Wednesday, May 7, 2025

 Điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tên thật là Nguyễn Văn Thu, sinh ngày 29 tháng 01 năm 1934, tức ngày 15 tháng 12 âm lịch, năm Quý Dậu, tại Gia Định. Ông là sĩ quan Quân Nhu, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), cấp bậc Đại Úy (khi biệt phái năm 1969). Ông cũng là giáo sư Hội Họa trường trung học Võ Trường Toản, đồng thời là giáo sư Điêu Khắc trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định.

Vì là tác giả bức tượng Thương Tiếc, xem hình, khi vào tù, ổng bị đánh đập đến điếc tai. Năm 1983, ông ra tù và sau đó vượt biên, và sau đó sang Mỹ. Vì quá buồn chán, ông về VN hưởng già và chết ngày 6-5.25, thọ 91 tuổi, xem cáo phó. 

Dựa vào bảng trị số, thay thế các chữ bằng trị số tương ứng, ta có:  

Nguyễn = 7

Văn = 615 = 12 = 3

Thu = 456 = 15 = 6

Cộng lại: 7 3 6 = 16 (thành lũy tan nát). 



Tuesday, May 6, 2025

 1st Cav "Help!"

It was late spring 1970 and the 118th Assault Helicopter Company was on a routine mission near Cu Chi. The mission entailed picking up some ARVN troops at point A, taking them to relieve some US troops at point B, then taking the US troops back to Cu Chi. Then back to Point A and doing it all over again. I was in charge of a light fire team of "Charlie Model" Huey gunships (2). My ship was a "Hog" with 36 2.75" rockets and the other was a "Mini ship" with 14 rockets and 2 mini guns. The AC of the 2nd ship was WO1 William Hinton.
We were refueling at CU Chi when the Cu Chi Tower called out for available gunships to go to the help of a 1st Cav unit in heavy contact near the Razorbacks, a string of hills northeast of Cu Chi. I went over to Hinton's ship to consult with him about offering our aid. He said I'd better get clearance from our CO before committing to the mission. I went back to my ship and tried to contact some one with authority to authorize the mission. I was unable to contact anyone while Cu Chi tower kept calling for help. I decided on my own to go. We got the coordinates, the FM ground troop's frequency, and the UHF Medivac frequency from the tower and departed to the area.
Enroute we could hear the ground troops RTO hollering for help and trying to get the Medivacs to land. The Medivacs replied the area was too "hot" for landing at their area to pick up the wounded. The troops were hunkered down in some scrub brush and small trees no higher then 15-20 feet. The wind at ground level was strong and the marking smoke just ran along at ground level making it difficult to see their position from the air.
At about 5 miles out we could see the 2 Medivac ships circling to the southwest at about 1500 feet and 2 Cobras circling to the west at about 2 thousand feet. We called the Medivacs and suggested they follow us in. The RTO called to inform us they were almost out of smokes to mark their position. I told my Crew Chief to gather up a lot of smokes and wire tie them together. I then broke procedure big time and told Hinton to go into a "bulls eye" pattern over the troops. This put me in a small circular pattern over the troops and him in a larger circle around me. This put him over the enemy half the time. Normally, we would use a "racetrack" pattern around a landing zone at 180 degrees from each other to suppress the area around the entire landing zone.
I called the Medivacs to follow us in. At tree top level I could see the RTO and told the Crew Chief to drop the wired up smokes. We almost fell through (lost lift) and I had to overstress the aircraft to pull out of it. The Medivacs were behind me and Hinton was behind them and a little higher.
One of the Medivacs came to a hover above the trees for a moment and as I recovered, flying right over the enemy, the Medivac called out he was taking fire. He banked right and scooted out of the area. We went into the bulls eye pattern and having "eyeballed" the Cav's position we used our door gunners to suppress the enemy.
The RTO called to say he couldn't find the smokes we dropped. We were so low, I looked and could see them still wired together about 30 feet from the RTO and one had gone off. The Crew Chief had wired them through the pins and one had pulled on landing on the ground. I directed the RTO to their location. All this time we could see and hear the enemy shooting at us and them.
Then there was a lull in the fighting. I dropped a smoke over the enemy and we climbed up to set up for a rocket run. At about 500 feet we set up for the run and I couldn't see the smoke I dropped because the wind kept the smoke along the ground. So down I went to mark the enemy again. Back up and I couldn't see it again. Third time down, back up and nothing. I felt I could guess, but that would be risky. I called the RTO to get low as I would shoot 1 pair of rockets and have him adjust. He agreed as the enemy had started up again once we had left tree top level. I punched off 1 pair and the RTO said I was right on and away from his people. I unloaded about 6 more pair and told Hinton to shoot up the area I had hit. We continued the runs until we were both out of rockets. The RTO was hollering "right on, right on, we can hear them screaming". The Medivacs came back in and started loading wounded. We had to leave as we were out of rockets and low on fuel. The fighting had stopped and the RTO said "come up to Tay Ninh and I'll buy you a beer". I told him "we're here for you, come down to Bien Hoa and I'll buy you a steak".
Then their "CO" showed up in his "C&C" (Command and Control) ship and he started giving me orders to sweep and fire to the north. He strongly insisted even after I informed him of our condition and fuel. He ordered us again and I told him to "go to hell" and "where were you and those 2 useless Cav Cobras, while your troops were in the fight?" We left for Cu Chi to refuel and rearm. We then returned to our original mission never having contacted anyone in our unit for authority to leave our mission.
Later on that afternoon, back at Bien Hoa, I was watching AFVN television and saw a news report of 2 unknown "Charlie Model" gunships helping out the 1st Cav near the "razorbacks" killing about 35 enemy soldiers. On my way to the officers club for dinner I was confronted by our "CO" and he asked "what happened this afternoon?" I simply told him to watch the 10 o'clock news. He must have already seen it as nothing more was ever said. No report was ever filed.

