Sunday, February 9, 2020

Nhìn Lại Trận Ðánh BAN MÊ THUỘT 1975
Đại Tá Nguyễn Trọng Luật
Sau những bài liên quan đến trận đánh Ban Mê Thuột, có nhiều thư từ gởi đến nói lên những nhận xét, góp ý kiến hay những bài trình bày thêm những chi tiết góp phần làm sáng tỏ những bí ẩn của trận đánh này, trong đó có bài dưới đây của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac khi trận đánh Ban Mê Thuộc xảy ra.
Như Đại tá Luật nói ngay từ đầu, ông chỉ là một Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng của tỉnh Darlac, quyền hạn của ông rất giới hạn. Tư lệnh chiến trường lúc đó là Đại tá Vũ Văn Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bộ binh, ông chỉ là người thừa hành. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ông không biết rõ những tin tức tình báo mà Quân đoàn 2 đã thu lượm được cũng như những quyết định của Quân đoàn 2 liên quan đến trận Ban Mê Thuột. Nhưng đối với diễn biến của trận đánh, từ khi mở màng cho tới khi kết thúc, ông nắm rất vững, vì ông là người trong cuộc. Đây là một tài liệu quý báu có thể giúp cho các nhà sử học và các nhà phân tích, phê bình hiểu rõ hơn về trận đánh có tính cách quyết định này.
Chủ Nhật 9/3/75
- Trình Đại tá, Thiếu tướng Tư lệnh Quân doàn 2 sẽ đến Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 vào lúc 10 giờ hôm nay để duyệt tình hình. Trung úy Dzi, sĩ quan tùy viên, sau khi đứng nghiêm chào tôi và nói với tôi như vậy, khi tôi còn ngồi tại tư dinh để xem công văn công điện cùng ký những giấy tờ cần thiết cho một ngày làm việc. Không phân biệt ngày cuối tuần, ngày nào cũng là ngày thứ Hai, mà người Mỹ thường nói trên cửa miệng. Với trọng trách Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac, ngày lại ngày tôi rất bận, về hành quân, đi thanh tra, đôn đốc, kiểm soát các chi khu, phân chi khụ Đó là chưa kể dành thì giờ tiếp đón các phái đoàn từ Saigon ra hay từ Quân đoàn xuống. Nên chỉ còn ban đêm và những giờ sáng sớm để xe công văn giấy tờ. Tôi hỏi lại:
- Xe sẵn sàng chưa?
- Dạ, thưa sẵn sàng.
- OK, thôi chúng ta đi.
Khi tới phi trường Phụng Dực, lòng tôi như lửa đốt. Phần vì đêm qua mất ngủ, phần lo số phận của hàng trăm sinh linh đang chiến đấu tại Đức Lập mà VC đã tấn công tối quạ Hiện mất liên lạc không biết còn hay mất. Tâm hồn tôi như đang gắn liền với các chi khu, các binh lính dưới quyền mình. Làm sao cho họ an toàn giữa cuộc chiến càng ngày càng tàn khốc này. Hàng đêm vừa chợp mắt là thấy những lo lắng không đâu chợt đến với giấc ngủ muộn màng... Dù quận Đức Lập không phải là vùng trách nhiệm của mình nhưng tiên liệu cho kế hoạch phòng thủ Darlac vẫn là trọng tâm của tôi trong lúc này. Tôi có một cái nhìn rõ ràng, mất Thuần Mẫn, mất Đức Lập thì việc tiến chiếm Ban Mê Thuột chỉ còn là vấn đề thời gian. Nhưng tiếng nói của tôi có ai nghe trong khi tôi chỉ là một Tiểu khu trưởng trong tay có mấy tiểu đoàn Địa phương quân, mấy Trung đôi Nghĩa quân, Cảnh sát, Nhân dân tự vệ. Tư lệnh chiến trường lại do Đại tá Quang đảm trách, tôi chỉ là cấp thừa hành. Tôi sinh ra trong binh chủng Thiết giáp; nếu tấn công thì rất thích hợp cho binh chủng này, còn phòng thủ thì thiết giáp chỉ là bia đỡ đạn cho những trò chới của súng chống chiến xạ Tôi càng suy nghĩ bao nhiêu, lại càng nhìn thấy sự bất lực của mình. Con ngựa sắt của tôi đâu, hay bây giờ chỉ còn những tay súng tài tử đối chọi với những kẻ gian hùng đang điên khùng xông vào lửa đỏ chẳng khác gì những con thiêu thân? Chợt phía Tây, h+ớng về phía Đông, một chiếc Dakota 47 lù lù đang tiến tới và đáp xuống phi trường.
Máy bay mở cửa, tôi dứng nghiêm chào Tướng Phạm Văn Phú và phái đoàn. Tướng Phú tiến đến bắt tay tôi và ngồi lên xe của Tòa Hành chánh đi về Ban Mê Thuột. Ngồi cạnh Tướng Phú, tôi thấy ông có vẻ đăm chiêụ Ông không hỏi tôi điều chi, cũng như tôi vẫn giữ im lặng, trông chờ một hy vọng. Hình như, Tướng Phú đang lo nghĩ về quận Đức Lập, đến bay giờ còn hay mất?
Đoàn xe trực chỉ Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Tướng Lê Trung Tường, Đại tá Vũ Thế Quang đã chờ sẵn để hướng dẫn phái đoàn vào Trung tâm Hành quân Sư đoàn. Tại đây, đã có sự hiện diện của Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Đức để thuyết trình về tình hình quận Đức Lập lên Tướng Phú và phái đoàn. Nhìn trên bản đồ hành quân, sau mấy câu mở đầu chiếu lệ, Đại tá Nghìn ngậm ngùi:
- Cộng quân đã pháo kích và tấn công vào quận Đức Lập vào lúc 5 giờ sáng, rất nặng và thiệt hại đáng kể. Bộ chỉ huy Chi khu đã trúng nhiều đạn pháo binh 130 ly, nên Chi khu trưởng đã đưa Bộ chỉ huy Chi khu rời khỏi quận và hiện giờ vẫn còn đang chiến đấu...
(Sau này, tôi được gặp lại Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng Đức Lập tại trại tù Vĩnh Phú, Tân Lập. Trung tá Vực đã kể cho tôi biết trận đánh vào Chi khu như sau: Khi tấn công vào Chi khu, VC đã dùng pháo binh 130 ly và SKZ 82 ly — súng không giựt 82 ly — bắn vào Chi khu và Chi đoàn Chiến xạ Với đạn SKZ 82 ly bắn tru+.c xạ, địch đã làm tê liệt các chiến xa của ta, nên không còn được xử dụng ngay từ phút đầu. Chi khu cầm cự cho đến sáng, khi mặt trời bắt đầu lên thì thất thủ).
Đại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnhtrưởng/Tiểu khu trưởng Quảng Đức
Sau đó Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB, kiêm Tư lệnh Mạt trận Ban Mê Thuột, lên trình bày kế hoạch phòng thủ của Trung đoàn 53 BB do Trung tá Võ Văn Ân làm Trung đoàn trưởng. Nói là Trung đoàn, nhưng cấp số chỉ còn Bộ chỉ huy Trung đoàn và một Tiểu đoàn mà thôi, cộng thêm một Trung đội Pháo binh 105 ly để làm lực lượng tiếp ứng cho Darlac và Quảng Đức khi bị tấn công.
Đại tá Quang trình bày kế tiếp về kế hoạch phòng thủ của thị xã Ban Mê Thuột. Thị xã Ban Mê Thuột được phòng thủ với tất cả các đơn vị trú đóng như sau:
- Phía Bắc có Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn 23 BB.
- Phía Nam có Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 BB.
- Phía Đông có Bộ chỉ huy Chi khu Ban Mê Thuột.
- Phiá Tây, vùng nguy hiểm nhất, có hậu cứ của Thiết đoàn 3 Thiết giáp và Kho đạn Mai Hắc Đế.
- Trừ bị cho thị trấn Ban Mê Thuột là Trung đoàn 53 trừ bị, đóng tại phi trường Phụng Dực.
Nghe xong phần trình bày của Đại tá Vũ Thế Quang, Tướng Phú có vẻ hài lòng và không chê trách cũng như cho những chỉ thị đặc biệt. Lúc bấy giờ đã quá trưa, tôi cho dọn cơm ra mời Tướng Phú, Tướng Tường, Đại tá Nghìn cùng phái đoàn ăn tại chỗ. Đây là bữa cơm rất dạm bạc. Tất cả đều dùng cơm đĩa, uống nước ngọt hay biạ Tướng Phú ăn rất nhanh để còn kịp trở về Pleiku theo dõi tình hình chung của Quân đoàn 2. Tôi cũng không ngờ, đây là bữa ăn cuối cùng giữa tôi và Tướng Phú, cấp chỉ huy trực tiếp của tôị
Ăn xong, chính tôi đích thân đưa tiễn Tướng Phú ra phi trường Phụng Dực để về Pleikụ Khi bắt tay tạm biệt, Tương Phú đã vỗ vai tôi nhỏ nhẹ:”Chú mầy cẩn thận coi chừng chúng nó đánh nghe”. Đây chỉ là câu nói thông thường mà cuộc đời binh nghiệp đã dạy cho tôi, nghĩa là hầu hết các cấp chỉ huy đi thăm các đồn bót, hay đơn vị tiếp giáp với địch đều dặn dò với thuộc cấp của mình bằng câu nói trên. Nói khác hơn, không có tính cách khẩn cấp, nguy ngập. Nếu nghiêm trọng, các cấp chỉ huy sẽ chỉ thị một cách tỉ mỉ hơn nhiều.
Khi về đến Ban Mê Thuột tôi lại phải đến nhà Tướng Tường để đưa Tướng này về Pleiku bằng trực thăng. Bước vào nhà tôi thấy Tướng Tường đang nói chuyện với gia đình và sau đó ông ra phi trường L19 cũng là phi trường trực thăng. Trong lúc chờ đợi phi công trực thăng đến, có ông Paul Struharick, là đại diện cho Tổng lãnh sựMyẠ tại Nha Trang đến hỏi Tướng Tường về tình hình VC xung quanh Ban Mê Thuột ra saọ Tướng Tường cười hí hí, có vẻ tự tin tự đắc, cầm cây gậy tướng đánh vào mông đít mình bộp bộp, rồi trả lời bằng tiếng Anh:”Don't worry about that”. Ông Paul cụt hứng nên không hỏi thêm và Tướng Tường cũng lên trực thăng bay về Pleikụ
Việc đầu tiên trở về Bộ chỉ huy Tiểu khu là tôi triệu tập ngay Bộ tham mưu, các đơn vị trưởng quân đội tại thị xã và các ty sở thuộc Tòa hành chánh cũng như các Ty trưởng chuyên môn. Tôi trình bày tình hình quân sự. Quận Thuần Mẫn đã bị mất. Quốc lộ 14 nối liền Pleiku - Ban Mê Thuột đã bị cắt. Quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột - Nha Trang qua quận Khánh Dương đã gián đoạn và sáng nay quận Đức Lập đã bị CS tấn chiếm, và như vậy Quốc lộ từ Quảng Đức - Ban Mê Thuột coi như không xử dụng được nữa. Không cần phải là nhà quân sự, mọi người cũng đủ hiểu, Mặt trận Ban Mê Thuột coi như bị bao vây tứ phía, và cần đặt câu hỏi về sự kiện hoạt dộng quân sự của địch và thấy rõ ý đồ của địch. Riêng phía Tây thị xã còn dồn Ban Đon, cách xa Ban Mê Thuột khoảng 40 km.
Cuối cùng việc cấm trại 100% từ quân nhân đến công chức là điều bắt buộc trong thời gian nghiêmtro.ng này và tôi ra lệnh:”Sẵn sàng ứng chiến!”.
Để tăng cường cho Ban Mê Thuột, tôi quyết định nhanh chóng rút ngay Tiểu đoàn 204 Địa phương quân đang đóng tại Ban Don về thị xã. Việc di chuyển này không phải là dễ dàng vì phải trưng dụng hết tất cả các xe GMC của các đơn vị đóng tại Ban Mê Thuột mới đủ chuyên chở cả một Tiểu đoàn. Trước khi trở về tư dinh, tôi đã cẩn thận đi quan sát tất cả những yếu điểm phòng thủ của thị xã và cho họ những chỉ thị cần thiết. Có một điều tôi hơi an tâm một chút là các đơn vị như Địa phương quân, Nghĩa quân, Cảnh sát và Nhân dân tự vệ đều thi hành nghiêm chỉnh lệnh cắm trại 100% và báo động.
Chẳng cần tắm rửa và dù người nhà đã dọn cơm sẵn, tôi vẫn đi thẳng vào nơi làm việc của tôi với bản đồ hành quân. Tôi như muốn suy nghĩ về tình hình và ý đồ của địch. Dù cấp nhỏ, nhưng tôi vẫn cố gắng phân tích theo nhãn quan của tôi để mình còn nước còn tát trong việc giữ Ban Mê Thuột, vùng trách nhiệm của mình bằng mọi giá. Nhìn qua những mũi tên và những đơn vị của Cộng quân, theo như bản phối trí của Quân đoàn: các Sư đoàn 320, F10, 316 của Cộng quân vẫn còn ở phía Tay Pleiku và Kontum. Những tin tức các sư đoàn này đã về Ban Mê Thuột vẫn chưa được Quân đoàn xác nhận, vẫn còn phải theo dõi và kiểm chứng, nói theo Phòng 2 của Quân đoàn.
Tôi đã tiên đoán, Ban Mê Thuột sẽ là nơi thử lửa đầu tiên cho việc tiến chiếm miền Nam. Bằng chứng là VC đã chặt tay chân của Ban Mê Thuột rồi bằng cách nhổ 2 cứ điểm Thuần Mẫn và Đức Lập, Khánh Dương coi như đứt đoạn. Vì vậy, tôi đã nhiều lần xin Tướng Phú tăng cường quân chính qui bằng cách đưa Trung đoàn 45 BB về phòng thủ Ban Mê Thuột.
Với nhiều lần xin quân viện, mãi đến ngày 4/3/75, Tướng Phú mới bằng lòng cho Trung đoàn về Ban Mê Thuột. Lệnh di chuyển đã được ban hành. 2 giờ chiều cùng ngày, toàn thể đơn vị thuộc Trung đoàn 45 đã ngồi lên xe GMC để chờ lệnh Tướng Tường là xe chuyển bánh. Không ngờ vừa lúc đó, pháo kích của Cộng quân rót vào thị xã Pleiku, cũng Bộ Tư lịnh Quân đoàn 2. Tướng Phú đang ở Nha Trang được báo cáo của Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 về việc pháo kích này, đã không ngần ngại hét vào máy:”Tôi ra lệnh cho Trung đoàn 45 BB không di chuyển về Ban Mê Thuột nữa, ở lại Pleiku vì Mặt trận Pleiku đã bùng nổ rồi”.
Qua ngày hôm sau, tức ngày 5/3/96, Chi khu Thuần Mẫn thuộc tỉnh Phú Bổn, nằm ngay Quốc lộ 14, lại bị Cộng quân đánh chiếm. Sự kiện này càng củng cố ước đoán của Tướng Phú:”CS sẽ tấn công Pleiku” là đúng.
Cho dù ngày 7/3/95, chi khu Khánh Dương thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm trên trục lộ Ban Mê Thuột - Nha Trang bị mất mà Tướng Phú vẫn chưa nghĩ đến việc CS sẽ tấn chiếm Ban Mê Thuột. Rồi đến sáng ngày 9/3/75, Tỉnh Quảng Đức đã báo cáo cùng Tướng Phú về tình hình rất bi đát của Quảng Đức, các chi khu đang giao tranh với cấp số đáng kể của Cộng quân. Tôi như người có miệng phải câm, nhìn đồi núi chập chùng của Cao nguyên mà lòng héo hắt. Vận mệnh của cả đất nước đang bị cấp chỉ huy lượng giá sai và chiến thắng sẽ đến của CS chỉ là may mắn. Tôi phải đương đầu với thử thách này đến bao giờ??? Nghĩ đến câu dặn dò của Tướng Phú để dối lòng:”Hãy coi chừng tụi nó đánh nghe”, như một câu nói thôn thường. Rồi “Don't worry about that” của Tướng Tường nói một cách kiêu hãnh với ông Paul. Cộng thêm lời tường trình của Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân đoàn: Cộng quân vẫn còn luẩn quẩn tại Pleiku, Kontum, kể cả những đơn vị thiết giáp, làm tôi cũng bớt lo âu phần nào. Và tự an ủi mình, nếu Cộng quân có tiến chiếm Ban Mê Thuột, mình còn cầm cự được đôi ba ngày. Khó khăn lắm tôi mới chợp mắt qua đêm, với những lo âu...
