Saturday, June 22, 2013

NGƯỜI NÀY ĐÃ GÓP PHẦN ĐẪY VN PHẢI 'NẮM  DAO ĐẰNG LƯỠI' TRONG QUAN HỆ VỚI TQ !
Thưa các bạn ,
Trong còm "NHỮNG CƠ HỘI BỊ BỎ DỞ" , tôi đã nói về người đã 'phá bỉnh' việc bình thường hóa giửa Mỹ và VN sau năm 1975 . . . và cuối cùng , qua HN Thành đô , VN buộc phải làm hòa trong thế RẤT YẾU với TQ - mà VN đã làm cho họ mất mặt trong cuộc chiến 1979 .
ĐÚNG LÀ ĐỊNH MỆNH NGHIỆT NGÃ TIẾP TỤC THEO ĐUỔI  VN : PHẢI BẮT TAY VỚI KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP - để dẫn đến bao HỆ LỤY tiêu cực kéo dài cho tới hôm nay .
Hôm nay , tôi xin giới thiệu bài viết về nhân vật đó : Zbigniew Brzezinski , cố vấn về an ninh quốc gia của TT Jimmy Carter . Nguồn :
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/05/080501_brzezinski_vietnam_china.shtml
= = = =
"Tháng năm này đánh dấu 30 năm ngày diễn ra chuyến thăm Trung Quốc của Zbigniew Brzezinski (từ 20 đến 23 tháng Năm 1978).
Năm 1978 – 79, khi Mỹ - Trung chủ động tiến gần đến nhau, có thể nói hai chính khách QUAN TRỌNG NHẤT trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung là Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh cho tổng thống Mỹ và Đặng Tiểu Bình, phó thủ tướng Trung Quốc.
Vai trò cố vấn chiến lược
. . .
Nếu như chiến lược détente (hòa hoản) của Kissinger đặt quan hệ Mỹ - Xô và Mỹ - Trung ngang nhau, thì Brzezinski, khi trở thành cố vấn an ninh của Tổng thống Carter, lại chọn chiến lược công khai liên minh với một trong hai cường quốc cộng sản, buộc kẻ còn lại rơi vào sự cô lập. Ảnh hưởng ngày càng tăng NGÀY CÀNG TĂNG của ông cố vấn, cùng với những tính toán của Bắc Kinh, là yếu tố quan trọng khiến sự tái lập quan hệ Mỹ - Việt trở thành BẤT KHẢ.
Khi Jimmy Carter trở thành chủ nhân Tòa Bạch Ốc, việc PHỤC HỒI QUAN HỆ với Việt Nam được ông xem là một phần của quá trình hàn gắn vết thương cho nước Mỹ. 10 ngày sau khi nhậm chức tổng thống, Carter gặp Ủy ban Quốc hội về người Mất tích ở Đông Nam Á (Ủy ban Montgomery) và lặp lại lời hứa khi tranh cử là sẽ gửi phái đoàn đến Việt Nam để bàn vấn đề MIA. Khác với người tiền nhiệm Gerald Ford, Carter chỉ thị : KHÔNG đặt MIA làm điều kiện tiên quyết cho đàm phán.
Vấn đề tái lập quan hệ chính thức với Trung Quốc dĩ nhiên cũng nằm trên bàn nghị sự của tổng thống. Nhưng Carter chỉ trích nặng nề lập trường của Nixon – Kissinger đối với Trung Quốc: “Chúng ta không nên bợ đỡ họ như cách Nixon và Kissinger đã làm.” Ban đầu, Carter nghe theo đề nghị của Ngoại trưởng Cyrus Vance, là BÌNH THƯỜNG HÓA quan hệ với cả Bắc Kinh và Hà Nội.
Trong khi đó, đứng trên lập trường chống Liên Xô của một người Mỹ gốc Ba Lan, Brzezinski ngã về phía Trung Quốc để lên án cả Moscow và Hà Nội. Sang năm 1978, khi ảnh hưởng của Brzezinski ngày càng mạnh, Việt Nam trở thành LÁ BÀI để Mỹ lung lạc mâu thuẫn Xô – Trung.
Brzezinski lên đường Hoa du
Trong một buổi tiệc tháng 11-1977, phía Trung Quốc hỏi Brzezinski là ông có ý định thăm nước này hay không. Brzezinski rút sổ tay và đề nghị người đối diện “đặt ngày”. Ngay sau đó, viên cố vấn lại viết thư cho sứ quán Trung Quốc ở Washington, nhắc lại lần nữa mong muốn viếng thăm. Biết tin này, Ngoại trưởng Vance phản đối, như lời kể của Carter trong hồi ký:
“Bộ trưởng Vance khăng khăng nói mọi đàm phán phải được thực hiện qua ông ấy. Tôi đoán người ở Bộ Ngoại giao vẫn khó chịu với việc Ngoại trưởng William Rogers bị ngó lơ khi Henry Kissinger, trong cương vị Cố vấn An ninh Quốc gia của Nixon, đóng vai trò quan trọng để chuẩn bị cho chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống và thương thảo tuyên bố chung Thượng Hải.”
Brzezinski đã chọn nước cờ là đi thăm Bắc Kinh trong lúc Vance đang ở Moscow, làm vị ngoại trưởng bó tay. Trước mặt chủ nhà trong buổi tiếp tân ngày 22 tháng Năm, Brzezinski khẳng khái: “Tổng thống…quyết tâm hợp tác với các bạn để vượt qua những trở ngại còn lại trên con đường bình thường hóa hoàn toàn. Hoa Kỳ đã có quyết định về vấn đề này.” Phái đoàn Mỹ cung cấp luôn thông tin tình báo về các đợt chuyển quân của Liên Xô dọc đường biên giới Xô – Trung.
Trên đường quay về, Brzezinski tự ý dừng lại ở Tokyo mà không hỏi trước ý kiến tổng thống. Như một món quà nữa dành cho bằng hữu mới quen, Brzezinski thúc Nhật ký hiệp ước hòa bình và hữu nghị với Trung Quốc – hiệp ước sau đó được ký vào tháng Tám.
Chuyến thăm thành công của Brzezinski tạo nên những thay đổi nền tảng trong chính sách của chính quyền Carter. Nó diễn ra vào lúc mâu thuẫn Việt – Trung sôi sục vì cuộc khủng hoảng Hoa kiều và vì chính thể Khmer Đỏ ở Campuchia. Với lập trường chống Liên Xô, Brzezinski, ngay từ đầu năm 1978, đã xem xung đột Việt Nam – Campuchia là một “cuộc chiến ủy nhiệm giữa Trung Quốc và Liên Xô.” Quan điểm này dần dần chi phối Nhà Trắng để rồi quanh câu hỏi làm thân với Hà Nội, Brzezinski “liên tục nói với tổng thống là một hành động như thế sẽ bị Trung Quốc diễn giải là động thái ‘thân Xô, chống Trung.”
Brzezinski nghĩ gì về cuộc họp với Nguyễn Cơ Thạch?
Ngày 29 tháng Sáu 1978, Việt Nam là nước châu Á thứ hai, sau Mông Cổ, gia nhập COMECON (Hội đồng tương trợ kinh tế của các nước thuộc hệ thống XHCN). Đây là bước đầu tiên trong một loạt diễn biến ngoại giao đưa Hà Nội đến gần hơn với Moscow.
Sang tháng Bảy, Trung Quốc chấm dứt toàn bộ mọi dự án tại Việt Nam. Việt Nam đề nghị với Mỹ có thêm cuộc họp ở Paris trong tháng Tám để bàn về khả năng khôi phục quan hệ, nhưng Mỹ từ chối, nói rằng hai bên có thể gặp kín trong tháng Chín khi đoàn Việt Nam đến New York dự họp của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Trong cuộc họp đó, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cuối cùng đã nói Việt Nam sẵn sàng bình thường hóa quan hệ vô điều kiện. Nhưng với tiến triển trong đàm phán bình thường hóa Mỹ - Trung, vấn đề Việt Nam không còn là ưu tiên cho chính quyền Carter. Vấn đề thuyền nhân và tin tức tình báo về khả năng Việt Nam SẮP TẤN CÔNG Campuchia cũng cho thấy đây không phải là lúc để Mỹ cải thiện quan hệ với nước cựu thù.
Sau ngày họp thứ hai với Nguyễn Cơ Thạch, chuyên gia Trung Quốc của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, Michel Oksenberg, gửi báo cáo cho Brzezinski: “Ta có thể cảm thấy THẾ YẾU của Việt Nam trong các cuộc thảo luận. Những khó khăn kinh tế, xung đột với Campuchia và căng thẳng với Trung Quốc đặt họ vào vị trí rất bất lợi.” Trong lúc khả năng tấn công Campuchia là khó tránh khỏi, có vẻ Việt Nam rất muốn sớm bình thường quan hệ với Mỹ, và đồng thời dùng cuộc thương thảo với Mỹ để có thêm những nhượng bộ từ Moscow.
Ngoại trưởng Vance gửi một báo cáo cho Tổng thống Carter, đề nghị rằng sau cuộc bầu cử quốc hội, Washington cần đi theo lộ trình bình thường hóa quan hệ với Hà Nội. Trước khi báo cáo đến tay Carter, theo thông lệ, nó phải được Brzezinski duyệt. Viên cố vấn có bút phê vào bản phúc trình rằng KHÔNG NÊN có bước đi nào cho đến khi đã lập được quan hệ với Bắc Kinh.
Sau này, Brzezinski thổ lộ với nhà báo Nayan Chanda: “Tôi cho rằng Holbrooke đến đó (gặp phái đoàn Việt Nam tại New York) để chứng tỏ rằng họ muốn làm cho việc quan hệ bình thường thêm được dễ dàng, và tôi đã BẮN RƠI đề nghị đó.” Đáng chú ý, lúc này Bộ Ngoại giao Mỹ cũng nhận được thông điệp giận dữ từ Ngoại trưởng Trung Quốc Hoàng Hoa về cuộc thương lượng Việt – Mỹ.
Một cuộc gặp riêng giữa Tổng thống Carter với Brzezinski và Leonard Woodcock diễn ra trong tháng Mười 1978. Chính Brzezinski yêu cầu không cho Ngoại trưởng Vance tham dự cuộc họp. Theo hồi ký của Brzezinski, khi Carter hỏi về vấn đề hòa giải với Hà Nội, cả hai cố vấn đều nói chuyện này chỉ gây nguy hiểm cho cuộc thương lượng với Trung Quốc. Bản thân Woodcock, người từng dẫn đầu phái đoàn sang Việt Nam và ủng hộ quan hệ với Hà Nội, nay đã thay đổi thay độ. Kết quả là Carter quyết định đặt Trung Quốc thành ưu tiên.
Đặng tranh thủ quan hệ với Mỹ
Mỹ và Trung Quốc chính thức phục hồi quan hệ ngoại giao vào ngày đầu tiên của năm 1979. Một tuần sau, quân đội Việt Nam tiến vào thủ đô Phnom Penh. Khả năng bình thường hóa quan hệ với Mỹ nay được đặt ra với điều kiện Hà Nội rút toàn bộ quân đội ra khỏi Campuchia.
Việc Trung Quốc “dạy cho Việt Nam một bài học” chỉ còn là vấn đề thời gian. Chuyến thăm Washington của Đặng Tiểu Bình vừa để thắt chặt mối quan hệ song phương vừa tái tục, và cũng để thăm dò phản ứng của chính quyền Carter về khả năng Trung Quốc tấn công Việt Nam.
Tổng thống Carter chính thức đón tiếp Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình tại thảm cỏ trước Tòa Bạch Ốc sáng ngày 29 tháng Giêng 1979. Nhưng thực ra, vào tối hôm trước, chủ nhà đầu tiên tiếp ông Đặng chính là Brzezinski, tại nhà riêng ở tiểu bang Virginia. Brzezinski khui chai rượu do Brezhnev tặng, và làm vị khách thích thú khi họ nâng cốc cho tình bạn Mỹ - Trung bằng món quà từ Moscow.
Trong cuộc gặp riêng với Carter, Brzezinski, Vance và Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown ngày 30 tháng Giêng, Đặng nói rõ Trung Quốc thấy cần phải “kiềm chế tham vọng của người Việt Nam và dạy cho họ bài học hạn chế thích đáng.” Đặng giải thích thêm là bài học này sẽ ngắn về thời gian, nhỏ về quy mô và không nhằm dẫn đến xung đột trực diện giữa Liên Xô và Trung Quốc. Brzezinski lo ngại Tổng thống “có thể bị Vance thuyết phục để gây sức ép tối đa buộc Trung Quốc không dùng vũ lực.”
Sáng hôm sau, Carter đưa cho Đặng lá thư viết tay nói Mỹ không đồng ý Trung Quốc đánh Việt Nam. Sau khi liệt kê chín lý do, Carter kết luận: “Hoa Kỳ không thể ủng hộ hành động này, và tôi mạnh mẽ kêu gọi ngài không thông qua nó.” Tuy vậy, nhiều nhà phân tích xem ngụ ý sâu xa của lá thư chỉ là Hoa Kỳ sẽ không can thiệp tình hình ở Đông Dương.
Brzezinski viết trong hồi ký: “Tôi cảm thấy đây là cách thức đúng, vì chúng tôi không thể chính thức thông đồng với Trung Quốc để bảo trợ một hành động tương đương với sự gây hấn quân sự.”

