỉ trích, bôi nhọ, hay vinh danh bất cứ cá nhân nào, chỉ để phản bác những luận điệu hàm hồ, những sự kiện sai lạc, những chụp mũ vô căn cứ của Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh về cuộc rút quân tại SNOUL của Chiến đoàn 8 và cuộc tiếp cứu hào hùng của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và LLXKQDIII trong quyển Chiến Thắng An Lộc 1972, do Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh chủ biên và Đại Úy Lê Hoàng Ân, Tổng Biên Tập
Trong quyển Chiến Thắng An Lộc 1972 có nhắc đến những trận đánh dọc theo Quốc Lộ 13. Muốn hiểu rõ tại sao có trận chiến tại An Lộc chúng ta cần phải biết những trận đánh về trước của Quân Đoàn III. Để bào chữa cho việc Trung Tướng Nguyễn Văn Minh rút hết đoàn quân viễn chinh về nước khi vừa lên thay thế Trung Tướng Đổ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn III vừa tử trận, Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh đã cho rằng nhờ rút quân về mà có đủ quân diện địa để chống lại cuộc tấn công vào An Lộc của 3 Công Trường Cộng Sản Bắc Việt Xâm Lược (CSBVXL). Điều mà Tr/Tá Nguyễn Ngọc Ánh gọi là đủ quân diện địa đó chỉ trần xì có 3 Trung đoàn 7 và 8 /Sư Đoàn 5 BB và Chiến đoàn đặc nhiệm 48 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Trong trận đánh An Lộc, Quân Đoàn III đã yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu gửi Lữ Đoàn 1 ND , Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Sư Đoàn 21 BB cùng Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh và Trung Đoàn 15/ Sư Đoàn 9 BB cùng Chi Đoàn 1/2 Thiết Kỵ từ Quân Đoàn IV lên tăng viện cho chiến trường An Lộc . Ngụy tui có viết bài Dambe, Cuộc rút Quân Bi Hùngđể phản bác lại lập luận vừa ấu trỉ, vừa coi thường độc giả của Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh. Phụ tá Hành Quân Quân Đoàn III (HQ QDIII)
Trong Chương 8 phần 1 Quốc Lộ 13 và phần 1.1 Trận Snoul, Trung Tá Ánh viết:
“Chiến Đoàn 8 Việt Nam Cộng Hoà bị Cộng Quân vây hãm nhiều ngày tại cứ điểm Snoul, chờ viện quân (Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh), không thấy, nên phải đột phá vòng vây, và về được đến Quận Lỵ Lộc Ninh thuộc Tỉnh Bình Long ngày 31 tháng 05 năm 1971, bị tổn thất khá nặng về nhân mạng và chiến cụ…”
“Lệnh tăng phái Lữ Đoàn 3 Xung Kích cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh có hiệu lực từ 08 gìờ sáng ngày 26 tháng 5 năm 1971…..
Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, kể từ khi nắm quyền điều động Lữ Đoàn 3 Xung Kích, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh bỗng nhiên mất liên lạc với Lữ Đoàn 3 Xung Kích. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 liền điện báo về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, cho biết là đã mất liên lạc với Lữ Đoàn 3 Xung Kích.
Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 tức tốc gửi phi cơ quan sát bay lên tìm kiếm, dọc theo lộ trình di chuyển của Lữ Đoàn 3 Xung Kích, từ Tây Ninh đến Bình Dương vòng qua An Lộc, nhưng không tìm thấy dấu tích hay tần số liên lạc của Lữ Đoàn 3 Xung Kích.
Ngay cả việc điện về Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, theo hệ thống S.O.S, Bộ Tổng Tham Mưu cũng trả lời là không có bắt được tần số nào của Lữ Đoàn 3 Xung Kích thuộc Quân Đoàn 3.
Nỗ lực tìm tung tích Lữ Đoàn 3 Xung Kích qua đến 48 giờ sau vẫn không có kết quả. Trong lúc đó tại Snoul, Chiến Đoàn 8 Bộ Binh báo cáo về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh là địch đang siết chặt vòng vây, địch gia tăng pháo vào căn cứ Hoả Lực, nơi đặt Bộ Chỉ Huy của Chiến Đoàn 8 tại Snoul.
Việc tìm kiếm tông tích Lữ Đoàn 3 Xung Kích vẫn liên tục, kéo dài cho đến trưa ngày 29 tháng 05 năm 1971, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 chỉ thị cho phi cơ quan sát lên vùng, bay thật thấp, có thể nhìn rõ địa thế bên dưới. Phi công mới phát hiện một Chiến Xa M.41 lộ hình bên cạnh một lùm cây. Viên phi công bay rà trở lại, điều khiển đôi cánh lạng qua lạng lại trên đầu chiến xa nhiều lần, đồng thời báo về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3, cho biết đã tìm thấy đoàn thiết kỵ tại khu rừng “Chồi” gần Quận Củ Chi Tỉnh Hậu Nghĩa và Quận Bến Cát thuộc Tỉnh Bình Dương.
