Monday, October 20, 2025

 

Chi tiết kỹ thuật hơ nóng điếu ngải cứu sao cho hiệu quả

Hơ nóng bằng điếu ngải cứu làm thông kinh hoạt lạc, tan huyết ứ, khí bế, làm mềm cơ, mạch gân, làm an thần và trấn thống, tiêu đàm tích rất tốt.
Tuy nhiên trường hợp nào cần hơ, hơ trong bao lâu, kỹ thuật hơ như thế nào không phải ai cũng biết?

Kỹ thuật hơ nóng các huyệt trên cơ thể theo Diện Chẩn

Con người là một sinh vật rất nhỏ bé trong vũ trụ nên chịu tác động rất lớn của những biến chuyển trong trời đất, không kể những yếu tố khó thấy như: vũ trụ tuyến, tia tử ngoại, tia hồng ngoại, từ trường…

Tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người dễ thấy nhất là nhiệt độ. Sự nóng lạnh nếu vừa phải thì tốt, nếu quá đều gây ra bệnh tật, thậm chí chết chóc cho con người. Chính vì biết nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến con người mà loài người ngay từ thuở xa xưa cũng đã biết dùng lửa và nước để phòng chống bệnh tật hay làm cho mình khỏe mạnh hơn.

  Tất nhiên, ở mỗi nơi, mỗi nước có hình thức trị liệu bằng sức nóng khác nhau. Riêng ở Châu Á thì rất lâu, ngoài việc biết dùng vật nhọn kích thích một số điểm mẫn cảm trên cơ thể để trị bệnh, về sau biến thành hình thức CHÂM bằng kim, người ta còn biết dùng LỬA để hơ nóng vào nơi đang đau để làm giảm đau,hình thức này về sau đưa đến việc CỨU bằng ngải nhung trực tiếp hay gián tiếp trên huyệt, đem lại hiệu quả trị bệnh, đôi khi rất kì diệu.

 Ở những nơi lạnh lẽo, người ta thường cứu nhiều hơn châm, vì hình thức này đem lại sức nóng dễ chịu và kết quả rõ rệt trên nhiều bệnh nhất là bệnh có gốc HƯ HÀN. Ngày nay, ở nước ta, các thầy thuốc hay dùng ÔN CHÂM thay vì dùng điếu ngải nhung để CỨU trực tiếp như trước đây. Như thế là từ rất lâu, ở Á Châu , người ta biết dùng sức nóng để trị bệnh qua huyệt bằng hình thức cứu hay hơ về sau.

Trong việc này chúng tôi đề cập đến việc dùng phép CỨU hay HƠ nóng huyệt để trị bệnh nhưng theo một số nguyên lý mới. Nguyên lý này được chúng tôi xây dựng qua việc phát hiện trước đó về một đặc tính của DA và HUYỆT từ câu (PHẾ CHỦ BÌ MAO) trong Nội kinh, chúng tôi đi đến suy nghĩ là DA LÔNG CŨNG THỞ NHƯ PHỔI. Mà nói đến thở là có thở ra và hít vào (tức là hô hấp). Các huyệt trong cơ thể vì nằm trong hệ da, lông nên cũng mang đặc tính của hệ da là thở ra và hít vào, nhưng thở ra hít vào trong nguyên tắc tự điều chỉnh của cơ thể, tức là hô và hấp khi cần thiết, nghĩa là khi cơ thể bị bệnh hoặc bị trục trặc một cơ quan nào đó, bộ phận hay toàn cơ thể. Khi có các huyệt có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cơ quan bị bệnh, sẽ mở ra hút lấy năng lượng vũ trụ (khí) vào để tự điều chỉnh lấy nó. (Đạo trời đất một hô một hấp, một co một duỗi, một mở một đóng, một lên một xuống). Và chỉ khi nào cơ thể bị bệnh nặng đến mức mất đi cơ chế tự điều chỉnh này thì mới không xảy ra hiện tượng trên. Do đó, vấn đề trị bệnh, thật ra là giúp cho cơ thể tự điều chỉnh nhanh, mạnh và có hiệu quả hơn mà thôi. Vai trò của thầy thuốc là vai trò hỗ trợ chứ không phải là thay thế cơ thể.

Trên đây là giả thiết của chúng tôi về đặc tính của huyệt. giả thuyết này sớm được xác minh ngay sau khi đưa vào thực tế trị bệnh bằng Diện Chẩn. Rõ ràng là các huyệt trên mặt tương ứng với cơ quan đang bị bệnh, có hiện tượng hút hơi nóng vào khi được hơ bằng cây ngải cứu nhỏ dù để cách mặt da chừng 1cm. Hiện tượng này được xác minh bằng cách thử để lệch vị trí huyệt 1mm (một ly) thì sẽ không thấy hiện tượng nóng buốt nóng như phỏng, nóng như có luồng hơi hút xoáy sâu vào bên trong huyệt nữa mà chỉ có cảm giác ấm mà thôi. Rồi sau đó giảm dần để rồi chỉ có cảm giác ấm bình thường dù vẫn giữ nguyên vị trí và cách mặt da cùng cự ly.