Hai ngày sau khi trở về từ chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11 tháng Hai 1979, Đặng ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17 tháng Hai. Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên, với khoảng 300.000 quân tham chiến.
Trong lúc chiến sự diễn ra, Brzezinski mỗi buỗi chiều lại gặp đại sứ Trung Quốc Sài Trạch Dân để thông báo hoạt động của quân Liên Xô dọc biên giới Xô – Trung và cho hay những thông tin tình báo vệ tinh khác. Như nhận xét của Cecile Menetrey-Monchau trong cuốn sách gần đây về quan hệ Việt – Mỹ, “dù cuộc xâm lấn được gọi là ‘cuộc chiến của Đặng’ tại Trung Quốc, nó cũng có thể được gọi là ‘cuộc chiến của Brzezinski’ ở Washington, với ý nghĩa là gián tiếp đối đầu với Moscow và thắng thế trước Vance.”
Tóm lại, từ đầu năm 1978 trở đi, cùng với ảnh hưởng gia tăng của Brzezinski, Washington không còn xem Hà Nội là một nước độc lập trong vùng mà là một “Cuba phương Đông”, tiêu biểu cho tham vọng bành trướng của Liên Xô. Lập trường đối ngoại của Brzezinski tìm thấy điểm chung ở ban lãnh đạo Trung Quốc. Thêm một lần nữa, Việt Nam lại trở thành quân cờ trong bàn cờ chiến lược của các siêu cường."./.
= = =

Wednesday, June 19, 2013

HẠ ĐÌNH NGUYÊN: THÀ BỊ GIẾT CHẾT CHỨ KHÔNG TỰ CHẾT
Giới thiệu : Bài viết gửi LS Cù Huy Hà Vũ của Hạ Đình Nguyên , một SV tranh đấu thân Cộng , từng bị giam ở Côn Đảo và được thả năm 1973 . Tác giả giúp ta có cái nhìn về bộ máy an ninh của chế độ cũ . Dù đang chiến tranh ác liệt , họ vẫn tôn trọng tam quyền phân lập và nhà nước pháp quyền vì lúc ấy Mỹ muốn đồng minh của họ sẽ trở thành một tủ kính chào hàng (showcase) của dân chủ tại Á Châu ; sau đây là 1 trích đoạn .-- Tài.  

HNC: Tôi đã rơi nước mắt khi đọc lá thư dưới đây của anh Hạ Đình Nguyên, một cựu tù Côn Đảo, gởi cho luật sư Cù Huy Hà Vũ đang tuyệt thực trong tù.

Tâm sự của người không quen biết gởi tù nhân Cù Huy Hà Vũ: Thà bị giết chết chứ không tự chết
Hạ Đình Nguyên
Theo dõi trên mạng, tôi biết không nhiều về cuộc đấu tranh của anh, nhưng khi đọc thư tuyệt mệnh của anh về cuộc tuyệt thực mà anh đang tiến hành trong tù, tôi thật sự xúc động.