Mãi đến khi thấy L.19 phát hiện, Lữ Đoàn 3 Xung Kích mới chịu “mở máy” truyền tin, bắt lại tần số liên lạc với các đơn vị được ghi trong đặc lệnh truyền tin hành quân hiện hữu….”
” Còn về Lữ Đoàn 3 Xung kích, Quân Đoàn có cho mở cuộc điều tra chính thức. Sau khi đọc biên bản của phái đoàn điều tra, và lời biện minh của Đại Tá Trần Quang Khôi, Trung Tướng Minh nhận thấy Đại Tá Khôi đã từng lập được nhiều công trận cho Quân Đoàn 3, (vào thời Cố Đại Tuớng Đỗ Cao Trí), nên chấp thuận cho Đại Tá Khôi được xuất ngoại theo học khóa tu nghiệp về Thiết Giáp tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên phải bị cách chức Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh, bàn giao lại cho Đại Tá Đoàn Kim Định. “
Mặt khác Thiếu Tá Trần Văn Thưởng (1), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/8, trong bài viết Trận Đánh Snoul và Những Hậu Quả đã cho biết rất rõ ràng diễn tiến cuộc hành quân lui binh của Chiến đoàn 8 (CD8) sau khi bị hai Công Trường 5 và 7 Cộng sản Bắc Việt xâm lược (CSBVXL) bao vây chặn bít đường về để tiêu diệt CD8. Viết bài nầy Th./Tá Thưởng hy vọng Tướng Minh cho biết lý do nào ông đã án binh bất động trong tuần lể cuối cùng của tháng 5/1971 và tại sao Tướng Minh cho CD8 rút quân đơn độc. Không yểm trợ. Không lực lượng tiếp cứu, trong khi CD8 bị bao vây, bị tấn công từ ngày 24 tháng 5 năm 1971 đến ngày 31 tháng 5 năm 1971. Tướng Minh đã không trả lời và Th./Tá Thưởng bắt buộc phải phổ biến bài viết nầy để vinh danh những chiến sĩ can trường của CD8 và Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III (LLXKQD3) và cũng để minh oan cho những cấp chỉ huy của Th/Tá Thưởng là Thiếu Tướng Nguyễn văn Hiếu, Tư lệnh SD5BB và Đại Tá Bùi Trạch Dzần, Chiến đoàn trưởng CD8 đã bị Trung Tướng Nguyễn văn Minh đổ hết tội lổi và cách chức.
Theo Thiếu Tá Thưởng, người đã điều động Tiểu đoàn 1/8 BB rút quân về Snoul ngày 24/5 và đã cùng Chiến Đoàn 8 rút quân về nước. Ông có những băn khoăn không bao giờ hiểu được. Sau khi trận chiến tàn, Ông rời Sư Đoàn 5 BB cùng với Đại Tá Bùi Trạch Dần và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu cùng hai Tiểu Đoàn trưởng khác để về làm việc tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt (VBQGDL). Tại đây Ông gặp lại Thiếu Tướng Hiếu trong dịp mãn khóa 24 VBQGDL. Ông muốn viết bài về Snoul với nhiều thắc mắc để gửi đến Trung Tướng Minh. Nhưng T/T Hiếu đã ngăn lại vì lý do Tướng Minh đang cầm quân giữ nước cho nên Tướng Minh cần uy tín. Bất cứ hành động nào dù đúng hay sai để làm mất uy tín Tướng Minh đều không thể nào chấp nhận được. Cho nên những băn khoăn, những thắc mắc, những uất ức Thiếu Tá Thưởng ấp ủ trong lòng. Ông phải tuân theo ý Tướng Hiếu như một người Lính lúc nào cũng tuân lệnh thượng cấp. Bây giờ Chính phủ, Quân đội Quốc gia không còn, nỗi đau vẫn khôn nguôi. Những bất công vẫn còn mưng mũ như ngày nào. Cho nên Thiếu Tá Thưởng phải làm một cái gì để vinh danh, để trả lại sự thật, trả lại công đạo cho Thiếu Tướng Hiếu và toàn thể quân nhân các cấp thuộc Chiến đoàn 8 ngày nào. Có người mang thân lưu lạc. Có người sống sót sau những tháng năm bị cầm tù trong những nhà tù CSVN. Có người đã an giấc nghìn thu từ mấy mươi năm trước. Dù họ còn sống hay đã hy sinh, họ chính là những chiến sĩ can trường của QLVNCH anh dũng và bất diệt. Sự thật phải trả lại sự thật. Cho nên Th/T Thưởng đã viết bài nầy và gửi đến Tướng Minh để làm sáng tỏ một vài thắc mắc của Th/T Thưởng và các chiến binh thuộc Chiến đòan 8.