TRẬN ÐÁNH MỞ MÀN
Ngày 10/3/75
Khoảng 2 giờ sáng, khi Ban Mê Thuột còn đang trong giấc điệp, bỗng bị đánh thức dậy bằng tiếng pháo kích inh tai, rợn óc của Cộng quân. Tôi rất bình tĩnh vì đã nếm mùi hỏa tiễn của Cộng quân ở những trận đánh trước Tết Mậu Thân tại Kontum, tại Quảng Ngãi, Đà Nẵng và cả trận đánh Hạ Lào, v.v... Từ lầu hai tôi chạy xuống hầm chỉ huy mà những vị Tiểu khu trưởng tiền nhiệm đã xây cất. Đây là một hầm rất kiê cố, làm bằng bê tông cốt sắt, có thể chống được pháo kích. Trong hầm trang bị đầy đủ máy móc truyền tin để liên lạc tới các đơn vị trực thuộc cũng như liên lạc với cấp trên, hay cấp trung ương rất dễ dàng. Tôi liên lạc ngay với Thiếu tá Hy, Trưởng Phòng 3 Tiểu khu dưới hầm TOC của Tiểu khu:
- Pháo kích từ hướng nào?
- Dạ thưa, Cộng quân bắn từ phía Tây tới.
- Bắn vào vị trí nào?
- Trình Đại tá, bắn vào Bộ chỉ huy Tiểu khu, Đài truyền tin ở sân bay L19, Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 BB và Kho đạn Mai Hắc Đế.
- Anh hãy gọi ngay Pháo binh của mình cũng như Pháo binh Sư đoàn 23 BB tai Phụng Dực phản pháo.
Tiếng pháo kích vang rền thị xã Ban Mê Thuột cho đến 4 giờ sáng. Chúng dùng chiến thật tiền pháo hậu xung và tấn chiếm kho đạn Mai Hắc Đế ở phía Tây, bằng mũi dùi thật mãnh liệt. Đơn vị đồn trú đã chống trả một cách anh dũng và kho đạn vẫn vững vàng. Về phía Bắc, Đài Truyền tin của Không quân cũng bị tấn công.. Với chiến thuật biển người (Human Wave) và đánh sát lá cà, chỉ cần nửa tiếng đồng hồ sau, Cộng quân đã tiến tới sát miệng hầm và dùng lựu đạn tung vào miệng hầm. Một số sĩ quan và binh sĩ ta bị tử thương và bị thương. Và chỉ 15 phút sau, TOC đã báo cáo với tôi, Đài Truyền tin đã lọt vào tay giặc. Về phía trại Mai Hắc Đế, với những tay súng can trường ta dã bẻ gẫy nhiều đợt tấn công của Cộng quân. Khoảng 5 giờ sáng, TOC/TK báo cáo Đại úy Chỉ huy trưởng bị thương nặng. Kho đạn như rắn mất đầu và chỉ cầm cự đến 5 giờ 30 thì kho đạn bị tràn ngập. Như vậy mặt trận về phía Bắc và Tây đã bỏ ngõ, bây giờ chỉ còn trông chờ vào những đơn vị phía Nam và Đông.
Đạn pháo kích 130 ly vẫn rót đều vào thị xã. Lý do dễ hiểu là pháo binh của ta tại phi trường Phụng Dực phản pháo với đạn 105 ly đâu có tầm xa như đạn 130 ly của CS, đang đặt tuốt phía Tâỵ Vì vậy sự phản pháo trở nên vô vọng, không thể khóa họng những khẩu đại pháo của địch. Nhất là pháo binh của ta không có L19 hướng dẫn, chỉ điểm, điều chỉnh chính xác.
Đến 7 giờ sáng, địch ngưng pháo kích và cũng ngay lúc này Thiếu tá Trưởng ty Cảnh sát Darlac báo cáo thẳng với tôi:
- Thưa Đại tá, chiến xa CS đã tiến vào thị xã và hiện đang bố trí xung quanh nhà thờ thị xã. (Cũng nên ghi nhận là nhà thờ Công giáo này nằm ở trung tâm thành phố).
Lúc bấy giờ, vì Tiểu khu nằm dưới hệ thống chỉ huy của Sư đoàn 23 BB và để tiện phối hợp, bàn bạc kế hoạch chóng trả nhanh chóng. Tôi liề báo cáo và xin Tướng Phú được qua chung với Đại tá Vũ Thế Quang, tại Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 BB. Tướng Phú chấp thuận.
Mối lo ngại lớn lao của Đại tá Quang và tôi là chiến xa CS đã lọt vào giữa thị xã. Với kinh nghiệm của một sĩ quan kỵ binh tôi hiểu rất rõ hỏa lực tấn công của những con ngựa sắt này.
Tia hy vọng tới, khi trên bầu trời Ban Mê Thuột, đã xuất hiện L19 của Quân đoàn 2 gởi tới. Những chiếc phản lực cơ chiến đấu đã vần vũ trong vùng giao tranh để yểm trợ cho Tiểu khu Darlac và Sư đoàn 23 BB. Tinh thần chiến đấu của quân cán chính lên rất caọ Những đoàn chiến xa CS từ hướgn Bắc tiến về phía Nam đã bị các đơn vị Điạ phương quân của Tiểu khu đánh chặn lại. Sư tiến quân của CS rất chậm chạp.
9 giờ tin vui đem tới. Ta hạ được 2 chiến xa T54 địch và đang bốc cháy trước Câu lạc bộ Sĩ quan trên đường Thống Nhất. Sự chênh lệch về lực lượng ta và địch quá rõ. Địa phương quân phải so tài với quân chính qui Bắc Việt, với sự yểm trợ chiến xa và pháo binh. Còn bên ta, đội pháo binh tại Phụng Dực, cũng như phi pháo không thể yểm trợ vì dân chúng chưa được di tản. Cộng thêm, hỏa lực phòng không của địch rất dày đặc, làm phản lực cơ A37 của ta cũng không thể xuống thấp để thả bom cho chính xác được.
12 giờ 45, Thiếu tá Hy, Trưởng phòng 3 Tiểu khu báo cáo: BCH/TK đã bị pháo kích nặng nề. Một trái đã đánh trúng hầm TOC/TK làm nhiều người chết và bị thương. Trong số đó có Trung úy Năm, Trưởng phòng 5/TK đã đền nợ nước. Hệ thống và máy truyền tin chỉ huy bị hư hại nặng. Thiếu tá Hy xin phép được di chuyển Bộ Tham mưu ra khỏi vị trí. Tôi chấp nhận ngaỵ
13 giờ 30, Thiếu tá Hy báo cáo, địch quân đã tập trung pháo binh bắn vào Bộ Chỉ huy, sau đó chiến xa và bộ binh đang tràn ngập vào hệ thống phòng thủ.
14:00 giờ, BCH/TK coi như thất thủ hoàn toàn. Tôi liền báo cáo cho Tướng Phú. Tướng Phú ra lệnh cho trực thăng vận Liên đoàn 21 Biệt động quân xuống Ban Mê Thuột để tái chiếm BCH/TK.
Mãi đến 16 giờ chiêu, tôi mới nhận tin của Quân đoàn 2 rằng Liên đoàn 21/BDQ đang được trực thăng vận xuống Ban Mê Thuột để chiếm lại BCH/TK.
17:00 giờ, đoàn trực thăng đã đến gần thị xã nhưng không đáp xuống được vì phòng không CS bắn quá rát. Đến mãi 18 giờ, Quân đoàn 2 mới quyết định cho thả Liên đoàn 21 BDQ xuống BCH/Chi khu Buôn Hô rồi đi bộ tiến vào thị xã Ban Mê Thuột. Tôi liên lạc với Trung tá Dậu, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 21 BDQ, hối thúc Trung tá Dậu phải cho tiến quân nhanh vào thị xã để tái chiếm lại BCH/TK. Mãi đến 11 giờ khuya, Trung tá Dậu cho biết rằng đã tới ven thị xã Ban Mê Thuột mà không tiến vào được vì bị VC chặn đánh.
Tướng Phú ra lệnh cho Trung tá Dậu, với bất cứ giá nào đêm nay Liên đoàn BDQ phải tái chiếm BCH/TK.
Trung Tá Lê quý Dậu, Tr/T Ngô minh Hồng, 1971 tại Krek, Campuchia. (từ trái)
Sau khi CS chiếm được BCH/TK/DL xong là tiếng súng pháo binh cũng như súng trường đều được im lặng khắp mọi nơị
Tôi báo cáo lên Tướng Phú kết quả trong ngày là Tiểu khu bắn cháy 7 chiến xa T54 CS và rất nhiều xác VC. Tướgn Phú rất vui khen ngợi TK/DL (Darlac).
Tôi theo dõi cuộc tiến quân của Liên doàn 21 BDQ từng phút, cứ 15-20 phút là tôi liên lạc với Trung tá Dậu hỏi coi đã tiến tới đâu rồi. Vẫn những câu trả lời ngắn gọn:”Đang tiến nhưng gặp nhiều ổ kháng cự. Ở trong hầm TOC/SD/23 BB suốt đêm, tôi và Đại tá Vũ Thế Quang không nghe một tiếng súng nổ nào của bạn và địch cả.
Tôi ra lệnh cho ông Phó Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ và Trung úy Dzi hiện là tùy viên của tôi, nhưng trước là sĩ quan Chiến tranh Chánh trị của Tiểu khu, viết bài kêu gọi dân chúng yên tâm, ngày mai Quân đoàn 2 sẽ chiếm lại Bộ Chỉ huy Tiểu khụ
Tôi đọc ghi vào băng và phát ra cho dân torng thị xã Ban Mê Thuột nghe lúc 1 giờ sáng ngày 11/3/75.
Trong đêm, Phòng 3 Bộ Tổng tham mưu liên lạc với tôi bằng điện thoại nhiều lần, hỏi về tiÀh hình thị xã như thế nào. Tôi báo cáo: BCH/TK đã mất, Kho đạn Mai Hắc Đế, phi trường L19 đã bị CS chiếm từ sáng. Tôi và Đại tá Quang đang ở BTL/SD cố thủ, chờ quân viện của Quân đoàn 2. Tinh thần anh em sĩ quan và binh sĩ rất cao, không có gì nao núng.
Mặt trận Ban Mê Thuột ngày 10/3/1975
Lực lượng trừ bị của Tiểu khu là Trung đoàn 53 với 1 Tiểu đoàn và 1 Trung đội pháo binh cũng bị CS tấn công từ sáng nên không thể tiếp cứu, giúp đỡ gì được. cho Tiểu khu Darlac.
Tôi chờ đợi Liên đoàn 21 BDQ tiến vào thị xã, 2 giờ sáng ngày 11/3, rồi 3 giờ, rồi 4 giờ cho đến hừng sáng Liên đoàn 21 BDQ cũng không tiến vào được.
Đúng 7 giờ sáng ngày 11/3/75, CS Bắc Việt bắt đầu nã pháo binh vào Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23, chiếc xe Jeep của tôi đậu gần TOC cũng bị trúng pháo nổ tung rạ Tôi đoán chắc rằng CSBV đang cho pháo binh bắn vào vị trí BTL/SD 23 để chuẩn bị tấn công. Tôi nói với Đại tá Vũ Thế Quang, lúc này là lúc nguy ngập, sắp cận chiến, nếu không có cấp chỉ huy đứng bên cạnh binh sĩ để chỉ huy, thì binh sĩ sẽ bỏ chạy khi địch quân xung phong. Đại tá Quang đồng ý. Tôi nói với Đại tá Quang — Vì ở trước cổng BTL/SD (Bộ Tư lịnh Sư đoàn) có 1 chiếc M113, nên để tôi trấn giữ mặt đó, còn Đại tá Quang thì trấn giữ phía Tây Nam.
Lúc này khoảng 7 giờ 30 sáng. Tôi liền đi thẳng ra cửa BTL/SD đến chiếc thiết quân vận M113 đang bố trí tại cổng, dưới các loạt pháo kích 130 ly của CSBV gây nên một vùng khói lửa mịt mù.
Tôi nhảy lên chiếc thiết quân vận để quan sát thì thấy ngay ngoài cổng BTL khoảng cách độ 300 m đầy chiến xa T54 đã bao xung quang BTL. Đồng thời trong lúc này, Trung úy Hoành đặc trách phòng thủ dinh Tỉnh trưởng với 1 Trung đội Địa phương quân, báo cáo tư dinh, đang bị chiến xa tấn công và bắn trực xạ vào lầu tư dinh, đã bị sụp đổ. Trung đội phòng thủ đã hạ được 2 chiến xa địch ngay trước cổng dinh bằng súng M72. Tôi hết sức động viên khen ngợi Trung úy Hoành cố gắng chống cự.
Tôi cũng biết CS tấn công xong tư dinh là tấn công BTL SD 23.
Các chiến xa T54 đậu xung quanh BTL ngạo nghễ coi thường đối phương, không cần phải ẩn núp, ngụy trang chi cả, vì chúng nó biết bên ta không có một chiến xa nào cả để đương đầu, có thể tiêu diệt chiến xa của chúng.
Trung úy Hoành báo cáo chiến xa CS đã ủi sập cổng tư dinh và tấn công vào phía trước. Trung úy Hoành báo cáo vì có một số tử thương cùng bị thương, không thể chống giữ với đợt tấn công bằng chiến xa của địch, nên binh sĩ rất nao núng và xin phép được rút ra khỏi tư dinh.
Tôi chấp thuận.
(Trong khi chiến xa CS tấn công bắn trực xạ đại bác của chiến xa vào lầu của tư dinh, 3 đứa con trai của tôi vẫn còn ở trên lầu, có một đứa con trai út bị sức ép của viên đạn đại bác nổ ra, nó bị hơi đẩy té từ lầu, lăn xuống thang, rớt xuống đất bị thương ở ngực và chân).
Trung úy Hoành hướng dẫn Trung đội Điạ phương quân còn lại thoát ra ngoài. Còn 3 dứa con trai của tôi thì được toán phục dịch trong nhà dẫn theo Trung đội.
Tôi biết, sau khi thanh toán tư dinh, thì bọn CS sẽ cho lệnh xung phong vào BTL/SD 23.
Giờ phút nguy ngập sắp đến, tôi sợ binh sĩ bỏ chạy, liền nhảy xuống M113 đi một vòng theo hàng rào phòng thủ để kiểm soát binh sĩ và nhất là với mục đích cho binh sĩ thấy mặt cấp chỉ huy của mình, cùng trực tiếp tham dự vào trận đánh, nên không dám bỏ chạy. Tôi nói với binh sĩ hãy can đảm chống giữ BTL vì lực lượng của Quân đoàn 2 sắp tới. Kiểm soát và ra lệnh xong, tôi liền nhanh chân trở lại chiếc M113 và nhảy phóc lên trên, quan sát lại thì thấy các chiến xa T54 vẫn còn ở vị trí cũ.
Những giây phút cuối cùng của Bộ Tư lệnh SD 23 BB
Khoảng 10 giờ sáng, tiếng pháo địch im tiếng. Nếu ai đã ở trong binh nghiệp thì đều hiểu rõ tâm trạng của những phút giây im lặng này. Nó hoang mang và lo sợ hơn nhiều khi bên tai mình có tiếng súng nổ. Người ta cho là say súng. Mà thật vậy, khi đã làm quen với chiến trận, việc nghe thấy tiếng nổ làm mọi người quên chính mình và chỉ còn một cách duy nhất là chiến đấu. Chiến đấu để sống còn và ít ai còn để ý đến thần chết đang lảng vảng quanh mình. Tôi lại nhảy lên pháo tháp quan sát và thấy những chiếc xe đang chuyển bánh. Tôi nhảy vội xuống và la lớn:”Sẵn sàng ứng chiến!”. Tôi dứng cạnh trưởng xa va căn dặn chỉ được bắn khi chúng tới gần 100 m nhé. Các anh em đều răm rắp tuân lệnh theo và chờ đợi khúc phim nghẹt thở bắt đầu.
Chiến xa địch đầu chầm chậm tiến thẳng vào chiết vận xa M113. May mà ngụy trang khéo léo nên chúng không thấy. Tôi mừng quá và nói thầm trong bụng:”Mày sẽ chết con ạ”... Khói đen từ ống thoát phun ra mù mịt, chiến xa T54 địch, chiếc đầu chầm chậm tiến vào. Chúng vẫn chưa biết có chiếc M113 đang chờ đón nó vào cửa tử, vì được ngụy trang kỹ càng như đã nói trên.