Vì là người cũng đã trải qua tù đày, nên tôi hiểu và tin lời lẽ trong thư của anh, anh rất quyết liệt với hành động tuyệt thực này. Tôi lo cho anh quá, và khá buồn vì nhiều lẽ.
Tôi mạo muội có đôi lời chia sẻ cùng anh.
Chắc anh đã từng nghe nói về cảnh tù tội trong Nam đối với những người kháng chiến “chống Mỹ cứu nước” của một thời gian khổ Mặt trận Giải phóng Miền Nam, mà tôi cũng là một thành viên bé mọn trong ấy. Tôi có trải qua nhưng cũng không thể nào biết hết các kiểu đau thương của cái gọi là tù tội, tuy có thể tạm biết thế nào là hậu quả của chiến tranh, một cuộc đọ sức có tính chất định mệnh, và những gì ở bên dưới các chiến thắng, dù là chiến thắng của phía nào. Tôi nghe nói về những cách tra tấn, cách giam cầm hết sức khủng khiếp của chế độ Miền Nam vào thập niên 1955-1965. Nhưng sau đó, tôi có trải qua “thực nghiệm” nên có vài ghi nhận, theo cái biết của mình, một số điều sau đây.
Khi tôi vào tù, thì “chế độ tù” được mô tả ở giai đoạn trước1965, nay đã có phần thay đổi, có cải tiến khá hơn, so với thời Ngô Đình Diệm. Tôi có hưởng được chế độ tù cải tiến ấy, không nghiệt ngã như giai đọan trước. Nhưng vì lý do gì đưa đến sửa đổi này? Do sự đấu tranh của người tù? Do sự quan tâm và áp lực của dân chúng? Do sự “tự tiến bộ” của nhà cầm quyền lúc ấy? Tôi không tin nhiều về lý do thứ ba. Hay là do sự hiện diện trực tiếp nhiều hơn của người Mỹ, từ khi họ ào ạt đổ quân vào Việt Nam từ 1965 trở về sau? Tôi không quá ngây thơ để tin rằng “Đế quốc Mỹ” là thuần khiết tốt với Việt Nam, hay “vì Việt Nam”. Họ , người Mỹ , vì chiến lược chống Chủ nghĩa Cộng sản bành trướng, họ nghĩ thế, và muốn có một cơ chế xã hội ở miền Nam tương đối giống họ, nằm trong khung Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, với lý tưởng của Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. Họ muốn có một xã hội Miền Nam có tự do, dân chủ và phát triển để người dân không theo Cộng sản, họ nghĩ thế. Họ lật đổ nhà Ngô vì cho là độc tài không chinh phục được lòng dân. Họ làm nhiều việc để nâng tầm chế độ ấy lên, tuy kết quả toàn cục không đến đâu, nhưng riêng về chế độ lao tù có nhiều cải tiến. Năm 1970, một phái đoàn Nghị sĩ Mỹ qua Việt Nam điều tra và tố cáo chế độ hà khắc ở nhà tù Côn Đảo, sau đó, chế độ “chuồng cọp” khốc liệt nhất tại đây bị bãi bỏ (Tôi chỉ nêu một thí dụ sơ sài, trong phạm vi bức thư này).
Về sự tra tấn tù nhân và chế độ giam giữ tù nhân
Tôi thấy có một vài cách biệt đáng nói.
- Điều tra, tra tấn
Ngành an ninh điều tra của họ có nhiều phương pháp và thủ thuật tra tấn rất dã man, nhất là đối với đối tượng Cộng sản mà họ “đặt ra ngoài vòng pháp luật” theo Hiến pháp của họ. Họ nhằm vào tra tấn thể xác với nhiều đòn tàn độc, cũng uy hiếp và trấn áp tinh thần, cũng tấn công vào tình cảm thiêng liêng của người thân, với mục đích moi thông tin từ đối tượng cho bằng được. Họ rất cần chứng cứ. Chứng cứ thật sự đối với họ là quan trọng, vì họ phải ứng xử, đối phó với thanh tra ngành, với cấp trên, với tòa án, với báo chí, với các phe nhóm khác, bởi Miền Nam lúc bấy giờ đã bước đầu hình thành một xã hội công dân, với thiết chế chính trị cơ bản là Tam quyền phân lập, dù không thể nói là hoàn hảo. Đối với đối tượng chính trị được cho là “nguy hiểm”, tuy cấp trên có thể cho phép họ TRA TẤN ĐẾN CHẾT nhưng xác định người nào được giao quyền này, chứ KHÔNG PHẢI AI CŨNG CÓ QUYỀN đánh, có quyền tra tấn, có quyền hành hạ tù nhân. Và khi tra khảo, họ không căm thù “con người”, mà căm tức cái đầu của đối tượng, cái niềm tin lý tưởng ở trong đó mà họ không hiểu nổi, không cảm hóa được, nên họ gọi đối tượng ấy là “bị tẩy não”. Nhưng SẨY TAY , SAI NGƯỜI , SAI QUY ĐỊNH lập tức bị cách chức, hạ cấp bậc, thi hành kỷ luật theo luật định, không có sự thu xếp tự bên trong; họ không dám hành xử cẩu thả do không có sự độc quyền lãnh đạo của một đảng nào. Họ rất dè dặt với dư luận quần chúng, rất ngại giới báo chí, rất sợ các cơ quan lập pháp (Nghị sĩ, Quốc hội) và cơ quan Tư pháp (Tòa án các cấp). Vì các cơ quan này độc lập với cơ quan Hành pháp, theo Hiến pháp quy định. Cũng có những hiện tượng chạy chọt qua mối thân quen, hoặc đút lót tiền bạc, để cứu vớt những đối tượng bị bắt có chứng cứ mơ hồ. Nhưng đối với tù chính trị có bằng chứng thì khó thoát.
Sau khi qua giai đoạn điều tra, tra tấn, kết cung ra tòa án, họ trở thành người tù chính thức thì có quy chế cho tù nhân khá rõ ràng. Họ có quy chế riêng về tù binh, về tù chính trị, về tù dân sự. Người tù bị mất quyền công dân, chứ không mất quyền làm người. Trong tù, không bị đánh đập, nhục mạ về nhân phẩm, không bị thù hằn, không bị biệt lập với gia đình. Nhưng đối với tù đặc biệt, như tù ở Côn đảo thì khó có chế độ thăm nuôi thường xuyên và nhiều hạn chế mối quan hệ xã hội. Đối với tù dân sự, thì không có sự hà khắc đặt biệt nào, càng không có chuyện người chết khơi khơi, hoặc chết thình lình trong đồn công an, khi bị “lịch sự” mời đến làm việc, bởi vi phạm nào đó, như không đội mũ bảo hiểm, chọc gái, gây lộn, ăn cắp, trộm chó, hoặc vì một sự kiện xung đột nào đó, v.v. Cái hỗn độn kiểu này ngày ấy hiếm có, dù là thời ấy đang chiến tranh, mà thời nay là hòa bình gần 40 năm.
Anh Hà Vũ,
Anh làm luật sư, chắc anh biết rành về chuyện này, thật đáng phẫn nộ!