Đó là tại sao Tướng Minh cho Chiến đoàn 8 rút quân đơn độc khi đã bị CT5 và CT 7 CSBVXL với quân số gấp 5 lần bao vây, tấn công liên tục để tiêu diệt. Trong khi nỗ lực chính của Quân Đoàn đang nằm ở Chup, Kampong Cham và có hai chiến đoàn khác của SD 18BB và SD 25BB đang nằm hướng Nam của Chiến đoàn 8. Tại sao Tướng Minh cho tăng phái Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III (LLXKQDIII) quá trể. Đó là hai thắc mắc đã làm nhức nhối Th/Tá Thưởng hằng bao năm trời. Tiếc thay Tr/Tướng Nguyễn Văn Minh đã giữ im lặng không có câu trả lời cho một thuộc cấp, một chiến sĩ trong cuộc, mà nổi uất ức vẫn đeo đuổi ông bao nhiêu năm trường. Theo Th/Tá Thưởng, bằng nhãn quan của một Tiểu Đoàn trưởng, Th/Tá Thưởng cho rằng Tướng Minh đã thất bại hoàn toàn trong cương vị của một Tư lệnh Quân đoàn. Đã đánh giá sai tình hình, quân số và ý đồ của địch. Khi cho rút quân mà không điều động hai chiến đoàn ở phía Nam Snoul làm đơn vị trì hoản và đã không nhanh chóng điều động LLXKQDIII làm đơn vị tiếp trợ từ Lộc Ninh hướng về Snoul trên QL7. Cho nên CD8 đã bị thiệt hại khi rút quân đơn độc, không có phi pháo yểm trợ hùng hậu, không có Lực lượng tiếp trợ nhanh chóng để CD8 bảo toàn lực lượng. Đồng thời ông cũng vinh danh Tướng Nguyễn Văn Hiếu , Đại Tá Bùi Trạch Dzần và Đại Tá Trần Quang Khôi đã cùng CD8 và LLXKQDIII chiến đấu anh dũng để rút quân về nước có thiệt hại nhưng không bị tiêu diệt toàn bộ hoặc đầu hàng nhục nhã . Đây là tiếng nói của Th/Tá Thưởng tức là tiếng nói của toàn thể chiến đoàn 8. Thay vì vinh danh , họ đã bị cách chức, bị trừng phạt, bị mang tiếng là thất trận mà không do lỗi của họ. Thật sự do ông Tư lệnh Quân Đoàn thiếu khả năng hay có âm mưu gì khác.
Cho nên Ngụy tui cần phải tìm hiểu để lên tiếng bảo vệ và phục hồi danh dự cho những chiến sĩ đã bị bôi nhọ. Điển hình là toàn thể các chiến sĩ trong LLXKQDIII và Đại Tá Trần Quang Khôi đã bị những người như Trung tá Nguyễn Ngọc Ánh bêu riếu, hạ nhục với mỗi ý đồ là chạy tội cho thầy là Tướng Nguyễn Văn Minh Tư lệnh Quân đoàn III.
Phỏng Vấn Tướng Trần Quang Khôi , Tư Lệnh Lữ Đoàn 3KB kiêm Tư lệnh LLXKQDIII.
Ngụy Saigon(NSG): Kính chào Thiếu Tướng (2). Vì Trung Tá Nguyễn Ngọc Ánh , Phụ Tá Hành quân Quân đoàn III, đã viết trong “Chiến Thắng An Lộc 1972″ Khi Quân Đoàn III điều động LLXKQDIII về làm lực lượng tiếp trợ cho Chiến Đoàn 8 (CD8) rút quân tại Snoul , LLXKQDIII dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng đã im lặng vô tuyến, trốn tránh không chịu thi hành quân lệnh và sau đó Thiếu Tướng đã bị cách chức Tư Lệnh và gửi đi học khóa Chỉ huy Tham mưu Cao cấp tại Leavenworth, Hoa Kỳ. Trong khi đó Thiếu Tá Trần Văn Thưởng , Tiểu đoàn trưởng , Tiểu đoàn 1/8 BB hiện diện trong cuộc rút quân, đã quy trách cho Trung tướng Minh , Tư lệnh Quân Đoàn III, bỏ rơi CD8 rút quân đơn độc và vinh danh Thiếu Tướng cùng LLXKQDIII đã hết lòng tiếp cứu nên CD8 đã không bị Công Trường 5 và 7 Cộng Sản Bắc Việt xâm lược (CSBVXL) tiêu diệt . Nhằm để làm sáng tỏ một vấn đề rất quan trọng liên hệ đến DANH DỰ của cá nhân Thiếu Tướng và toàn thể Sĩ quan, Hạ sĩ quan , Binh sĩ thuộc LLXKQDIII xin Thiếu Tướng cho phép em được phỏng vấn Thiếu Tướng về cuộc tiếp cứu CD8 tại Snoul.