Tiếng máy kêu ầm và các chiến xa đâm thẳng vào cổng Bộ Tư lệnh. Những con cua sắt ì ạch tiến gần cổng 250m, rồi 200m, rồi 100m. Thần kinh tôi như giãn ra. Tất cả anh em chúng tôi hồi hộp, giờ sinh tử bắt đầu. Tôi hét lớn “Bắn!”. Thay vì chúng tôi phải nghe tiếng nổ thật lớn của viên đạn vút ra khỏi nòng súng, thì trái lại cây súng chỉ cho chúng tôi một tiếng khô khan, lãng xẹc:”Cóc!”.
Trong khi mắt mọi người và tôi dán chặt vào những con cua sắt. Tôi gào lên:
- Gì thế! Gì thế!
Xạ thủ trả lời:
- Trở ngại tác xạ, Đại tá!
- Mở “culasse” ra xem?
- Trình Đại tá, “Percuteur” bị gẫy!
- Có “Percuteur” thay thế không?
- Thưa... không!
Tiếng “thưa không” làm tôi toát mồ hôi, vì đây là hy vọng cuối cùng cho sự cầm cự với Cộng quân để chờ viện binh tới. Cây súng đại bác 106 ly không giựt này là phương tiện duy nhất chống trả với T54 của địch mà thôị Các loại súng khác chỉ là trò đùa với những con cua sắt này.
Bây giờ tiêu diệt chiến xa địch bằng phương tiện gì đây? Tôi biết tôi phải rất bình tĩnh mới cứu được anh em và chính mình. À phải rồi, chúng ta còn oanh tạc cơ đang bay lượn trên không. Những chiếc phản lực cơ A37 sẽ xơi tái chúng một cách dễ dàng. Cũng nên biết từ ngày hôm qua cho đến sáng nay, phi cơ của ta chỉ có thể thả bom ở các mục tiêu xa ở ngoài thị xã. Trong thị xã còn 50,000 thường dân chưa được di tản, vì vậy tôi đã trình với Tướng Phú về việc này và ông đã chấp nhận không oanh tạc vào khu đông dân cự Cũng cần ghi nhận, từ trước tới giờ, chưa bao giờ thị xã bị pháo kich của CS hoặc tấn công nên không gia đình nào có hầm trú ẩn... Nay thì chiến xa địch đã lọt vào thị xã thì các oanh tạc cơ cũng không có cơ hội nhào xuống thấp để đánh trúng mục tiêu vì phòng không của Cộng quân quá mạnh. Cứ mỗi lần máy bay quan sát L19 hay oanh tạc cơ bay thấp một chút là phòng không địch đã bắn lên trời như cảnh đốt pháo bông trong ngày Quốc Khánh.
Tôi liên lạc ngay với L19 và nói chấp nhận sự nguy hiểm để dùng phản lực cơ dội bom thẳng vào các chiến xa đang tiến vào Bộ Tư Lịnh Sư đoàn 23 BB, và như vậy mới chặn đứng cuộc xung phong của CS. Trong lúc chờ đợi phi cơ làm thịt mấy con “cua sắt”, tôi đi lui đi tới kế cận các chiến sĩ đang ghì tay súng chống trả lại địch quân.
Thình lình, mọi người nghe một tiếng nổ “ầm” thật khủng khiếp vang dội cả một góc trời. Cát, đá, bụi tung lên cao cả hàng trăm thước. Thôi hỡi ơi! Trung tâm Hành quân Sư đoàn (TOC), nơi đầu não Mặt trận Ban Mê Thuột để chống lại địch quân đã bị Không quân ta đánh trúng.
TOC bị sập và các phương tiện truyền tin thiết trí trong đó đều tiêu tùng theo mây khói. Một số lớn sĩ quan, binh sĩ ở trong TOC bị chết và bị thương. Ai cũng biết, trong trận mạc, truyền tin là huyết mạch chính. Bây giờ không còn để liên lạc với cấp trên và thông tin cho cấp dưới nữa. Không một chút suy nghĩ, tôi chạy về phía sau TOC để bàn với Đại tá Quang. Tôi nói nhanh với Đại tá Quang nhận định của tôi:
- Chúng ta không thể cố thủ được nữa vì đầu não của chúng ta là Trung tâm hành quân nay đã sụp đổ. Không có truyền tin, không có chiến xa làm sao chận đứng những chiến xa T54 và bộ binh CS đang tiến vào căn cứ. Trong khi đó chúng ta không có viện binh. Tồi đề nghị chúng ta rút ra khỏi vị trí phòng thủ BTL Sư đoàn ngay để bảo toàn lưc lượng còn lại.
Đại tá Quang đồng ý và ra lịnh rút quân. Chúng tôi vọt ra khỏi hàng rào và hướng về phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” - cách BTL Sư đoàn 250m.
Cũng may mùa này là mùa khô nên suối cạn. Đáy suối lại thấp hơn mặt đất tới 15m nên rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo rất đông, chừng 100 người. Xa xa tiếng phát thanh tuyên truyền của địch quân gần Chùa Phật giáo của Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Chúng tôi tiếp tục di chuyển về phía Tâỵ Nhìn anh em binh sĩ, súng trên vai và lầm lũi theo mình. Đến giờ phút này tôi mới thấy tình chiến hữu bên nhau thắm thiết. Lòng tôi bỗng chùng xuông. Không có bút nào tả cho hết nỗi nhọc nhằn, buồn tủi của chúng tôi khi phải xa lìa BLT Sư đoàn, tượng trưng cho sự thách đố với địch quân. Tôi không dám ngoảnh mặt nhìn lại một lần cuối vì sợ không biết chính mình có đủ can đảm để không nhỏ nước mắt cho số phận hẩm hiu, xui xẻo cho Ban Mê Thuột, cho anh em binh sĩ, cho chính mình không? Đừng oanh tạc lầm, thì bây giờ mình đâu đến nỗi trở thành kẻ chạy trốn như thế này. Ôi Ban Mê Thuột, xin tạm biệt mi và hứa sẽ trở về bên mi suốt đời...
Hình ảnh lê thê lếch thếch của đoàn quân ô hợp, như những khúc phim trên màn bạc cho trận thế chiến II - trận Dunkerque năm 1940, mà lực lượng đồng minh phải bỏ thành phố vì bị Đức tràn ngập. Lúc đó ho còn thiết giáp, nhưng thiết giáp của Đức tối tân hơn nên phải ra hàng. Họ chạy đến bờ biển và đã kiếm bất cứ phương tiện nào như du thuyền, canô hay thùng phao để thoát. Còn tôi bây giờ còn gì đâỵ Sinh ra làm lính thiết giáp mà bây giờ di chuyển như lính bộ binh. Tôi cũng không biết mình là ai bây giờ. Mình là cấp chỉ huy hay chỉ là một binh sĩ tầm thường? Lo cho anh em ra sao đây và chính mình sẽ ra sao đây? Trong những giây phút cuối cùng của đời binh nghiệp, chết hay sống là chuyện bình thường. Lúc vào lính, tôi đã có lúc nghĩ đến lúc mình làm thân chiến bại hay một viên đạn xuyên vào lồng ngực. Nhưng không ngờ trong cảnh huống này nó lại sầu đau chất ngất như lúc này, tủi nhục như bây giờ? Tôi chưa dám nghĩ quẩn vì bên cạnh mình còn anh em đang trông chờ nơi mình. Chỉ một phút sai lầm, sẽ đem anh em và mình xuống hố sâu vực thẩm. Tôi chỉ bàn với Đại tá Quang. Mình phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác của địch quân. Tôi đề nghị:”Toa” đi về một phía, “moa” một phía và cố gắng tìm về Nha Trang nhé. Đại tá Quang gật đầu và chọn ngay cho mình một quyết định. Vị Tư lịnh chiến trường Ban Mê Thuột nói với tôi:”Moa sẽ đi về hướng Nam, đến gần cầu khoảng cách 14km là tìm đường về Nha Trang”. Còn tôi không còn chọn lựa naò khác hơn là đi về hướng Tây, nằm về khu cà phê của Trung tướng Hoàng và chờ trời tối sẽ bọc lên phía Bắc Ban Mê Thuột và từ đó tìm về Nha Trang. Thật là đau thương, khi làm việc có nhau, và giữa phút nghiêm trọng này chúng tôi cần có nhau hơn. Nhưng hoàn cảnh lại không cho phép như vậy. Đành chia tay nhau và may ra còn cứu được lấy định mệnh riêng của mình.
Trước khi chia tay, chúng tôi bèn tập trung anh em binh sĩ lại và tôi tuyên bố:
- Tôi xin thay mặt cho chính phủ và quân đội tuyên dương công trạng của anh em - những chiến sĩ anh hùng, can trường đã chống trả mãnh liệt với bọn CS xâm lược miền Nam với một tinh thần hy sinh cao độ. Từ 2 giờ sáng ngày hôm qua cho đến cho đến giờ này các anh em đã làm tròn nhiệm vụ mà đất nước giao phó cho dù địch quân có đông gấp mười chúng tạ 2 quả bom rơi nhầm vào Trung tâm Hành quân đã đưa chúng ta tới nông nỗi này. Bây giờ anh em phân tán mỏng đừng dể địch quân phát giác và tìm cách trở về Nha Trang. Hy vọng lúc đó chúng ta sẽ tập họp lại để tiếp tục chiến đấu... Toàn dân ghi công anh em. Tổ quốc VN ghi công anh em. Xin tạm biệt.
Với nét buồn vô tận, anh em đã nghe tôi nói như lời biệt ly sầu thảm. Nhiều anh em đã bật khóc, khiến tôi không dám nhìn thẳng vào mặt họ và lặng lẽ giơ tay chào anh em. Nhìn anh em binh sĩ, Đại tá Quang và tôi còn nguyên vẹn bộ đồ tác chiến, giây ba chạc, áo giáp, nót sắt. Nhìn chiếc hoa mai bạc trên ngực Đại tá Quang, tôi đề nghị nên dấu nó đi để dễ bề ngụy trang trong khi di chuyển. Chúng tôi chia tay nhau mà ai cũng như muốn khóc. Đi theo con suối Bà Hoàng mà lòng tôi như bị cắt từng đoạn ruột, chúng tôi len lỏi qua các bụi lau sậy, những tảng đá lớn và những nhà chòi mà người dân cất làm chỗ tạm thời che nắng đụt mưa khi làm việc cả ngày ngoài đồng áng. Đi khoảng 100m tôi ngó lại vẫn còn chừng 20 người theo tôị Trong đó có ông Phó Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, Nguyễn Ngọc Vy, một người kỳ cựu của vùng Darlac và nhất là thị xã Ban Mê Thuột.
Tôi liền hỏi ông Vy:
- Anh có biết dồn điền cà pê của Trung tướng Thái Quang Hoàng ở đâu không?
Ông Vy chỉ tay về hướng đằng trước mặt:
- Thưa Đại tá tôi biết. Xin Đại tá cứ tiếp tục đi về phía Tây là sẽ tới.
- Vậy khi nào đi ngang qua anh cho biết nhé. Chúng ta sẽ vào đó ẩn núp cho đến tối. Lợi dụng bóng đêm chúng ta sẽ bọc về phía Bắc rồi tìm đường về Nha Trang.
Ông Vy gật đầu và chúng tôi âm thầm tiếp tục di chuyển. Việc tôi chọn đồn điền của Trung tướng Thái Quang Hoàng vì đồn điền này đã có từ lâu tất nhiên cây cỏ đã cao và rậm rạp rất dễ ngụy trang... H3> Những phút cuối cùng của đời binh nghiệp
Chúng tôi tiếp tục đi khoảng 300m, anh Nguyễn Ngọc Vy nói với tôi:
- Trình Đại tá, chúng ta đã tới ngang vườn cà phê của Trung tướng Hoàng rồi đây.
Tôi nói ngay:
- Bây giờ chúng ta phân tán mỏng và cẩn thận bò từ con suối này lên vườn cà phê và mỗi người hãy chọn một chỗ ẩn núp và rồi chờ đến tối chúng ta sẽ tìm đường thoát thân về Nha Trang.
Tuân theo lời nói của tôi tất cả đều giăng hàng ngang và từ từ bò lên bờ suối. Sự hồi hộp đến với mọi người vì phải bò băng qua một thửa đất bằng lộ thiên - không có cây cối nào để ngụy trang, ẩn núp được. Nhìn toán người theo tôi, tôi rất lo ngại. Phần vì, có hơn phân nửa là quân nhân, còn kỳ dư là nhân viên hành chánh với những chiếc sơ mi áo trắng rất dễ dàng cho địch quân phát giác. Tôi rất ngao ngán cho việc vượt thoát này. Nhưng không còn một con đường nào khác. Chúng tôi bò tiến lên ngang mặt đất. Vưà lúc đó hàng loạt súng cộng đồng nổ vang và nhắm vào đoàn người chúng tôị Đạn cày xới lên đất làm tung bụi mịt mù. Phản ứng tự nhiên của mọi người là chạy ào lên vườn cà phê để ẩn núp. Bây giờ tôi mới thấm thía câu “đạn tránh người chớ không phải người tránh đạn”. Nhiều người trúng đạn đã lăn ra chết hoặc rên la vì bị thương. Dưới hỏa lực vũ bão, tôi vẫn bò như người lính trong quân trường. Nhìn sang bên cạnh có Thiếu úy Phương, tùy viên của tôi vẫn bám sát lấy tôị Tôi rất cảm phục người sĩ quan tùy viên này, dù đến phút này tinh thần kỹ luật vẫn còn giương cao và vẫn làm tròn nhiệm vụ của một quân nhân gương mẫu. Tiếng đại liên, tiếng gào thét của chiến xa đang tiến về chúng tôi như cuộc bủa vây đang thắt chặt. Tôi biết chúng tôi không thể nào thoát trước một thế trận đường cùng này. Tôi bèn bàn với Thiếu úy Phương là chúng ta nên đầu hàng. Như hiểu ý tôi, Thiếu úy Phương cởi áo lót trắng và lấy cây đưa lên cao phẩy qua phẩy lại để ra dấu hiệu đầu hàng. Lập tức súng đại liên ngưng bắn và chiến xa tiến sát về phía chúng tôị Chúng ngừng cách chúng tôi khoảng 10m, một cán binh CS nhảy ra khỏi chiến xa, với khẩu AK47 chĩa thẳng vào chúng tôi và quát lớn:
- Tất cả hãy giơ tay lên! Giơ tay lên!
Mọi người đều tuân lệnh hắn. Nó hỏi tôi:
- Tụi bây chức vụ gì và cấp bậc gì??
Như cái máy, tôi trả lời:
- Tôi là Đại tá Tỉnh trưởng.
Hắn tròn xoe mắt lại và nghi ngờ:
- Thật không? Thật không?
Tôi gật đầu và hắn hỏi tiếp:
- Tên gì nói mau.
Tôi không ngần ngại:
- Nguyễn Trọng Luật!
- Thật không?
- Thật.
Khi biết tôi là sĩ quan cao cấp, hắn sững người và rất đỗi ngạc nhiên. Hắn càng ghìm tay súng vào đầu tôi và nói hãy đứng yên và giơ tay cao khỏi đầu, và hắn tiếp tục hỏi Thiếu úy Phương như vậy. Một cán binh khác nhảy từ trên xe đến lột hết quần áo chúng tôị Trên người tôi và Thiếu úy Phương chỉ còn chiếc áo lót và chiếc quần treillis. Chúng lấy hết súng lục, áo giáp, nón sắt, giầy boots và luôn cả vớ. Chúng nhanh tay lấy giây trói chặt tay chúng tôi ra đằng sau và đẩy chúng tôi mỗi người vào một hố cá nhân. Chừng nửa giờ sau, từ phía Tây một chiến xa khác tới. Một cán binh người mập mạp, mặt mũi sáng sủa nhảy ra khỏi chiến xa và tiến tới tôi chất vấn:
- Anh có thật là Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Darlac không?
- Đúng.
- Thôi anh ngồi chờ, chốc lát sẽ có xe đưa anh đi.
