Wednesday, June 26, 2019

TRẬN DẦU TIẾNG
Chiến dịch giải phóng Tây nguyên mở màn vào sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975 thì 9 giờ tối cùng ngày đơn vị chúng tôi tập trung tại một khỏang trống trong rừng để nhận lệnh giải phóng chi khu Dầu tiếng. Mệnh lệnh chiến đấu được tiểu đòan trưởng đưa ra ngắn gọn:” Tôi ra lệnh tiêu diệt cứ điểm địch, giải phóng Chi khu Dầu tiếng như kế họach đã định,. tất cả lên đạn, hướng mục tiêu hành quân”. (Chi khu Dầu tiếng một quận lỵ thuộc Miền đông nam bộ cách Sài gòn khỏang 80 km).
Đơn vị hành quân theo sự dẫn đường của lực lượng dân quân, du kích địa phương, khi hành quân được khỏang một giờ, chúng tôi nghe thấy những tiếng đào đất hùynh, hụych, một chiến sỹ la lớn:” Đào huỵệt chôn chúng mày nhé bọn tao không chết đâu”, nhiều tiếng chửi bậy kèm theo, đáp lại những lời lẽ thô tục đó chỉ là những tiếng đào đất dường như mạnh hơn. Thêm vài giờ hành quân nữa, hình như chúng tôi đã đến gần mục tiêu vì mệnh lệnh im lặng, bí mật đưa ra liên tục, có lúc phải đi khom lưng thật sát mặt đất vì gần Chốt đại đội của địch. Khỏang một giờ nữa trôi qua, chúng tôi đã đi cách xa cánh rừng chồi, trước mặt tôi là khỏang trống, lúc này đơn vị vẫn đi thành hàng một, không còn nghe mệnh lệnh từ phía trước truyền về, mọi động tác của người đi sau lặp lại y hệt người phía trước ( đi khom, bò, trườn, nằm chờ…), tôi nhận ra mình đang ở cánh đồng trồng khoai, trồng đậu…Tới đây chúng tôi được lệnh tản ra nằm chờ dưới những luống khoai lang, Từ phía dưới nhìn lên, tôi nhận ra chốt trung đội của địch ( Đã được phổ biến vị trí tiếp cận nằm giữa hai chốt trung đội và tiểu đội địch ) chỉ cách chúng tôi khỏang 100 m, một lính gác đi qua đi lại trên bờ đê, thỉnh thỏang anh ta chui xuống căn hầm ở phía cuối bờ đê ít phút rồi lại lên gác tiếp, anh ta không hề biết rằng có đến hơn 300 quân đối phương đang ở ngay trước mặt, một hồi sau anh lính chui vào hầm và không ra nữa, từ đó đến sáng không có lính gác nên không khí có vẻ bớt căng thẳng hơn, một vài chiến sỹ có vấn đề tai-mũi- họng nên dù đã cố nén hết sức vẫn bật ra tiếng ho hoặc lằng hắng*, có tiếng thì thầm ” nhét đất vào mồm nó, chết cả lũ bây giờ”. Tôi vẫn căng mắt nhìn về hướng chốt địch và cũng thóang có chút lo lắng, lo bị lộ trước khi nổ súng thì kể như thất bại vì hỏa lực cầu vòng của đối phương mạnh hơn ta gấp 10 lần, chưa kể ưu thế máy bay trên không ; điểm lo thứ hai là tổn thất và thương vong vì đơn vị mình là đơn vị có nhiệm vụ thọc sâu chia cắt địch, tiêu diệt trung tâm Chi khu, người ta gọi là chiến thuật đánh nở hoa trong lòng địch, với chiến thuật này thì đơn vị làm nhiệm vụ thọc sâu gần như là đơn vị cảm tử, còn nhớ khi đại đội 7 của tiểu đòan tấn công địch vào đến trung tâm thị xã Phước long tháng 1 năm 1975 đã gặp đại đội 7 một đại đội thọc sâu của đơn vị bạn, sau 3** ngày đêm chiến đấu trong lòng địch họ chỉ còn lại 7 người sống sót, hầu hết đều bị thương. Sự lo lắng của tôi cuối cùng thì cũng qua đi, khi trời chưa sáng hẳn những phát đạn đại bác vang lên mở màn cho cuộc tấn công bắt đầu, cả tiểu đòan nhổm dậy nhắm các cửa mở lao qua chạy thục mạng vào bên trong, những viên đạn pháo vạch đường đỏ lừ bay qua đầu chúng tôi rồi nổ tung ở cánh rừng phía bên phải ( khi trời sáng, tôi nhận ra đó là rừng cao su), tiếng súng bộ binh nổ lọan xạ khắp nơi, tôi không xác định được là nơi nào có địch, tôi và mấy đồng đội cứ nhắm hướng đã định từ khi chưa nổ súng chạy tới. Khi trời sáng rõ nhóm chúng tôi còn lại 4 người, bị mất liên lạc hòan tòan với đội hình, chúng tôi nấp xuống một hố vuông sâu đến ngực, trong số 4 người chỉ tôi là có súng AK còn lại các người khác chỉ trang bị súng ngắn K54, lúc đó tôi phát hiện có hai tên giặc nhắm thẳng nơi chúng tôi đang nấp đi tới khỏang cách chừng hơn hai trăm mét, trông chúng không có gì là vội vã và chắc chắn chúng không biết đã có cả một tiểu đòan lọt vào trong Chi khu rồi. Tôi đặt thước ngắm 2 nhắm giữa bụng đối phương để bắn ở cự ly 150m nhưng ngay lập tức tôi lại thay đổi ý định để diệt mục tiêu ở cự ly 100m nên tôi chuyển về thước ngắm 1 với mục đích phải diệt gọn cả hai tên nếu không chúng tôi sẽ bị lộ. Hai tên địch vẫn đi thẳng vào họng súng, mục tiêu to dần gần như chết***, 180, 150 rồi 140m ( ước lượng) tôi đã xiết hết nấc cò chết, nhưng rồi hai tên địch rẽ phải đi ra hướng hàng rào bất ngờ chạy nhanh, tôi rời tay khỏi cò súng. It phút sau một chiến sỹ đã tìm thấy đường dây hữu tuyến, chúng tôi bám theo đường dây trở về đội hình. Rất đông dân trong Chi khu sơ tán ra khỏi nơi chiến sự, có cả những chiến sỹ bị thương cũng hòa nhập để về tuyến sau (chúng tôi cũng như họ không biết rằng trận chiến bóc vỏ ngòai còn ác liệt gấp nhiều lần so vớ trận đánh chiếm trung tâm). Một trận chiến đấu ác liệt khác diễn ra nơi rừng cao su và đầu sân bay, với ưu thế lô cốt kiên cố, địa hình trống trải, địch đã gây cho ta nhiều thương vong nhưng với đơn vị thiện chiến như hiện tại thì giải quyết cứ điểm này không phải là chuyện khó, nửa giờ sau truyền tin báo về ta đã chiếm được sân bay đang triển khai tiến về hướng Đông nam, khi vừa nhận tin tiểu đòan trưởng ra lệnh đơn vị phải rút ngay vào làng triển khai tiến công về hướng Bắc. ( đơn vị này đã phát triển sai hướng so với kế họach) Khỏang 7 giờ sáng chúng tôi tiến vào Ấp2, ấp trung tâm của Chi khu trước mắt tôi xác trâu bò, heo gà chết ngổn ngang, không thấy người chết, nhà dân hư hại không đáng kể, lúc này chúng tôi chỉ còn cách chốt trung tâm hơn trăm mét, giặc bắn trả điên cuồng bằng súng đại liên, súng cối 61, M79 và pháo tầm xa. Vào khỏang 5 giờ chiều một xe tăng T54 bị trúng đạn bốc cháy ngay giữa đường, sát chốt trung tâm, hai chiến sỹ xe tăng hy sinh, hai người còn lại bị thương rất nặng, bộ binh ta đã phải tập trung mọi hỏa lực hiện có bắn ghìm đầu giặc xuống để đưa hai chiến sỹ bị thương về tuyến sau.