Chuẩn Tướng Khôi (Ch./T Khôi) : Chào em, anh sẵn sàng trả lời những thắc mắc của em.
NSG: Vào tháng 3 năm 1971 khi Trung Tướng Đổ Cao Trí đền nợ nước trong tai nạn trực thăng , Trung Tướng Nguyễn Văn Minh đảm nhận chức vụ Tư Lệnh QDIII. Thay vì đi tiếp kế hoạch của Trung Tướng Trí thì Trung Tướng Minh quyết định cho rút quân. Sau 2 lần thất bại khi chỉ huy Chiến đoàn 5 BDQ và Chiến đoàn 333 BDQ cùng LLXKQDIII rút quân ra khỏi Dambe với nhiều thiệt hại, Tướng Minh phải giao quyền cho Thiếu Tướng chỉ huy cuộc rút quân bi hùng đó thì LLXKQDIII và Chiến đoàn 5 BDQ và CD 333 BDQ rút về VN hay rút đi đâu ?
Ch./T Khôi : LLXKQD III và hai chiến đoàn 5 BDQ và 333 BDQ rút về Quốc lộ 7 đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Thịnh , Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB. LLXKQDIII đóng quân ở thị trấn Suong giữa đồn điền Chup và đồn điền Krek. Chiến đoàn 5 BDQ ở gần Krek và CD333 BDQ bố trí cách đó 1km về phía Tây.
NSG: Ngày nào thì Quân Đoàn III ra lệnh cho LLXKQDIII tăng phái cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh (SD5BB) để đi tiếp cứu CD8?
Ch./T Khôi : Ngày 29 tháng 5 năm 1971
NSG: Quân Đoàn III (QD III) ra lệnh cho Thiếu Tướng trình diện thẳng SD5BB hay trình diện Quân Đoàn ?
Ch./T Khôi : LLXKQDIII dang hoạt động thám sát tại Suong (Suong ở phía Nam của Dambe) được lệnh Quân ĐoànIII (QDIII) di chuyển về Thiện Ngôn tiếp tế xăng và chờ lệnh QDIII . Anh dùng xe Jeep đến trình diện Bộ Tư Lệnh Tiền Phương QĐ tại Tây Ninh.
NSG: Tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn, Thiếu Tướng trình diện Tr/T Minh hay thẩm quyền nào khác và lệnh hành quân như thế nảo ?
Ch./T Khôi: Anh gặp Đại Tá Ngô Văn Minh, Tham mưu trưởng Hành quân QĐ . Đại Tá Ngô Văn Minh cho biết lệnh của Tr/Tướng Minh biệt phái LLXKQDIII cho SD5BB. Tr/Tướng Minh ra lệnh cho LLXKQDIII ngày mai 30 tháng 5 năm 1971 di chuyển đến Bộ Tư lệnh SD 5BB tại Lai Khê nhận lệnh Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu.
NSG: Tại sao không điều động LLXKQD III đi ngay mà phải chờ đến ngày mai?
Ch./T Khôi : Anh muốn đi qua Lai Khê ngay. Nhưng Đại Tá Ngô Văn Minh lập lại rõ ràng đó là lệnh của Tr/T Minh muốn LLXKQDIII ngủ qua đêm ở Thiện Ngộn Sáng ngày mai 30 tháng 5 năm 1971 chờ Địai Phương Quân mở đường xong mới di chuyển.
NSG: Tại sao không đi thẳng từ đồn điền Mimot đến Snoul ?
Ch./T Khôi : Không an ninh lộ trình với lại tiền cứ của LLXKQDIII đặt tại Thiện Ngôn. Về đó tiếp tế, tu bổ thuận tiện hơn.
NSG: Xin Thiếu Tướng cho biết những hoạt động của LLXKQDIII trong ngày 30 tháng 5 năm 1971?
Ch./T Khôi : Ngày 30 tháng 5 năm 1971, tại Thiện Ngôn LLXKQDIII được lệnh phải chờ cho Địa Phương Quân mở đường xong từ Thiện Ngôn tới Trại Bí. Mất gần cả ngày. Đến Tây Ninh 4 giờ chiều, qua Thủ Dầu Một. Đến Lai Khê trời đã tối. Anh cho LLXKQDIII bố trí quân ở phía Nam Lai Khê . Riêng anh đến trình diện Bộ TL SD5BB không gặp Tướng Hiếu vì Tướng Hiếu đang ở Lộc Ninh. Gặp Đại Tá Ngô Lê Tuệ, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn cho biết lệnh Thiếu Tướng Hiếu cho LLXKQDIII đóng quân tại Lai Khê qua đêm. Ngày mai tức sáng ngày 31 tháng 5 năm 1971 lên trình diện Thiếu Tướng Hiếu tại Lộc Ninh. Nhưng nửa đêm nhận công điện của Quân Đoàn từ Tướng Minh thắc mắc tại sao không đi Lộc Ninh ngay mà nằm lại Lai Khê bộ tính kéo quân về Sài gòn đảo chánh. Anh trả lời đó là lệnh của Tướng Hiếu vì ông sợ Thiết giáp di chuyển ban đêm rất nguy hiểm. Dễ bị phục kích.