Khoảng 4 giờ chiều, cũng từ phía Tây một chiến xa xuất hiện và bốc một mình tôi lên xe. Cửa xe đóng lại tối thui và xe bắt đầu di chuyển. Tôi có thể đoán chắc là chúng đi về hướng Tây để đến Bộ Chỉ huy của chúng. Đến lúc này, tôi thật bình tĩnh và coi nhẹ những sự việc xảy ra cho mình. “Sinh nghề tử nghiệp. Tôi là sĩ quan thuộc binh chủng Thiết giáp và bây giờ bị bắt bởi chính đoàn quân kỵ mã này. Dầu sao, tôi vẫn còn những tia hy vọng rọi xuống tâm hồn khô héo của tôi lúc này là tiếng súng vẫn còn vang động khắp chiến trường Ban Mê Thuột. Phản lực cơ của quân đội ta vẫn vần vũ trên không phận thân quí Cao nguyên. Dù tôi có bị bắt, nhưng hy vọng của tôi vẫn là Ban Mê Thuột vẫn như thành đồng trụ sắt. Quân tiếp viện sẽ tới và những con mãnh hổ sẽ làm tròn nhiệm vụ của người lính VNCH ngàn đời uy danh. Ban Mê Thuột vẫn ngạo nghễ thách đố với mọi hoàn cảnh...
Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột
Bây giờ với đời sống thật sự thanh thản, bình tâm mà nhìn lại, nghĩ lại tôi thấy vài điều cần được xét lại. Tất nhiên không phải để phê phán, hay gỡ tội hoặc giả để lẩn tránh trách nhiệm, lẩn tránh sự thật. Nhìn lại, nghĩ lại chỉ có mục đích duy nhất là chia sẻ với những người còn sống về một biến cố trọng đại đầu tiên đã dẫn tới sự sụp đổ của chính thể và chế độ VNCH tại miền Nam nước Việt.
1. Mất tỉnh, Tỉnh trưởng phải chịu trách nhiệm?
Đây là câu nói thông thường của những người thiếu hiểu biết. Nhiệm vụ của Tỉnh trưởng chỉ là trách vụ về hành chánh, kinh tế, chính trị, v.v...mà thôi. Về an ninh quân sự lại nằm trong tay Tiểu khu trưởng.
Nhiệm vụ của Tiểu khu trưởng là giữ an ninh các cơ sở, đường xá, cầu cống, tìm kiếm tin tức tình báo để báo cáo len cấp trên, cũng như truy lùng, tiêu diệt du kích và những cán bộ CS xâm nhập vào vùng trách nhiệm của mình. Tiểu khu trưởng chỉ có trong tay những Tiểu đoàn Địa phương quân, Nghĩa quân, Cảnh sát và tổ chức Nhân dân Tự vệ... Vì vậy, các đơn vị này không có khả năng đương đầu với quân chính qui của địch.
Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột, Tiểu khu Darlac đã nhiều lần báo cáo có những dấu hiệu về sự xuất hiện hoạt động của quân chính qui CS. Bằng chứng là tại phía Tây, Ban2 Tiểu khu Darlac đã phát hiện ống dẫn dầu của quân Bắc Việt hay những dấu xích chiến xa để lại ở phía Tây Ban Don và Ia Sup. Đặc biệt ngày 7/3/75, Tiểu khu Darlac hành quân đã bắt được một tù binh thuộc Sư đoàn 320/BV đang giăng giây điện thoại. Tin tức này cũng không thuyết phục nổi Tướng Phú và Tướng Tường để cho Trung đoàn 45 BB trở lại Ban Mê Thuột. 2 ông này vẫn còn ám ảnh về CS sẽ đánh Kontum hay Pleikụ Chưa bao giờ các ông cho rằng Ban Mê Thuột sẽ bị tấn công.
2. Tại sao Tiểu khu lại không biết chiến xa địch tiến vào Ban Mê Thuột?
Câu hỏi này làm tôi thắc mắc mãi và muốn tìm câu trả lời cho chính mình. Khi ngồi trong tù, tôi có đọc “Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng tôi mới vỡ lẽ. Các chiến xa của CS đã được bố trí cách thị xã Ban Mê Thuột trên hàng trăm km về phía Tây Bắc, trong rừng úi trùng trùng điệp điệp của Cao nguyên. Nhìn trên bản đồ, Phòng 2 hay cấp chỉ huy bao giờ cũng tiên đoán ngay và cho rằng nếu chiến xa địch, nếu có tấn công đêm nay, thì chỉ có khả năng tấn công Pleiku chứ không thể là Ban Mê Thuột. Vì xung quanh Ban Mê Thuột, hay phía Tây, dù Tây Bắc hoặc Tây Nam đều là dãy rừng già với cây cối cao lớn. Qua con mắt của một sĩ quan kỵ binh như tôi, việc tấn công Ban Mê Thuột bằng chiến xa khó có thể thực hiện nổi. Trái lại, Pleiku với những đồi thoai thoải, trống trải, không có cây cối là địa bàn lý tưởng cho chiến xạ Nhưng, đây là chữ nhưng to tướng, nghĩa là CS đã cho công binh dọn đường trước, bằng cách cho cưa tất cả các cây lớn mà chiến xa không ủi ngã được. Bọn CS đã không cưa đứt hẳn để cây đổ xuống làm phi cơ quan sát được, mà chỉ cưa 2/3 cây thôị Trên máy bay do thám của ta luôn luôn thấy cây cối um tùm như thường, không có con đường nào băng qua rừng cả. Đến khi mặt trời lặn chiến xa cứ việc trực chỉ Ban Mê Thuột, và khi gặp những thân cây lớn, chiến xa cứ ủi xập những cây mà công binh đã cưa sẳn 2/3. cây lớn đều nằm rạp xuống và chiến xa cứ thế mà tiến lên dễ dàng. Khi gần tới thị xã, CS đã cho pháo kích vào thị xã để che lấp tiếng động cơ của các chiến xa đang di chuyển...
3. Làm sao Địa phương quân có thể tiêu diệt chiến xa?
Tôi là sĩ quan kỵ binh được giao trọng trách chỉ huy trưởng Tiểu khu Darlac, ngoài ý muốn của tôi. Kinh nghiệm về Thiết giáp vẫn là sở trường của tôi. Khi tôi nhậ nhiệm vụ lẽ tất nhiên tôi đã để ý nhiều về những con ngựa sắt này. Tất cả thiết giáp của ta đều được điều dộng về Pleiku hết. Ban Mê Thuột chỉ cò có 2 chiếc Commando car để tuần tiểu, hộ tống cho các đoàn công voa hay các cấp chỉ huỵ Trong đầu tôi bao giờ cũng đặt ra câu hỏi, liệu CS tấn công các chi khu hay đồn bót bằng chiến xa thì sao? Vì vậy, việc đầu tiên nghĩ đến là loại súng M72, loại chống chiến xa mà Quân đội Hoa Kỳ cung cấp. Tôi bèn xin BTL Quân đoàn 2 cho trang bị loại súng trên cho Tiểu khụ Không có toán, tiểu đội, trung đội, đại đội nào thuộc Địa hương quân của Tiểu khu Darlac là không có trang bị M72. Ngay cả những Trung đội Nghĩa quân nữa. Tôi chỉ thị cho các sĩ quan và binh sĩ đều phải sử dụng M72 một cách nhanh nhẹn và chính xác. Tôi còn luôn luôn kiểm soát chặt chẽ và khi tôi thanh tra bất cứ một đơn vị thuộc Tiểu khu Darlac, bất cứ đâu, từ sĩ quan đến binh sĩ đều lưu lại khảo hạch và chờ biểu diễn cách sử dụng M72 chống chiến xa, cũng như ân cần nhắc nhở mọi người làm sao tăng hiệu năng của của súng và bắn cho chính xác. Trong trận đánh Ban Mê Thuột, 9 chiến xa CS nằm ụ trên đường Thống Nhất hoặc trước mặt BCH Tiểu khu và Dinh Tỉnh trưởng đều là công đầu của các chiến sĩ Điạ phương quân Tiểu khu Darlac. Ai cũng biết, các oanh tạc cơ của ta không được thả bom vào thị xã mà chỉ được đánh bom vào các mục tiêu ven thị xã mà thôị Oanh tạc cơ của ta chỉ có một lần đánh vào chiến xa địch trước mặt BTL Sư đoàn 23 BB với 2 quả bom. Nhưng thảm thương thay lại đánh trúng Trung tâm Hành quân của Mặt trận Ban Mê Thuột. Tôi cũng cần minh xác, tôi viết ra đây những sự kiện này, không phải là kể công cho Tiểu khu Darlac hay phiền trách Không quân, mà là những lời nói danh dự của một sĩ quan QLVNCH biết tự trọng, liêm sỉ và sự trung thực gởi đến các chiến hữu đã sát cánh bên nhau trong những ngày lửa đạn và các bạn.
Tôi cũng xin kể thêm, năm 1984, trong hời gian tôi ở trại tù Nam Hà — Hà Nam Ninh. Một buổi sáng tôi đang gánh nước tưới rau, vì tôi thuộc trung đội trồng rau cho trại. Tình cờ tôi gặp một thanh niên trạc ngoài 30 tuổi, lại chào tôi:
- Chào Đại tá.
- Thôi cứ gọi nhau bằng anh em đi, vì nước mất nhà tan rồi, còn đâu là tá với tướng.
- Không! Riêng với Đại tá, tôi vẫn tôn kính là Đại tá. Tôi phục Đại tá là chưa có Địa phương quân của Tiểu khu nào mà bắn cháy được chiến xa CS được. Riêng chỉ có Địa phương quân Darlac là tiêu diệt được T54 của địch. Tôi còn nhớ ngày 11/3/75, tôi là người đi dọc theo đường Thống Nhất để lấy tin tức về báo cáo cho Đại đội 23 Thám sát của tôị Tôi đã đếm được 10 chiến xa bị bắn cháy.. Sự thán phục ấy đến nay tôi mới gặp Đại tá để bày tỏ nỗi niềm cũng như chào kính và thăm hỏi Đại tá.
- Vậy anh là ai và ở đâu?
- Tôi tên là Chí trước thuộc Đại đội Thám báo Sư đoàn 23 BB. Hiện nay tồi còn bị tù ở đây cùng với Đại tá nhưng ở khu khác.
- Cám ơn anh về những lời khen cho Địa phương quân Tiểu khu Darlac. Xin anh một điều là từ bây giờ chúng ta cứ gọi là anh em thôị Vì như tôi đã nói lúc nãy, đất nước đã mất rồi, chúng ta chỉ còn tình nghĩa để đối với nhau mà thôi.
- Dạ nếu như Đại tá cho phép thì tôi vâng.
Lòng tôi dâng lên một niềm vui sướng cho buổi gặp gỡ ngắn gọn ấy. Thứ nhất là dù trong hoàn cảnh tù đày anh em vẫn tôn kính nhau và họ nhận ra tôi đã không làm điều sai quấy khi còn tại chức. Đây cũng là phần thưởng cho tôi vì trong tù anh em thường hay nói với nhau:”Khi ở tù rồi mới biết ai là tướng tá thật, ai là tướng tá giả — đáng kính hay đáng khinh...
Thứ hai là anh Chí đã xác nhận số chiến xa bị bắn cháy mà do Thiếu tá Trưởng Phòng 3 báo cáo cùng tôi là 9 chiếc mà bây giờ là 10 chiếc.
4. Tướng Phạm Văn Phú là tướng giỏi hay dở?
Tướng Phú hoàn toàn bị địch đánh lừa và ít ra không có kinh nghiệm chiến trường Cao nguyên. Trước kia, khi còn Quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại VN, tin tức tình báo chiến lược hay tin tức liên quan đến các đơn vị lớn của VC đều do Mỹ cung cấp. Nhưng sau Hiệp định Paris, nguồn tin từ Mỹ đều chấm dứt và Phòng 2 của ta chỉ còn khả năng lấy tin tức các đơn vị chính qui Bắc Việt bằng cách tìm điện đài của địch. Vì biết được yếu điểm này của QLVNCH, nên CS vẫn cho điện đài phát thanh hàng ngày như thường lệ và tuyệt đối im lặng truyền tin trong khi di chuyển về phía Nam. ViÀvậy Tướng Phú cứ đinh ninh là các Sư đoàn Bắc Việt vẫn còn ở phía Tây Pleiku và Kontum.
5. Tổng Thống và Tổng Tham mưu Trưởng
Nếu qui trách nhiệm cho Tướng Phú làm mất Ban Mê Thuột vì dở là quá saị Vì kế hoạch hành quân hay bố trí các đơn vị để phòng thủ các Vùng đều được Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Thống (Tổng Tư Lệnh) duyệt xét và chấp thuận mới được thi hành. Quân đoàn 2 và Tướng Phú được sự chỉ huy trực tiếp của Tổng TMT và TT. Mất Ban Mê Thuột đâu phải trách nhiệm riêng gì của Tướng Phú mà chính là Tổng TMT và TT. Các đơn vị chia sẻ trách nhiệm như Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, Cục An ninh Quân đội, Đơn vị 101/TTM. Tất cả các cơ quan trên làm gì, để các đại đơn vị Bắc Việt di chuyển về phía Nam, để đánh vào thị xã Ban Mê Thuột? Ai là người dám công khai lãnh nhận trách nhiệm? Cho đến nay, trong chiến tranh VN mới chỉ có thấy ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara là dám nói len lỗi lầm của ông ấy mà thôị Bằng một cuốn sách, McNamara nhận trách nhiệm. Còn ai nữa? Hay tất cả chỉ cầu mong thời gian khỏa lấp vào “cuối trời lãng quên” hay là viết hồi ký để rửa tay kiểu quan Phi-la-tô trong Thánh kinh khi trao Đức chúa GieÁsu cho dân chúng muốn làm gì thì làm, muốn giết chúng mày cứ việc giết, tao không có trách nhiệm gì hết? Ngụy biện quá sức.
6. Hãy so sánh lực lượng đôi bên
a) Lực lượng Quân đoàn 2
- Sư đoàn 22 BB
- Sư đoàn 23 BB
- 4 Liên đoàn BDQ (bằng 1 sư đoàn)
- 1 Lữ đoàn Thiết giáp
- 1 Sư đoàn Không quân (Sư đoàn 6 Không quân)
- 1 Trung đội Hoả tiển TOW
b) Lực lượng CS
- Sư đoàn 320
- Sư đoàn F10
- Sư đoàn Sao Vàng
- Sư đoàn 968
- Pháo binh 130
- Pháo binh Phòng không (Sư đoàn)
- Thiết giáp Lữ đoàn)
- Các đơn vị Công binh
- Các đơn vị Đặc công (2 Trung đoàn)
Nhìn qua tương qua giữ ta và địch, với nhiệm vụ phòng thủ, ta có thể làm tròn nhiệm vụ một cách dễ dàng. Trong binh pháp ai cũng biết, một lực lượng tấn công, phải gấp 3 lần lực lượng phòng thủ mới mong thắng trận được. Mất Ban Mê Thuột ta đã bị đánh lừa, vì ta không biết địch tấn công ở đâu, cũng giống như trên bàn cờ tướng, ta thua vì không biết nước chiếu của đối thủ.
7. Bài học của người Pháp
Khi còn là Đại úy, tôi đã có dịp theo học một khóa tham mưu, trong đó học chiến thuật, chiến lược. Người Pháp đã để lại một tài liệu nói về Cao nguyên. Đại ý:”Muốn giữ Cao nguyên thì phải giữ Ban Mê Thuột. Muốn giữ miền Nam phải giữ Cao nguyên”. Phải chăng qua nhận dịnh đó, chúng ta đã mắc tới 3 sai lầm:
- Dời Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 về Pleiku?
- Tập trung quân giữ Kontum và Pleikụ
- Bỏ Cao nguyên để giữ miền Nam?
8. Những chuyện nghe được từ trong tù
Tại trại tù Nam Hà (Hà Nam Ninh), tôi được biết đứa con út của tôi đã chết tại xã Châu Sơn cách thị xã Ban Mê Thuột chừng hơn 3km. Số là khi CS tràn ngập tư dinh Tỉnh trưởng Darlac, các con tôi đã theo chân những binh lính trong dinh chạy trú ẩn tại nhà cha Tâm, cha sở xã Châu Sơ, một xã phần dông là người Công giáo từ Bắc di cư vào Nam năm 1954, nên có tinh thần chống Cộng cao độ. CS đã nã pháo kích như mưa vào làng, làm trúng hầm trú ẩn gia đình cha Tâm. Kết quả là đứa con út tôi và 2 đứa cháu của cha Tâm bị tử thương. Cũng trong tù CS, tôi có gặp Đại tá Nguyễn Văn Của, Thiết giáp, Tỉnh trưởng tỉnh Châu Đốc đã có dịp nói chuyện cho tôi biết: “Khi thị xã Ban Mê Thuột bị mất, TT Thiệu đã triệu các Tỉnh trưởng về họp tại Dinh Độc lập và có phán một câu xanh rờn, “Thằng Luật trở về trình diện, tôi sẽ xử bắn ngay vì bỏ chạy mà không giữ được thị xã. Còn các anh cũng vậy, ai bỏ tỉnh mà chạy, tôi cũng bắn ngay”.