Trận công đồn đã diễn ra suốt ngày hôm sau với sự yểm trợ của xe tăng, đến trưa chúng ta đã mở được cửa vào chốt Trung tâm nhưng phải trả một giá đắt, một chỉ huy cấp đại đội đã hy sinh do vướng phải mìn tại cửa mở, hỏa lực địch từ căn nhà lầu và hầm ngầm chống cự quyết liệt, pháo binh, máy bay địch cũng góp phần đáng kể chặn đứng bước tiến của ta nên phải đến khỏang 5 giờ chiều ta mới chiếm được lô cốt đầu cầu phía Tây nam của chốt, ngay lập tức tiểu đòan trưởng lên lô cốt đầu cầu để chỉ huy trận đánh, lô cốt khá là chắc chắn đủ khả năng chống được sự xuyên thủng của cối 81, chẳng biết là địch có biết sự có mặt của chỉ huy ở lô cốt đầu cầu hay không nhưng một trận pháo hủy diệt đã dập xuống chốt Chi khu, căn hầm rung lên bần bật, bụi bay mù mịt, đạn pháo đã san bằng mọi thứ trừ lô cốt đầu cầu, khi tiếng nổ vừa thưa bớt, chúng tôi nhanh chóng rời khỏi lô cốt, hàng lọat tiếng nổ lớn vang lên phía sau, tôi nhìn lại thấy lô cốt đầu cầu nơi tôi vừa trú ẩn chỉ còn là một đám bụi trắng mù mịt. Trận bắn pháo hủy diệt này nhằm vào quân Giải phóng nhưng nó cũng san bằng các phần còn lại của chốt Chi khu và tiêu diệt luôn một phần lực lượng địch còn lại tạo thuận lợi cho ta diệt hầm ngầm và hòan tòan làm chủ trận địa vào khỏang 10 giờ sáng hôm sau, nhưng phải thêm một ngày nữa đơn vị bạn mới diệt xong chốt Chiến đòan và Chi khu Dầu tiếng hòan tòan giải phóng. Sau bốn ngày xông pha chiến trận, viên đạn AK đã lên nòng không tìm được địa chỉ cần đến, tôi đành tháo ra và trả nó lại băng đạn.
Ngày 15 tháng 3, trên đường trở về căn cứ, tôi đi qua cánh đồng nơi đơn vị tiếp cận đêm 10 tháng 3, cánh đồng bị bom đạn cày nát, vương vãi khắp đó đây là lựu đạn, thủ pháo, bao đạn, bộc phá sào, v.v…của quân giải phóng rơi rớt khi vận động tấn công, đi thêm khỏang 100 mét nữa, trước mắt tôi hiện ra quang cảnh của một trận chiến thời Trung cổ có đến hơn trăm xác chết của quân đội cả hai bên tham chiến nằm ngổn ngang trong phạm vi khỏang 1000 mét vuông, chẳng biết chúng nó đánh đấm kiểu gì mà chết túm tùm tụm thế này, một đồng đội đi cạnh tôi la lên, xa xa trên đường một chiếc xe buyt bị trúng mìn chống tăng cháy đen thui, chắc chắn là có thương vong cho dân thường .
Trận Dầu tiếng là một trận đánh lớn của Quân và dân Miền đông Nam bộ, chỉ đứng sau chiến thắng Phước long, thế nhưng nó ít được nhắc đến vì tại thời điểm đó cái bóng quá lớn của Trận chiến Buôn Ma Thuột đã bao trùm lên trên.
Tháng 01 năm 2012
Các bài viết của tác giả cùng đề tài :
– Trận Pavet
– Trận đánh phum cây dừa
– Trận đánh chi khu Chơn thành.

Tuesday, June 25, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1961912173822599&set=a.197514143595753&type=3&eid=ARCSKqIo-1qH7SY4iAQH1K198KdhOZ-S-HndCu5jH2uFUA3n3IKNzeV5Ts790QFiY-QqkQB1MUZKfMDy
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1961901923823624&set=pcb.1961909583822858&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARBP00arWl65GpTlZDHlqshmRFir3cxYlE1Yoz_zfS4y69b5TaEOjCeqzuRJV2n1UXGLaOwTer2mo0se
https://www.facebook.com/watch/?v=10154319724611350
Đón xuân Mậu Tý, nhớ xuân Mậu Thân
31/01/2008 | N.H.V

"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên !
Toàn thắng ắt về ta!".
Bài Thơ chúc Tết 1968 của Chủ tịch Hồ Chí Minh hàm ý một mật lệnh tổng tiến công và nổi dậy. Cả nước ra trận phơi phới mùa xuân, giáng cho Mỹ – ngụy một đòn đau choáng váng. Ta giành thắng lợi toàn diện cả chính trị, quân sự và ngoại giao, tạo tiền đề cho Đại thắng mùa Xuân 1975, hoàn chỉnh bản hợp xướng anh hùng ca Giải phóng dân tộc.
Chủ trương tiến công và tương quan lực lượng
Cuối năm 1967, cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ đã đến đỉnh cao. Miền Nam có 60 vạn quân ngụy và 54 vạn quân viễn chinh Mỹ với phương tiện chiến tranh hiện đại.
Ở Bến Tre, quân và dân ta giữ thế chủ động tiến công địch bằng ba mũi giáp công. Lực lượng chính trị, vũ trang được xây dựng, phát triển ngày càng cao.
Tháng 12-1967, Bộ chính trị ra nghị quyết chuyển cách mạng miền Nam sang thời kỳ mới, đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”. Trên tinh thần đó, Tỉnh ủy Bến Tre đề ra nhiệm vụ: “Phát huy truyền thống của quê hương Đồng Khởi, tự lực tự cường, đoàn kết một lòng, tập trung cao độ cùng quân và dân cả nước tổng công kích và nổi dậy…”
Tỉnh ủy chủ trương các huyện dồn sức ưu tiên cho thị xã, sẵn sàng tăng cường về cán bộ, vũ khí và phương tiện cho chiến trường chính. Khẩn trương phát triển lực lượng vũ trang (LLVT), tập trung cho mặt trận thị xã 4 tiểu đoàn bộ binh (516, 2, 3, 4), 1 tiểu đoàn đặc công, các đại đội săn tàu, 12ly8, ĐKZ75, cối 82ly, thông tin, trinh sát, c710 Thu Hà và 7 tiểu đoàn dân quân du kích. Các huyện cũng phát triển mạnh LLVT đủ sức tiến công địch trên địa phương mình. Lực lượng tham gia tiến công và nổi dậy được học 10 chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng trước khi đánh vào thành phố.
Lúc này ở Bến Tre, lực lượng địch có 13.118 tên, gồm 4 tiểu đoàn chủ lực thuộc trung đoàn 10 sư đoàn 7 bộ binh, 30 đại đội bảo an, 5.562 dân vệ và một số đơn vị công an, cảnh sát. Tại thị xã, địch tập trung lực lượng quân sự chiếm 1/4 quân số toàn tỉnh. Chúng bố trí chiếm giữ những vị trí quan trọng gồm: 3 tiểu đoàn chủ lực (có 1 tiểu đoàn cơ động) và 1 đại đội thám sát của trung đoàn 10 được bố phòng tại sân bóng đá, cầu Bà Mụ, ngả ba Tháp. Có 9 đại đội bảo an, dân vệ chiếm giữ cầu Gò Đàng, khu chợ Ngã Năm, cầu Nhà Thương, cầu Cá Lóc, chợ Bến Tre, Trung tâm Cải huấn… Tiểu đoàn 72 pháo binh bố trí tại sân bay Tân Thành và sân bóng đá thị xã. Đội tàu tuần giang thường trực tại sông Bến Tre. Hai chi đội thiết xa bọc thép bánh hơi và đội xe GMC…túc trực tại bãi quân xa Tiểu khu (trại Đinh Tiên Hoàng). Địch bố trí từng tiểu đội chốt chặn các ngã ba, ngã tư đường. Trên các điểm cao có hỏa lực mạnh để bảo vệ những vị trí then chốt.
Thế trận tiến công
Tỉnh ủy quyết định thành lập Ban chỉ huy thống nhất gồm Nguyễn Văn Cánh (Bảy Đấu) – Bí thư Tỉnh ủy, Nguyễn Văn Trung – Phó bí thư Tỉnh ủy, Nguyễn Văn Song (Năm Hỏa), Lê Minh Đào – Tỉnh đội trưởng kiêm chỉ huy trưởng, Nguyễn Văn Thạnh (Mười Thi) – Chính trị viên Tỉnh đội, Nguyễn Văn Ba (Mười Phục) – Tham mưu trưởng. Riêng Nguyễn Văn Khước – Khu ủy viên Khu 8 được mời vào Ban lãnh đạo của tỉnh.
Image
Cựu binh Mỹ được tướng Nguyễn Hữu Vị thuyết trình về trận D 516 phục kích diệt Mỹ tại cầu Cá Lóc.
Ngày 27-1-1968, Bến Tre nhận mật lệnh tiến công của Quân khu 8. Ngày 28-1 hội nghị cán bộ quân sự nghe bổ sung tình hình và phát lệnh tiến công. Đêm 28, 29-1 các đơn vị hành quân đến địa điểm tập kết. Ở hướng Nam, lực lượng quân sự của hướng chủ yếu gồm tiểu đoàn 516, 1 đại đội đặc công bộ, 2 trung đội đặc công thuỷ, 1 cối 120ly, 2 cối 82ly, 2 ĐKZ75, 3 sơn pháo 70ly, 2 tiểu đội nữ Thu Hà… có mặt tại điểm tập kết xã Lương Phú. Ở hướng Đông, lực lượng thứ yếu 1 gồm tiểu đoàn BB3, tiểu đoàn BB4, 1 đại đội đặc công bộ có mặt tại xã Hữu Định. Ở hướng Tây-Bắc, lực lượng thứ yếu 2 gồm tiểu đoàn BB2, 1 đại đội đặc công có mặt tại xã Tam Phước, Tường Đa. Đêm 30 và 31-1, Sở chỉ huy mặt trận thị xã có mặt tại Nhơn Thạnh, cách thị xã 1.800m về hướng Nam.