NSG: Sau khi trình diện T/T Hiếu tại Lộc Ninh. LLXKQD III đã tiếp cứu CD8 như thế nào?
Ch./T Khôi : 8 giờ sáng ngày 31 tháng 5 năm đến Lộc Ninh trình diện Tướng Hiếu , Anh báo cáo tình trạng LLXKQDIII. Tướng Hiếu cho biết tình hình cuộc rút quân và yêu cầu Anh đi lên Snoul ngay lập tức. Từ Lộc Ninh đến Snoul khoảng chừng 16 km nhưng địa thế hai bên là rừng, sinh lầy , độc đạo rất khó điều động Thiết giáp. Anh biết chắc địch quân nằm bố trí chờ đánh tiếp viện. Anh chia LLXKQDIII ra làm hai cánh quân Chiến Đoàn 315 gồm có Thiết Đoàn 15 Kỵ Binh và Tiểu đoàn 36 Biệt Động Quân do Trung Tá KB Nguyễn Văn Đồng chỉ huy dẫn đầu. Chiến Đoàn 318 gồm Thiết đoàn 18 KB và Tiểu đoàn 52 BDQ do Thiếu Tá KB Bùi Văn Lộc chỉ huy bố trí trừ bị phía sau
Vì địa thế không thể điều động TG bung rộng ra được , chiến thuật của anh là sử dụng hỏa lực tập trung của Không quân Hoa Kỳ và Việt Nam cùng Pháo Binh đánh không ngừng nghỉ dọc hai bên trục đồng thời điều động Chiến đoàn 315 tiến lên Chi đoàn trưởng Chi đoàn 1/15 Chiến xa Đại úy Lê Văn Nho dẫn đầu tấn công phối hợp cùng Đại úy Giai, Tiểu Đoàn trưởng TD 36 BDQ cận chiến với địch quân hai bên đường. Anh chỉ huy trận đánh trên trực thăng chỉ huy của Thiếu Tá David Russell, Đại Đội trưởng Đại Đội A thuộc Tiểu Đoàn 3/17 Không Kỵ Hoa Kỳ , biệt phái yểm trợ cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh. Qua trung gian Thiếu Tá Russell anh điều khiển Không lực Hoa Kỳ và trực thăng vỏ trang hỏa tiển yểm trợ cận chiến, tiêu diệt nhiều ổ phục kích của địch quân bố trí hai bên trục tiến quân. Trực thăng chỉ huy bị phòng không địch bắn thủng nhiều chỗ.
NSG: Lúc đó Thiếu Tướng ngồi trên Thiết xa M 577 chỉ huy?
Ch./T Khôi: Anh lên trực thăng của Thiếu Tá David Russell để chỉ huy trận đánh
NSG: Có phải Thiếu Tá David Russelll đã yểm trợ mạnh mẻ và hữu hiệu cho T/T trong cuộc rút quân hào hùng ở Dambe? Trận đánh tiếp diễn ra sao ? Tại sao T/T phải lên trực thăng chỉ huy ?
Ch./T Khôi: Đúng vậy. Thiếu Tá David Russell là một chiến sĩ quả cảm. Ông rất thương yêu và hết lòng yểm trợ cho LLXKQDIII mỗi khi yểm trợ cho quân mình. Anh phải lên trực thăng vì đường độc đạo sình lầy. hai bên rừng rậm khó quan sát chiến trường và qua trung gian của Th/ Tá Russell anh mới có thể điều động Không Lực Hoa Kỳ yểm trợ hữu hiệu hơn. Anh điều động Không Lực Hoa Kỳ (KLHK) và Đại đội trực thăng võ trang Hoa Kỳ đánh ngay vào trận địa. Bắt buộc phải đánh sát thủ ngay trên đầu quân mình. Trận chiến kéo dài từ sáng đến tối còn cách một ngọn đồi. Bên nầy là LLXKQDIII bên kia là Chiến Đoàn 8 (CD8) mà không tiến lên được để bắt tay cùng CD8 vì trời tối Không quân Hoa Kỳ rút đi . Phải ngưng chiến bố trí phòng thủ qua đêm.