Nghe lời kể của anh Của mà lòng tôi xót xạ Ở dời ai có hiểu mình và tôi lại nhớ tới bài hát “Bay Đêm” của Song Ngọc có câu “Ở đời ai hiểu ai...” để an ủi chính mình trong đời lao tù không có ngày ra này. Thêm nữa, cũng may cho tôi là tôi đã không có bỏ tỉnh, chạy trước khi địch quân đến như ít vị Tỉnh trưởng khác và cũng may là tôi còn ở lại cố thủ để bị bắt tại chiến trường. Nếu không bị xui xẻo vì bị oanh tạc lầm vào TOC, nếu quân tiếp viện đến kịp thời thì đâu đến nỗi bị bắt và ở tù tại miền Bắc 13 năm, 5 tháng, 25 ngày.
Để chấm dứt bài này, sau khi gia đình tôi đã được định cư tại Mỹ, qua diện HO. Vì chưa ổn định được đời sống nên tôi chưa có dịp diện kiến TT Thiệu để thưa lại vị Tổng tư lịnh của tôi đôi điều. Có một cảm nghĩ mà tôi cứ suy nghĩ mãi là các Tướng VNCH có đọc truyện Tàu không, nhất là Tướng Phú, để không bị CS đánh lừa ở vùng 2. Vì nếu đọc truyện Tàu đời xưa, chúng ta đều biết trận đánh giữa Hàn Tín và Hạng Võ được gọi là “Minh tu sạn đạo; ám độ trần thương”.
Vũ Thế Quang (trái) Đại tá Sư Ðoàn phó Sư đoàn 23y và Ðại Tá Nguyễn Trọng Luật (phải) Tiểu khu trưởng Đắc Lắc bị bắt
Chuẩn Tướng Lê Trung Tường
Người anh cả Sư Đoàn 23BB, QLVNCH
Chân Dung Cố Chuẩn Tướng Lê Trung Tường
Cựu Đại Tá Lê Khắc Lý (phải)
Đại Tá Nguyễn Trọng Luật
(Florida, 6/9)5

Friday, February 7, 2020

NGƯỜI DÂN KHÔNG SỢ GIAN KHỔ , NHƯNG HỌ CHỈ SỢ KHÔNG CÔNG BẰNG .-- Ông HCM đã nói như vậy, mà đã lâu tôi không nghe BC LỀ PHẢI hay CÁC QUAN Ở VN nhắc tới . Có lẽ nói ra thấy nhột nên ko dám nói .
Nước Pháp , từ ngày thành lập tới giờ , vẫn giử và thực hiện khẩu hiệu : TỰ DO , CÔNG BẰNG VÀ BÁC ÁI .
Mà ba thứ này ở VN đều thiếu trầm trọng .
1/ Tự do : thì các bạn đã quá rỏ .
2/ Công bằng : có 2 luật pháp , 1 cho dân và 1 cho đảng viên . Cái này các bạn củng quá rõ .
3/ Bác ái : Có những người dám sắm xe khủng , đập bỏ nhà trị giá hàng trăm tỉ (vì ko vừa ý). . . xây nhà thờ họ hàng chục/trăm tỉ . . . trong khi đó , bịnh viện thì BA BỐN NGƯỜI NẮM 1 GIƯỜNG , TRẺ EM THẤT HỌC ĐI BÁN VÉ SỐ . . . (cái này các bạn rành hơn tôi vì là ng tại chổ) .
Trong tạp chí National Geographic từ mấy chục năm nay , họ đã viết : những đau khổ triền miên bắt đầu từ giửa thế kỷ 20 là do tổ tiên ng VN đã tiêu diệt dân Chàm . Những người lính , quan và vua này của Chàm - kiếp này đầu thai làm các quan tham từ cấp xã đến trung ương ở VN - để trả thù .
Chỉ có giải thích như vậy mới hiểu được sự VÔ CẢM và TÀN ÁC của bọn quan bây giờ . Chúng đã cười đùa trong khi đang ĐÀY ĐỌA dân tộc này . Tôi ngày đêm cầu mong , 1 ngày nào đó , chúng sẽ được THÂU HỒI (Recall) như xe hơi bị hỏng hóc phải thâu hồi hàng Triệu chiếc . Các bạn thấy , chúng ngoan cố khi trơ trẽn tuyên bố : Hiến Pháp vừa rồi là ý đảng lòng dân ?!?.
Các ĐBQH này có được dân bầu qua cách PHỔ THÔNG , TRỰC TIẾP VÀ KÍN không ; hay chỉ là những người đã đươc Đảng lựa chọn .
Tuy là người hải ngoại , và ko mơ ước trở về để giử 1 chức vụ nhỏ hay lớn ở VN trong tương lai , nhưng tôi rất BẤT NHẪN khi thấy dân VN đau khổ triền miên .
Vì 1 lẽ rất đơn giản , tôi quan niệm : TÔI LÀ NG , NHỮNG GÌ LIÊN QUAN ĐẾN CON NGƯỜI ĐỀU LIÊN QUAN ĐẾN TÔI
Nếu tôi ko làm được điều này , tôi còn thua cả giống ngựa vì :1 con ngựa đau cả tàu ko ăn cỏ ! Loại vật còn biết thương yêu , giúp đở lẫn nhau .
Chúng có xúm nhau đánh chết 1 đồng loại như CA đánh chết dân ở đồn .
Tôi thấy bọn QUAN THAM VN BÂY GIỜ CÒN THUA XA SÚC VẬT RẤT NHIỀU , KỂ CẢ THÚ DỮ .
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3031051680241971&set=pcb.3031037550243384&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARDkP-42WRru_0If1oYPSpvk707DeZSJLr8kIuQQ-i8c_jU2XCZLLfnk65-QnyejEjnH9tSH0WoEvA_G

Thursday, February 6, 2020

https://www.facebook.com/trananhtu19/videos/1312909602056196/
Nhân tin Bầu Đức đưa gđ sinh sống ở Sing (đăng trên FB của VDK) .
TỘI ÁC CỦA TỈ PHÚ ĐOÀN NGUYÊN ĐỨC , TGĐ CỦA HOÀNG ANH GIA LAI . (nguyên là lái xe ôm và thanh niên xung phong) .
Tôi xin kể cách phá rừng của HAGL của Bầu Đức : (theo 1 VK về quê hương kể lại theo lời dân địa phương) . Y luôn luôn chừa 2 vệt rừng rộng khoảng 100 mét dọc theo các con lộ . Vì vậy , khi chạy xe vẫn thấy 2 bên là rừng xanh !!! . Do có quen biết hay dựa hơi CQ địa phương , mổi lần y gặp người Thượng để mua rừng , thì có CQ địa phương như CA đi theo , chứ ng Thượng đâu biết y là ai . Sau khi phá sạch rừng già để lấy gỗ quí , y trồng cây cao su . Công ty của Cường Đô la cũng theo phương pháp trên .
Từ chỗ phá rừng già lấy gỗ quý , y đầu tư mạnh vào BĐS : từ Nam chí Bắc , gần như ở tỉnh nào cũng có vài KS bề thế , sang trọng hay các dự án về BDS của bầu Đức .
Tàn phá VN chưa đủ , y qua Lào và KPC , mua chuộc CP địa phương để phá rừng già trồng CS . Tới đây thì bị GLOBAL WITNESS tố cáo . Việc tàn phá rừng này, TỪ LÂU đã được các nhà bảo vệ môi trường cũng như các KS LÂM NGHIỆP tại VN (làm việc tại bộ Nông nghiệp) lên tiếng qua blog hay trên báo (chứ ko phải từ hải ngoại hay cái đám "rân chủ") ; nhưng ko ai lắng nghe . Vì các ĐỊA PHƯƠNG đã ĂN ĐẬM của bầu ĐỨC . Thành ra , nếu kết tội y thì cũng phải kết tội các quan địa phương ĐÃ BẬT ĐÈN XANH cho y .
Tóm lại TỘI ÁC của Bầu Đức có được là nhờ sự cấu kết của các quan địa phương và trung ương . Vì việc làm của y công khai và kéo dài nhiều năm : đâu có làm ăn lén lút như buôn lậu ma túy ! Y cũng có những câu nói coi trời bằng vung , thách đố với Global Witness (nhưng đã sập bẩy của GW vì tổ chức phi CP này đã điều tra rất kỷ trước khi tố cáo và hảng sữa Nestle đã từng "ăn đòn" của GW) .
Qua việc này mới thấy sức mạnh của QUAN HỆ và TIỀN TỆ tại VN . Vì y chẳng phải là CCCC và cũng chẳng có TRÍ TUỆ gì nhiều (xuất thân từ lái xe ôm và sau đó đi thanh niên xung phong) .

Wednesday, February 5, 2020

Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân CHIẾN THẮNG DAKTO


Vũ-đình-Hiếu
Huy hieu Biet Dong Quan
Huy hieu tieu doan 11, LD2BDQ.JPG
Huy hieu tieu doan 22, LD2BDQ.JPG
Huy hieu tieu doan 23, LD2BDQ.JPG
Bị địch bao vây với quân-số đông-đảo,họ vẫn chiến
đấu trong bẩy ngày đêm,trong khu rừng lạ,
không sờn lòng cho đến khi chiến thắng.
Sp4 Howard Maniloff
Cựu Cố Vấn TĐ 11 BĐQ

Liên-đoàn 2 BĐQ với ba tiểu-đoàn 11, 22, và 23 là đơn-vị trừ bị chiến thuật cho QĐ II / QK II.  Đơn vị này đã tham-dự nhiều trận đánh ác-liệt, nổi tiếng trên vùng cao nguyên như Ben-Het, Dak-Seang, Đức-Cơ, Plei-Me…  Họ đã đem lại nhiều chiến-công cho QĐ II, cho QL/VNCH và làm vẻ-vang cho binh-chủng Biệt-động-quân.  Câu chuyện sau đây xẩy ra vào khoảng gi”a tháng 5 năm 1969, khi các tiểu-đoàn BĐQ thuộc LĐ 2 hành-quân trong khu vực Dakto nhằm mục đích tiêu-diệt quân của trung-đoàn 66 Cộng-sản Bắc-Việt đang hoạt động trong vùng rừng núi Dakto thuộc tỉnh Kontum.
Vào ngày 25 tháng 5 năm 1969, tiểu-đoàn 11/BĐQ vào trận điạ thay thế cho TĐ 22/BĐQ được đưa về hậu-cứ ở Plei-Ku nghỉ dưỡng sức.  Tiểu-đoàn 22 đụng nặng trong hai ngày trước đây 23 và 24, bắn hạ 146 giặc cộng.  Cuộc hành quân bắt đầu từ ngày 12 tháng 5 với hai tiểu đoàn 22 và 23.  Doàn quân-xa chở TĐ 22 bị phục-kích ở phía bắc Diên-Bình, tuy nhiên các binh sĩ BĐQ phản ứng nhanh chóng phá v” cuộc phục kích của địch.  Theo lời đại-úy Ramon Ẹ Moreland cố-vấn trưởng tiểu-đoàn “Tụi nó (CSBV) khai hỏa quá sớm, do đó chúng tôi kịp thời nhẩy ra khỏi xe và đánh trở lại”.
Biet Dong Quan QLVNCH.jpg
Sau trận phục kích thất bại, trong những ngày kế tiếp, hai tiểu-đoàn 22 và 23 Biệt-động-quân quần thảo với quân CSBV trong vùng rừng núi của miền cao nguyên, tiến chiếm từng ngọn đồi và hướng mũi tiến quân về hướng tây cho đến khi tới đồi 882 (cao độ), nằm cách Dakto chừng 15 cây số về hướng tây nam.  Khi TĐ 11/BĐQ được trực thăng vận xuống đỉnh đồi 882, lập tức các binh-sĩ BĐQ di-chuyển xuống các sườn đồi thiết-lập vị-trí chiến-đấu, bộ quân phục ngụy trang làm họ biến mất trong cánh rừng rậm của miền cao nguyên, còn BCH/TĐ nằm lại trên đỉnh đồi.
Chiều ngày 25, một trung đội tiền-phương bắt đầu chạm địch, BCH/TĐ được báo cáo là địch khai hỏa từ rặng núi ở phía đông của ngọn đồi chính (882-Cao-độ).  Đại-úy Hồ-khắc-Đàm TĐT/TĐ/11BĐQ ra lệnh cho hai đại đội phát xuất từ hai sườn bắc và nam của đồi 882 lùng địch. Sau khi nhận được báo cáo của trung-úy Vương-mộng-Long đại-đội trưởng đại đội ở hướng nam, vị tiểu-đoàn-trưởng ra lệnh tấn công.  Trung-úy Long và binh sĩ thuộc cấp gắn lưỡi lê rồi hò-hét xung-phong, địch quân hoảng sợ bỏ chạy ngược lên đỉnh đồi vòng sang phía bắc rơi vào tay các binh-sĩ BĐQ đang chờ sẵn.  Số CSBV sống sót tẩu thoát về hướng đông bắc.  Cuộc chạm súng kéo dài khoảng hai tiếng đồng hồ, các phản lực cơ F-4 được cố-vấn Hoa-Kỳ gọi đến thanh toán những tên địch chạy thoát.  Sau đó đại-úy Đàm gọi các đại đội quay trở về lập tuyến phòng thủ đêm.
Đêm 25 trên đồi 882 tương đối yên, địch quân chỉ pháo kích lẻ tẻ bằng đạn súng cối.  Sáng sớm hôm sau, các cánh quân TĐ 11 bung rộng ra thu dọn chiến trường, đếm xác địch và thâu nhặt vũ khí, sau đó tiến quân về hướng đông và một lần n”a chạm địch.  “Quân CSBV núp sau các công sự phòng thủ bao vây tụi tôi”, trung-sĩ nhất Terry K. Walker cố vấn về vũ khí nặng kể lại. Địch quân bám sát, do đó không thể gọi phản lực (Spooky), BĐQ xin trực thăng võ trang yểm trợ (Cobra) rồi tiếp tục tấn công.  Trận đụng độ kéo dài 5 tiếng đồng hồ, sau khi quân CSBV rút đi, các binh sĩ TĐ 11/BĐQ đếm được 262 xác địch bỏ lại cùng tịch thu vô số vũ-khí đủ loại.
Các thương binh BĐQ được đồng đội cáng (dìu) di chuyển ngược trở lại trên đỉnh đồi 882 chờ trực thăng di tản đến từ căn cứ hỏa lực 6 nằm cách bãi chiến trường vào khoảng 4 cây số về hướng đông.  Để trả thù cho những thiệt hại trong hai ngày qua, quân CSBV pháo kích hàng loạt lên đỉnh đồi 882 nơi đặt bộ-chỉ-huy TĐ 11, đồng thời ngăn cản trực thăng đến di tản thương binh BĐQ.  Cho đến ngày 28, lợi dụng mức độ pháo kích lắng xuống, các trực thăng đáp xuống khẩn cấp, đem theo đạn-dược, đồ tiếp liệu và di tản thương binh.  Mỗi lần một trực thăng từ căn cứ hỏa lực 6 hạ cánh xuống bãi đáp, trung-tá John S. Daniels cố-vấn trưởng Liên-đoàn 2 Biệt-động-quân lúc nào cũng hiện diện để thúc đẩy viên phi-công trực thăng.  William T. Veal thuộc đại-đội 189 trực thăng tấn công kể lại rằng, khi nhìn về phiá sau thấy trung-tá Daniels khai-hỏa khẩu M-16 của ông ta mỗi khi trực thăng xuống thấp, sau đó nhanh nhẹn nhẩy ra bỏ đồ tiếp liệu xuống rồi phụ giúp đem các thương binh BĐQ lên tầu.   Mặc dầu địch vẫn còn pháo kích lên đồi 882 nhưng trung-tá Daniels và viên phi-công can-đảm vẫn tiếp tục trở lại để di tản hết các thương binh.