Trong lúc bộ đội trên các hướng bí mật hành quân áp sát thị xã, thì 15 giờ ngày 31-1 Bộ Tổng tham mưu ngụy thông báo đến Tỉnh trưởng Kiến Hòa là “Việt cộng” tràn ngập từ Buôn Ma Thuộc đến Quảng Trị, thông báo đồng bằng Nam bộ phải đề phòng. Đến 22 giờ đêm 31-1, lực lượng ta chiếm lĩnh xong vị trí chiến đấu. Ta bí mật thời điểm tiến công, nhưng yếu tố bất ngờ không còn nữa. Mặt trận Sài Gòn – Gia Định và các tỉnh miền Trung đã nổ súng trước. Mỹ Tho là mặt trận chính của Khu 8, nên Bến Tre nổ súng sau Mỹ Tho một giờ.
“Giờ G – Ngày N” – Pháo lệnh tiến công
Đêm mùng 2 rạng mùng 3 Tết Mậu Thân, cụm hỏa lực trên hướng chủ yếu bắn cấp tập vào Trung tâm hành quân Sở chỉ huy trung đoàn 10 và Tỉnh đoàn bảo an. Trung đội đặc công thuỷ của Hoàng Lam đã ém quân sẵn tại bờ bắc sông Bến Tre, nhanh chóng đánh chiếm trại Đinh Tiên Hoàng, bắt sống 6 xe nồi đồng, bám giữ đầu cầu tạo điều kiện cho tiểu đoàn 516 vượt sông. Khi kết thúc giai đoạn pháo hỏa chuẩn bị, tiểu đoàn 516 chia thành 2 mũi thực hành vượt sông Bến Tre bằng 70 chiếc ghe (tạm mượn không hỏi của dân để bảo vệ bí mật). Vừa đánh địch, vừa vượt sông và khi chiếm được bờ bắc thì tiến theo đường Hùng Vương và đường Nguyễn Huệ, hành tiến đánh chiếm các mục tiêu được giao, cuối cùng hợp điểm về mục tiêu chủ yếu – Dinh Tỉnh trưởng. Địch chống trả quyết liệt, các đại đội của ta phân tán đội hình thành trung đội, tiểu đội và lợi dụng từng dãy nhà, góc phố chiến đấu với địch, diệt một số tua, lô cốt, đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an số 289 và trung đội dân vệ tại cầu Cá Lóc. Địch chiếm giữ điểm cao trên đại lộ Phan Thanh Giản, dùng hỏa lực mạnh ngăn chặn bước tiến của tiểu đoàn 516, bảo vệ mục tiêu then chốt – Dinh Tỉnh trưởng.
Trong lúc đó, ở hướng thứ yếu 2, do tổ nữ vũ trang dẫn đường hy sinh gần nội ô nên tiểu đoàn BB2 hành tiến lạc hướng vào khu Mỹ Hòa Chay, không bắt tay được với tiểu đoàn 516 và gây bất lợi cho trung đội đặc công của Hoàng Lam. Ở hướng thứ yếu 1, tiểu đoàn BB3 và 2 trung đội đặc công bộ đánh tiêu hao nặng tiểu đoàn 1 trung đoàn 10 ngụy, diệt trận địa pháo tại sân bóng đá, đánh chiếm một góc Sở chỉ huy trung đoàn 10 và đánh hỏng đài phát thanh. Tiểu đoàn BB4 đánh tiêu hao nặng 1 đại đội thuộc tiểu đoàn 3 trung đoàn 10 tại Vườn Ươm, cầu Bà Mụ. Cùng đêm đó có 2 trung đội đặc công tập kích sân bay Tân Thành, phá hủy 4 máy bay, diệt 1 trận địa pháo.
Năm giờ sáng ngày 1-2, tất cả các hướng các mũi đồng loạt nổ súng. Đại đội đặc công tiến đánh Sở chỉ huy trung đoàn 10. Trung tá Nguyễn Tường Diễn – Trung đoàn trưởng trung đoàn 10 chỉ huy phản kích khôi phục lại bãi pháo sân banh, bị ta diệt tại chỗ. Lực lượng ta truy lùng địch và bắt sống tên Huệ – trung tá công binh về nghỉ phép tết tại thị xã. Tóm lại, đêm 1-2 lực lượng ta làm chủ hầu hết nội ô thị xã, đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, vây chặt Dinh Tỉnh trưởng và toà hành chính tỉnh. Trung tá Huỳnh Văn Dư – Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Kiến Hòa kêu cứu liên hồi.
Tám giờ sáng ngày 1-2, tiểu đoàn 4 trung đoàn 10 từ Mỹ Hóa phản kích vào thị xã, giải vây Dinh Tỉnh trưởng bị quân ta chặn đánh tại cầu Cái Cá. Cuộc chiến diễn ra ác liệt. Bộ đội đánh “xáp lá cà” với địch, đẩy lùi hàng chục đợt xung phong của chúng. Có tiểu đội không còn đạn, anh em chiến đấu đến người cuối cùng (trong số đó, đồng chí Hoàng Lam đã anh dũng hy sinh).Ngày 2-2, pháo địch ở hạm, tàu trên sông Hàm Luông và căn cứ Bình Đức (Mỹ Tho) bắn vào nội ô. Các loại máy bay ném bom, trực thăng vũ trang bắn hủy diệt khu chợ Bến Tre, làm hơn 300 đồng bào chết và bị thương. Cũng trong thời gian này, tiểu đoàn 516 đã diệt gọn 1 đại đội bảo an từ cầu Rạch Vong chạy về thị xã, bắt sống 34 tên.
Ngày 3-2, lực lượng ta vẫn bám giữ các khu vực đã đánh chiếm trong thị xã. Công an vũ trang, tự vệ mật cùng các cơ sở cách mạng lùng quét bộ máy kềm kẹp của địch. Tiểu đoàn 516 làm chủ khu hành chính An Hội, Ty Thuế vụ, Ty Hiến binh, Ty Cảnh sát quốc gia và đánh chiếm Tiểu khu bảo an, phá hủy kho súng có trên 1.000 khẩu. Địch tiếp tục dùng máy bay, pháo binh đánh dữ dội, hủy diệt hầu hết các khu phố. 16 giờ cùng ngày, tiểu đoàn pháo binh của Mỹ đến giải tỏa khu vực Tân Thành và sân bay để xây dựng trận địa pháo (18 khẩu), yểm trợ cho cuộc phản kích lớn vào nội ô trên nhiều hướng sắp tới. Lực lượng ta chuẩn bị đối đầu với chủ lực Mỹ.
Lập trận địa diệt Mỹ
Ban chỉ huy thống nhất nhận định: Quân Mỹ đã nhảy vào Bến Tre và theo tin trinh sát kỹ thuật, chúng có thể đổ thêm nhiều tiểu đoàn bộ binh Mỹ tiếp viện, hình thành liên quân Việt – Mỹ thực hành phản kích khôi phục lại các mục tiêu đã mất. Trong khi đó lực lượng ta chưa đủ khả năng đánh chiếm ngay dinh tỉnh trưởng. Ban chỉ huy thống nhất quyết định tổ chức một lực lượng gọn, nhẹ, được trang bị tốt trụ lại trong thị xã hoạt động chiến đấu kềm chân địch. Các tiểu đoàn bộ binh và các đại đội binh chủng rút ra ngoại ô lập trận địa sẵn sàng diệt quân Mỹ.
Đúng như nhận định của ta, chiều ngày 3-2, từ căn cứ Bình Đức (Mỹ Tho), 21 chiếc trực thăng vận chuyển 1 tiểu đoàn bộ binh Mỹ đổ xuống sân bay Tân Thành, phát triển và dừng lại ở ngã tư Phú Khương. Cùng lúc đó, đại bộ phận tiểu đoàn 516 rút ra ngoại ô, lập trận địa phục kích ở cầu Cá Lóc và Bắc cầu Gò Đàng, sẵn sàng đánh quân phản kích. 7giờ ngày 4-2, trực thăng vận chuyển tiếp 1 tiểu đoàn bộ binh Mỹ đổ xuống đồng Cây Đa, xã Phú Hưng, phát triển và dừng lại ở Nam cầu Gò Đàng. Như vậy, Mỹ đã sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh của Lữ đoàn 2, phối hợp với tiểu đoàn 4 trung đoàn 10 ngụy để phản kích vào nội ô trên 3 hướng được sự yểm trợ trực tiếp của tiểu đoàn pháo binh Mỹ ở Tân Thành. Ưu thế quân sự lúc này thuộc về lực lượng phản kích. Mỹ quyết định sử dụng 1/3 lực lượng của Sư đoàn 9 (Sư đoàn cơ động của Mỹ ở đồng bằng sông Cửu Long) vào phản kích trên chiến trường Bến Tre. Điều đó chứng tỏ chiến sự ở Bến Tre ác liệt đứng vào hàng thứ 3 sau mặt trận Sài Gòn – Gia Định và Huế.