Ở xã hội miền Bắc trước 75, tội về chính trị, sai quan điểm hay lập trường thế nào đó, không bị đánh đập dã man như “Đế quốc”, mà chỉ “nhẹ nhàng” đi “cải tạo” lâu dài, hay suốt đời ở xó xỉnh nào đó, bị cô lập không được giao du với ai, “tự do” bươi kiếm cái ăn, trong một xã hội mà thực phẩm thì được phân phối và quản lý chặt chẽ. Hoặc biện pháp cô lập tại chỗ với nhiều hình thái khác nhau, từng bước giảm nguồn lương thực, giảm thiểu dần đến số không, kể cả nước uống, cho đến lúc “tự chết”, chứ không ai mó tay vào. Đối với người tù, xã hội vẫn còn đó, nhưng không chạm được vào tay, cô độc như ở trong một cảnh giới khác. Người ta hãi hùng về hai chữ “cô lập”. Sống mà là đang chết, mà sau cùng chết theo cách khốn cùng của một con vật, chứ không còn là con người, nghiệt ngã thảm thương như chuyện bên Tàu, chắc anh rõ, như chuyện Chủ tịch nước Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ, là điển hình cho hàng vạn, hàng triệu con người. Cách giữ tù mà không cần nhà tù cố định, mà trong một không gian vô định, và thời gian vô định, xã hội và người thân không biết được, kể cả bản thân người tù. Đó được gọi là “nhà tù kín” mà ngày nay còn đang hiện diện nhiều ở Trung Quốc.
Miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã từng theo mô hình ấy.
Cách nào tàn độc, đau đớn, tinh vi hơn cách nào? Cách nào là sự thù hận “con người”, cách nào là bảo vệ luật pháp?
Tôi tin là thời kỳ khủng khiếp đó không còn nữa.
Những thế hệ đi trước đã để lại những dấu vết khó phai.
Nhưng ngày nay chúng ta có một chế độ lao tù rõ ràng hơn không, và sinh mạng tù nhân có được bảo vệ bởi luật pháp? Và ai có thể biết những gì xảy ra trong tù? Mọi việc chỉ có Đảng làm, Đảng biết, và Đảng xử lý. Cái ghế của Đảng ngồi có phép thuật, như Tề Thiên Đại Thánh có thể biến thành trăm vạn cái ghế khác mang nhiều khuôn mặt khi cần. Người dân mà còn bị cô lập từng cá nhân đơn lẻ (không cho tụ họp) thì nói chi đến người tù!
- Chức năng người giữ tù
Trong nhà tù, tù nhân được “tự do” trong khuôn khổ được quy định của mỗi loại tù. Chức năng của trại tù và người giữ tù được quy định, có vai trò quan trọng trong cách xử sự.
Người giữ tù, với tư cách là một viên chức, họ phải hành xử theo quy định của luật pháp. Không có vấn đề tư tưởng, tôn giáo, chính kiến, chủ nghĩa, hay các thứ khác dính vào đây. Họ không có trách nhiệm và không có tư cách để giáo dục, dạy dỗ ai cả, về cái gì cả cho tù nhân. Họ không có quyền đánh đập, hành hạ tù nhân, truy bức tư tưởng, triệt hạ nhân cách, khủng bố tâm lý. Họ chỉ có một chức trách là giữ đúng quy chế của trại tù. Nhà tù có thể tạo điều kiện cho tù nhân được thỏa mãn một số nhu cầu tinh thần và vật chất mà không trái với luật pháp. Tùy theo điều kiện khách quan của từng nơi, họ cho phép tù nhân có thể tiến hành những nghi lễ tôn giáo, như xưng tội, cầu nguyện, lạy Phật, đọc kinh… Người giữ tù phi chính trị trong vai trò của mình. Cá nhân người giữ tù có thể có lập trường chính trị, theo đảng phái hay tôn giáo nào đó là chuyện riêng, không liên quan đến chức năng trong công việc mà họ được giao phó. Vì thế, người giữ tù cũng có được sự “tự do” theo nhân cách của mình, không bị o ép phải hành động theo xu hướng nào, ngoài quy chế của trại tù. Dĩ nhiên cũng có tiêu cực vặt vãnh trong những chuyện vặt vãnh đời thường khó tránh khỏi. Đôi khi cũng có sự lạm quyền, hà khắc do cá nhân và tư cách của anh trưởng trại tù nào đó khi chưa bị phát hiện.
Đặc biệt, đối với tù chính trị, người giữ tù thường tôn trọng về mặt tinh thần hơn đối với tù hình sự như du côn, cướp giật, hiếp dâm. Vì dù sao, người tù chính trị, cũng vì việc chung của xã hội, dù khác chính kiến với nhà cầm quyền, vẫn ở hệ giá trị cao hơn. Tù chính trị Cộng sản vẫn có một quy chế rõ ràng, nghĩa là có luật pháp bảo vệ, dù bị “đặt ngoài vòng luật pháp” như Hiến pháp của họ quy định.
Ngày nay, Điều 4 Hiến pháp là cái gốc rễ căn bản có thể xóa nhòa mọi ranh giới.
Chức năng người giữ tù cũng giống chức năng của quân đội. Người thanh niên bước chân vào quân ngũ, có hai điều phải thực hiện: hệ thống kỷ luật của quân đội, và không được phản quốc, tức là trung thành với Tổ quốc, một khái niệm chung không cụ thể, có tính chất tượng trưng và thiêng liêng. Nhân sinh quan là thuộc quyền của mỗi người. Nhưng Điều 4 Hiến pháp là gốc rễ để biến Đảng thành “Thượng Đế”, có thể đặt “ngoài vòng luật pháp” mọi thứ mà Đảng muốn.
Anh Hà Vũ quý mến,
Anh có tin rằng chế độ lao tù trong xã hội ta đang sống có hà khắc không? Sẽ được cải tổ để tốt hơn không? Tôi tin rằng có, nhưng không biết đến bao giờ! Sẽ do áp lực của quần chúng nhân dân và áp lực quốc tế, và có sự “tự chuyển biến” theo hướng tiến bộ của nhà cầm quyền?
Thời gian là quả thật vô định.
Tôi lo cho anh.
Anh Hà Vũ, anh là người tù thuộc loại nào?
Anh lớn lên trong lòng chế độ, có truyền thống yêu nước từ Ông Cha, và anh đã tiếp nối con đường ấy.
Tôi nghĩ, anh không đứng trong một tổ chức chính trị hay đảng phái nào khác, anh còn là một trí thức trưởng thành trong chế độ này – Tiến sĩ, Luật gia. Anh đấu tranh cho sự tiến bộ xã hội về dân chủ, về luật pháp và nóng lòng với giặc ngoại xâm, với phương thức hòa bình, bất bạo động. Thế rồi anh bị bắt, bị xử tội về sự khác chính kiến, theo cách không sòng phẳng và trở thành người tù. Bản án của anh làm dư luận rộng rãi bất bình, và dành cho anh nhiều chia sẻ, cảm mến và kính phục.