Darrell L. Burkhalter CW2, Bandit 34
118th Assault Helicopter Company RVN '69-'70

 StoriesPage4

Monday, May 5, 2025

CUỘC ĐỜI CỦA TIỀN QUÂN NGUYỄN VĂN THÀNH QUA LĂNG KÍNH CỦA LTS.

1/ Theo Wikipedia, ông Nguyễn Văn Thành sinh ngày 13 tháng 11 âm lịch năm Mậu Dần (tương đương dương lịch là 1758). Tiên tổ người xứ Thuận Hóa, phủ Triệu Phong, huyện Quảng Điền, tổng Phú Ốc, xã Bác Vọng. Tằng tổ là Nguyễn Văn Toán dời vào Gia Định. Tổ là Nguyễn Văn Tính lại dời đến ở Bình Hòa. Cha là Nguyễn Văn Hiền lại dời vào Gia Định.

Sử sách ghi: "Nguyễn Văn Thành trạng mạo đẹp đẽ, tính trầm nghị, thích đọc sách, tài võ nghệ".[1][2]

...

Nhận xét: Tuy là khai quốc công thần, nhưng lúc gần cuối đời, do lời dèm pha của những kẻ ghen tị ông, cha con ông bị vua Gia Long nghi ngờ tạo phản nên ông tự tử, con trai bị xử chém. Sau này danh dự được phục hồi, ông được người đời nay thờ phượng, làm lễ nhân ngày giỗ của ông.

Vì thấy cuộc đời của ông quá đau khổ nên tôi dùng LTS để tìm hiểu.

Đầu tiên tôi dùng Âm Dương lịch đối chiếu, tôi biết ngày sanh của ông là ngày 12 tây, xem hình.

                               


          

2/ Nay dựa vào bảng trị số của LTS, thay thế các chữ trong tên họ của ông, tôi có:

Nguyễn = 536155 = 25 = 7

Văn = 615 = 12 = 3

Thành = 45155 = 20 = 2

Cộng lại: 7 3 2 = 12, rất xấu.

Sau đây là ý nghĩa của số này, xem hình, xin đọc kỹ phần có gạch đỏ. 

     

Kết luận: Những gì xảy ra đã ứng với tên và ngày sanh (số 12) của ông.

Đọc thêm:

Lăng mộ

Lăng mộ Tiền quân Nguyễn Văn Thành hiện an vị ở xã Thủy Phương, huyện Hương ThủyThừa Thiên Huế. Lăng mộ có diện tích năm mươi mét vuông, bao gồm bốn cột trụ biểu, bia tiền và bia hậu. Trên bức bia tiền còn ghi rõ chức tước của Tiền quân khi đã trở về cố đô Huế vào năm 1810 cho đến khi mất: "Việt Cố Khâm Sai Chưởng Trung Quân Bình Tây Đại tướng Quân Thành Quận Công Chi Mộ". Trên Bức bia hậu ghi tóm tắt tiểu sử công trạng cùng tên tuổi gia quyến của Tiền quân. Đặc biệt trên bia còn khắc cảnh Xuân Hạ Thu Đông và các hoa văn tượng trưng cho uy quyền và đức độ của ngài khi xưa.