11giờ ngày 4-2 (tức mùng 5 tết) tiểu đoàn Mỹ ở Phú Khương thực hành phản kích. Chúng cử 1 trung đội đi trước, lọt vào đoạn phục kích bị ta tiêu diệt gọn. Mỹ tức tối phản ứng mạnh. Chúng dùng pháo binh bắn cấp tập từ cầu Cá Lóc đến cầu Gò Đàng. Trực thăng vũ trang, máy bay ném bom đánh phá ác liệt vào khu vực đó. Trận địa cầu Cá Lóc bỏ ngỏ, dụ địch tiếp tục hành tiến trên tuyến lộ 26. Khi chúng đến còn cách cầu Gò Đàng 500m thì lọt vào trận địa phục kích của bộ phận trinh sát tiểu đoàn và dân du kích phối thuộc, ta nổ súng tiêu diệt đại đội đi đầu của tiểu đoàn Mỹ. Địch tức tối ném bom, bắn pháo ác liệt vào trận địa. Đến 16giờ 30 phút cùng ngày, tiểu đoàn Mỹ từ Nam cầu Gò Đàng hành quân vào thị xã. Khi đến cầu Cá Lóc, chúng lọt vào trận địa phục kích chủ yếu của ta. Tiểu đoàn 516 và 1 trung đội của tiểu đoàn BB4 nổ súng xung phong đánh “xáp lá cà”. Ta nhanh chóng tiêu diệt chỉ huy và thông tin. Tiểu đoàn Mỹ hoàn toàn mất liên lạc với chỉ huy cấp trên. Qua trinh sát kỹ thuật, ta được biết Bộ chỉ huy Lữ đoàn 2 hoảng hốt yêu cầu pháo binh Mỹ hủy diệt trận địa. Bộ đội nhanh chóng rời khỏi trận địa. Pháo binh Mỹ đánh chụp vào đội hình quân Mỹ, tự sát thương cho chúng rất nặng nề. Tiểu đoàn Mỹ này hoàn toàn mất sức chiến đấu. Như vậy, trong ngày 4-2-1968 quân ta đánh trận phục kích lớn với 2 tiểu đoàn bộ binh Mỹ, diệt gọn 1 đại đội và làm tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn Mỹ.
(Xin nói thêm, năm 1998, đoàn Cựu chiến binh thuộc Tiểu đoàn Mỹ bị đánh bại ở cầu Cá Lóc đã về Bến Tre thăm lại chiến trường xưa và xác minh xem “đối thủ” năm xưa là ai? – có phải là đơn vị chủ lực thiện chiến của “Bắc Việt” hay không? Đoàn Cựu chiến binh Mỹ được Hội Cựu chiến binh Bến Tre tiếp xúc và khẳng định “đối thủ” đánh bại 2 Tiểu đoàn Mỹ ở mặt trận cầu Cá Lóc và Bắc cầu Gò Đàng là Tiểu đoàn 516 – đơn vị anh hùng của lực lượng vũ trang Bến Tre).
Image
Cựu binh Mỹ được Tướng Nguyễn Hữu Vị thuyết trình về tổng tiến công TX Bến Tre xuân Mậu Thân 1968.
20 giờ ngày Mùng 5 Tết, trận địa cầu Cá Lóc im tiếng súng. Bộ đội thấm mệt sau 4 ngày đêm chiến đấu liên tục và sử dụng gần hết đạn dược. Các lực lượng được lệnh rút ra vùng ven. Riêng tiểu đoàn 516 về Hữu Định bổ sung quân và hậu cần kỹ thuật.
Tiến công đợt I, tuy ta chưa dứt điểm được thị xã, nhưng mặt trận thị xã và mặt trận các huyện trong tỉnh phát huy thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao, phối hợp với chiến trường chung đã đánh cho Mỹ, ngụy một đòn đau nhớ đời. Với thành tích tổng tiến công ở thị xã nói riêng và toàn tỉnh nói chung, các LLVT Bến Tre đã được Bộ Tư lệnh Miền biểu dương. Riêng tiểu đoàn 516 được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng III.
Bốn mươi năm nhìn lại
Người ta cần có khoảng cách nhất định để quan sát toàn cảnh của một không gian rộng lớn. Thế còn việc nhìn nhận sự kiện lịch sử thì cần có khoảng lùi về thời gian để nhận rõ tầm vóc của “vấn đề” trong chuỗi sự kiện lịch sử chiến tranh cách mạng.
Bốn mươi năm nhìn lại sự kiện xuân Mậu Thân 1968, mọi người dễ nhận thấy tầm vóc của sự kiện lịch sử này trong chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc. Đó là: Chủ trương Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa là đòn tiến công chiến lược tất yếu của Đảng – quân – dân ta khi chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ phát triển ở đỉnh cao. Một chiến dịch có quy mô toàn miền. Ta có thời gian chủ động chuẩn bị, nỗ lực lớn, quyết tâm cao thực hiện trận đánh lịch sử, làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho thế tiến công của cách mạng. Đảng ta đã dày công thực hiện mưu lược thiết kế trận đánh lịch sử, giỏi khai thác nghệ thuật ngoại giao và đòn tiến công quân sự trước hưu chiến để lừa địch. Đối phương chủ quan khinh địch. Ta tung ra đòn đánh hiểm vào các thành phố. Ta còn chủ động thực hiện mưu thuật giành bất ngờ khai triển những trận đánh vào dịp hưu chiến, tạo ra sự đột khởi trong toàn miền. Mặc dù Mỹ ngụy có hệ thống tình báo từ trung ương đến địa phương và tai mắt, chân rết khắp cơ sở vẫn không phát hiện được kế hoạch tổng công kích của ta. Bí mật “Giờ G – Ngày N” được bảo vệ đến phút chót. Địch bất ngờ về thời điểm, về mục tiêu và quy mô tiến công. Chúng choáng váng, bị động, lúng túng đối phó giai đoạn đầu.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 là đòn hiểm trúng huyệt cả Mỹ lẫn ngụy. Đòn hiểm đó chưa đủ lực “nốc ao” kẻ thù. Nếu như thời điểm lúc ấy, Bắc-Nam sử dụng thống nhất lịch âm, lịch dương thì “Giờ G – Ngày N” được nổ ra đồng loạt toàn miền, thắng lợi sẽ to lớn hơn! Phải nhìn sự kiện “Tết Mậu Thân” trong mối tương tác giữa chính trị, quân sự và ngoại giao thì mới thấy hết tầm vóc của thắng lợi. Nếu chỉ nhìn đơn lẻ ở góc độ quân sự, tổn thất trong cuộc chiến và tử nạn của đồng bào thì dễ rơi vào phiến diện, chỉ nhận thấy bi hùng, bi tráng, bi thương! Máu đỏ của những thương binh cùng bao liệt sĩ anh dũng ngã xuống ở ven đô, nội ô, góc phố… và công lao của trùng điệp đội ngũ cách mạng trong ba mũi giáp công góp sức cho chiến công chung là hoàn toàn có giá trị. Sự hy sinh mất mát trong chiến đấu là điều tất nhiên. Sự bi hùng, bi tráng, bi thương trong quân sự đã tạo nên cung bậc trầm hùng của bản hợp xướng anh hùng ca xuân Mậu Thân 1968.
Hiển nhiên, sự kiện ấy đã vang xa, dư luận nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhất là nhân dân tiến bộ Mỹ đã đấu tranh đòi Nhà Trắng và Lầu Năm Góc từ bỏ sự dính líu quân sự lâu dài ở Việt Nam. Mỹ buộc phải ngồi vào bàn hội nghị nói chuyện “tử tế”, từng bước xuống thang chiến tranh, rút dần quân đội viễn chinh về nước, chuyển chiến lược “chiến tranh cục bộ” sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Lực lượng cách mạng có cơ sở tiếp tục xây “lực” và tạo “thế” cho chiến tranh nhân dân phát triển cao. Bổ sung, nâng cao và hoàn thiện khoa học nghệ thuật quân sự. Chủ động tạo thời cơ, tập trung toàn lực tung đòn “nốc ao” đối phương trong đại thắng mùa xuân lịch sử 1975. Thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Monday, June 24, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3386724518008017&set=pcb.3386658828014586&type=3&av=100000115071295&eav=Afaa1CEswNRgu_uftEKGlNjB3yBQIhdB0O4vIHauLnIa7Cz8wMoBPM40Yg_Xnvgurvg&__tn__=HH-R-R&eid=ARCDKxTKjjC41CDO23TV2fkydQ_33ztrkDs1hvGTvz_iZXzWvYHrU-Dp2MxYO39u8RuNP9jWkSgnS3Hs

Sunday, June 23, 2019

QLVNCH: Những trận đánh cuối cùng…
Những trận đánh cuối cùng… PDF Print E-mail
Written by Trần Lý
Saturday, 26 April 2014 17:22
Những trận đánh cuối cùng:
1- Trận Huấn khu Long Thành
26-28 tháng 4 năm 1975
:: Trần Lý ::
Trường Bộ Binh là một quân trường chuyên đào tạo các sĩ quan trừ bị cho Quân lực VNCH. Trước 1974, Trường tọa lạc tại Thủ Đức, và từ đầu năm 1974 được dời về Long Thành, một cơ sở mới nằm bên cạnh Quốc lộ 15 (Từ SàiGòn đi Vũng Tàu) cách Quận lỵ Long Thành khoảng 5 km. Tại
alt
đây, Trường BB kết hợp với Trường Thiết Giáp và Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế của LLĐB (nơi huấn luyện Biệt Kích) để lập thành Huấn khu Long Thành. (Trường Thiết giáp đặt tại Căn cứ Bearcat cũ , nơi trú đóng của Lực lượng Thái Lan khi tham chiến tại VN)
Chỉ huy trưởng Trường BB kiêm nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng Huấn khu.Từ tháng 4/75 Đại tá Trần Đức Minh là chỉ huy trưởng Huấn Khu.