Tôi cho đó là hạnh phúc của người đấu tranh.
Bản án của anh, được tiếp nối những bản án khác, cùng với sự đàn áp liên tục những người biểu tình, chỉ để bày tỏ sự bất bình về hành động xâm lược của Trung Quốc đang chiếm đóng biển đảo và bức hại ngư dân.
Đất nước đang đứng trước tình thế khó khăn bởi sự đe dọa chủ quyền, Nhà nước lại tự mình làm khó khăn thêm bằng những biện pháp không thích đáng, mất lòng dân, gây phẫn nộ, nó đang báo hiệu một tương lai đi xuống, chứ không “đi lên” đâu cả. Dân chúng cũng không chịu nổi như anh, mà đang ráng chịu, cũng đang quằn quại như anh, vì các chữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc có từ Tuyên ngôn Độc Lập vào mùa Thu năm 1946, mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã long trọng hứa hẹn.
Chừng nào mà Hiến pháp được thay đổi theo hướng dân chủ, tiến bộ hơn, phù hợp hơn, không còn toàn trị, hơi thở của trí tuệ nhân dân được tôn trọng, thì lúc ấy mọi sự sẽ khác đi, quyền sống của tù nhân cũng được minh định rõ ràng hơn. Nhưng điều đó chưa đến, nó đang được thử thách.
Lời bày tỏ thật tình
Tôi biết đã có bao người như anh, và đang có những người như thế, rất tâm huyết như trong lá thư anh viết, tôi hiểu như một lời tuyệt mệnh, và tôi đang xót xa.
Nhưng có đôi điều tôi suy nghĩ khác, rất chân thành với anh.
Tôi không muốn anh chết, vì không muốn mất đi một người yêu nước, biết đấu tranh cho độc lập, và tiến bộ xã hội.
Tôi muốn anh có cách chấm dứt tuyệt thực.
Không bỏ cuộc, không đầu hàng trong ý chí của mình, và anh cần giữ mạng sống. Hai điều này không mâu thuẫn nhau.
Tôi đã trải qua nhà lao Chí Hòa, Côn Đảo, học tập những người đi trước, cùng đồng đội chịu đựng qua tra tấn, không đầu hàng, nhưng sau đó nâng niu từng giọt thở, tiết kiệm từng chút năng lượng còn lại để duy trì sự sống, với tâm nguyện dành cho cuộc đấu tranh tiếp tục, lâu dài, trừ khi họ chủ động ra tay giết chết, thì chịu!
Nhưng ở đây, cuộc đấu tranh này là có tính chất nội bộ dân tộc, dù hết sức gay go, nhưng chúng ta cũng không thể hành xử theo cách bạo động. Tôi cho rằng anh đang bạo động với bản thân mình. Ông Gandhi, ông Nelson Mandela đấu tranh bất bạo động, có tuyệt thực để bày tỏ, chứ không tuyệt thực đến chết. Chúa Jesus không khuyên tín đồ của mình tự sát. Đức Phật cũng thế. Trong mọi loại đấu tranh, sự hy sinh là không tránh khỏi, nhưng phải đúng lúc. Vì mạng sống của một con người thật đáng quý. Như Ngài Thích Quảng Đức tự thiêu, là một sự cúng dường cao cả, đã làm bật nút đúng thời điểm cho một sự chuyển động đầy ý nghĩa.
Nhưng chúng ta không thể biến bán cầu não trái của ai đó thay đổi nhanh chóng được.
Những người tù Côn Đảo thuộc nằm lòng những câu thơ này:
Thân anh, anh bắc nên cầu
Để mai em bước lên lầu Tự do.
Nhưng hàng hàng lớp lớp đã trải thân ra bắt cầu, cầu vẫn chưa xong mà ngày mai thì vẫn ở tận chân trời. Bao người đã ra đi, đã chết trong giấc mơ đẹp mà đau của mình, đáng trân trọng và thân thương biết bao, nó để lại nỗi hoài cảm u uất trong lòng người sống, không thể không xót xa.
Anh Hà Vũ,
Tinh thần đấu tranh của anh được sự trân quý của nhiều người, anh không có ý định lao vào một cuộc đấu tranh “ăn thua đủ” rất không cân xứng này, phải không? Và cũng không xứng đáng với đối tượng là một anh cai tù cấp nào đó? Nhưng họ đang “ăn thua đủ” với anh, vì sự hãnh tiến quyền lực, nó đơn thuần về sức mạnh vật chất, và họ có dư thứ của cải này. Còn anh thì nặng về bày tỏ, cảnh tỉnh, và mục tiêu là sự cảm hóa. Điều này thì anh đã làm được rất nhiều rồi. Trường hợp anh Chí Đức – người bị khiêng như khiêng một con heo, lại bị giẫm giày vào mặt – để làm nhục tính cách “con người” của anh ấy, nhưng sau cùng, anh không phải là người thua cuộc, mà vẫn là con người đàng hoàng tiếp tục đấu tranh hàng ngày, và cũng vì không có mục đích là thua thắng với ai; nhưng đằng kia, ông Đại úy Minh (chứ không phải là Thanh, như anh HĐN đã nhầm) không phải là người thắng cuộc, mà là người “tự thua”, thua trắng, thua đậm và thua vĩnh viễn trong đời sống xã hội, thậm chí thua trong gia đình, trong đầu con cháu và cả trong tâm của ông ta nữa. Thái độ thù hận “con người”, thích hủy hoại “nhân phẩm” của ông ta còn là tấm gương mà đồng đội ông ta đang soi vào.
Anh Hà Vũ,
Anh nên tự tuyên bố chấm dứt cuộc tuyệt thực.
Đây thuần túy chỉ là lời đề nghị.
Nếu họ lùi cho một bước, là anh thắng cuộc sao? Là chẳng phải quyền lực và bạo hành đang lên ngôi đó sao?
Anh không nên phung phí ý chí của anh lúc này và ở chỗ này.
Nếu tôi ở phía quyền lực, tôi sẽ lùi cho anh mười bước, anh sẽ là người thua, tôi mới là người thắng.
“Thắng nhân giả hữu lực. Tự thắng giả cường”
Câu chân lý này đang thích hợp cho cả đôi bên.
Anh cần thực hành đức nhẫn nhục của một người tu sĩ lúc này, để sau đó, có thể cùng mọi người tiếp tục dấn bước trong cuộc hành trình dài hơi của dân tộc. Hãy cứ để cho họ lên ngôi và thưởng thức sự đắc thắng.
Thử xem “lòng tin chiến lược” sẽ đặt ở đâu, nếu không đặt trong lòng nhân dân qua từng sự việc cụ thể này?
Tôi trân trọng và quý mến anh.
Kính nhờ chị Dương Hà chuyển bức thư này đến tay anh Cù Huy Hà Vũ nếu có thể.
Hạ Đình Nguyên, một người Sài Gòn không quen biết.
Ngày 8-6-2013
Theo BVN