Đền thờ: Tại xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, trên vùng đất cao trong khu rừng sao, ngôi đền thờ Tiền quân Nguyễn Văn Thành được xây dựng từ năm 1820. Toàn bộ khung sườn đền đều làm bằng gỗ sao đốn từ những cây sao già tại khu rừng ấy. Trải qua hơn một trăm tám mươi năm thăng trầm của lịch sử, đền vẫn còn đó dáng uy nghiêm và trầm mặc. Hằng năm vào ngày rằm tháng Mười Một âm lịch là ngày giỗ của Tiền quân.

Ngày giỗ: Theo như lệ thường hàng năm, vào ngày mười lăm tháng mười một âm lịch năm Bính Tuất, tức là vào thứ tư, ngày mùng ba tháng giêng dương lịch năm 2007 đã diễn ra buổi lễ cúng đình thần, Đức Tiền quân Nguyễn Văn Thành, tại xã Tân An. Từ tờ mờ sớm đã diễn ra lễ rước sắc phong thần từ ngôi nhà cổ vào đền Tân An. Trong bầu không khí trang nghiêm và long trọng của buổi lễ cúng thần, các đội tế lễ trong trang phục truyền thống, áo dài khăn đóng, đã ra làm lễ tế. Các khách thập phương lũ lượt từ các nơi gần xa cũng đã có mặt đông đủ tại đình cổ Tân An để thấp hương và cầu an.

Đường phố;  Ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1985 có tới 2 con đường mang tên Nguyễn Văn Thành. Đường Nguyễn Văn Thành (thường hay gọi là bến Nguyễn Văn Thành, do nằm dọc theo rạch Hàng Bàng) của Đô thành Sài Gòn cũ hiện nay là đường Phan Văn Khỏe (trước đó cũng gọi là bến Phan Văn Khỏe, nhưng hiện nay không còn gọi là bến nữa do rạch Hàng Bàng đã bị lấp gần hết) ở quận 5 và quận 6, còn đường Nguyễn Văn Thành của tỉnh Gia Định cũ nay là đường Huỳnh Đình Hai ở quận Bình Thạnh. (http://vi.wikipedia.org/)

 I remember when......Page 2

 PHÉP LẠ CHO NGƯỜI NÀY NHƯNG CÁI CHẾT CHO NGƯỜI KHÁC

Đôi khi trong chiến đấu người ta thấy rằng sống và chết cách nhau trong gang tấc. Câu chuyện sau đây là 1 bằng chứng đầy thuyết phục (overpower) về 1 phép lạ cho 3 nhân viên phi hành nhưng bất hạnh cho nhân viên còn lại.

Ngày đó hợp đoàn chúng tôi gồm 1 số trực thăng chở quân hay slick và hai gunship được lịnh bốc quân VNCH tại Gò Dầu Hạ, gần Đức Hòa, nằm giữa Sài Gòn và vùng Mỏ Vẹt. Sau khi bốc quân, chúng tôi về Đức Hòa chờ đợi và ăn trưa.

Chuyên viên bậc 5 Dave Norton của chiếc "The Fabulous Blue 5" kể lại:

"Tôi ko thích ăn trưa ở Đức Hòa vì chúng tôi luôn luôn đậu trực thăng kế pháo binh và gần như họ luôn luôn tác xạ khi chúng tôi ở đó. Đạn đại bác nổ lớn, đến độ dù mang mũ bay, lổ tai chúng tôi rất khó chịu. Tôi là cơ khí phi hành (crew chief) trong chiếc Fabulous Blue 7 này với Lyman Sramek làm trưởng cơ hay AC, một phi công phụ hay Peter Pilot (mà tôi ko biết tên), và chuyên viên bậc 4 George Gomez, xạ thủ. Chúng tôi bay cuối đoàn và có trách nhiệm theo dỏi tần số guard trong trường hợp khẩn cấp khi chúng tôi trên mặt đất."