Thời gian vừa nói lâu hay mau là tùy ở tình trạng bệnh nặng hay nhẹ và tùy ở diễn biến của bệnh. Nếu bệnh mau lành thì huyệt liên hệ với cơ quan đang bệnh mau đóng lại (và ngược lại sẽ lâu có hiện tượng bão hòa khi huyệt hấp thụ đủ nhiệt năng cần thiết để điều chỉnh nơi đang cần. Và khi đó huyệt sẽ thôi không hút sức nóng từ điếu ngải cứu tỏa ra nữa. Dù cho ta có để lâu cả phút cũng chỉ có cảm giác ấm ở MẶT DA mà thôi. Hiện tượng này xảy ra ở các huyệt khắp nơi trên cơ thể chứ không chỉ ở các huyệt trên mặt.

* KỸ THUẬT HƠ NÓNG CÁC HUYỆT TRÊN MẶT THEO DIỆN CHẨN:

Từ việc khám phá ra nguyên lý mới về huyệt và các hiện tượng trình bày trên, chúng tôi tiến hành việc chẩn đoán và điều trị bằng cách: Điếu ngải cứ quấn nhỏ hơn điếu ngải vẫn thường dùng cho THỂ CHÂM (điếu ngải này chỉ to bằng điếu thuốc lá). Bằng cách cầm điếu ngải giữa hai ngón trỏ và ngón cái, với ngón út để nhẹ trên mặt da làm chỗ tựa, ta di chuyển chầm chậm (rà) điếu ngải trên mặt da khoảng 1cm, và để ý xem chỗ nào thì bệnh nhân né mặt và kêu nóng quá. Kinh nghiệm cho biết rằng: nếu rà đúng huyệt đang mở (sinh huyệt) thì không quá 2 giây, bệnh nhân sẽ cảm thấy nóng ngay. Một cảm giác nóng dữ dội như bị phỏng và nhói buốt sâu trong da thịt như có lực hút xoáy vào trong một cái lỗ gây cảm giác nóng và nhức buốt (đôi khi nóng rát, nóng ngứa), khiến người bệnh không thể nào chịu đựng nổi, phải né mặt kêu lên.

Kỹ thuật hơ nóng bằng Diện Chẩn
     Kỹ thuật hơ nóng bằng Diện Chẩn

Trái lại, nếu không có những hiện tượng như trên mà chỉ có cảm giác ấm thì không phải là huyệt đang có nhu cầu của nó. Tất nhiên là không nên mất thì giờ hơ làm gì vì không có tác dụng. Đối với việc chữa bệnh bằng phương pháp DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP thì ta chỉ việc căn cứ vào các đồ hình và sinh huyệt trên vùng mặt, đầu, cồ , gáy tức là những điểm cực kỳ nhạy cảm với sức nóng của điếu ngải tỏa ra, để định bệnh và điều trị (đặc biệt trong DC-ĐKLP, điểm chẩn đóan cũng là điểm để điều trị bệnh)

Còn với các huyệt trong cơ thể thì ta dò các sinh huyệt nằm trên các đồ hình phản chiếu khắp các bộ phận của cơ thể (theo hệ phản chiếu của DC-ĐKLP) để chẩn đoán và trị bệnh. Tất cả cũng đều cùng một nguyên lý như các huyệt trên mặt.

* KẾT QUẢ BAN ĐẦU KHI  HƠ NÓNG BẰNG DIỆN CHẨN:

Cho đến nay, sau một năm phát hiện và áp dụng nguyên lý trên trong việc chẩn trị, chúng tôi thấy đây là một phương pháp có tác dụng và hiệu quả rất cao trên nhiều loại bệnh, nhất là các bệnh HƯ HÀN như: cảm lạnh, nhức đầu do lạnh, suy nhược cơ thể, viêm đại tràng mạn tính, đau lưng, nhức mỏi, thấp khớp, suyển hàn, viêm mũi dị ứng, đau bụng kinh,…Các bệnh đặc biệt như di chứng tai biến mạch máu não, bầm sưng do chấn thương.. cũng đều có kết quả đáng ngạc nhiên.