  NHẬT BẢN TIẾP  NHẬN LỆNH CỦA TƯỚNG MAC ARTHUR .






PHÁI ĐOÀN TIẾP NHẬN LỊNH CỦA TƯỚNG MACARTHUR .






TRONG KHI ĐÓ , TẠI NỘI ĐỊA NƯỚC MỸ , NẠN THẤT NGHIỆP BẮT ĐẦU .






HÒA BÌNH ĐẢ TẠO RA THẤT NGHIỆP TẠM THỜI . TẠI TP QUEENS , BANG NEW YORK MỘT NGƯỜI KHÔNG THÍCH LÀM HẦU BÀN , ĐÃ XIN MỘT VIỆC KHÁC . ĐƯỢC HỎI VIỆC GÌ , ANH TA TRẢ LỜI "VIỆC QUỐC PHÒNG (WAR JOB) " . ANH TA ĐƯỢC TRẢ LỜI RẮNG CHIẾN TRANH ĐÃ CHẤM DỨT .


NHỬNG SẢN PHẨM CỦA THỜI BÌNH ĐÃ TRỞ LẠI : BÍT TẤT DÀI (STOCKING) BẰNG NYLON  SẼ BÁN VÀO LỄ TẠ ƠN HAY GIÁNG SINH - MÁY NGHIỀN THỨC ĂN VỤN (GARBAGE-DISPOSAL UNIT) TRONG CHẬU RỬA CHÉN - MÁY GIẶT QUẦN ÁO TỰ ĐỘNG SẼ CÓ MẶT TRÊN THỊ TRƯỜNG VÀO ĐẦU NĂM 1946 . NÓ CŨNG CÓ THỂ RỬA CHÉN BÁT VÀ CŨNG BÓC VỎ KHOAI TÂY .VỚI MỘT CÁI CHẬU (TUB) ĐỰNG NƯỚC ĐÁ VÀ MUỐI , NÓ CÓ THỂ LÀM ĐÔNG KEM (FREEZE ICE CREAM)  -  BÀN ỦI XOAY TRÒN CÓ THỂ ỦI KHĂN TRẢI GIƯỜNG (SHEET)  , ÁO GỐI ,  KHĂN BÀN VÀ KHĂN ĂN (TABLECLOTH) ,  SẼ ĐƯỢC BÁN TRONG 02 THÁNG TỚI . GIÁ : 51.95 ĐÔ .