Trường Võ Bị Đà Lạt, sau khi di tản (ngày 30 tháng 3 năm 1975) qua ngã Sông Pha, Phan Rang, Bình Tuy và được chuyển vận bằng C-130 về SàiGòn, sau đó được tạm trú tại Trường BB Long Thành và đã cho ra trường tại đây 2 khóa 28 và 29, còn lại các SVSQ thuộc các khóa 30 và 31.
Kế hoạch tấn công của CSBV :
Hướng Tây-Nam của cuộc tấn công vào Sài Gòn của CSBV được giao cho Quân đoàn 2 BV. Lực lượng QĐ này gồm:
Các SĐ BB CSBV 325 và 304
Lữ đoàn Pháo binh 164
Lữ đoàn xe tăng và thiết giáp 203
Sư đoàn phòng không 673
Lữ đoàn công binh 219
Trung đoàn đặc công 116.
Lực lượng này có khoảng 54 xe tăng, 35 thiết giáp, 223 xe kéo pháo; 87 khẩu 130 mm và 105 mm; 136 khẩu cao xạ..
Tổng số quân lên đến 40 ngàn..do Tướng BV Nguyễn Hữu An chỉ huy và Tướng Lê Linh làm Chính Ủy.
Kế hoạch dự trù tấn công trên mặt trận chính bề ngang khoảng 80 km. Các mục tiêu chính gồm Huấn khu Long Thành (BV gọi là Căn cứ Nước Trong), Chi khu Long Thành, Chi khu Nhơn Trạch để sau đó tiến 2 ngả một về Sài gòn và một về Vũng Tàu..
Kế hoạch phòng thủ của QL VNCH:
alt
Để đối phó với hướng tấn công này (VNCH xem là Đông-Bắc của SàiGòn) , QL VNCH chỉ huy động được những lực lượng còn lại của SĐ 18 BB (còn 2 Chiến đoàn), Lực lượng Xung Kich QĐ 3, riêng Lữ đoàn 1 Dù được giao nhiệm vụ giữ Bà-Rịa-Vũng Tàu.. thay vào đó là LĐ 258 TQLC.Tư lệnh chiến trường là Tướng Nguyễn văn Toàn (Tư lệnh QĐ III VNCH) cùng các Tướng Lê minh Đảo (Tư lệnh SĐ 18), Tướng Trần Quang Khôi (Tư lệh Lực lượng Xung Kích)
alt
Các lực lượng cơ hữu của Huấn khu Long Thành, gồm quân số cơ hữu và các SVSQ đang thụ huấn tại các Trường Bộ Binh, Trường Thiết giáp và Trung Tâm Huấn luyện Biệt Kích Yên thế..
Vào đầu tháng 4 năm 1975, Trường BB có khoảng 4000 Sinh viên Sĩ quan Trừ bị thuộc các khóa gối đầu nhau; ngoài ra vào cuối năm 1974, Trường tiếp nhận khoảng 1000 quân nhân thuộc Quân chủng Không Quân đang theo học các ngành tại HK phải về nước do cắt giảm viện trợ. Ngoài ra còn có các lớp Sĩ quan Khóa sinh gồm chừng 500 người. Số SVSQ Võ Bị Đà Lạt và quân nhân cơ hữu của Trường Võ bị khoảng 500 người
– Huấn khu Long Thành được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Trần Đức Minh (quyền Chỉ huy trưởng Trường Bộ binh thay thế Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi từ tháng 4-1975).
– Trường Thiết giáp do Đại tá Huỳnh văn Tám chỉ huy..
– Về quân số cơ hữu của Trường Bộ Binh:
– Ngày 22 tháng 4, 1975, một nửa quân số thuộc các đơn vị của Trường BB cùng với những đơn vị thuộc các Trường Võ Bị QG Đà Lạt (từ Đà Lạt di tản về), được lệnh rút về Huấn Khu Thủ Đức (Trường BB Thủ Đức cũ). Một nửa quân số ở lại để phòng thủ Trường, lực lượng này do Đ/tá Lê văn Phú Tham mưu trưởng Huấn Khu chỉ huy. Trong lúc này, Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng cục trưởng TC Quân Huấn chỉ định Đ/tá Lộ công Danh, Liên đoàn trưởng LĐ Sinh viên SQ Trường BB làm Quyền Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt thay thế Tướng Lâm Quang Thơ.
Lực lượng Địa phương quân và Nghĩa Quân của Chi Khu Long Thành dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hà văn Sáu, Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng.
alt
Những diễn biến tại Khu vực trong tháng 4/1974:
Từ đầu tháng 4/75, CQ đã mở những cuộc tấn công thăm dò vào Khu vực Huấn khu Long Thành, dùng đặc công xâm nhập vào các Trường Thiết giáp và Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế nhưng bị đẩy lui sau khi chịu nhiều tổn thất.
Ngày 8 tháng 4 năm 1975, QĐ III VNCH được tăng phái Lữ đoàn 468 TQLC, TĐ 8 TQLC được giao nhiệm vụ đóng tại Long Thành để ngăn chận địch quân từ hướng Long Khánh, giữ an ninh ngoại vi cho các Căn cứ Long Bình và Bộ Tư lệnh QĐ (Biên Hòa).
Ngày 10 tháng 4: QĐ III được tăng phái thêm Lữ đoàn 4 Dù. LĐ này được giao trách nhiệm bảo vệ các khu vực Tam Hiệp-Biên Hòa-Long Thành..
Ngày 21 tháng 4: VNCH rút khỏi Long Khánh từ chiều 20/4 và về đến địa điểm tập trung tại Đức Thạnh (Phước Tuy) vào chiều 22/4. Liên tỉnh lộ 2 được chọn làm lộ trình rút quân, dài khoảng 40 km từ Tân Phong, qua Đức Thành, Long Lễ. Cuộc rút quân được xem là thành công, bảo toàn lực lượng. LĐ 1 Dù được giao nhiệm vụ bảo vệ Quốc lộ 15 , từ Long Thành đến Bà Rịa. SĐ 18 và các đơn vị tăng phái di chuyển về Căn cứ Long Bình.
Diễn tiến trận đánh:
7 giò sáng ngày 26 tháng 4, Cộng quân bắt đầu tấn công thăm dò bằng các đơn vị trinh sát của SĐ 304 CSBV. Những cuộc chạm súng nhỏ diễn ra với các đơn vị tiền đồn của Huấn khu Long Thành..
alt
Chiến đoàn 322 / LLXK QĐ III VNCH được lệnh di chuyển về Long Thành để tiếp cứu. Chiến đoàn 322 được tăng cường thêm một TĐ TQLC tiến theo QL 15 và đụng nặng với CQ trong khu vực rừng cao su, tại Dốc 47, bắn hạ 12 chiến xa BV (Tướng Trần Quang Khôi trong Danh Dự và Tổ Quốc)
5 giờ chiều 26/4 , trận tấn công chính thức bắt đầu bằng cuộc pháo kích dữ dội của Cộng quân..sau đó SĐ 325 CSBV dùng bộ binh cùng sự yểm trợ của xe tăng đồng loạt tấn công vào các cứ điểm phòng thủ của Huấn khu nhưng không vượt nổi hàng rào phòng ngự kiên cố của Trường Bộ Binh. Riêng Trường Thiết giáp và TT Huấn luyện Yên Thế bị mất liên lạc sau đó. Quận Long Thành cũng bị tấn công, nhưng giữ vững vị trí trong đêm. Đ/tá Huỳnh văn Tám, Chỉ huy trưởng Trường Thiết giáp bị mất tích từ chiều tối 26/4 sau khi lọt vào ổ phục kich của CQ trên đường trở về sau cuộc họp bên Trường BB. Tài liệu CSBV ghi lại: Trong trận tấn công vào Trường Thiết giáp, CQ chỉ hoàn toàn làm chủ vào chiều 29/4 vơi sự thiệt hại gần 200 quân..
Sáng 27 tháng 4: CSBV dùng SĐ 325 tấn công vào sườn trái của vòng đai phòng thủ Huấn khu đồng thời SĐ 304 tấn công vào hướng chinh diện. Các mũi tấn công này đều có xe tăng và pháo yểm trợ.
