Thursday, November 28, 2024

 

Roy Benavidez Survived ‘Six Hours of Hell’ to Save His Comrades

Photo Credit: Unknown Author / Reagan White House Photographs / Wikimedia Commons / Public Domain 
Photo Credit: Unknown Author / Reagan White House Photographs / Wikimedia Commons / Public Domain

Roy Benavidez served during the Korean War and in Vietnam, although it’s his actions in the latter that he’s best known for. In an incredible act of bravery, he survived what became known as “Six Hours in Hell” against a ferocious enemy force in order to help his comrades get back to their extraction helicopters. For these heroics, he was awarded the prestigious Medal of Honor.

Roy Benavidez’s early service with the US military

Military portrait of Roy Benavidez
US Army Master Sgt. Roy Benavidez. (Photo Credit: US Army / Wikimedia Commons / Public Domain)

Roy Benavidez was born on August 5, 1935 to a poor family, and had lost both his parents by the time he was seven. When he was 15, he dropped out of high school to financially support his remaining family through work on cotton and sugar beet farms. Two years later, with little other prospects, he enlisted with the Texas Army National Guard while the United States fought in Korea.

Benavidez served with the National Guard between 1952-55, before moving into active service with the US Army, seeing rotation in South Korea and Germany. By 1959, he’d decided to complete Airborne training and, when finished, was assigned to the 82nd Airborne Division out of Fort Bragg, North Carolina. He later completed training for the Special Forces and became a member of the 5th Special Forces Group and the Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observation Group (MACV-SOG).

Suffering a debilitating injury in Vietnam

USNS Benavidez (T-AKR-306) at sea
USNS Benavidez (T-AKR-306) during sea trials in the Gulf of Mexico. (Photo Credit: Ron Elias / US Navy / Wikimedia Commons / Public Domain)

Roy Benavidez was deployed to Vietnam in 1965 as a Special Forces advisor to one of the allied South Vietnamese regiments. In a devastating accident, he stepped on a land mine and had to return to the US, where he was told that he’d never walk again and, therefore, would be discharged from the Army on medical grounds.

This was unacceptable to Benavidez. He began his own training regimen against doctors orders and in the late hours of the night. He’d crawl across the floor on his elbows to a nearby wall and use it to lift himself into a standing position. Despite being in the hospital for over a year, the Green Beret’s personal training paid off and he eventually walked out unassisted.

He returned to service in Vietnam in January 1968.

A one-man team

Aerial view of the American stronghold in Lộc Ninh
American stronghold in Lộc Ninh, November 1967. (Photo Credit: Bettmann / Getty Images)

On May 2, 1968, Roy Benavidez was stationed in Lộc Ninh, near the Vietnam-Cambodia border, when a call for assistance came over the radio. It was from a 12-man Special Forces reconnaissance team deployed in a neighboring area to gather intelligence on North Vietnamese Army (NVA) and Viet Cong movements. During the mission, they’d become surrounded by roughly 1,000 NVA troops. Although they called for extraction, helicopters were unable to reach them due to heavy enemy fire.

Benavidez decided to take the team’s plights as a personal mission and got into the first chopper he could, running on “autopilot,” as he called it. He was armed with only a knife and medical bag. It wasn’t long after he arrived that the Green Beret was shot in the leg and received a glancing round to the head. Nonetheless, he was able to attend to the wounded as best he could, given the situation, and move the men to a safer location.

‘Six Hours in Hell’

Tanks and armored personnel carriers driving through the Vietnamese jungle
11th Armored Cavalry personnel carriers and tanks moving through Lộc Ninh, October 1969. (Photo Credit: Bettmann / Getty Images)

Roy Benavidez and the men were in an area with difficult visibility for the helicopters that came to pull them out. With no other option, he popped smoke grenades. This alerted the enemy to their location, and the assault restarted with full force. Benavidez returned fire, while also moving the injured Green Berets toward the helicopters. When they landed, he went back into the fray to retrieve the body of the team leader and the secret documents he had on his person.

Benavidez was injured many more times before making it to the helicopters himself, passing out just as he reached them. Luckily, he was dragged onboard by one of the crews. By the time they returned to base, the doctor assessing him assumed he was dead, as he’d sustained roughly 37 bayonet, shrapnel and bullet wounds, as well as a broken jaw.

Benavidez was placed in a body bag, and as the doctor was zipping it up he allegedly spat at him, to which the medical expert said, “I think this one will survive.” As it turned out, he’d fought for his comrades for an astounding six hours straight and helped save the lives of eight men, all the while living to tell the tale.

Roy Benavidez is awarded the Medal of Honor

Roy Benavidez, Ronald Reagan and two other men standing together on stage
US President Ronald Reagan with Master Sgt. Roy Benavidez after presenting him with the Medal of Honor, February 1981. (Photo Credit: Unknown Author / National Archives at College Park / Wikimedia Commons / Public Domain)

Unsurprisingly, Roy Benavidez spent a significant amount of time in hospital recovering from his heroics. For his bravery, he received the Distinguished Service Cross and four Purple Hearts.