NSG: Tại điểm bố trí phòng thủ ban đêm cách CD8 bao xa và cách Snoul bao xa?
Ch./T Khôi: Cách CD8 khoảng 500 m và cách Snoul khoảng 2km.
NSG: Tình hình và tinh thần của CD8 khi LLXKQDIII đến giải cứu?
Ch./T Khôi : Khi đã bị 2 Công Trường CSBVXL bao vây chận đánh trên đường rút lui mà không có đơn vị cản hâu. Không có Không Quân yểm trợ tối đa và mãi đến ngày 31 tháng 5 năm 1971 tức là một tuần lể sau khi bị bao vây mới được LLXKQDIII tiếp cứu thì tinh thần của CD8 xuống rất thấp. Đại Tá Bùi Trạch Dần, Chiến đoàn trưởng CD8 ngồi hẳn trong xe chỉ huy của Trung Tá Tôn Thất Hoàng, Thiết Đoàn trưởng Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh. Coi như Đại Tá Dần không còn điều động chỉ huy gì được nữa. Sáng ngày 1 tháng 6 năm 1971 Anh đề nghị Đại Tá Dần cho CD8 án binh chờ LLXKQDIII giải tỏa hoàn toàn đoạn đường 500m giữa hai bên ngọn đồi. LLXKQDIII sẽ bảo vệ cho CD8 rút quân. Nhưng Đại Tá Dần không nghe. Ông ra lệnh cho Trung Tá Hoàng rút chạy giữa hai hai lằn đạn . Bắt buộc anh phải ngưng chiến. Xe của Trung Tá Hoàng và Đại Tá Dần thoát nhưng xe của Thiếu Tá Trương Hồng Cẩm Thiết Đoàn phó trúng hỏa tiển. Thiếu Tá Cẩm và Trung Tá Đinh Văn Tọa Trung Đoàn Phó, Tr/D 8 BB bị tử trận
NSG: Tại sao Đại Tá Dần lại ngồi hẳn trong xe?
Ch./T Khôi: Anh nghĩ lúc đó Đại Tá Dần đã tính sai nên ông nghĩ rằng ngồi trong xe TG chạy thoát ra ngoài dễ và nhanh hơn. Đúng ra Đại Tá Dần phải dẫn quân Bộ Binh rút đi đường rừng cách xa chỗ LLXKQDIII đang đánh nhau với 2 Công Trường CSBVXL. Như thế an toàn hơn. Khi bị bao vây, ngồi trên xe TG rất nguy hiểm dễ bị trúng hỏa tiển. Điều đó đã xảy ra. Gây khó khăn cho LLXKQDIII trong việc tiếp cứu.
NSG: Th/T nghĩ sao khi Tr/Tá Nguyễn Ngọc Ánh cho rằng Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh / LLXKQDIII im lặng vô tuyến đi trốn không chịu đi tiếp cứu Chiến Đoàn 8 nên bị Trung Tướng Minh cách chức?
Ch./T Khôi: Rõ ràng là Tr. Tá Ánh cố tình bóp méo các sự kiện lịch sử. Anh không hề bị cách chức. Sau trận Snoul, vì CĐ8/SĐ5BB bị tổn thất nặng, Tr./Tướng Minh muốn đổ tội cho anh lên tiếp ứng chậm. Anh cực lực phản đối. Bộ TTM có cho điều tra; nhờ có Cố Vấn Mỹ làm chứng về sự chiến đấu dũng cảm và hữu hiệu của LLXKQĐIII mà CĐ8 thoát khỏi bị tiêu diệt. Cuối cùng thì Thiếu tướng Hiếu bị Tổng Thống Thiệu cách chức Tư lệnh SĐ5BB và Tr./Tướng Minh thì bị Tổng Thống khiển trách nặng suýt bị cách chức. Anh thì được ân thưởng 1 ADBT với Nhành dương liễu. Anh vẫn tiếp tục chỉ huy LĐ3KB/ LLXKQĐ hoạt động cường thám ở Lộc Ninh cho đến giữa tháng 7/71 thì bàn giao khu vực Lộc Ninh lại cho Tr. tá Vĩnh, CĐT CĐ9/SĐ5BB. Rồi liền di chuyển qua khu vực Đồn Điền Krek nằm phía Bắc Tây Ninh, trên lãnh thổ Cambodia. CT9 và CT7CSBV tập trung tấn công các lực lượng ta ở Krek dọc trên QL7 và căn cứ Thiện Ngôn vào khoảng giữa tháng 10 và tháng 11 năm 1971. Sau khi đánh tan CT7 CSBV ở căn cứ Alpha trên QL7 cứu TĐ30BĐQ của Th.tá Võ Mộng Thủy, (khoảng 9 km hướng Đông đồn điền Krek) và ổn định tình hình ở khu vực Krek, (cùng lúc Lữ Đoàn 2 Dù đánh giải tỏa căn cứ Thiện Ngôn và mở Đường 22) anh mới xin đi học trường Đại Học Quân Sự của Lục Quân Mỹ ở Ft Leavenworth, Kansas. Anh tự ý xin đi vì không phục cách chỉ huy của Tr./Tướng Nguyễn Văn Minh, chứ không phải bị cách chức như Tr. tá Ánh nói. Được chấp thuận, anh mới bàn giao Lữ Đoàn 3 KB tại chỗ ở Krek cho Đại Tá Nguyễn Kim Định trong tháng 12 năm 1971.