"Sau khi ăn trưa, hai chiếc gun đã cất cánh để yểm trợ quân VN. Ko lâu sau đó, trong khi tránh nắng trong cái bóng của trực thăng, chúng tôi được lịnh bay gấp. Sau khi cất cánh, chúng tôi được biết một Bandit, tiếng lóng mà chúng tôi đặt cho gunship, đã bị rơi và chúng tôi phải cứu phi hành đoàn. Chiếc gun còn lại sẽ yểm trợ chúng tôi. (Mỗi toán gunship gồm hai chiếc để yểm trợ lẫn nhau).

Chỉ vài phút sau khi rời Đức Hòa, chúng tôi đã thấy địa điểm máy bay rơi. Sau khi các chiếc gun dọn bãi, chúng tôi bắt đầu xuống thấp để tiếp đất. Nơi máy bay rơi là cánh đồng lúa bị cháy xém với một bên là bụi và cây nhỏ và một bên là cánh đồng trống trải. Bay càng gần, chúng thấy chiếc Bandit 3 chỉ là một đống sắt cong quẹo, nằm rải rác.

Mới nhìn, chúng tôi ko thấy ai và nghĩ rằng điều xấu nhứt đã đến với họ. Gomez và tôi nhảy ra khỏi máy bay để tìm kiếm. Đầu tiên chúng tôi thấy phi công phụ, mà tiếng lóng là Peter Pilot, đang ngồi trên mặt đất cách nơi máy bay rơi 1 khoảng. Y có nhiều vết cắt trên mặt và đầu, có phần lảo đảo và choáng váng (wobbly and woozy), chúng tôi đưa y đến máy bay. Sau đó chúng tôi thấy cơ khí phi hành trong đám cỏ cao. Chân trái y bị thương nhiều chỗ. Sau khi đưa y nằm trên sàn máy bay, chúng tôi biết xương chậu của y cũng gẫy. Chúng tôi tìm kiếm kẻ khác thì thấy xạ thủ ngồi trong máy bay. Ngoài lớp tro đen phủ khắp người khác và vết cắt dài nửa inch trên trán, y có vẻ OK.

George đang chăm sóc ba thương binh trên chiếc Blue 7, còn tôi đi tìm người vẫn còn mất tích, đó chuẩn úy Carl Martin Creal, trưởng cơ. Phần đuôi (tail boom) đã rời khỏi máy bay. Động cơ cũng văng khỏi máy bay. Thân máy bay dựng đứng và cắm đầu xuống đất. Tro đen bao phủ mọi thứ.

Tôi kiếm chung quanh chỗ máy bay rơi nhưng vẫn ko thấy chuẩn úy Carl Creal. Trở về chỗ chiếc máy bay đang cắm đầu xuống đất thì thấy phía trên của buồng lái biến mất, nhưng Creal vẫn còn buộc vào ghế bay với đầu ko có mũ bay. Ngoài vết thương rất sâu trên đầu phía trên mắt trái, y ko còn vết thương khác. Vì nghĩ rằng y đã chết, tôi chạy nhanh về máy bay của tôi đang chờ. Vì chúng tôi phải bay gấp về Sài Gòn để cứu 3 người kia. Khi mở máy bộ đàm hay intercom thì chuẩn úy Sramek hỏi tôi chuẩn úy Creal đâu rồi. Tôi trả lời y đã chết và địa điểm máy bay rơi an toàn."

"Trên đường tới SG, thương binh xạ thủ Dennis Surop dùng tay ra dấu gọi tôi. Tôi nghiêng người để nghe. Y nói, "Norton, đừng để chân tôi rơi ra khỏi máy bay." Tôi thấy bàn chân phải y còn trên sàn tàu nhưng bàn chân trái sắp rớt khỏi máy bay. Bàn chân này chỉ còn dính vào thân y bằng 1 mảnh da thịt. Tôi đưa bàn chân này vào trong máy bay và lấy chân của tôi chận bên ngoài để nó khỏi rơi. Y lại hỏi tôi chuẩn úy Creal thế nào, tôi dùng ngón tay ra dấu cắt cuống họng, khiến y lộ vẻ thất vọng."

"Khi chúng tôi trở lại địa điểm máy bay rơi thì biết rằng 1 máy bay đã bốc chuẩn úy Creal về Biên Hòa. Chúng tôi cũng được lịnh tháo gở súng và máy truyền tin của máy bay. Khi đến nơi, chúng tôi thấy lính VN lục soát chung quanh (poke around). 