NHỮNG CƠ PHẬN CŨA CHIẾN ĐẤU CƠ P-38 BỊ QUĂNG VÀO BẢI SẮT VỤN Ở NHÀ MÁY Ở NASHVILLE  , BANG TENNESSEE . NHỮNG MÁY BAY ĐÃ HOÀN THÀNH ĐƯỢC TỪ 10 ĐẾN 60 % . CÁC NHÀ BUÔN ĐỒ PHẾ THẢI ĐẾN ĐẤU THẦU ĐỂ MUA . ĐIỆN TÍN BÁO TIN HỦY BỎ HỢP ĐỒNG QUỐC PHÒNG ĐƯỢC GỬI ĐẾN CÁC NHÀ SẢN XUẤT CHĨ MỘT GIỜ SAU KHI TT TRUMAN THÔNG BÁO NHẬT ĐẦU HÀNG . TÍNH TỚI CUỐI TUẦN QUA , SỰ HỦY BỎ NÀY LÊN TỚI KHOẢNG 35 TỈ . GẦN 10 TỈ LÀ CÁC HỢP ĐỒNG MÁY BAY . 94 % CÁC HỢP ĐỒNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH NĂM 1946 CỦA KHÔNG QUÂN MỸ BỊ HỦY BỎ . HẦU NHƯ CHỈ CÓ MÁY BAY DÙNG TRONG THỬ NGHIỆM MỚI ĐƯỢC SẢN XUẤT . SỐ PHẬN CỦA NHỮNG MÁY BAY KHÁC ĐƯỢC TƯỢNG TRƯNG BỞI HÌNH  PHỤ TÙNG CŨA CHIẾN ĐẤU CƠ  P-38 ĐƯỢC QUĂNG VÀO BẢI SẮT VỤN TRƯỚC KHI HOÀN THÀNH .
LỄ KÝ KẾT VĂN KIỆN ĐẦU HÀNG ĐỒNG MINH CŨA NHẬT .

NGUỒN : LIFE SEP 17 , 1945 .
VĂN KIỆN CHẤP NHẬN ĐẦU HÀNG CỦA NHỰT MANG 12 CHỮ KÝ , CÓ 2 CHỮ KÝ CỦA NHỰT . PHE NHỰT GIỬ 1 BẢN , PHE MỸ 1 BẢN .

LỄ KÝ KẾT TỔ CHỨC TRÊN CHIẾC THIẾT GIÁP HẠM LỚN NHỨT THẾ GIỚI "MISSOURI" , ĐẬU TẠI VỊNH TOKYO . TỪ LÚC ĐẾN CỦNG NHƯ LÚC RỜI TÀU , PHÁI ĐOÀN NHẬT KHÔNG ĐƯỢC CHÀO (SALUTE)  BỞI BẤT CỨ SĨ QUAN CAO CẤP NÀO CỦA ĐỒNG MINH .






TƯỚNG MACARTHUR ĐÃ DÙNG 05 CÂY BÚT ĐỂ KÝ TÊN VÀO VĂN KIỆN CHẤP NHẬN SỰ  ĐẦU HÀNG CỦA NHỰT .







ÔNG TƯỚNG HẢI QUÂN NÀY , PHỤ TRÁCH VIỆC PHÁO KÍCH VÀO LÃNH THỖ NHỰT TRONG TUẦN CUỐI CŨA CHIẾN . MỚI NHÌN SƠ QUA , CÓ THỂ LẦM ÔNG VỚI THỦ TƯỚNG ANH W. CHURCHILL .

HÌNH ẢNH HIROSHIMA SAU KHI BỊ NÉM BOM NGUYÊN TỬ
MỸ CHIẾM ĐÓNG NHẬT (BÁO LIFE 10 THÁNG 9 NĂM 1945) .







ĐẦU TIÊN, DÂN NHỰT ĐÃ ĐÓN TIẾP LÍNH MỸ TRONG SỰ IM LẶNG CỦA CĂM THÙ. SAU ĐÓ, SỰ IM LẶNG ĐÃ BỊ PHÁ VỠ. KÝ GIẢ BÁO LIFE NÓI "SỰ THÙ HẬN LÚC ĐẦU ĐÃ BIẾN MẤT. NGƯỜI NHẬT SẼ CHẤP NHẬN CHÚNG TÔI. SỰ KHÓ CHỊU NÀY SẼ TAN BIẾN TRONG MẮT HỌ VỚI THỜI GIAN NHƯNG SẼ TỒN TẠI TRONG TIM HỌ RẤT LÂU TRONG NHIỀU NĂM."


QUAY LƯNG VỚI KẺ CHIẾN THẮNG, LÍNH NHỰT BẢO VỆ CON ĐƯỜNG ĐI YOKOHAMA. THÔNG DỊCH VIÊN GIẢI THÍCH RẰNG ĐÓ LÀ DẤU HIỆU CỦA SỰ TUÂN PHỤC.








LÂU ĐÀI NÀY Ở OSAKA VẪN ĐỨNG VỮNG TRONG SỰ SỤP ĐỔ CỦA TP HÀNG THỨ HAI CỦA NHỰT, BỊ HỦY HẠI 30 %. NÓ ĐƯỢC DÙNG LÀM DOANH TRẠI, ĐƯỢC XÂY NĂM 1928 ĐỂ KỶ NIỆM NHẬT HOÀNG HIROHIRO LÊN NGÔI. TỪ 30 ĐẾN 60 NGÀN NGƯỜI LÀM NGÀY ĐÊM TRONG 3 NĂM ĐỂ XÂY LÂU ĐÀI NÀY.








ĐỜI SỐNG Ở TOKYO SAU KHI QUÂN ĐỘI MỸ CHIẾM ĐÓNG NƯỚC NHỰT. CHIẾM ĐÓ

BÀI NÀY RẤT HAY VÌ THỂ HIỆN SỰ THỰC:  ĐÃ NÓI LÊN NỖI THỐNG KHỔ TỘT CÙNG CỦA DÂN NHỰT SAU KHI THUA TRẬN. ĐÂY LÀ LẦN ĐẦU TIÊN TÔI BIẾT SỰ THỰC NÀY VÌ LÚC ẤY TÔI CHƯA RA ĐỜI. NGUỒN: LIFE 24 SEP 1945.