Chiều 29 tháng 5, với hai cánh quân của TĐ 23/BĐQ đi kèm hai bên, TĐ 11 ở giữa, Biệt-động-quân di chuyển trục tiến quân về hướng tây bắc nhằm mục đích lùa quân CSBV về phía tuyến án-ngữ của hai đơn-vị Bộ-Binh.  Trời mưa làm cho các sườn đồi rất trơn, binh-sĩ BĐQ với ba-lô nặng chĩu trên vai phải nắm cành cây mà đi từng bước, có người trợt chân tuột xuống chân đồi phải bò lên trở lại.  Vượt đồi 843 dốc đứng gần như sáu mươi độ, khi lên được đỉnh đồi binh sĩ nghỉ ngơi lấy lại sức, đường đi xuống còn gay-go hơn nữa, phải giữ gìn súng đạn cho cẩn thận không được để dính bùn khi bị ngã.
Khi Biệt-động-quân vượt qua rặng núi phía bắc đồi 843, địch quân tấn công chừng tiếng đồng hồ, sau đó tiếp tục bắn quấy rối suốt đêm nhằm giảm sức chiến đấu của binh sĩ BĐQ sau một ngày băng rừng vượt núi.  Đến trưa hai tiểu-đoàn BĐQ tiếp tục lên đường, khi đơn vị tiền phương của TĐ 11 di chuyển được một quãng ngắn, địch quân bố-trí từ phía sườn núi bên phải khai hỏa dữ dội.  Phi-pháo yểm trợ không hiệu qủa vì rừng quá rậm và địch quân đục núi thiết lập công-sự chiến đấu kiên-cố.  Đến 5 giờ 30 chiều, Biệt động quân vẫn kẹt cứng không lên được, đại-úy Vũ-đức-Chiêu TĐT/TĐ/23/BĐQ dẫn một toán quân lên đánh các vị-trí then chốt của địch. Kết qủa địch bỏ chạy và hai tiểu-đoàn BĐQ tiếp tục tiến quân.
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/Rangers/ARVN_Ranger22.jpg
Để tránh bị địch theo dõi, các đơn-vị BĐQ được lệnh di chuyển cách xa nhau.  Vì đồi núi trùng điệp, sườn dốc trơn-trợt, hai tiểu đoàn BĐQ càng ngày càng cách xa nhau đến vài trăm thước, cả hai cùng hướng về phía tây bắc nơi có các đơn-vị bộ-binh VNCH chờ sẵn.  Toán tiền-sát-viên (đề-lô) pháo-binh thuộc pháo-đội B, 6/84th Pháo-binh Hoa-Kỳ do trung-úy Robert H. Putman Jr. chỉ-huy bị lạc cùng với 12 BĐQ chừng một giờ sau họ gặp và đi theo cánh quân tiểu-đoàn 11.  Tiểu đoàn này bỗng dưng có thêm 6 tiền sát viên Hoa-Kỳ, 3 của tiểu-đoàn 23 vẫn tiến quân đều đặn cho đến 2 giờ sáng ngày 31.  Đại-úy Nguyễn-Lạng tiểu-đoàn phó kể lại “Chúng tôi đang di chuyển dọc theo một con suối nhỏ, khi đi ngang qua một gò đất cao trông thấy ba cần ang-ten (antenna), chúng tôi biết ngay là bộ-chỉ-huy Bắc quân cấp tiểu đoàn và phải di chuyển khỏi khu vực đó ngay tức khắc”.  Vị TĐT đại-úy Đàm kể lại những giây phút căng-thẳng như sau “Tôi quyết định không cho nổ súng, chúng tôi còn kẹt phải mang theo thương binh.  Cá nhân tôi còn chút nữa bị bắt sống, chúng tôi di chuyển ngang qua BCH của địch một cách êm thấm, trong lúc địch ở cả hai bên, có đứa nắm tay hỏi tôi là ai?  Tôi trả lời vắn tắt “Bạn… buông tay tôi ra!”.  Trung sĩ Walker nói thêm “Tụi tôi phải đi nhón gót nhẹ nhàng cho đến khi qua khỏi”.  Tiểu đoàn 11 BĐQ di chuyển ra khỏi lòng địch khỏang 500 thước lẩn vào rừng cây rồi thiết lập vị trí đóng quân đêm.
Trong khi đó, tiểu-đoàn 23 di chuyển cách TĐ 11 vài trăm thước về hướng tây lọt vào bộ-chỉ-huy của địch cấp trung-đoàn.  Đại-úy Chiêu nói rằng “BCH quân CSBV nằm trong một thung lũng, có nhiều poncho, chảo lớn để nấu ăn, ăng-ten, dây điện thoại…”.   Khi bị địch phát giác, các binh sĩ Biệt-động quân ném lựu-đạn vào hầm trú ẩn, công sự phòng thủ rồi nhẩy vào đánh cận chiến bằng lưỡi lệ   Một trận đánh đẫm máu xẩy ra ngay trong lòng bộ-chỉ-huy trung-đoàn CSBV, BĐQ vừa chiến-đấu vừa cố gắng rút về phía có đơn-vị bạn (hai TĐ bộ-binh đang nằm tuyến án-ng”).  Sau khi ra khỏi BCH trung-đoàn CSBV, đại-úy Chiêu ra lệnh cho các binh-sĩ tiếp tục di chuyển đề-phòng bị địch truy-kích và phải đem theo nhiều thương binh.  Họ đi suốt đêm, leo đồi, vượt suối về đến nơi đơn-vị bạn đóng quân lúc 9 giờ sáng ngày hôm sau.  Tiểu-đoàn 23/BĐQ kể như thành công, các thương binh được di tản bằng trực thăng đến quân-y viện, tuy nhiên tiểu đoàn 11/BĐQ vẫn còn kẹt trong vùng địch chưa về đến nơi.
Trở lại với tiểu-đoàn 11, sau khi đã cảm thấy an-toàn cho đơn-vị, đại-úy Đàm cho lệnh dừng quân, bố-trí đóng quân đêm, vài binh-sĩ vội vã căng poncho hứng sương đêm để lấy nước uống.  Sau một ngày chiến đấu mệt mỏi, bi-đông đã cạn nước và sau đó mọi người chìm vào giấc ngủ một cách vội-vã.  Vào khoảng 4 giờ sáng, lệnh báo-động được truyền đi nhanh chóng “Địch bám theo đuôi ! Chuẩn bị di chuyển !”.  Binh sĩ TĐ/11/BĐQ lặng lẽ nối đuôi nhau đi trong bóng đêm ẩm-ướt của rừng núi miền cao-nguyên.  Họ di-chuyển được khoảng một cây số thì trời bắt đầu sáng, trong khi đang đổ dốc xuống một thung lũng, cộng quân khai hỏa từ phía bên trái và trên một ngọn đồi nhỏ bên phải bắn vào toán khinh binh của tiểu đoàn 11.  Để động viên tinh thần binh sĩ, vị tiểu-đoàn trưởng dắt một toán quân xung phong tràn lên đồi, vừa khai hỏa khẩu M-16 vừa hô to “Biệt động quân ! Sát… Xung phong…”.  Địch quân hoảng sợ bỏ vị trí chiến đấu chạy xuống phía bên kia đồi.
Chưa kịp nghỉ ngơi, từ những ngọn đồi cao xung quanh, cộng quân dùng súng cối pháo kích dữ dội lên ngọn đồi BĐQ vừa chiếm, toán đề-lô Hoa-Kỳ bị thương hai người, các binh sĩ biệt-động-quân vội tìm chỗ trú ẩn trong các hố bom.  Từ trên các cao độ nhìn xuống thấy rõ vị trí của BĐQ nên địch quân bắn rất chính xác, nơi nào cũng trúng đạn cối 82, 61 ly của địch.  Phản lực cơ F4 được gọi đến yểm trợ chỉ làm ngưng pháo kích trong phút chốc, sau đó địch quân vừa pháo kích vừa tấn công lên đồi.  Đại úy Đàm chạy đến từng vị trí đốc thúc binh sĩ bắn trả lại và chỉ bắn khi thấy rõ địch vì số đạn đem theo đã gần hết.  Xem chừng đơn vị có thể bị địch dứt điểm, đại-úy Đàm ra lệnh cho trung-úy Long dắt đại-đội cố gắng phá vòng vây về hướng tây nơi đã giảm tiếng súng địch sau các phi vụ oanh kích.
https://i1.wp.com/vnafmamn.com/Rangers/ARVN_Ranger6.jpg
Trung-úy Long gom đại-đội lại và bắt đầu di-chuyển xuống chân đồi.  Đại-úy Lạng tiểu-đoàn phó chuẩn bị đi với một toán khác, bất ngờ cộng quân bắn xối-xả B-40 và đại-bác 57 ly vào toán quân đang trên đường xuống chân đồi, kế hoạch bị thất bại, trung-úy Long và các binh sĩ chạy ngược trở lại trên đỉnh đồi.  “Như vậy rõ ràng tụi nó muốn dứt điểm” trung sĩ Walker nói tiếp “Tụi tôi lãnh khoảng 200 tới 250 viên đạn súng cối và từ 150 đến 175 viên đạn B-40, 57 ly chưa kể đại-liên của địch”.  Vào khoảng 15 phút trước khi ngưng pháo kích, bộ-binh Bắc quân bắt đầu tiến lên đồi.  Phía đông bắc, địch quân xếp thành ba hàng trang bị B-40, B-41 AK-47 gắn lư”i lê tấn công lên cách phòng tuyến BĐQ còn chừng 10 thước, hai bên đánh nhau bằng lựu đạn.  Mặc dù bị mất một phần tuyến phòng thủ, Biệt động quân vẫn chống cự quyết liệt làm cho địch khựng lại.  Tại hướng bắc, đại-úy Lân nhìn thấy rõ quân CSBV tiến lên hàng hàng, lớp lớp bị phản lực cơ F4 đốn ngã nhiều tên nhưng vẫn tiến lên, các cố-vấn Hoa-Kỳ gọi thêm phi tuần đến yểm trợ, hỏa lực của địch yếu dần, sau đó bộ-binh Bắc quân phải rút lui tuy nhiên pháo binh địch vẫn tiếp tục nện xuống đỉnh đồi làm cho Biệt-động-quân không ngóc đầu lên được.
Khi trời bắt đầu tối, TĐ 11/BĐQ lại tìm cách phá vòng vây, đại-úy Đàm dắt một số quân nhân đi trước về hướng đông.  Theo kế-hoạch, BĐQ rút về phiá đông đi vòng qua sau lưng địch sau đó hướng về phía tây bắc nơi có quân bạn.  Trên đồi lúc đó còn lại trung-úy Long, 20 BĐQ và 5 quân nhân Hoa Kỳ bắn cầm chừng để cho đồng đội có thì-giờ rút đi.  Đến 9 giờ tối, số còn lại chuẩn bị rút, một số biệt-động quân đã bò trở lại sau khi lẻn ra ngoài thâu lượm súng AK và đạn trên các tử thi của quân CSBV vì M-16 của họ đã hết đạn từ chập tối.  Trước khi rút, BĐQ phá hủy tất cả súng thừa, đồ trang bị không để lọt vào tay địch, sau đó chỉ có khinh binh đi dò đường, số còn lại kể cả người bị thương nhẹ đều phải dìu đồng đội bị thương nặng.   Đoàn quân dọ dẫm bước đi trong màn đêm, trong rừng già, mọi người đều cắn răng chịu đựng mặc cho gai góc đâm vào da thịt để bảo đảm an toàn cho đơn-vị. Họ về đến nơi có đơn vị bộ-binh VNCH vào lúc 10 giờ sáng ngày 1 tháng 6, một tiếng đồng hồ sau cánh quân đi theo đại-úy Đàm cũng về đến nơi.  Một biệt-động-quân kể lại rằng, lúc chạy lạc anh ta gặp lính Bắc Việt đang tản thương, cả hai tiếng đồng hồ mới đi qua khỏi nơi anh ta đang ẩn núp.  Trong một tuần lễ hành quân LĐ 2/BĐQ loại khỏi vòng chiến hơn 500 địch quân làm cho các cố vấn Hoa Kỳ phải thán phục, trung-tá Daniels nói với các sĩ quan thuộc cấp của ông ta rằng “Họ không bỏ cuộc… và cũng vì vậy họ đã chiến thắng”.
        Dallas, ngày 17 tháng 10 năm 1995
        Vũ-đình-Hiếu

Trận Đánh Cuối Cùng Của Tiểu Đoàn 58 BĐQ
                                                      


Tác giả: DDT - Trình bày: Ngô Nhật Tùng - Trích đặc san KBC do Tú Quỳnh xuất bản
Ngày 13-3-75, Tiểu đoàn 58 BĐQ của tôi chỉ huy, đang đánh giải tỏa áp lực của địch quân tại quận lỵ Dầu Tiếng. Tiểu đoàn tôi được tùng thiết với Thiết đoàn M-113 của Trung tá Dương chỉ huy trưởng Thiết đoàn. Chúng tôi và ông Dương thật là ăn ý. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn tôi tấn công tiền diện. Tôi bàn với Đại úy Phan Xuân Hiệp chia đơn vị ra làm hai cánh. Tôi cánh A, Đại úy Hiệp cánh B. Yểm trợ cho nhau, tiến từng bước, khi cách hàng rào giây thép gai quận 10 mét, cánh A tôi bám sát địa thế. Bắn yểm trợ tối đa cho cánh B xung phong tiền diện. 15 phút cánh B đã xung phong và chiếm lại quận lỵ, giải vây cho một số đồng đội Địa Phương Quân và cứu được Thiếu tá Quận trưởng.
Hai cánh A, B chúng tôi bắt tay nhau và tràn qua MT lùng địch. Đang hăng máu, thì từ trên không, ông Tướng Khôi gọi máy. Ông chỉ thị cho tôi, sau 15 phút rút toàn bộ TĐ ra quốc lộ. Sẽ có trực thăng đến bốc toàn bộ gia đình về căn cứ Long Bình nhận lệnh mới. Tướng Khôi chỉ thị Trung tá Dương nhận mục tiêu của đơn vị tôi vừa chiếm, bàn giao Trung tá Dương và nhờ Trung tá Dương bốc ra và chuyển về chung sự Bình Dương 6 kí lô còn kẹt.
Riêng tôi thì điều động, rút theo thứ tự các đại đội 1, 2, 3, BCH/TĐ và đại đội 4 bao chót. Ra đến quốc lộ, được bốc ngay về căn cứ Long Bình thuộc Liên đoàn 7 BĐQ, Liên đoàn tổng trừ bị cho Bộ TTM. Ngay đêm ấy được lệnh của Bộ TTM điều động toàn bộ Liên đoàn 7. Phải có toàn bộ 3 tiểu đoàn BĐQ gồm 32, 58 và 85 cùng đại đội Pháo binh cơ hữu và trung đội hỏa tiễn TOW có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất lúc 8 giờ ngày 14-3-75.
Đúng 9 giờ, C-130 lần lượt chở từng tiểu đoàn và đại đội Pháo binh và hỏa tiễn TOW.
Tiểu đoàn 58 của tôi di chuyển chót, 16 giờ tiểu đoàn tôi đã có mặt tại phi trường Pleiku toàn bộ. Ngay lúc bấy giờ địch quân pháo dữ dội vào phi trường. Kể từ sau 16 giờ phi trường coi như bị khóa, không còn phi cơ lên xuống nữa cho đến ngày 17-3-75 thì Pleiku bỏ ngỏ luôn.
Ngay khi toàn bộ LĐ7 đến Pleiku, tôi được điều động lên đỉnh núi Chicara thay cho một tiểu đoàn Bộ binh bạn. Tiểu đoàn BB về Pleiku nhận nhiệm vụ khác. Ngay đêm 14-3, sau khi tiểu đoàn tôi lên đỉnh Chicara, tôi vừa báo cáo về BCH/LĐ7 thì địch quân từ hướng Thanh An bắt đầu pháo đủ loại 82, 107 ly. Tôi lệnh cho con cái vào vị trí hầm hố có sẵn. Chịu trận suốt đêm ấy, tiếp tục các ngày và đêm sau. Cứ từ 30 đến 45 phút là chúng pháo. Đơn vị tôi cứ thế chịu trận 3 đêm 2 ngày. Không ngủ nghê được, ông nào ông nấy phờ râu. Tổng cộng đến phút này có 6 chai whisky nhẹ, không cần tăng. Đến sáng ngày 15-3 đơn vị chúng tôi được lệnh bỏ đỉnh đồi Chicara rút về Hàm Rồng, giữ bộ chỉ huy BĐQ Quân đoàn 2. Vỏn vẹn chỉ có 20 giờ xả hơi và ngủ lấy lại sức. Tại quận lỵ Thanh An, Liên đoàn của Trung tá Long "Bao tử" đã bị địch tràn ngập và bao vây.