Như vậy, thử hỏi Tr./Tá Ánh từ khi xảy ra trận chiến ở Snoul vào cuối tháng 5/71 cho đến giữa tháng 12/71 anh mới ra đi khỏi Lữ Đoàn 3 KB thì làm sao nói được là anh bị cách chức vì trận Snoul? Vả lại ngay sau khi anh đi học một năm ở Mỹ trở về nước tháng 7/73, tháng 11/73 anh lại được thượng cấp tín nhiệm giao lại LĐ3KB cho anh chỉ huy và đến tháng 3/74, anh lại được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp Chuẩn tướng. Thành ra những gì Tr./Tá Ánh nói xấu về anh hoàn toàn bịa đặt.
NSG: Có phải Tướng Minh muốn cách chức Thiếu Tướng vì quy trách LLXKQDIII tiếp trợ quá chậm trể nên CD 8 bị tổn thất nặng?
Ch./T Khôi: Đúng. Tướng Minh đổ tội cho anh để chạy tội cho mình và muốn đưa anh ra tòa án Quân sự.
NSG: T/T đã giải thích thế nào và có ai là nhân chứng hay không?
Ch./T Khôi: Vì Đại Tá Ngô văn Minh biết rất rõ chuyện nầy. Ngoài ra các cố vấn Mỹ của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh tuy không được phép vượt biên qua Cambodia. Nhưng khi LD3KB về Thiện Ngôn thì các cố vấn đó đã theo LLXKQDIII cho đến khi vượt biên lần nữa tại Lộc Ninh thì họ lại bước xuống xe. Chính các cố vấn đã là những nhân chứng hùng hồn nói lên được sự chậm trể là do Bộ Tư lệnh Quân đoàn biệt phái LLXKQDIII cho SD5BB quá trể và bắt phải nghỉ đêm tại Thiện Ngôn. Cùng lúc Thiếu Tá David Russell đã cho Tướng Minh biết là Anh và LLXKQDIII đã chiến đấu rất hữu hiệu, rất dũng mảnh để tiếp cứu đoàn quân CD8. Chính nhờ nổ lực của LLXKQDIII mà CD8 không bị tiêu diệt bởi Công Trường 5 và Công Trường 7 CSBVXL.
NSG: Xin T/T cho biết thiệt hại của LLXKQDIII và của địch quân?
Ch./T Khôi: Trong trận đánh đẩm máu này, Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đã hoàn thành nhiệm vụ rất xuất sắc, nhưng phải trả gíá rất đắt:
14 chết, 80 bị thương,
2 chiến xa M41 bị bắn thủng hư hại 40%,
4 M113 bị mìn chống chiến xa hư 30% đến 60% và
2 M113 bị bắn cháỵ
Về phía địch có hàng trăm tên địch bị giết, quân ta tịch thu hơn 60 vũ khí cá nhân và cộng đồng.
Không có Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hết lòng chiến đấu thì Chiến Đoàn 8 của Đại Tá Bùi Trạch Dần sẽ bị địch tiêu diệt hoặc bị bắt sống hết, không một ai có thể thoát được về tới biên giới ở Lộc Ninh.
NSG: Kết cuộc ra sao? Thiếu Tướng rời Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ngay khi cuộc rút quân từ Snoul hoàn tất?
Ch./T Khôi: Sau khi nghe các cố vấn Mỹ trình bày cũng như của Thiếu Tá David Russell. Tướng Minh đã ân thưởng cho anh Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Sau cuộc giải cứu CD8 xong, LLXKQDIII đóng tại Lộc Ninh cả tháng. Nhiệm vụ phòng thủ và thám thính. Đến tháng 7 bàn giao Lộc Ninh cho Chiến Đoàn 9 do Đại Tá Nguyễn Công Vĩnh làm Chiến đoàn Trưởng. LLXKQDIII kéo quân qua Krek. Vào tháng 10 năm 1971 VC điều động Công Trường 7 và CT 9 tấn công các lực lương của ta trên Quốc lộ 7 và bao vây căn cứ Alpha do Tiểu Đoàn 30 BDQ trấn giữ. Thiếu Tá Võ Mộng Thùy làm Tiểu đoàn trưởng. Đồng thời bao vây căn cứ Thiện Ngôn và cắt đứt đường 22 phía Bắc Tây Ninh Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Thịnh điều động SD25 BB đi giải cứu. Trận đánh dằng dai và SD25 BB đã không thể giải tỏa được. Tướng Thịnh xin Tướng Minh cho LLXKQDIII tiếp cứu căn cứ Alpha, và xin tăng cường Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù để giải tỏa áp lực địch tại căn cứ Thiện Ngôn và mở đường 22.