TÓM LẠI, cách hơ nóng huyệt vừa trình bày có tác dụng làm thông kinh hoạt lạc rất mạnh và rất nhanh, làm tan huyết ứ, khí bế, làm mềm cơ, mạch gân, ngoài ra cũng làm an thần và trấn thống, tiêu đàm tích rất tốt. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế, do đó không hợp với những bệnh sau: U bướu trong cơ thể, nhất là ở bộ phận sinh dục nữ (như U XƠ TỬ CUNG, BƯỚU BUỒNG TRỨNG), loét dạ dày, viêm gan…Cho nên phải cẩn thận không nên hơ nhiều các huyệt thuộc gan, dạ dày

Lưu ý: Dù đem lại hiệu quả cao cho nhiều bệnh kỹ thuật này vẫn có những bất tiện, như sau:

– Các huyệt hút nóng rất dữ dội cho nên rất dễ gây phỏng, nếu ta hơ lâu một huyệt . Dó đó, phải đổi sang huyệt Diện Chẩn khác, sau khi bệnh nhân né mặt ba lần. Sau đó có thể hơ trở lại trong lượt thứ nhì của phác đồ điều trị (có lẽ thuở xưa, cổ nhân cấm CỨU các huyệt trên mặt, vì sợ gây phỏng mặt cho bệnh nhân và tăng khí dương nhiều quá).

– Không nên hơ quá nhiều huyệt trong mỗi lần điều trị (Phác đồ có quá nhiều huyệt. Điều này sẽ gây ra những hiện tượng nóng nhiệt trong người như nổi mụn nhọt, ngầy ngật, táo bón, khó ngủ,…

– Mỗi ngày chỉ hơ một lần, nếu không sẽ gặp những hậu quả nêu trên. Nếu bệnh đã giảm nên cách ngày hơ một lần.

Ngoài việc sử dụng ngải cứu, ta có thể dùng bất cứ phương tiện gì tỏa nhiệt như: thuốc lá, nhang, tia sóng ngắn đều có tác dụng trị bệnh tương tự như ngải cứu. Điều này sẽ giúp cho bệnh nhân tự trị được một số bệnh thông thường chủ yếu là các bệnh do rối loạn các chức năng, ở nhà, góp phần thực hiện chủ trương biến người bệnh thành người chữa bệnh trong phạm vi chăm sóc sức khỏe ban đầu, mạng lưới Y tế gia đình, chữa bệnh tại nhà.

GSTSKH. Bùi Quốc Châu
(dienchan.com) 

Tác dụng của hơ bằng điếu ngải cứu.

– Hành khí (làm khí huyết lưu thông mạnh).

 Hành huyết (làm máu lưu thông mạnh trong cơ thể).

– Làm ấm nóng cơ thể.

– Trấn thống (giảm đau),

– Tiêu viêm (giảm sưng)

– Tiêu độc (trừ mủ)        

– Giảm mỏi, yếu cơ

– Giảm tê, bại

– Làm mạnh gân, dẻo gân

– Giảm tiết dịch

– Làm mềm chỗ cứng

– Làm tăng hồng cầu

– Giải độc

– Làm tan máu bầm

– Trục thấp – trừ thấp

Kỹ thuật hơ nhâm đốc sử dụng điếu ngải cứu

*Nhang ngải cứu Tuệ Hải Đường đảm bảo chất lượng hỗ trợ tốt cho người viêm xoang điều trị các bệnh ngoài da, có bán tại Số 27 ngách 20/15 ngõ 20 Hồ Tùng Mậu, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội. Ship nội thành Hà Nội và vận chuyển qua Bưu chính cho người ở xa. Gói ngải trung 10 cây 35.000. Vận chuyển từ 5 gói trở lên.