Chúng tôi lại được lệnh. Đến ngã ba đường vào Thanh An, giữ an ninh cho hai đại đội Pháo binh gồm 155 ly và 105 ly. Hai đại đội Pháo nổ ròng rã suốt đêm vào quận Thanh An do yêu cầu của Trung tá Long để mở đường máu về Hàm Rồng. Nhưng vô hiệu quả, địch bao vây quá kín, chúng xiết chặt vòng vây nên toàn bộ Liên đoàn Trung tá Long không rút ra được ngã ba Thanh An.
7 giờ 25 sáng ngày 17-3-75, tôi nhận được lệnh của Đại tá Nguyễn Kim Tây gọi lên BCH/LĐ họp khẩn. Sau phiên họp bỏ túi cấp tốc là đơn vị tôi TĐ58/BĐQ yểm trợ cho hai đại đội Pháo binh rút về Phú Bổn. Nghĩa là bỏ, không yểm trợ cho Thanh An nữa, mà bỏ Thanh An là bỏ cả Pleiku. Lệnh của Đại tá Tây, TĐ58/BĐQ yểm trợ Pháo binh đi trước, kế đó là BCH/LĐ, TĐ85 tiếp theo, TĐ32 bao chót.
Chúng tôi vừa đi vừa chạy, đến tỉnh Phú Bổn lúc 14 giờ 45. Tại tỉnh Phú Bổn bỏ ngỏ, không có bóng dáng ai cả. Từ Tỉnh trưởng đến một anh lính Địa Phương Quân cũng không thấy, nghĩa là tỉnh Phú Bổn hoàn toàn bỏ ngỏ.
Liên đoàn 7BĐQ tạm dừng chân tại sân bay Phú Bổn, phía sau hai tiểu đoàn 32 và 85 cũng như hai đại đội Pháo binh tạm thời bố trí hai bên đường.
Tôi đích thân đi một vòng trong phạm vi tỉnh Phú Bổn quan sát động tĩnh, thì được biết hướng Tây bắc, Trung tá Biên, Liên đoàn trưởng đang điều động Liên đoàn cơ hữu của ông cộng Chi đoàn M-113 đang ngăn chặn địch từ hướng Tây bắc vào tỉnh Phú Bổn.
Sau khi làm một vòng quan sát, tôi nhớ lại ngày thất nghiệp về BCH/TƯ ngồi phòng binh thư hay nghiên cứu binh thuyết. Tôi chợt nhớ thành bỏ trống, chắc chắn có phục binh và phải có đơn vị chủ lực vận động chiến. điều này phải có.
Trở về BCH/LĐ, tôi trình bày cho Đại tá Nguyễn Kim Tây biết. Sau khi nghe tôi báo cáo tỉ mỉ, Đại tá Tây quyết định phải chiếm đỉnh đèo Cheo Reo làm đầu cầu cho các đơn vị và Pháo binh phía sau tiếp tục lên và đổ đèo, tiến thẳng về quận lỵ Phú Túc.
ĐT NGUYỄN KIM TÂY VÀ ĐAI ÚY ĐẶNG VĂN THỊNH

ĐT NGUYỄN KIM TÂY VÀ BCH LIÊN ĐOÀN 5 BĐQ
BCH/LĐ chia ra hai thành phần, A và B. Thành phần cánh A do Đại tá Tây trực tiếp chỉ huy. Tiểu đoàn của tôi cũng phân hai thành phần, A và B. Thành phần cánh A do tôi điều động, gồm có ĐĐCV, đại đội 1 và 2. Nhiệm vụ yểm trợ giữ an ninh cho thành phần cánh A của Liên đoàn tiến chiếm đỉnh.
Cánh B của tiểu đoàn do Đại úy Phan Xuân Hiệp, TĐP chỉ huy gồm đại đội 3 và 4. Yểm trợ cho BCH nhẹ LĐ, sẽ lên đỉnh sau, sau khi LĐ và cánh A tôi chiếm xong đỉnh đèo.
Tại tỉnh Phú Bổn dưới chân đèo, gồm cánh B của LĐ7 do Trung tá Nguyễn Hạnh Phúc chỉ huy, gồm có đại đội Pháo binh và hỏa tiễn TOW, tiểu đoàn 85 và 32. Trong lúc đó tôi đang điều động hai đại đội dàn hàng ngang, tiến chiếm đỉnh đèo, theo chiến thuật nấc thang. Khôi hài nhất là khi đơn vị chúng tôi tiến từng bước yểm trợ cho nhau tiến lên đỉnh đèo thì đồng bào từ Pleiku chạy về hướng Tuy Hòa. Đồng bào thì tay xách, tay bồng bế, lưng mang, tranh nhau vượt lên đỉnh, họ lại tranh nhau với chúng tôi tràn lên tiến trước chúng tôi. Nhìn thấy cảnh hổn độn tôi đâm ra hoảng. Phải hò hét, yêu cầu họ lùi về sau cho quân tôi tiến lên. Vừa hò hét vừa giải thích khan cả cổ họng, 20 phút sau họ mới chịu nghe và lùi về phía sau. Cũng may thời gian này không đụng địch. Nếu đụng thì điều chắc chắn là đồng bào không khỏi gục ngã trước họng súng của địch và ta.
Khi chúng tôi chiếm xong và làm chủ tình hình trên đỉnh thì nghe dưới chân đèo hướng Phú Bổn, súng nổ dòn quá. Tôi liền đến chỗ Đại tá Tây để biết tình hình dưới chân đèo. Thì ra địch vận động chiến đến đánh và bao vây chân đèo. Các tiểu đoàn 32, 85, đại đội Pháo binh và hỏa tiễn TOW đang chống trả kịch liệt. Cánh B TĐ tôi do Đại úy Hiệp đang dàn quân giữ an ninh dọc theo dòng suối, có cầu bắt ngang trước khi lên đèo. Nhiệm vụ là mở đường cho LĐ và các đơn vị phía sau tiếp tục tiến lên đỉnh đèo. Trận chiến phía sau càng lúc càng ác liệt. Sau một tiếng đồng hồ giao tranh, Đại tá Tây xin phi pháo đến yểm trợ. 40 phút sau khi phi cơ đến, oanh tạc chung quanh trận tuyến. Đến 18 giờ 50, tiếng súng tạm thưa dần. Nhưng địch quân vẫn còn bao vây, thế nên các đơn vị phải lo hầm hố bố trí tại chỗ chờ sáng. Trong đêm địch vẫn quấy phá. Sáng hôm sau chúng áp dụng chiến thuật cố hữu là tấn công rạng đông vào các mặt. Nhưng các đơn vị đã tiên đoán trước, nên đâu đấy sẵn sàng chờ giờ tấn công.
Quả nhiên lúc 6 giờ 15 sáng chúng mở đợt tấn công. Bên dưới chân đèo BCH nhẹ LĐ do Trung tá Phúc điều động, các đơn vị chống trả kỹ. Sau một tiếng đồng hồ tấn công bất thành, chúng điều động các mặt rút ra xa khỏi tầm súng của ta. Phía trên đỉnh cao, Đại tá Tây và tôi quan sát bao quát tình hình thì thấy chúng đang điều động bao vây chân đèo, không cho LĐ và các đơn vị tiến lên đèo.
Đại tá Tây không chần chờ, lệnh cho Trung tá Phúc điều động cánh B, TĐ 58 do Đại úy Hiệp tháp tùng Chi đoàn Thiết vận xa M-113 mở đường máu lên đỉnh. Sau 20 phút, Đại úy Hiệp phá được vòng vây và lần lượt các đơn vị tiến theo sau, lên đèo. Khi lên đèo, gặp các toán trung cản của địch chận phá. Cách đỉnh 40 mét thì Đại úy Hiệp bị một viên xuyên qua cổ họng. Tôi nghe máy 25 gọi tôi "45, 45, đây Thái Bảo". Tôi vội cầm ống liên hợp trả lời: "Thái Bảo, đây 45 tôi nghe". Bên kia ông Hiệp trực tiếp trả lời tôi trên máy: "45, 45 đây Thái Bảo BC. Tôi "X"- K nhẹ. Giờ phút này 45 điều động hai thằng con mình lên đỉnh". Nghe đến đây thì không còn nghe ông Hiệp nói nữa.
Tôi biết chắc rằng ông Hiệp bị thương nặng. Tôi tiếp tục điều động hai đại đội bám Thiết vận xa M-113 lên đèo. Sau hơn 15 phút, cánh B của TĐ tôi lên đỉnh an toàn, tôi cho tiếp tục qua mặt tôi và tiếp tục đổ đèo tiến thẳng về hướng quận lỵ Phú Túc. Cuối cùng LĐ7 chúng tôi qua được đỉnh Cheo Reo, tiến thẳng về hướng Phú Túc. Phần tôi vừa điều động đơn vị vừa chạy theo lên phía trước để bốc Đại úy Hiệp lên xe jeep tôi. Tôi phải đích thân lái xe chạy hết tốc lực len lỏi qua mặt các đơn vị đang đổ đèo. Cuối cùng bắt kịp đoàn Thiết vận xa, tôi bốc được Đại úy Hiệp qua xe tôi. Tôi cho sĩ quan trợ y trực tiếp săn sóc đồng thời xin được trực thăng đến tản thương ông Hiệp về Quân y viện Nha Trang.
Bây giờ Đại tá Tây điều động đơn vị tôi trực tiếp tiến thẳng đến quận Phú Túc. Theo sau lần lượt là các đơn vị của LĐ. Đến quận Phú Túc lúc 19 giờ 45 cách quận độ 30 mét tôi cho lệnh nằm lại bám sát. Điều động thám báo của TĐ vào nghe ngóng tình hình. Quả nhiên sau đó 10 phút, thám báo trở lại báo cáo cho tôi biết là quân lỵ bị địch chiếm và đang cố thủ. Tôi báo cáo cho Đại tá Tây biết tình hình phía trước. Ông không cho tiến vào ngay bây giờ, mà cho lệnh bố trí chu vi nằm phòng thủ chờ sáng, quyết định sau.
Sáng hôm sau, lúc 7 giờ ngày 19-3, Đại tá Tây bảo tôi cho thám báo bám sát theo dõi tình hình bào cáo về BCH/LĐ quyết định. Nhưng tôi đã cho lệnh thám báo nằm sát hàng rào kẻm gai quận từ đêm hôm qua, tôi liền báo cáo ngay, khi nhận lệnh của Đại tá Tây. Tình hình địch không đông lắm, có 57SKZ đã đặt sẵn trên pháo đài ngay chính diện cửa ngỏ vào quận lỵ.
15 phút sau, Đại tá Tây tăng phái cho tôi 3 chiến xa M-48 và phải đích thân tôi ngồi trong xe của một trong ba xe để tiến vào chánh diện, bắn trực xạ vào pháo đài. Trái, phải đã có hai TĐ 85 và 32 hai bên cạnh sườn. Sau khi tôi điều động tiến thẳng vào cổng và bắn đại bác cơ hữu trong chiến xa M-48, hai phút sau pháo đài sập, tất cả ba đơn vị đồng loạy xung phong chiếm quận Phú Túc dễ như trở bàn tay. Địch bỏ xác tại chỗ 6 tên, số còn lại bỏ rút chạy về hướng Đông bắc. Lệnh Đại tá Tây tiếp tục tiến thẳng về hướng Tuy Hòa.
Chiều ngày 19-3-75 lúc 17 giờ chúng tôi đến Sông Ba. Tại Sông Ba vì suối sâu rộng khoảng 200m nước chảy như cắt. Tại đây xe cộ ứ động qua sông không được, đồng bào di tản và đủ các binh chủng đông nghẹt tại bờ sông. Anh em Công binh đang hì hụt bắc cầu phao. Tôi báo cáo tình hình cho Đại tá Tây biết và đề nghị: Ta di chuyển cặp theo dòng suối. Mục đích khám phá sự bám sát địch và tìm khúc cạn hẹp cho đơn vị vượt sông. Được sự chấp thuận của Đại tá Tây. Di chuyển cặp sát bờ suối, đi độ 500m đến khúc sông hẹp tôi cho thiết lập đầu cầu và căng giây vượt suối. Đến 21 giờ đêm LĐ đã qua sông an toàn. Lệnh Đại tá Tây cho tôi nằm lại án ngữ Trung cảng, cho LĐ và các đơn vị vượt qua tiến thẳng về phía quận Sơn Hà. Đơn vị tôi đi sau cùng, khi các đơn vị khác đã qua hết. Đến quận Sơn Hà 4 giờ sáng ngày 19-3-75. Tại đây BCH/LĐ7 được trực thăng đến bốc về Nha Trang. Riêng tiểu đoàn tôi còn nguyên vẹn, nên Đại tá Tây cho lệnh tôi điều động TĐ58 về Tuy Hòa.
Tôi điều động đơn vị. Băng rừng (cắt rừng theo phương giác đã dựng). Đơn vị di chuyển 5 ngày 5 đêm, sáng Thứ Sáu ra đến Tuy Hòa. Sáng ngày 25-3 toàn bộ tiểu đoàn 58 và một số sĩ quan và binh sĩ hai tiểu đoàn 32 và 85 không còn đơn vị theo tôi về đến Tuy Hòa lúc 11 giờ 45.
Lý do hai tiểu đoàn 32 và 85 không còn đơn vị là vì khi đụng địch tại chân đèo Cheo Reo đã bị thiệt hại gần như tan rã. Tiểu đoàn trưởng TĐ 32 Thiếu tá Hà Mộng Thúy bị sập cầu rớt chiến xa xuống suối sâu tử trận. TĐ85/BĐQ Thiếu tá Hoàng Đình Độc bị thương được trực thăng bốc về Nha Trang Số quân của hai TĐ không còn bao nhiêu lại hỗn quan hỗn quân mạnh ai nấy tự động rời đơn vị, tự động tìm đường về Sàigòn. Đặc biệt là đại đội Pháo binh cơ hữu LĐ tan hàng tại chân đèo. (Sau này gặp lại một số anh em trong đại đội trọng pháo kể lại). Khi VC tràn ngập, chúng bắt sống một số rất đông, trong đó có Thiếu tá Đào Văn Khôi, trưởng phòng 3 BCH/BĐQ Quân đoàn 2.
Tiểu đoàn tôi tập trung tại sân bay Tuy Hòa, chờ lệnh của BCH trung ương. Đến 15 giờ 30 thì trực thăng của Thiếu tướng Đỗ Kế Giai Chỉ huy trưởng BCH trung ương đáp xuống phi trường. Thiếu tướng Giai gọi tôi đến tại trực thăng chỉ thị lệnh: TĐ 58 của tôi còn nguyên vẹn, trở về giữ Trung tâm huấn luyện BĐQ Dục Mỹ và chờ lệnh của BCH trung ương điều động sau.
Tiểu đoàn được di chuyển về Trung tâm Dục Mỹ bằng đoàn xe của Quân vận có sẵn tại phi trường Tuy Hòa. Khi đến Trung tâm Dục Mỹ vào lúc 19 giờ 45 phút, tôi vào trình diện Đại tá Đại, Chi huy trưởng TTHL. Tại đây tiểu đoàn được nghỉ quân tại khán đài và chung quanh vũ đình trường.
Sáng ngày 28-3-75 tôi phân bốn phía bốn nơi các đỉnh cao quanh Trung tâm. BCH/TĐ và đại đội Y tế về đóng trên đỉnh đèo. Ngày ngày tôi cho tuần thám theo các đội hình đặc biệt của BĐQ để tìm và phát giác tình hình địch. Đơn vị tôi nằm tại đây 5 ngày, không ngày nào mà không hoạt động tuần thám.
Đùng một cái, đêm 29-3-75 tại quận Diên Khánh, Chiến đoàn Nhảy Dù bị vỡ vì áp lực của địch quá mạnh. Quận Diên Khánh coi như bỏ ngỏ. TTHL/BB Lam Sơn, TTHL/BĐQ và TTHL/Pháo Binh lần lượt rút ra hướng ngã ba Ninh Hòa.
Trong khi bỏ ba TTHL rút ra Ninh Hòa, mạnh ai nấy bắn bừa bãi lên các tiền đồn của các đại đội và BCH/TĐ58/BĐQ. Tôi tưởng là địch từ hướng quận Diên Khánh tràn xuống. Một mặt điều động các đại đội cố thủ, một mặt liên lạc về BCH. Nhưng liên lạc mãi không được, khàn cả cổ khi gào thét trên máy AN/PRC25.