Nous avons regardé le site de laccident et avons obtenu ce que nous cherchions. depuis notre dernière visite, quelquun avait renversé le fuselage sur le dessus, enlevant apparemment le corps de ladjudant-chef Creal. Le mot « KILL » qui était écrit sur le bas était maintenant clairement visible."

Việc chiếc Bandit 3 bị rơi và chỉ có 1 người chết là chuẩn úy Carl Creal là 1 điều bí ẩn. Nếu nhìn những ảnh của chiếc UH-1C này, người ta tự hỏi làm thế nào có thể sống sót trong 1 tai nạn như vậy.

Norton sau này đã nói chuyện và hỏi những người sống sót. Vì ko thể liên lạc với quân VN, chiếc Bandit 3 đã lượn một vòng để phóng rocket và vì ko thể lấy cao độ để rời vùng nên đã lao xuống đất với tốc độ cao. Vài người đã văng khỏi máy bay trước khi máy bay tiếp đất và ngừng lại. Người ta ko biết chuẩn úy Creal hay phi công phụ ai là người điều khiển máy bay. Xạ thủ thì nghĩ rằng máy bay ko bị bắn từ dưới đất.

 Ngày bi thảm của đại độ 118 không vận*

*Đại đội này có biệt danh Thunderbirds, thuộc TĐ 145 không vận, đồn trú tại Biên Hòa.

ngày 9/10/1969, là một ngày mà chúng tôi sẽ ko bao giờ quên vì đã mất phi hành đoàn 6 người và 6 người thuộc lữ đoàn 199 bộ binh. 

Ngày hôm đó, một trực thăng UH-1D mang số 63-08826 được lịnh triệt xuất một toán viễn thám tại 1 bãi đáp ở phía đông tỉnh Long Khánh. Bãi đáp rất gần bờ của Sông Đồng Nai nước chảy mạnh. Lúc cất cánh từ bãi đáp, cánh quạt của rotor chánh của chiếc trực thăng chở nặng đã chặt khoảng 45 feet hay 13.7 mét của bụi tre dầy. Đồng hồ RPM bắt đầu mất cao độ. (Nói thêm: Điều này có thể xảy ra hầu như bất cứ lúc nào và nó thường là kết quả của collective tay ga không đúng cách. Thường thì nó xảy ra vào lúc thephi công phải kéo collective lên để ngăn chặn sự hạ cánh của trực thăng và thêm sức mạnh để bay lơ lửng).





Máy bay quay qua phải và hướng về phía tây, bay trên sông để định tăng tốc độ. Một lúc sau đó, trưởng cơ, chuẩn úy hay CW 4 James Bailey đã buộc phải đáp xuống nước với độ sâu 15-20 feet hay 4,5 tới 6 mét. Bên trái của chiếc UH-1D đã chìm trong nước chưa tới 10 giây, theo báo cáo.

Các toán người nhái và trực thăng đã lập tức tiến hành việc tìm kiếm. Họ chỉ cứu được hai người: chuẩn úy Kilbourne và chuyên viên bậc 4 Cowherd. Năm người lính viễn thám mất tích. Những ngày sau đó, máy bay phát loa kêu gọi và rải truyền khắp khu vực. Đợt 1 từ 9-15/10 và đợt 2 từ 19-21/10/1969, chỉ gián đoạn từ 16-18/10/1969 vì thời tiết xấu.

Một thợ lặn thuộc toán viễn thám cố gắng tìm kiếm khu vực, dù mang theo dây, đã gặp nhiều khó khăn do nước chảy mạnh ở khúc sống này. Y báo cáo đã tìm thấy máy móc ở bờ sông kế nơi máy bay rơi. Nhưng người ta ko thể xác định bao nhiêu đã thoát khỏi máy bay sau khi lâm nạn. Một người cho biết đã cố gắng nhiều lần bơi vào bờ trước khi đến bờ sông. Một người khác nói bạn mình chìm cách y bốn feet nhưng ko thể cứu.

Chỉ có 2 người sống sót của chiếc UH-1D này là chuẩn úy Kilbourne và cơ khí phi hành, chuyên viên bậc 4 Cowherd. Hai tử thi được tìm thấy