dungcudienchan.vn


KỸ THUẬT SỬ DỤNG NHIỆT (ĐIẾU NGẢI CỨU) TÁC ĐỘNG VÔ HUYỆT HOẶC VÙNG THEO PP DIỆN CHẨN
Hơ là một trong những kỹ thuật căn bản của phương pháp Diện Chẩn. Ta chủ yếu dùng Điếu ngải cứu (hay nhang ngải cứu) hay bất cứ vật nào tỏa nhiệt như thuốc lá, nhang loại lớn khi không có điếu ngải cứu, máy sấy tóc… tuy nhiên hiệu quả sẽ kém hơn vì không đủ độ nóng.
Sau khi đốt cho cháy đỏ ở đầu điếu ngải cứu (không để cháy ra ngọn lửa) ta cầm điếu ngải cứu bằng 3 ngón tay cái, trỏ và giữa. Lòng bàn tay hơi ngửa ra, và dùng ngón út tì lên mặt da làm điểm tựa, để đầu nóng đỏ cách da khoảng 1-2 cm, di chuyển trên vùng da. Có 3 cách hơ là hơ nóng, hơ ấm và hơ tìm sinh huyệt.
1. Hơ nóng: ta di chuyển nguồn nhiệt chậm trên mặt da cho đến khi có cảm giác nóng nhiều thì nhấc ra, có thể lặp lại 3 lần và di chuyển ra vùng khác cần hơ.
Tác dụng: làm ấm nóng, trừ hàn tà nhập lý, co mạch, làm chắc khỏe gân cơ, giảm đau mạnh, lưu thông khí huyết mạnh, làm khô, mau lành vết thương, tan máu bầm, giảm sưng, tiêu viêm tiêu độc như: côn trùng cắn, mụn nhọt mủ, lở loét, bong gân, chấn thương phần mềm…
2. Hơ ấm: ta di chuyển nguồn nhiệt nhanh với khoảng cách vừa phải trên da tạo cảm giác ấm áp.
Tác dụng: làm ấm, giải hàn, giãn mạch, giãn cơ, giảm đau, lưu thông khí huyết…
3. Hơ tìm sinh huyệt: dùng nhang ngải cứu (hoặc cây ngải cứu pin) di chuyển rất chậm tới lui cách bề mặt da từ 1-2 cm, nếu thấy điểm có cảm giác nóng buốt hơn những vùng xung quanh, thì đó chính là sinh huyệt. Ta hơ nóng sinh huyệt đó 3 lần cách khoảng, bằng cách, khi có cảm giác nóng buốt, nhấc điếu ngải cứu lên cho bớt nóng (khỏi tầm hút nhiệt của Sinh huyệt), rồi lại hơ lặp lại thêm khoảng 2 lần nữa và chuyển qua vùng cần hơ khác.
Tác dụng: để tìm sinh huyệt Diện Chẩn phục vụ cho việc điều trị bệnh.
Trên thực tế, ta dùng một cách hoặc phối hợp cả 3 cách linh động để đạt hiệu quả cao nhất.
Lưu ý: cẩn thận khi hơ trong các trường hợp người bệnh bị tâm thần, tai biến, tiểu đường, tổn thương thần kinh, tủy sống… vì người bệnh có thể bị rối loạn cảm giác nên nhận thức về nhiệt không rõ ràng và chính xác nên dễ bị phỏng. Để an toàn hơn, ta có thể thay thế hơ bằng máy sấy tóc cho các trường hợp này. Chỉ nên dùng cách này mỗi ngày một lần, nếu dùng nhiều lần hơn cần có sự trao đổi ý kiến hay giám sát của các thày thuốc, hay học viên có kinh nghiệm trong Diện Chẩn. Vì cách này dù có hiệu quả cao, nhưng nếu lạm dụng, sẽ có thể bị sinh ra nổi nhọt. nhức đầu, mất ngủ, táo bón…Nếu gặp trường hợp này, nên dùng các loại thức ăn mát để giải trừ như nước dừa, rau má, bột sắn. Hay có thể ấn bộ huyệt Làm mát, giải nhiệt (26, 3, 143, 51, 14, 15, 16).

FB: Dụng Cụ Diện Chẩn


TRƯỜNG HỢP NÀO CHÂM HAY HƠ CỨU HUYỆT CHỮA BỆNH CÓ KẾT QUẢ VÀ CÁCH HƠ CỨU

1-Bệnh hư chứng thiếu khí thiếu huyết, châm không bao giờ khỏi bệnh, chỉ tốn tiền vô ích.
2-Bệnh thực chứng châm cứu có kết qủa.
3-Bệnh hư chứng hơ cứu làm tăng khí, kích thích phục hồi chức năng hấp thụ để ăn uống tốt giúp chuyển hóa thức ăn thành máu.
4-Không hơ cứu những bệnh nhân có đường huyết cao sẽ bị lở da.
5-Đề phòng phỏng da, bôi vaseline trước trên huyệt, hơ cứu cách xa da 2,5cm , tối đa lâu không quá 1 phút, lấy ra , gọi là 1 mồi.
 
Bệnh năng có thể lâu 40 mồi, bệnh nhân mới cảm thấy nóng, bệnh lui dần khi số mồi giảm dần cho đến khi vừa hơ mồi thứ nhất bệnh nhân đã cảm thấy nóng là huyệt đó không cần dương hỏa nữa.
 
Các huyệt khác vừa hơ cứu bệnh nhân đã cảm thấy nóng là huyệt đó là thực chứng thừa hỏa, không cần thêm hỏa, nếu cứ hơ cứu vào huyệt đó là sai.
 
Hơ cứu vào những điểm từ mỏm xương ức xuống đến rốn, có những điểm ấn đè thấy cứng cộm đau đến khi hết đau, giúp ăn ngon tiêu hóa tót, tăng tính hấp thụ chuyển hóa thức ăn thành máu.
 
Các điểm đau khác trên cơ thể khi châm , bấm vuốt huyệt không khỏi, thì dùng hơ cứu có kết quả.
 
Trên mặt, trên đầu cổ, nơi da non, nhượng chân, cấm hơ cứu.
 