NSG: Nghe nói trận giải cứu căn cứ Alpha là một chiến tích lừng danh khác của LLXKQDIII. Thiếu Tướng có thể cho biết đại khái ?
Ch./T Khôi : Đây là một trận đánh hào hùng khác của LLXKQDIII. Từ trực thăng, Tướng Minh đã báo cho anh biết nếu thành công, Tướng Minh sẽ đề nghị cho anh lên Tướng. Anh rất tức giận về điều nầy. Tiếp cứu các đơn vị bạn hay Bảo quốc An dân là trách nhiệm và bổn phận của người lính QLVNCH. Anh không thích đem phần thưởng lên lon, huy chương để khích động tinh thần binh sĩ. Anh nghĩ đó là sự xúc phạm nặng nề đến DANH DỰ của các chiến binh QLVNCH. Sau khi đánh tan Công Trường 7 CSBVXL anh cho LLXKQDIII bố trí ở ngoài. Anh dùng xe M113 chỉ huy chạy thẳng vào căn cứ Alpha kéo Thiếu Tá Võ Mộng Thùy ra khỏi hầm chỉ huy.
NSG: Còn vụ ân thưởng thì sao?
Ch./T Khôi: Thiếu Tướng Thịnh thông báo cho Tướng Minh biết. Ông sẽ đích thân đến gắng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành dương liễu cho anh tại căn cứ Alpha. Nhưng Tướng Minh gửi công điện cho Tướng Thịnh nói không cần vì Tướng Minh đã đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu ân thưởng cho anh Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương kèm Anh Dũng Bội Tinh với Nhành dương liễu. Chính anh cũng nhận được bản sao của công điện nầy. Sau đó được biết là Tướng Minh có gửi công điện đó về Bộ Tổng Tham Mưu nhưng vài ngày sau cho người thu hồi lại.
NSG: Sau trận giải cứu căn cứ Alpha rồi chuyện gì xảy ra cho Thiếu Tướng và giao Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ?
Ch./T Khôi : Sau trận giải cứu căn cứ Alpha, anh chán nãn cung cách chỉ huy của Tướng Minh. Anh và Tướng Minh đã không có sự hòa hợp cần thiết. Anh thường hay cãi lại Tướng Minh vì Tướng Minh không biết sử dụng Thiết Giáp, và nhất là điều động LLXKQDIII liên tu bất tận không cho nghĩ dưởng sức để tu bổ chiến xa, vũ khí…. và huấn luyện. Binh sĩ rất mệt mỏi cần được nghỉ ngơi và bồi dưởng. Ông ta không nghe anh. Cuối cùng anh xin từ chức và xin đi học Chỉ huy Tham Mưu Cao cấp tại Mỹ.
NSG: Thiếu Tướng bàn giao Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh cho ai?
Ch./T Khôi: Anh bàn giao LD3KB cho Đại Tá Nguyễn Kim Định vào tháng 12/71 tại Krek.
NSG: Em muốn viết một bài về Thiếu Tướng. Thiếu Tướng nghĩ sao?
Ch./T Khôi : Không nên. Vì làm Tướng mà không giữ được thành. Không chu toàn trách nhiệm mà Tổ Quốc và Đồng Bào giao phó. Bại binh chi tướng thì nói năng gì nữa. Dù sao cũng cám ơn hảo ý của em.
NSG: Xin trân trọng cám ơn Thiếu Tướng đã cho em một cơ hội để biết thêm những chiến tích phi thường của LD3KB nói riêng và LLXKQDIII nói chung. Dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng LD3KB và LLXKQDIII chưa bao giờ chiến bại. Đồng bào và Tổ Quốc ghi ơn những anh hùng LLXKQDIII và LD3KB. Em hy vọng thời gian tới trước khi ra đi, Thiếu Tướng đổi ý viết về những trận chiến hào hùng của LD3KB để cho đồng bào, các thế hệ sau biết được sự hy sinh , sự chiến đấu can trường của những người lính Kỵ binh đã đền nợ nước, và của hàng ngàn Kỵ binh đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến đấu chống Cộng sản tham tàn khát máu. Kính chào Thiếu Tướng
Ch./T Khôi: Chào em và xin cảm tạ tấm lòng của em đối với Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và LLXKQDIII