Cũng từ 5 giờ chiều CQ dùng Trung đoàn 101 (SĐ 325 CSBV) tấn công Quận lỵ Long Thành, dùng Tr/Đ 46/325 tiến vòng để chiếm Ngã ba Phước Thiền và Tr/Đ 18/325 bao vây Bỉm Sơn. Tất cả các cứ điểm trên đều do ĐPQ và Nghĩa quân Long Thành chống giữ.
Một lực lượng khoảng 2 ĐĐ /TĐ 1-TQLC cũng hoạt động trong khu vực Ngã ba QL15 và Liên tỉnh lộ 10 (gần đầu dốc 47). Tại chốt phòng thủ này, LL TQLC có 2 M-48 yểm trợ đã chống trả cuộc tấn công của CQ cho đến chiều 28/4 mới bị tràn ngập..
Theo Vũ Trọng Hóa, TM trưởng của Tr/Đ 18/ SĐ 325 CSBV thì CQ mở đầu cuộc tấn công bằng một cuộc pháo kích dữ dội gần 700 đạn pháo bắn vào Chi khu Long Thành trong vòng nửa giờ: Loạt đạn đầu bắn phá khu vực Cầu Xéo và loạt thứ nhì vào Quận đường và khu vực đặt 2 đại bác 105 ly của Quận. Bộ binh có xe tăng yểm trợ đồng loạt tấn công. Chi khu Long Thành phản ứng bằng pháo yểm trợ từ Bến Sắn và Phước Hòa..tuy nhiên sau đó CSBV đã tập trung pháo binh, bắn trên 2000 quả đạn vào các điểm đặt pháo của VNCH.. Sáu giờ chiều, xe tăng CSBV (thuộc Lữ đoàn 203/325) tiến vào đường Nguyễn An Ninh Long Thành nhưng bị chặn tại đây. Lực lượng địa phương VNCH, luồn theo các ngõ hẻm để tập kích. Trận đánh kéo dài đến 10 giờ đêm, CSBV tiến chiếm các tiền đồn quanh Thị xã như Cầu Quán thủ, Ngã ba Cầu xéo, Liên Kim sơn, các chốt Cầu đen, Bàu cá..Địa phương quân Long Thành bắn cháy nhiều xe tăng của CSBV (trong đó một chiếc ngay tại cổng chính dinh quận, một chiếc khác bên chi khu..)..Trung Tá Hà văn Sáu rút ra bên ngoài, xin chi viện từ Tiểu khu Biên Hòa nhưng không được đáp ứng và vẫn tiếp tục chiến đấu đơn độc chống trả lực lượng CQ. Mãi đến 4 giờ 30 chiều ngày 27, CSBV mới chiếm được khu vực Quận Long Thành.
Lực lượng còn lại của Chi Khu rút về Ấp Thái Lạc và cố thủ tại đây đến chiều 28 tháng 4..(Vũ Trọng Hóa ghi lại cuộc kháng cự tại Ấp Thái lạc gây thiệt hại nặng cho Tiểu đoàn 1/ Trung đoàn101 CQ, trong đó gần 100 cán binh bị hạ kể cả Tiểu đoàn trưởng CQ Nguyễn Ánh Dương )..
Đêm 27 tháng 4 , Cộng quân tập trung lực lượng quyết thanh toán Trường BB. Sáng 28, trước tình hình nguy ngập do lực lượng quá đông của quân CSBV, Đ/tá Lê văn Phú quyết định rút quân và lực lượng còn lại lui về Huấn Khu Thủ Đức..
Tài liệu của CSBV ghi lại: Trong ngày 27 tháng 4, SĐ 5 KQVNCH dùng 115 phi vụ để oanh kích vào đội hình của Cộng quân và bị hạ đến 2 F-5, 4 A-37, 3 Skyraider A-1 và 1 UH-1 A. Phối kiểm với các phi công KQ VNCH thì không ai biết gì về con số phi vụ cũng như con số phi cơ bị hạ?
(Về phần Skyraider A-1. Đại úy Trần văn Phúc, người bay những phi vụ A-1 cuối cùng trên không phận Sài Gòn cho biết: ‘Sau 6 tháng đình động 2 Phi đoàn A-1 được lệnh bay lại, trưa ngày 3 tháng 4, 1975 các phi công PĐ 518 bắt đầu bay ‘quen tay’ và đến 5 tháng 4 được biệt phái xuống Cần Thơ, sau đó 19 tháng 4 trở lại Biên Hòa..Ông cho biết hầu như không còn sự phối hợp giữa KQ và BB như trước: trong nhiều phi vụ tuy bay bao vùng tại Long Khánh, Ông phải tự tìm ‘mục tiêu’ (?) và tùy nghi thả bom..vào những vùng khả nghi có tập trung quân của CSBV Trong ngày 27 tháng 4, các phi vụ của Đ/u Phúc và các phi công khác bay trên vùng trời Long Bình nhưng không được sử dụng? Chiếc A-1 sau cùng bị bắn hạ là chiếc do Th/tá Trương Phùng bay ngày 29 tháng 4 trên không phận Sài Gòn).
Các F-5 hầu như ..không còn hoạt động hành quân vào giai đoạn cuối cùng này..Một số phi vụ A-37 được điều hành từ Cần Thơ. Một lý do được giải thich là ‘BV đã sử dụng hỏa tiễn tầm nhiệt Strella và súng phòng có radar điều khiển nên F-5 và A-37 không thể cất cánh oanh tạc được’ (Hà Mai Việt trong Thép và Máu, trang 204).
Không có những ghi nhận chính thức về hoạt động của các trực thăng võ trang. Riêng trong bài Những ngày cuối trên đất Đồng Nai, Phó Tỉnh trưởng Biên Hòa Nguyễn Nhơn ghi lại:’ Sáng 28/4 từ văn phòng nhìn về phía núi Châu Thới, chiếc trực thăng đang quần đảo, phóng rocket ì ầm, yểm trợ lực lượng dù (?) đánh dẹp chốt đặc công VC ở chân núi’.
Đ/u Nguyễn văn Việt TĐ 46 Pháo Binh (theo CĐ 322/LLXK) ghi lại trong trận đụng độ ở Dốc 47: ‘ Gần trưa, một chiếc phản lực bay qua đầu chúng tôi, rồi nhào xuống thả một trái bom, rơi trúng phía bên kia đường cách bộ CH Chiến đoàn khoảng 200m..’
(Nguyễn văn Việt trong Pháo thủ 46 kể chuyện cũ)
Một sĩ quan thuộc TĐ 1/ TQLC kể lại: ‘..vì áp lực mạnh của cánh quân CSBV từ Bình Tuy băng qua, KQ ta yểm trợ bằng các phi tuần A-37 dội bom xuống mặt trận..Một trái bom đã rơi vào làn ranh của hai bên..’ (Tháng 4 ra trường..)
Trường hợp TĐ 82 BĐQ, được Th/tá Vương Mộng Long TĐT ghi lại trong Hồi Ký, Tháng Tư lại về:’ Ngày 28 tháng 4, TĐ đang nghỉ dưỡng quân tại Long Bình thì được lệnh vào vùng hành quân tại phía sau Trường BB Long Thành..Quân số do đi phép và tập trung bất ngờ nên chỉ còn 161 người lên đường với nhiệm vụ ngăn chặn địch từ hướng Bắc tiến về. TĐ đóng quân tại một ngọn đòi nhỏ là ‘một tiền đồn cũ, có 3 lô cốt nhỏ, không hầm hố địa đạo, không hàng rào..nên chỉ chất những viên đá tổ ong thành một chiến lũy cấp thời..’ Ngay tối 28, CQ huy động lực lượng BB có xe tăng yểm trợ, dùng xe chiếu sáng chiến trường để tấn công.
Sau 3 đợt tấn công dữ dội, và 6-7 tăng bị bắn cháy..CQ đã tràn ngập vị trí phòng thủ của TĐ 82 BĐQ. TĐ hết M-72, lựu đạn và chiến đấu đơn độc không có phi-pháo yễm trợ..Còn lại 107 người, tìm đường rút về Căn cứ Long Bình qua ngã Hố Nai (Biên Hòa) Cuộc rút lui bi thảm này, vượt các ổ phục kích và pháo của Cộng quân để cuối cùng chỉ còn lại 67 người. và tan hàng tại Cầu hang vào sáng 30 tháng 4..
Tuyến phòng thủ Huấn Khu Long Thành được xem là bỏ ngỏ từ ngày 29/ 4. CQ tiến về SàiGòn..nhưng vẫn gặp sự kháng cự của những đơn vị còn lại của QL VNCH . Những trận đánh cuối cùng tiếp diễn dù không còn ‘Đại bàng’…như các trận Cầu Rạch chiếc, trận Huấn khu Thủ Đức..