Chữa phổi hơ cứu Đại Chùy, Phong Môn, Phế du khỏi bệnh phong cảm hàn, ho
 
Hơ cứu Khí Hải, Thận Du, Mệnh Môn, Tam Tiêu Du chữa bệnh thận hư.
 
Chữa bệnh suy nhược cần hơ thêm huyệt Cao Hoang Du tăng nhiệt cho cơ thể đối vối bệnh chứng hư hàn.
Đau thần kinh tọa hơ cứu huyệt Hoàn Khiêu.
 
Thầy Đỗ Đức Ngọc.

Sunday, October 19, 2025

TRƯỚC 75, DÂN MIỀN NAM CHỈ DÙNG GỖ QUÍ LÀM QUAN TÀI.

- Nghĩa là gỗ quí chỉ dành cho người chết, chứ ko dành cho người sống.

Vì trang trí nội thất và bàn ghế thời đó đều bằng ván ép - làm từ phế phẩm tức gỗ vụn - họ không dám xài gỗ quí như dân bây giờ!
Tôi đăng lại bài sau đây nhân TP Đà Nẳng và Huế đang khốn khổ vì bão lụt — hậu quả của phá rừng đầu nguồn bừa bải.

Ba tôi là người rất giàu*-- đến độ tôi hay nói với bạn bè là “TÔI KHỔ VÌ GIÀU”! Dù cho thuở nhỏ anh em tôi không biết thiếu là gì nhưng tôi để ý: mọi trang trí nội thất và bàn ghế trong nhà đều bằng ván ép hay bằng những PHẾ PHẨM hay GỖ VỤN được chế biến lại, còn gọi là formica. Bàn thờ ông bà, đặt trên lầu ba, nơi trang trọng nhứt, cũng bằng ván ép!
Cả dinh Độc Lập của ông Thiệu cũng có những bàn ghế bằng ván ép dù ổng là nguyên thủ quốc gia! Xem phần cập nhật ở bên dưới.*
Dân Sài Gòn xài ván ép là vì do chiến tranh không ai dám vào rừng và do dân Sài Gòn theo trào lưu của thế giới. Nếu tôi không lầm, gỗ quý trước 1975 ở miền Nam chỉ dùng làm quan tài!
Hay do dân Sài Gòn có tầm nhìn xa!
Trong khi đó ở VN hiện nay, họ lại xem việc dùng bàn ghế bằng gỗ quí là đẳng cấp, càng lớn càng tốt! Khi một dân tộc mà có nhiều người có quan điểm như vậy thì đừng trách bão lụt mỗi năm. Ở Mỹ này, bạn vào các tiệm furniture, tìm đỏ mắt cũng không thấy bàn ghế “Made in USA” vì họ đều nhập từ Trung Quốc, kể cả bia mộ bằng đá!
Ảnh: tủ sách này có trước 1975, cũng làm từ phế phẩm của gỗ. Tuy mỏng manh như vậy nó vẫn chịu sức nặng của sách vở đầy ắp trong tủ với bốn cái chân rất nhỏ. Kiến thức của tôi cũng từ tủ sách này, vì trước 75 không có Internet.
* Ngoài nghề xây dựng, ông còn cho thuê máy móc về xây dựng (xe ủi đất, cần câu, v.v...), hùn hạp mở ngân hàng (Trung Nam Ngân Hàng), bốc xếp tàu biển (stevedore), đại diện hãng tàu biển K- Line tại VN, làm phó giám đốc cho một công ty Mỹ. Ông còn dự định sẽ mở một công ty hàng không - cạnh tranh với Air Vietnam vào năm 1975 nhưng ... mọi thứ đã trở thành dã tràng sa cát!
Ảnh: cô này dạy Pháp văn cho các thuyền nhân sắp định cư ở nước nói tiếng Pháp (cô thuộc chương trình Professeurs Sans Frontières của Pháp tại đảo Galang Indonesia). Chụp tại nhà tôi ở 122 đường Yersin quận 1 Sài Gòn, khoảng đầu TN 1990.
Oct 19 2020
===
* CẬP NHẬT ngày 5 Dec 2025.
Do chụp từ màn hình nên ảnh hơi mờ, và chữ khó đọc.