LÍNH MỸ CANH GÁC ĐỀN YASUKINI Ở TOKYO TRONG KHI LÍNH NHẬT VỪA MỚI GIẢI NGŨ ĐẾN ĐỀN CẦU NGUYỆN. 
NGƯỜI NHẬT DUY TRÌ PHONG TỤC THỜI PHONG KIẾN VÀ CÚI ĐẦU CHÀO NHẬT HOÀNG. HÀNG TRÊN: NGƯỜI LÍNH NHẬT VỪA MỚI GIẢI NGŨ, VỚI HÀNH TRANG TRÊN VAI ĐANG CÚI CHÀO NHẬT HOÀNG. HÀNG DƯỚI: CHA VÀ CON MỘT NGƯỜI THUỘC GIAI CẤP THƯỢNG LƯU NGẢ MŨ CÚI CHÀO NHẬT HOÀNG TRƯỚC HOÀNG CUNG. NGƯỜI CHỦ NÔNG TRẠI, ĐEM NÔNG PHẨM ĐẾN TOKYO, CŨNG LÀM NHƯ VẬY. DÂN NHẬT CŨNG CÚI CHÀO CẢNH SÁT, VÌ TRÊN LÝ THUYẾT CẢNH SÁT TƯỢNG TRƯNG CHO NHẬT HOÀNG.
ĐỨNG TRƯỚC NGÔI NHÀ ĐỔ NÁT CỦA MÌNH, MỘT PHỤ NỮ CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHỒNG ĐÃ CHẾT VÌ OANH TẠC. PHẦN LỚN NHỮNG SỰ CẦU NGUYỆN, ĐẶC BIỆT TẠI HOÀNG CUNG VÀ ĐẾN YASUKUNI ĐƯỢC KÈM THEO BỞI NƯỚC MẮT VÀ XÚC ĐỘNG LỚN LAO. MỘT VÀI NGƯỜI NHẬT ĐÃ ĐI RẤT XA ĐỂ CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT VÌ CUỘC CHIẾN.

"GÁI NHẬT THÌ NHIỀU NHƯNG TIỀN THÌ HIẾM ĐỐI VỚI BINH SĨ MỸ". LÍNH MỸ DẠY GÁI NHẬT CÁC TỪ TIẾNG ANH ĐỄ CHỈ MŨI VÀ TAI; CÔ NÀNG CŨNG DẠY ANH CHÀNG NHỮNG TỪ TIẾNG NHẬT TƯƠNG TỰ.
ẢNH TRÊN: LÍNH MỸ VÀ GÁI NHỰT HẸN HÒ GẦN HỒ TRONG CÔNG VIÊN HIRIYA. CHÀNG VÀ NÀNG LẠI DẠY CHO NHAU NHỮNG TỪ MỚI NHƯ ÔM HÔN (HUG) HAY TRÁI TÁO. HÌNH CHỤP TẠI CÔNG VIÊN NÀY. HAI HÌNH DƯỚI: TRONG KHI ĐÓ, Ở TOKYO CÓ 250.000 NGƯỜI Ở TRONG NHỮNG NHÀ TỒI TÀN VÀ NHIỀU NGÀN NGƯỜI KHÁC THÌ KHÔNG CÓ MÁI NHÀ CHE THÂN. GẠO THÌ GIÁ 4.25 ĐÔ/NỬA KÍ SO VỚI 5 CENT NĂM 1941. CHÍNH QUYỀN NHẬT NÓI CÓ THỂ 8 TRIỆU NGƯỜI SẼ CHẾT VÌ ĐÓI VÀ LẠNH TRONG MÙA ĐÔNG ĐANG TỚI. HỌ NGỦ TRÊN GHẾ ĐÁ CÔNG VIÊN VÀ ĐƯỜNG PHỐ VÀ SỐNG BẰNG ĂN XIN VÀ TRỘM CẮP. NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG ẢNH THỨ TƯ TÍNH TỪ TRÊN, LÀ MỘT TRONG HÀNG NGÀN NGƯỜI CHỜ CHỰC BÊN NGOÀI GA XE LỬA TRONG VÀI NGÀY ĐÊM ĐỂ CÓ VÉ XE LỬA, ĐƯỢC PHÂN PHÁT RẤT HẠN CHẾ, ĐỂ ĐI NHỮNG ĐOÀN TÀU CHẬT NHƯ NÊM.





THÀNH VIÊN ĐCS NHẬT BIỂU TÌNH TẠI TOKYO, VÀ ĐẢ ĐẢO NHẬT HOÀNG HIROHITO, HỌ CHO BIẾT CÓ 600 ĐẢNG VIÊN; HỌ HY VỌNG KIẾM PHIẾU TRONG CUỘC BẦU CỬ. NGƯỜI ĐÀN BÀ CẦM LOA, ĐÃ TỪNG BỊ CẢNH SÁT BỎ TÙ TRONG THỜI GIAN CHIẾN TRANH. 
DÂN NHẬT VẪN THEO NHỮNG PHONG TỤC CỔ XƯA. HÌNH 1/ TẠI MỘ VỢ, MỘT NGƯỜI NHỰT ĐANG CẦU NGUYỆN. PHẦN ĐẤT NHỎ NÀY CÓ THỂ CHỨA 50 HỦ TRO CỐT. MỖI BÀI VỊ (STICK) TƯỢNG TRƯNG CHO MỘT MỘ PHẦN. HÌNH 2/ THÂN NHÂN LƯỢM XƯƠNG BẰNG ĐŨA TỪ TRO SAU HỎA TÁNG (CREMATED ASH). HỌ BỎ VÀO HỦ KẾ BÊN ĐỂ CHÔN LẠI TRONG PHẦN ĐẤT CỦA GIA ĐÌNH HAY LÁNG GIỀNG TẠI NGHĨA ĐỊA. HÌNH 3/ TRẺ CON MỒ CÔI Ở TOKYO, ĐANG CHƠI TRÒ "UỐNG TRÀ". CHÚNG CỐ GẮNG BẮT CHƯỚC TỪNG NGHI THỨC CỦA TRÀ ĐẠO, VÌ MỔI CỬ ĐỘNG CỦA TAY, CỦA THÂN THỂ ĐỀU CÓ MỘT Ý NGHĨA CỔ TRUYỀN. CHÚNG CHƠI NGOÀI ĐƯỜNG MÀ KHÔNG CÓ AI CHĂM SÓC VÌ NHÀ CỬA TAN NÁT VÀ CHA MẸ ĐÃ CHẾT VÌ CÁC CUỘC KHÔNG TẬP.

NHỮNG NGƯỜI DỰ ĐÁM CƯỚI CÚI ĐẦU NHẤM NHÁP RƯỢU SAKE ĐỂ MỪNG CHO ĐÔI VỢ CHỒNG.

Cập nhật ngày 24 Feb 2026
Tài Trần