Trần Lý (Tháng 5-2013)
Ghi thêm:
Đại úy Phúc (Phi Long 51) cho biết thêm một số chi tiết về A-1 trong bài như sau:
‘Sau khi trở về Biên Hòa ngày 19 tháng 4 năm 1975, Chúng tôi không còn bay yểm trợ tiếp cận (Close Air Support) cho quân bạn mà phải bay bao vùng hàng nhiều giờ rồi được các phi cơ quan sát (L-19) chỉ điểm oanh tạc những vùng nghi ngờ đóng quân của CSBV.
Chỉ riêng ngày 27/4/1975 vào khoảng 2 giờ trưa, Tôi cùng Đ/úy Trần Công Quận bay bao vùng ở Long Khánh, vì không có phi cơ quan sát, tôi phải tự tìm mục tiêu và oanh tạc đoàn xe công voa đang di chuyển từ Bắc xuống Nam ở Trảng Bom.
Bây giờ tôi mơi hiểu lý do tại sao chúng tôi bị bắn bởi hàng rào phòng không dày đặc, chỉ cách phi cơ tôi vài mươi mét tại Long bình ở cao độ 5000 bộ..
Chúng đặt hơn 30 khẩu phòng không (có radar hướng dẫn) từ 23 ly, 37 ly và 57 ly rải rác khắp vùng Long Khánh để bảo vệ các cánh quân BB tiến chiếm Huấn khu Long Thành. Rất tiếc chúng tôi hoàn toàn không hay biết, thật quá phí số bom này và tôi xin thành thật xin lỗi Toàn thể Chiến hữu tại Huấn khu Long Thành..
(Điện thư trao đổi giữa Đ/ú Phúc và Tác giả ngày 20/5/1975)
2- Huấn khu Thủ Đức
30 tháng 4 năm 1975
alt
Bài ‘Trận đánh không có đại bàng tại Huấn Khu Thủ Đức ngày 30/4/1975′, trong tập sách ‘Những trận đánh không tên trong Quân sử’ (Tập 2), ở Chương 8 (trang105-119) đã được Nhà văn Hải Triều viết và dựng lại theo lời kể của các Đại úy Thảo của Trường Quân Báo và Đại úy Trần văn Trung của Trường Tổng Quản trị, được ghi là có mặt và tham dự trực tiếp vào trận đánh.. Tuy nhiên, do được ‘dựng lại’ nên một số chi tiết chưa thật sự chính xác. Diễn tiến trận đánh xin được viết lại dưới đây, tổng hợp từ các bài phỏng vấn Đại tá Phạm đức Minh, Chỉ huy trưởng Huấn khu Long Thành, người đã ở lại cuối cùng và đã tủi hờn bàn giao Huấn khu cho CSBV ( bài ‘ Trường Mẹ, Bạn, Anh em, và..’ của Tác giả Băng Đình, phỏng vấn Đ/tá Minh phổ biên trên Tuần san Chính Luận, Seattle, 2005. Đại tá Minh mất tại Kirland. TB Washington tháng 11-2009)..Ngoài ra một số chi tiết được trích từ bài ‘Những ngày cuối cùng của Trường Bộ binh’ của Tác giả Nguyễn ngọc Thạch, Trưởng Phòng Kế hoạch của Trường BB lấy từ trang mạng Batkhuat.net
Tình hình Huấn Khu Thủ Đức trong những ngày cuối cùng:
Từ khi Trường BB chuyển ra Long Thành, Tổng cục Quân huấn đã tổ chức Huấn khu Thủ Đức gồm một số Trường như Trường Tổng Quản trị, Trường Hành Chánh tài chánh, Trường Quân Báo, Trường Quân Nhu, Trường Quân cụ, Trường Quân nhạc, Trường Vũ thuật Thể Dục..Trong những ngày cuối cùng Chỉ huy trưởng Huấn Khu Thủ Đức là Đại tá Trần văn Tự.
alt
Sau ngày TT Thiệu từ chức (21 tháng 4), toàn thể Sinh viên sĩ quan Trường BB (Long Thành) và SVSQ Võ Bị Đà Lạt, dưới quyền Đ/tá Minh đã được di chuyển về Thủ Đức (Xem bài Trận Huấn Khu Long Thành). Khi về Thủ Đức, theo sự thỏa thuận giữa Đ/tá Minh và Đ/t Tự, lực lượng HK Long Thành chịu trách nhiệm phòng thủ, bảo vệ HK Thủ Đức, còn lực lượng cơ hữu của Thủ Đức phụ trách chống đặc công trong phạm vi Trường..
Chiều tối 27 tháng 4, các lực lượng còn lại của Trường BB Long Thành, sau khi chống trả cuộc tấn công của SĐ 325 CSBV trong suốt 2 ngày 26 và 27, đã phải rút về Thủ Đức..
alt
Sau khi mọi thành phần của Trường BB từ Long Thành về đến Thủ Đức . Tổng cộng quân số tại Thủ Đức lên khoảng 6000 người gồm SVSQ và quân nhân cơ hữu (Một số bài viết, kể cả bài phỏng vấn Đ/t Minh ghi lại, cho rằng Trường ĐH Chiến Trị Đà Lạt sau khi di tản cũng về Huấn Khu Long thành và Thủ Đức, nhưng trên thực tế Trường ĐH CTCT được đưa về hậu cứ của TĐ 30 CTCT tại Biên Hòa và sau đó từ Biên Hòa rút về hậu cứ TĐ 50 CTCT) .
Ngay từ hạ tuần tháng 4, khi nhận lệnh từ Tổng Cục Quân Huấn chuẩn bị làm nhiệm vụ phòng thủ Sài gòn, Trường BB đã cấp tốc tổ chức các đơn vị tác chiến: Các sĩ quan huấn luyện viên được đưa xuống các Tiểu đoàn SVSQ làm Trung đội trưởng, các ban Tham mưu TĐ và LĐ được thành lập. Nói chung có 2 Liên đoàn tác chiến, mỗi LĐ khoảng 2500 người.
Trang bị không hoàn chỉnh, các võ khí cá nhân và cộng đồng như M-16, đại liên M-60, cối 81, do rút từ huấn luyện nên tạm đủ, phần M-79 và súng chống tăng M-72 tương đối it. Về Pháo binh có một Trung đội 105 rút từ Long Thành về, cùng với 4 khẩu 175 không rõ của đơn vị nào từ Long Khánh chạy về Huấn khu Thủ Đức..(trong lực lượng rút về từ Long Thành còn có một số quân nhân di tản từ Trường Pháo binh Dục Mỹ, Nha Trang)
Tại Thủ Đức, lực lượng của Trường BB được bố tri thành ba tuyến:
Tuyến tiền đồn do Khối Yểm trợ công vụ của Trường trấn giữ các điểm ngoại vi.
Tuyến ngoài hàng rào chung quanh Trường do một Liên đoàn SV phòng thủ.
Tuyến trong do một LĐ SV khác trấn giữ.
Trừ bị là một Tiểu đoàn SV, trích từ tuyến trong và ĐĐ 966 Địa phương Quân của Tiểu khu Gia Định biệt phái dài hạn cho Huấn khu Thủ Đức để lo an ninh bãi tập. (SVSQ Võ Bị Đà lạt thuộc thành phần trừ bị này)
Theo Đ/tá Minh, mối lo ngại nhất là thiếu võ khí chống tank và tập trung quân trú phòng trong một diện tích tương đối hẹp khó tránh thiệt hại khi bị CQ pháo kích..
Đ/tá cũng cho biết:
‘Về phương diện quân sự, khi còn ở Long Thành, Trường BB nằm dưới sự yểm trợ trực tiếp của Bộ Tự Lệnh QĐ III. Khi di chuyển về Thủ Đức lại trực thuộc thuộc Biệt Khu Thủ Đô. Nhưng từ cuối tháng 4, hệ thống chỉ huy đã rất..lỏng lẻo..’
‘Những ngày cuối tháng 4, Trường BB hoàn toàn bị cô lập, không hề nhận được bất cứ lệnh lạc nào từ Quân Đoàn III cũng như từ Biệt Khu TĐ. Cho đến ngày 28/4 chỉ liên lạc độc nhất được với Tướng Nguyễn Bảo Trị, Tổng cục trưởng TC Quân Huấn để nhận những chỉ thị ‘khích lệ’ tinh thần..?’
Sáng 29 tháng 4, Trường BB Thủ Đức hoàn toàn mất liên lạc với..bên ngoài (Đây là thời điểm..tự tan rã của Bộ TTM QL VNCH, xin xem bài SàiGòn ngày 29 của Trần Lý. Tư lệnh QĐ III, Tướng Toàn sau khi ra lệnh cho Tướng Khôi trụ lại, đã bay ra Hạm đội Mỹ. Bộ Tư lệnh QĐ III không còn..khả năng chiến đấu..chỉ còn LLXK của Tướng Khôi..Tư lệnh BKTĐ, Tướng Minh.cũng..di tản.)..
Trận đánh cuối cùng: 30 tháng 4 năm 1975
alt
Sáng 30 tháng 4, CSBV từ Nhơn Trạch bắt đầu pháo kích lác đác vào Trường BB Thủ Đức..