 HÀ CHÍNH MÃNH Ư HỖ (Chế độ hà khắc còn tệ hơn hổ dữ)

Là dân Đồng Hới, Quảng Bình, sau khi đậu Tú Tài 2 Pháp ở Huế, ba tôi ra Hà Nội để học y khoa tại ĐH Đông Dương. Học đc khoảng 1 năm, lúc đó là thập niên 1940, vì thấy tốn kém tiền của cha mẹ, ba tôi bỏ học vào nam làm thư ký coi kho cho Đồn điền Cao su Đất Đỏ ở Quản Lợi tỉnh Thủ Dầu Một. Ở đây ba tôi đã gặp má tôi và tôi đã ra đời vào năm 1947. Sau đó ba tôi bị Tây nghi ngờ theo VM nên bắt giam và tra tấn đến độ ko đi được - lúc đó giam ở nhà tù Thủ Đức. Nhờ một bạn tù biết chút đỉnh về thoa bóp nên ba tôi đi đc. Ông đưa gia đình về Sài Gòn và làm cho một thầu khoán ở vùng Tân Định Sài Gòn. Nghề dạy nghề, ba tôi đã phất lên từ người làm công nay đã có thể lãnh thầu nhà cửa và sau này cả nhà máy, thầy thợ cả ngàn người.
Do thấm nhuần Tây học từ nhỏ nên ông có rất nhiều bạn bè và đồng nghiệp (về xây dựng) người Pháp và sau 1975, dù họ đã về Pháp, nhưng nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ họ đã nhờ bạn bè Pháp, du lịch VN, đến thăm, tặng quà và tiền. Có lần một người Pháp mang quà của bạn ba tôi đến thăm, thấy tôi giỏi tiếng Pháp nên thuê tôi làm thông dịch (từ 1990-1994).
Như đã nói, dù bị Tây đánh gần chết, nhưng ba tôi ko thù ghét người Pháp vì dưới chế độ thuộc địa và VNCH sau đó, người dân vẫn có cơ hội phát triển về mọi mặt, mọi người sống trong một xã hội pháp trị, tài sản được tôn trọng, v.v..
Ảnh: ba tôi và tôi chụp ở Sài Gòn.


 Hãy tưởng tượng một thung lũng xanh, hơi dài hơn rộng. Xuyên qua giữa là sông Sông Re, chảy nông qua những tảng đá và ghềnh vào mùa khô nhưng dữ dội và thường không thể vượt qua vào mùa mưa. Sàn thung lũng có địa hình như một sân golf, trải dài đến những ruộng bậc thang ở dưới chân các ngọn núi bao quanh thung lũng. Ở một đầu thung lũng, xa xa, một thác nước đổ xuống từ đỉnh một dãy núi, rơi gần nửa đường xuống đáy trước khi hoà mình vào các tán cây. Hàng chục con trâu nước đang gặm cỏ gần các suối và ao. Sương mù và mây lăn lộn, trượt lên trượt xuống các ngọn núi suốt cả ngày... chưa bao giờ đứng yên quá một giờ. Đột nhiên, nửa thung lũng biến mất trong làn sương trắng; 60 phút sau, chỉ còn những đốm mây nhỏ trôi lững lờ nửa sườn đồi. Ở đằng kia, một đám sương mù dài và mỏng chảy xuống một thung lũng hẹp dài, cuối cùng quấn quanh một trong các thôn nhỏ rồi cuộn lại thành một khối và trôi đi. Một thế giới mơ mộng. Những ngôi làng dân Thượng Hre sạch sẽ và nhỏ bé trên những một ngọn đồi, trông giống như câu chuyện cổ tích của trẻ con về những ngôi nhà trong thung lũng cổ tích. Đây là Gia Vực, cách Đà Nẵng khoảng 80 dặm về phía tây nam và gần nửa đường đến Lào. Trại Lực lượng Đặc biệt là một trại cũ; các bãi mìn ở phía trước vẫn còn một số mìn Pháp, và một số thành viên bộ tộc Hre nói được một ít tiếng Pháp. Người Hre là một trong những phân nhóm lớn của dân Thượng với khoảng 150.000 người. Phần lớn không có nếp gấp của mắt người thượng, và hầu hết có mũi thẳng nhưng ngắn, không giống như mũi bẹt của phần lớn người Việt. Hầu hết người lớn (đặc biệt là những người già) đều đã mài hoặc gãy răng cửa trước, đây là một phong tục của bộ tộc. Một số gene Pháp vẫn hiện rõ ở một số người có làn da trắng và một số có tóc đỏ. Chạy qua giữa khuôn viên của chúng tôi là những mảnh còn sót lại của một con đường cũ của Pháp từng nối Kontum và Quảng Ngãi. Một ngày khi đi tuần tra, tôi thật sự ngạc nhiên khi thấy một tấm biển của con đường cũ, gỉ sét và đầy lỗ đạn, có ghi 'Kontum 25 km.' Ảnh của lính lực lượng DSCĐ từ Gia Vuc, do vẻ ngoài thư thái của họ, chắc hẳn họ đang gần trại (lưu ý tấm biển đường Pháp cũ). Cảm ơn Loyd Little, toán A-113 năm 1965 về các ảnh này. Lúa là cây trồng chính mặc dù trà, dừa, quế, mật ong, gai dầu và cau đều được trồng. Các loại cây mọc hoang gồm có chuối, mía, xoài và một loại cây giống bưởi. Một làng điển hình có khoảng 50-60 người sống trong 12-18 túp lều trên các ngọn đồi. Thức uống ưa thích là rượu đế khá mạnh. Tổng cộng có khoảng 1.000 người Hre sống trong một thung lũng dài này. Chỉ có một trường học trong thung lũng, được xây dựng bởi một nhóm Lực lượng Đặc Biệt Mỹ trước đó. Một giáo viên được tuyển từ Sài Gòn và được Lực lượng đặc biệt Mỹ trả lương. Người Hre đã chiến đấu từ đầu những năm 1950, một số với Pháp, một số với Việt Minh/Việt Cộng. Hầu gái của chúng tôi là một Việt Cộng bị bắt và (chúng tôi nghĩ là) được tuyển về phe chúng tôi. Cảm ơn Loyd về những ảnh này.