Tưởng là Trung tâm Truyền tin của BCH/TTHL bị hư nên trở ngại liên lạc, tôi quyết định bỏ đỉnh núi Đèo, điều động BCH/TĐ và đại đội Công vụ vào Trung tâm xem động tĩnh. Từ núi Đèo vào TTHL 4 cây số. Khi đến nơi tôi nhìn vào thấy TTHL đang cháy. Tôi liền đi thẳng vào BCH quân trường thì không còn một ai cả, đến phòng truyền tin cũng trống không. Mọi người đều bỏ Trung tâm rút chạy. Thấy hướng đang cháy tôi đến xem, thì ra kho Quân tiếp vụ, sau khi bị tẩu tán, bị đốt kho.
Tôi lần về hướng các kho đạn và kho xăng, thấy còn nguyên. Tôi liền cho lệnh đại đội Công vụ đốt trước khi rút. Chúng tôi và đại đội CV rút đi. Di chuyển đến núi Đèo, tôi liền cho lệnh bốn đại đội 1, 2, 3, và 4 bỏ các điểm cao chung quanh TTHL, rút quân toàn bộ ra giữ ngã ba Ninh Hòa.
Từ núi Đèo ra ngã ba Ninh Hòa 8 cây số, tôi cho lệnh các đại đội vẫn giữ đội hình sẵn sàng tác chiến, với đội hình tùy nghi Đại đội trưởng áp dụng tùy theo từng địa thế. Khi toàn bộ TĐ ra đến ngã ba Ninh Hòa, thì thấy từ hướng bắc Quốc lộ 1, từ Tuy Hòa, đủ các binh chủng mạnh ai nấy chạy bộ về hướng Nha Trang. Đủ cả dân chúng, quân đội lẫn lộn tranh dành nhau chạy. Tôi xét thấy cảnh hỗn quân hỗn quan nhưng cũng có liên lạc vô tuyến về Nha Trang nhưng liên lạc mãi không được. Chẳng thấy ma nào trên hệ thống hành quân cả.
Tôi quyết định giải tán TĐ58/BĐQ ngay tại Ninh Hòa. Đến giờ phút này nhận thấy binh sĩ nhốn nháo đã muốn rời đơn vị chạy theo làn sóng quân dân từ hướng Tuy Hòa về Nha Trang. Tôi nhìn đồng hồ đã 19 giờ 45. Liền tập trung các đại đội trưởng đến và cho lệnh giải tán đơn vị. Toàn bộ vũ khí máy móc truyền tin tập trung phá hủy. Mạnh ai nấy tìm đường về Long Bình, Biên Hòa, nếu còn tập trung về BCH Liên đoàn 7 BĐQ.
Riêng tôi vẫn giữ lại hai máy AN/PRC25 và một chú tà lọt. Mấy thày trò tôi đi bộ về Nha Trang. Đến Nha Trang đúng 23 giờ đêm, thày trò mò vào Phòng Thông tin để biết tình hình tại Sàigòn. Nhưng khi tôi đến một ngã tư gần Phòng Thông tin thì nghe loa phóng thanh gọi sĩ quân và binh sĩ bỏ súng đến trình diện chính quyền cách mạng. Biết Nha Trang đã có địch, thày trò chuồn thẳng về hướng Phan Rang.
Đến Phan Rang tôi lần mò chen chúc vào cổng phi trường Cam Ranh, gần tiếng đồng hồ không sao vào được. Vì tại đây dân quân đông như kiến cỏ, họ chen nhau vào phi trường, hy vọng nhờ phi cơ chở về Sàigòn. Vì tại Cam Ranh vẫn còn chưa có VC mà vẫn còn nghe thấy máy bay đủ loại C47, C123 và C130 vẫn còn cất cánh. Chiếc lên chiếc xuống đều đều, chở đồng bào và quân nhân về Sàigòn.
Khi tôi lọt đến cổng sắt phi trường thì có tin từ trong ra là hết phi cơ rồi. Quả thật lucù bấy giờ mới sực nhớ là không có còn phi cơ lên và xuống nữa. Nhìn lại đồng hồ tay chỉ đã 5 giờ sáng ngày 1-4-75. Lại chen để ra ngoài cũng gần tiếng mới ra được quốc lộ. Mệt quá, bốn thày trò chúng tôi ngồi tại chính giữa quốc lộ nghỉ mệt. Tôi bảo hai chú truyền tin: "Thôi bây giờ hai chú hủy hai máy đi, xong ráng tìm đường về Sàigòn (Long Bình) được càng sớm càng tốt. Tôi bảo hai chú ấy lột hai máy PRC-25 ở lưng ra, chính tôi phá hủy bằng súng Colt. Xong đâu đấy bốn thày trò chúng tôi chia tay. Từ Cam Ranh cuốc bộ đến Phan Rí xem lại đồng hồ đã 13 giờ. Bụng đói và quá mệt, tôi và chú tà lọt tìm đến nhà dân tá túc đại trước hành lang mà ngủ một giấc lấy sức. Sau khi ăn xong gói mì tôm ngâm nước dừa, ngủ một giấc dài ngon lành đến chạng vạng, thày trò tôi đã tỉnh và lại tiếp tục cuốc bộ đến Phan Thiết.
Đại Tá Nguyễn Kim Tây và Đại Uý Đặng Văn Thạnh
Tại Phan Thiết, nơi bãi biển người đông như kiến. Ghe nào ghe ấy chật như nêm. Đủ mặt anh hùng Bộ Binh, Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, dân chúng, đàn ông đàn bà trẻ con đầy cứng trên các ghe sẵn sàng ra khơi trước khi thủy triều lên. Tôi loanh quanh tại Phan Thiết cho đến ngày 4-4-75 không tìm được ghe nào mà họ cho xuống cả. Cũng may gặp được một ghe nhỏ của một ông đánh cá. Ông ta bảo tôi: "Ghe tôi nhỏ, chỉ chở hai bộ ván gõ, nhưng cho hai ông quá giang mỗi người $3000." Tôi đồng ý, vào nhà ông ta nghỉ chờ, sáng mới ra khơi.
Ghe đã sẵn sàng đậu ngoài khơi, đúng 3 giờ khuya ngày 5-4-75 ông chủ ghe dánh thức hai thày trò chúng tôi dậy lội từ trong bãi ra nơi ghe đậu. Lên ghe xong nhưng cũng phải chờ nước lên mới ra khơi được. Đúng 5 giờ, ghe cho nổ máy, thì súng từ trong cứ bắn ra đủ loại. Vì số quân nhân các binh chủng trên bãi không có ghe để đi, nên bực tức bắt cứ ghe nào cho nổ máy là trong bãi bắn ra. Ghe tôi từ từ ra khơi, các ghe khác cũng nổ máy và cũng từ từ theo ra khơi. Ngồi dưới hầm ghe nghe máy nổ tưởng chừng như một trận ác chiến lớn lao.
Chiều ngày 5-4-75 ghe cặp bến Long Hải lúc 19 giờ. Khi lội lên bãi gặp An Ninh Quân Đội Phước Tuy chận lại và yêu cầu vứt bỏ vũ khí và máy móc mới được lên bãi. Xong đâu đấy lại tìm vào nhà dân lo cơm nước ngủ một giấc chờ sáng, cuốc bộ ra Bà Rịa. Từ Bà Rịa tìm phương tiện quá Giang về đến Long Bình nghỉ ngơi mấy ngày chờ gôm bị đến ngày 15-4-75 Tiểu đoàn về đầy đủ chỉ thiếu 15 chú. Sau khi gôm bị xong thì được tăng cường một số đông sĩ quan binh sĩ của Quân khu I và III. Tiểu đoàn nhảy vọt từ bảng cấp số cũ 365 tăng vọt 836 theo bảng cấp số mới.
Thành lập Sư đoàn BĐQ. Gồm hai sư đoàn 104 và 106. LĐ7BĐQ nằm trong sư đoàn 106 BĐQ, đóng tại Phú Thọ (ngay trong trường đua Phú Thọ), Liên đoàn 7 BĐQ trách nhiệm mặt Phú Lâm, từ xa cảng miền Tây đến Cây Da Xà. Tiểu đoàn 58 của tôi trách nhiệm chiếm các cao ốc, chận địch từ hướng Long An lên, hai tiểu đoàn bạn, 32/BĐQ trách nhiệm từ Mũi tàu dọc theo Xa lộ Đại Hàn, 85/BĐQ tăng phái cho Tiểu khu Gia Định.
Chiều ngày 28-4-75, lúc 19 giờ, địch quân từ hướng Long An tràn vô Xa cảng miền Tây và hướng Cây Da Xà. Tôi cho lệnh các khẩu đội đại bác SKZ75 và 57 cũng như 6 khẩu đại liên gồm đại liên 30 đại liên M-60 (lấy hết trong kho đem ra bố trí sẵn sàng tiếp địch).
Ý định tôi chờ địch càng gần càng đẹp. Một mặt tôi chỉ thị cho sĩ quan CTCT khẩn yêu cầu đồng bào lui về hướng trường Minh Phụng (trường học của người Hoa), tại nơi đây đã có BCH/LĐ7 đang đóng quân.
Đúng 21 giờ 17 phút, Việt cộng xung phong ồ ạt vào tuyến phòng thủ của đơn vị tôi, trong khi còn cách xa tuyến phòng thủ 200m. Đứng trên nóc bằng tầng lầu 3, tôi nhìn xuống thấy rõ mồn một nhưng chưa đúng tầm sát hại của các loại vũ khí cầm tay như M16 và lựu đạn ném tay M67. Địch quân không quen tấn công thành phố, nên chúng chạy vào như là đàn vịt rất ngon sơi. Suốt đời binh nghiệp 22 năm quân ngũ, chưa trận nào tôi thấy địch đông như vậy. Đã có kinh nghiệm xem phim quân đội Hoa Kỳ phản công trận Nhật tấn công ngọn đồi Bataan, Philippines, nên tôi chờ địch quân vào cận tuyến mới cho lệnh nổ súng. Khi còn cách 30m rồi 20m rồi 10m. Rất hồi hộp và sướng run, tôi nổ súng Colt cầm tay khai hỏa và bồi tiếp một quả lựu đạn Mini. Đồng loạt một tuyến dài từ xa cảng miền Tây đến gàn Cây Da Xà, tất cả đều bóp cò vang. Súng nổ dón, đứng trên cao ốc nhìn xuống địch quân ngã như sung rụng. 2/3 ngã tại chỗ, số còn lại rút chạy ra xa tầm súng.
Enlarge this imageReduce this image Click to see fullsize
Đại Tá Nguyễn Kim Tây và BCH Liên Đoàn 5 BĐQ
Tôi đứng cạnh khẩu súng cối 81 ly đặt trên cao ốc, cho lệnh bắn chận bít chúng lại. Sáu con gà cồ đại liên 50 và M-60 gáy rộ, địch ngã trông thấy khoái mắt. Chỉ 10 phút sau không còn thấy bóng và nghe súng chúng bắn trả vào. Tôi cho lệnh ngưng tác xạ.
Từ khi ấy cho đến sáng ngày 29-4-75, đúng 6 giờ sáng đại đội báo cáo có 7 binh sĩ ta bị thương. Tôi cho lệnh Đại úy Huỳnh Lập Quốc, Trưởng ban 3 xin tản thương về Tổng y viện Cộng Hòa.
Đúng 7 giờ tôi điều động các đại đội tung quân ra trước tuyến tuần tiểu rẽ quạt, tìm và tiêu diệt số địch quân chém vè tại chỗ. Các đại đội báo cáo đã tịch thu một số lớn trên xác chết địch trên trăm khẩu đủ loại.
Vũ khí tịch thu tôi cho chất thành đống trong nhà thờ Phú Lâm. Suốt cả ngày 29-4-75 địch không dám mở đợt tấn công nào cả. Đứng trên cao ốc đặt ống nhòm nhìn ra hướng Tân an thấy địch rõ ràng, chúng đang bố trí các hỏa tiễn. Tôi cho lệnh các đại đội dàn quân ngoài tuyến. Một binh sĩ một hố cá nhân, phải sâu đến cổ. Đích thân tôi và Đại úy Hiệp đi kiểm soát hố đến 18 giờ thì hố cá nhân hoàn tất.
Đến 22 giờ đêm 29-4-75, địch lại tràn vào tấn công. Tôi và Đại úy Hiệp cho lệnh các đơn vị chống trả mãnh liệt, địch không sao tiến đến tuyến TĐ chúng tôi được. Tôi để Đại úy Hiệp lo việc đốc thúc TĐ chống trả. Tôi lo gọi Pháo binh từ trong sân bay Tân Sơn Nhất bắn ra chận hậu địch, nhưng đến nay địch đông quá, lớp này ngã lớp khác bám vào, có cả dân chúng bị VC lùa đi trước quân của chúng. Đây là một trở ngại cho chúng tôi. Trọn đêm 29 rạng ngày 30-4-75 Pháo binh Tân Sơn Nhất bắn yểm trợ cho TĐ thật là chính xác. Địch chết và bị thương vì Pháo binh khá nhiều. Đến 5 giờ sáng ngày 30-4-75 chúng không thể tấn công tuyến dàn quân của TĐ được. Chúng lui ra xa và điều quân đến bao vây đồn Bà Hôm.
Tuy nhiên, chúng vẫn còn một thành phần khá hùng hậu yểm trợ cho đơn vị súng nặng của chúng. Chúng cho pháo lai rai vào tuyến phòng thủ của chúng tôi. Giờ phút cuối cùng của trận đánh để đời. Điều đặc biệt cho đơn vị chúng tôi, là suốt một đêm phòng thủ, cho đến sáng ngày 30-4-75, mặc dù chúng tung quân tấn công TĐ, nhưng TĐ chống trả đến bốn đợt tấn công của địch rất ư là mãnh liệt, và cả TĐT cho đến giờ phút chót, không một binh sĩ nào trong đơn vị bị thương và tử trận cả. Điểm đặc biệt trong đời quân ngũ của tôi, đây đúng là một phép lạ.
Nhưng đến mười giờ ngày 30-4-75, TT Dương Văm Minh kêu gọi trên đài phát thanh Sàigòn: "Buông súng xuống chờ lệnh tại chỗ". Từ lúc ấy chúng tôi không còn được chiến đấu nữa. Sau đó bị chúng đưa đi các trại tù cải tạo. Trong miền Nam thì tại Long Giao, Long Khánh, Suối Máu, Biên Hòa, Rồi chúng đưa ra Bắc, Sơn La, Yên Bái, Hà Nam Ninh.
Rồi giờ đây sống lang thang nơi xứ lạ quê người. Nhưng điểm đặc biết của tôi hằng mong mỏi khi còn đang ở tù Cộng Sản là: Tự Do, Tự Do và Tự Do.
DDT
Phụ chú bổ túc của MN Huỳnh Lập Quốc
Đại đội trưởng Đại đội 1 là Tr/Uý Lê văn Em ( Võ bị khóa ....)
Đại đội trưởng Đại đội 2 là Tr/Uý Tín ( khoá đặc biệt năm 68 )
Đại đội trưởng Đại đội 3 là tôi, Đ/Uý Quốc ( khoá 25/TĐ, sau khi đơn vị về tới Saigon , đầu tháng 4, mới về Bộ chỉ huy TĐ , giử chức vụ Trưởng ban 3 )
Đại đội trưởng Đại đội 4 là Tr/Uý Lý hữu Nghĩa, khóa .../68 )
TĐT là Th/Tá Phan văn Kết, vượt biên, năm 95, 96 về VN chết ở đó, vì bị Bác sỹ chê ! )
TĐP là Đại Uý Phan Xuân Hiệp, khoá 15 TĐ, nay không thấy tăm hơi !
Webmaster: Anh Phan Xuân Hiệp ở San José có thời kỳ về cư ngụ tại Santa Ana và làm báo với Lê Tử Hùng. Vết thương ở cổ làm ảnh hưởng giọng nói của ánh vì dây phát âm (vocal cord) bị hư. Ngày cố Thiếu tướng Phan Xuân Nhuận chết, Hội BĐQ/NC làm lễ phủ quốc kỳ và hỏa thiêu tại Peek Family, anh Phan Xuân Hiệp có mặt cầm di ảnh. Khi đó MN Nguyễn Phương Hùng là Hội Trưởng. Cách đây 3 năm có gặp lại anh Phan Xuân Hiệp. Nay ở đâu không biết. Có tin đồn anh đã chết (?)