(Quân đoàn 2 CSBV sau khi thanh toán tuyến phòng thủ Long Thành chiều ngày 28/4 , tập trung lực lượng để tiến thẳng về SàiGòn qua hướng cầu Đồng Nai nhưng bị giữ chân tại đây trong suốt ngày 29, Trường BB Thủ Đức không còn là mục tiêu chiến lược hay chiến thuật gì nữa..Pháo CQ chỉ nhằm mục đích..bắn quấy rối)
Khoảng 8 giờ 30 sáng, Đại úy Hiếu TĐT TĐ 5/SVSQ, phụ trách phòng thủ vòng đai Trường phía xa lộ báo cáo thấy đoàn xe CQ di chuyển trên xa lộ về hướng Sài Gòn. Trung tâm Hành quân của Trường điện thoại cấp báo về Biệt Khu Thủ Đô, nhưng..không còn ai bên Biệt Khu trả lời (?)..Đ/tá Minh quyết định dùng mọi cỡ pháo binh khả dụng của Trường (gồm các pháo đội từ các nơi tạm gửi tại đây) bắn chận về hướng Đông khoảng giữa cầu Đồng Nai và Nghĩa Trang Quân đội. Pháo binh CSBV cũng phản pháo và gửi một đơn vị Thiết giáp về tiến công Thủ Đức..
Đài quan sát đặt trên tháp nước cấp báo xe tăng CSBV xuất hiện tại khu Nhà máy lọc nước tại Ngã Tư Thủ Đức và tiến về Trường theo hướng Chợ Nhỏ.
Một chiếc T-54 đơn độc chạy thẳng vào Cổng chính, ủi sập các chướng ngại vật, chạy thẳng vào trong nội vi trường, vừa chạy vừa bắn loạn xạ..Trong khi đó, một ổ đại liên của CQ bắn yểm trợ từ cầu Bến Nọc bao phủ khu vực Cổng số 9.
Lực lượng trú phòng dùng đủ mọi loại súng bắn vào chiếc xe tăng CQ nhưng không chận được..Chiếc tăng dùng đại bác bắn xập Trung tâm Hành quân (dễ nhận do nhiều cột ăng-ten). Thiếu tá Làu, thuộc Trường Tổng Quản tri, may mắn, thoát nạn..Bộ Chỉ huy nhẹ của Trường đang đóng tại Tư dinh CHT gần đó bên ngoài nên còn hoạt động được nhưng giới hạn. Liên lạc với các Trường khác kể như gián đoạn..
Chiếc T-54 sau đó từ Vũ Đình Trường quay chạy về hướng Cổng số 9, nhưng gặp sức kháng cự của các SVSQ nên lại quay đầu và vẫn bắn loạn..tiếp tục gây một số thương vong trong đó có Th/tá Vương bá Thuận gẫy chân, Tr/tá Ông nguyễn Tuyền (thuộc Văn phòng Phụ tá Kiểm huấn Trường BB) bị tử thương.. Đủ loại súng nhỏ tập trung vào chiếc tăng..và hầu như vô hiệu. Sau cùng Đ/úy Ngữ ĐĐ trưởng ĐĐ 663 (?) ĐPQ đã dùng M-72 để bắn đứt xích chiếc tăng này nơi gần Miếu Tiên sư. Tuy nằm tại chỗ nhưng súng trên pháo tháp vẫn quay bắn lung tung. Liền đó một SVSQ thuộc Tiểu đoàn 1 SVSQ, TĐ của SVSQ Không Quân gởi sang học Quân sự, đang ở phòng tuyến gần đó đã bò ra, leo lên pháo tháp và thả một quả lựu đạn vào bên trong..Chiếc T-54 bị tiêu diệt hẳn..(Sau này phối kiểm lại được biết đây là một SVSQ thuộc ĐĐ 2 SVKQ). Lục soát trong xe, lực lượng trú phòng thu được 3 võ khí cá nhân..
alt
Một chiếc T-54 bị bắn hạ vào những giờ phút sau cùng của cuộc chiến
(Trận đánh diệt chiếc T-54 này được một SVSQ thuộc Tiểu đoàn Không quân ghi lại trong bài ‘Cổng số 9 Trường BB Ngày 30 tháng 4 năm 1975′ trên Diễn đàn Phi Dũng như sau:
‘ Đọc bài ‘Trận đánh không có Đại bàng’ cùng ký tên của ba người là Lê Nguyễn, Trần văn Trung và Hải Triều, đọc xong tôi nhận thấy cần phải bổ túc thêm cho chinh xác, vì khóa 73F của chúng ta và một số it SVSQ/KQ khóa khác là quân chủ lực của Trường Thủ Đức trong ngày 30 tháng 4, 1975..
Tiểu đoàn Không Quân của Trường BB Long Thành gồm những SVSQ từ khắp nơi quy tụ về: từ những người đang học bay bên Mỹ, những người đã đậu Anh ngữ đang chờ đi Mỹ, những người ở Nha Trang..đều chung số phận do cắt giảm ngân sách quân viện. TĐ KQ được thành lập tại Long thành vào đầu năm 1974.
Giai đoạn thụ huấn của SVSQ Trừ bị Thủ Đức là 9 tháng, nên trong vài ngày cuối của cuộc chiến, các khóa khác đã ra Trường, còn lại KQ là khóa sinh kỳ cựu..tính từ ngày nhập ngũ, các khóa sinh KQ..ai cũng gần hoặc hơn 3 tuổi linh..
Di tản từ Long Thành về Thủ Đức ngày 28 tháng 4, SVSQ Không Quân được giao nhiệm vụ làm kháng tuyến chính án ngữ 4 mặt của Quân trường, được trang bị hỏa lực tối đa ngoài cấp số..Tất cả các đơn vị khác, vì là khách nên được nằm bên trong, gọi là kháng tuyến phụ..
alt
..Dưới quyền Đ/ú Thu, ĐĐT và Tr/ú Triều Tr/Đội trưởng, ĐĐ4 , mang khăn quàng màu vàng đóng quân ngay Cổng số 9 của Quân trường Thủ Đức..Tại cổng số 9, phía trước có những thùng phuy làm rào cản, dọc theo tuyến có hàng rào kẽm gai và ngoài lớp rào là một hệ thông giao thông hào rộng và sâu để cản chiến xa.. Hướng phải của Cổng số 9, khoảng 150 m có một lô cốt xây bằng xi măng lớn có nhiều lỗ châu mai..Tuần sự ĐĐ khăn vàng nằm tại đây, có máy truyền tin và súng ống, đạn dược dự trữ đủ loại.
ĐĐ 4 canh gác nghiêm ngặt và hầu như không ngủ được trong suốt đêm 29..
Sáng 30..bỗng nhiên nhiều tiếng la hốt hoảng ‘xe tăng, xe tăng’, không thấy gì nhưng súng đạn nổ dòn tan dọc theo tuyến của Cổng số 9, một chiếc T-54 nòng súng phun ra lửa khói, tiếng đạn rít ngang đầu..Lửa đủ màu bay quanh chiếc tank mà nó cứ tiếp tục lăn bánh gần sát giao thông hào, những ngọn lửa của M-72 che khuất chiếc xe cùng theo những tiếng ‘cháy rồi, cháy rồi’ inh òi, lửa tắt, bánh xe vẫn còn lăn, nhiều ngọn lửa khác tiếp tục, nòng đại bác của tank vẫn tiếp tục bắn..
Chiếc tank bị cản bởi giao thông hào nên sau đó thụt lùi và chạy về hường cổng số 1, để bị hạ tại đây..
Khoảng 10 giờ 20 lệnh đầu hàng và bàn giao do TT Dương văn Minh tuyên bố đã chấm dứt cuộc kháng cự tại Huấn Khu Thủ Đức. Đ/tá Minh đã buộc bàn giao Huấn Khu Thủ Đức cho Đại diện Quân BV và sau đó bị tạm giữ trên lầu Tư dinh CHT.Các SVSQ và Quân nhân cơ hữu của Huấn Khu thay đồ dân sự và tự động tan hàng..
Trong bài ‘ Trường Mẹ, Bạn, Anh em, Và..’ theo Tác giả Băng Đình, Đại Tá Minh xin gửi những lời sau:
‘Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các quân nhân và Sinh viên sĩ quan của Trường Bộ binh cũng như các Quân trường, tái phối trí đã cùng tôi chiến đấu đến phút chót tại ngọn đòi Tăng Nhơn Phú vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 để bảo vệ Tổ Quốc cũng như thanh danh của Quân Trường.
Tôi cũng xin kính cẩn tưởng niệm hương hồn các quân nhân của Trường BB đã hy sinh vào giờ phút sau cùng của cuộc chiến tranh chồng chất oan khiên suốt mấy chục năm trời.
Đối với tất cả Quý vị từng là SVSQ Trừ bị Thủ Đức, tôi xin kính báo: Quý vị có thể tự hào về những khóa đàn em của Quý vị, vào ngày 30 tháng 4, 1975, không những đã hiên ngang dùng súng cá nhân nã vào xe tăng hung hãn của địch mà còn can trường nhẩy lên chiến xa liệng lựu đạn diệt thù nữa..’
Trần Lý (Tháng 5-2013)