 Camp Gia-Vuc was one of the oldest SF camps in the 1st CORPS It was an old French camp (Indochina War) reopened by USSF in February 1962 BU A-5/1, to secure a population of 1500 HRE montagnards and about 300 Vietnamese in that area. The camp is situated near the Song Re river in the Quang Ngai province, about 80 miles from Danang and was originally in the II CORPS Tactical Zone but in 1964, the I and II CTZ borders were adjusted and the camp came under control of the I CTZ. Gia -Vuc was the southernmost camp in the 1st CTZ and its mission was surveillance and interdiction on infiltration routes. The Song Re valley know as Vietcong Valley was one of the major enemy supply/infiltration routes from Laos Eastwards to the Vietnamese costal lowlands.

It is believed that Gia-Vuc made a lot of Civic Action progress and improvements in the area and encountered more than their fair share of VC. When the camp was handed back to LLDB in 1969, there were approximately 6400 Hre and Vietnamese living in the area. Gia-Vuc was also known as the "Shangrila" of Vietnam and was becoming the social, cultural and political center of the Hre Montagnards. Colonel Harold R Aaron referred to Gia-Vuc as the most successful SF camp in Vietnam.

During most of its life, the camp lacked artillery, but at some stage had recoilless rifles to ward off enemy attacks. The camp defenses were virtually probed every night and suffered regular mortar attacks. Later on,
the fighting trenches were hardened against mortar attacks  by concrete capping of trenche and bunker system. Due to tropical rain storms flooding was not uncommon.


"An interesting fact about Gia Vuc is that, after it was turned over to the ARVN Rangers, it was besieged by PAVN as part of PAVN's invasion of RVN. The Rangers fought to the last man there, some 300 KIA or MIA." This additional information is thanks to Alex Humphrey (5th SFGA, Ba To 1964-65)

Imagine a green valley, slightly long than wide. Weaving through the middle is the Song Re river, running shallow over rocks and rapids during the dry season but fierce and often impossible to ford in the rainy season.  The floor of the valley has the terrain of a golf course, rolling into terraced rice paddies at the bottoms of the mountains ringing the valley.  At one end of the valley, far in the distance, a waterfall pours off the top of a ridge, falling nearly halfway to the bottom before losing itself in the trees.  Dozens of water buffalo graze near the streams and ponds.  The fog and clouds roll and tumble and slide up and down the mountains all day long...never remaining stationary for more than an hour.  Suddenly half the entire valley is invisible in misty white; 60 minutes later only little puffs float halfway up the hills.  Over there, a long skinny finger of fog flows down a long narrow valley, finally wrapping itself around one of the hamlets and then curling itself into a ball and floating away.  A dream world.  The Hre Montagnard villages perch clean and tiny on little hills, looking like a child's story of fairy-tale houses in a fairy-tale valley.

This is Gia Vuc, about 80 miles southwest of Danang and about mid-way to Laos.  The Special Forces camp is an old camp; the minefields in front still have some French mines in them and some of the Hre tribesmen speak a little French. The Hre are one of the large subgroups of the Montagnards with an estimated 150,000 people.  Most do not have the epicanthal eye fold, and most have a straight though short nose, not the flatter nose of most Vietnamese.  Most adults (especially the older) have had their front teeth either filed down or broken off, a tribal custom.


A few French genes visible in some who have white skin and some who have red hair. Running through the middle of our compound are bits and pieces of an old French road that once linked Kontum and Quang Ngai.  One day on patrol, I was amazed to see an old highway sign, rusty and full of bullet holes, that read "Kontum 25k."


Photo of CIDG's from Gia Vuc, due to their relax look, they must be closed to the camp
(note the old French road sign)  Photo, thanks to Loyd Little, A-113, 1965

Rice is the primary crop although tea, coconuts, cinnamon, honey, hemp and areca palm are grown. Growing wild are bananas, sugar cane, mangoes and a grapefruit-like plant. A typical hamlet has 50-60 people in 12-18 huts perched on hills.
Favorite drink is a quite potent rice wine. 

Altogether about 1,000 Hre live in this one long valley.  There is only one school in the valley, and it was built by an earlier SF team.  A teacher was recruited from Saigon and is paid by SF.   Hre have been fighting since the early 1950s, some with the French, some with the Viet Minh/Viet Cong.  Our housegirl is a captured Viet Cong and recruited (we think) to our side. 

Description of Gia Vuc is thanks to Loyd Little Sr Medic (E-6) at Gia Vuc 
(A-113 Sept. 8 to Nov. 2, 1965)

 Hãy tưởng tượng một thung lũng xanh, hơi dài hơn rộng. Dệt qua giữa là sông Sông Re, chảy cạn trên đá

và ghềnh trong mùa khô nhưng dữ dội và thường không thể vượt qua trong mùa mưa.
Tầng của thung lũng có địa hình của một sân golf, lăn vào những cánh đồng lúa bậc thang dưới chân núi
vòng quanh thung lũng. Ở một đầu thung lũng, ở phía xa, một thác nước đổ ra khỏi đỉnh một sườn núi, rơi xuống gần như
Nửa chừng về phía dưới trước khi mất mình trong cây. Hàng chục con trâu nước gặm cỏ gần suối và ao.
Sương mù và mây cuộn và lăn xuống và trượt lên xuống những ngọn núi suốt cả ngày ... không bao giờ đứng yên
trong hơn một giờ. Đột nhiên một nửa toàn bộ thung lũng là vô hình trong màu trắng sương mù; 60 phút sau
chỉ có những nhát nhỏ trôi nổi giữa lưng chừng đồi. Ở đó, một ngón tay dài gầy gò của sương mù chảy xuống một thung lũng hẹp dài, cuối cùng quấn quanh một trong những ấp rồi cuộn mình thành một quả bóng và trôi đi.
Một thế giới trong mơ.
Các ngôi làng Hre Montagnard nằm sạch sẽ và nhỏ bé trên những ngọn đồi nhỏ, trông giống như một câu chuyện của trẻ em về những ngôi nhà cổ tích trong một thung lũng cổ tích.
Đây là Gia Vực, khoảng 80 dặm về phía tây nam thành phố Đà Nẵng và khoảng giữa đường sang Lào. Trại Lực lượng Đặc biệt là một trại cũ; các bãi mìn phía trước vẫn còn một số mìn của Pháp và một số bộ lạc Hre nói một chút tiếng Pháp. Hre là một trong những nhóm nhỏ của người Thượng với ước tính khoảng 150.000 người. Hầu hết không có nếp gấp mắt epicanthal, và hầu hết có mũi thẳng mặc dù ngắn, không phải là mũi tâng bốc của hầu hết người Việt Nam. Hầu hết người trưởng thành (đặc biệt là người lớn tuổi) đã có răng cửa hoặc bị gãy hoặc gãy, một phong tục của bộ lạc.
Một số gen của Pháp có thể nhìn thấy ở một số người có làn da trắng và một số người có mái tóc đỏ.
Chạy qua giữa khu tập thể của chúng tôi là những mảnh nhỏ của một con đường cũ của Pháp đã từng nối liền Kontum và Quảng Ngãi.
"Một ngày khi đi tuần tra, tôi rất ngạc nhiên khi thấy một biển báo đường cao tốc cũ, rỉ sét và đầy vết đạn, có dòng chữ" Kontum 25k ".
Ảnh của CIDG từ Gia Vực, do vẻ ngoài thư giãn của họ, họ phải đóng cửa trại
(lưu ý biển báo cũ của Pháp) Ảnh, cảm ơn Loyd Little, A-113, 1965
Lúa là cây trồng chính mặc dù trà, dừa, quế, mật ong, cây gai dầu và cọ areca được trồng. Trồng dại là chuối,
mía, xoài và một cây giống bưởi. Một ấp điển hình có 50-60 người trong 12-18 túp lều nằm trên đồi.
Thức uống yêu thích là một loại rượu gạo khá mạnh.
Tổng cộng khoảng 1.000 Hre sống trong một thung lũng dài này. Chỉ có một trường học trong thung lũng, và nó được xây dựng bởi một đội SF trước đó.
Một giáo viên được tuyển dụng từ Sài Gòn và được SF trả lương. Hre đã chiến đấu từ đầu những năm 1950, một số với người Pháp, một số với Việt Minh / Việt Cộng.
Bà nội trợ của chúng tôi là một Việt Cộng bị bắt và tuyển mộ (chúng tôi nghĩ) về phía chúng tôi.
Mô tả về Gia Vọng là nhờ Loyd Little Sr Medic (E-6) tại Gia Vúc
(A-113 ngày 8 tháng 9 đến ngày 2 tháng 11 năm 1965)
On this day