The Medal of Honor, given to those who have distinguished themselves through acts of valor, wasn’t awarded, as relatively few details were known about the extent of Benavidez’s actions and his commanding officer didn’t think he’d survive. When he did, Lt. Col. Ralph. R. Drake filed the necessary paperwork for the Green Beret to receive the honor.

By this point, however, the time limit had already expired, and Congress had to grant a one-time exemption. Even this wasn’t enough to warrant Benavidez receiving the award, as there weren’t any eyewitnesses who could attest to his actions. This process was reported by the media, and Brian O’Connor, a radioman who’d been part of the team he’d saved, came forward as a witness.

More from us: Despite Being Up Against 2,000 Enemy Troops, Bernard Fisher Risked His Life to Save a Fellow Airman

In 1981, Benavidez’s previous award was upgraded to the Medal of Honor and presented by Ronald Reagan. Of his actions, the US president said, “If the story of his heroism were a movie script, you would not believe it.”

Monday, November 25, 2024

 Theo dòng lịch sử...

BIA HENRY MAITRE (Di tích của tỉnh Đăk Nông)
Henri Maitre, một viên chức của Pháp sinh năm 1883 tại Toulon (Pháp), năm 1905 bắt đầu đến Việt Nam và được giao nhiệm vụ khảo sát về địa lý, dân cư khu vực rừng Trường Sơn để phục vụ cho công việc đặt chế độ cai trị của thực dân Pháp tại nơi này. Bắt đầu từ ngày 7 tháng 2 năm 1909, Henri Maitre đặt chân lên Tây Nguyên và theo nhật ký của ông thì công cuộc khảo sát kết thúc vào ngày 10/2/1910. 
...
Henri Matre được nhà văn Nguyên Ngọc gọi là “người lạ” sau khi ông đọc tác phẩm Rừng người Thượng và tìm hiểu về cuộc đời của tác giả. Nếu nhiệm vụ chính của Henri Maitre là nghiên cứu về núi rừng Tây Nguyên để phục vụ cho công tác cai trị của chế độ thực dân thì tác giả nhìn nhận về các dân tộc Tây Nguyên theo lối của một thực dân chiếm hữu khi đến đây.
Với tư duy đó, hoặc là bằng sự khéo léo mua chuộc người dân bản địa với những món đồ mỹ nghệ rẻ tiền hoặc bằng súng ống của quan binh (Pháp), dần dần Henri Maitre đã quy phục được nhiều buôn làng mà ông ta đến.
Tuy nhiên, đối với người M’Nông, Ê Đê hay bất kỳ dân tộc Tây Nguyên nào khác, Henri Maitre chỉ là kẻ xâm lược. Và cũng chính bởi thái độ “thực dân” của tác giả, cách cai trị của Henri Maitre đối với đồng bào trong suốt cuộc khảo sát và kể cả sau khi trở thành đồn trưởng không tránh được những đụng độ với những người bản địa. Và cuối cùng ông ta đã bị giết trong một lần bị phục kích bởi một tù trưởng người M’Nông có tên là Nơ Trang Lơng (hay còn gọi là Long). Khi ấy Henri Maitre 31 tuổi.
(Trích theo "Sách “lạ” của viên đồn trưởng bị anh hùng Nơ Trang Lơng tiêu diệt" của Đỗ Hoàng Hà Châu )
Dấu tích bia tưởng niệm Henri Maitre (do Pháp xây dựng năm 1946)
Bia do thực dân Pháp xây dựng năm 1946 khi quay lại đánh chiếm Tây Nguyên lần thứ hai tại khu vực Đồn 9, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông (ngày nay) để tưởng niệm Henri Maitre – người cầm đầu phái bộ khảo sát hành chính Đông Cao Miên, trưởng đồn Bu Méra, một tên thực dân có tiếng và lợi hại trên vùng đất Cao nguyên M’nông lúc bấy giờ. Ngày 24/12/2008, được Công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh, theo quyết định số 1923/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông.
(Theo Đăk Nông Online)

Sunday, November 24, 2024

Saturday, November 23, 2024

Cuộc đời ca sĩ Bích Tuyền qua lăng kính của Lý thuyết Số (Numerology).

Thay thế các chữ bằng trị số tương ứng, ta có:

NGUYỄN = 536155 = 25 = 7

BÍCH = 2135 = 11 = giữ nguyên

TUYỀN = 46155 = 21 = 3

Cộng lại: 7 11 3 = 21 = rất may mắn, nhờ có tu trong các kiếp trước. 

Ý nghĩa của số 21 - Vuơng Miện Của Nhà Thông Thái (The Crown of the Magi)
21 đuợc tuợng trưng/biểu tuợng (is pictured) bởi “ Vũ trụ “, và còn đuợc gọi là “Vuơng miện của nhà Thông thái”. Nó hứa hẹn sẽ có thành công tổng quát, và bảo đảm sẽ có sự thăng tiến, danh dự/kính trọng (honour), phần thuởng, và địa vị cao một cách chung chung (general elevation) trong cuộc sống và nghề nghiệp. Nó cho thấy sẽ thắng lợi sau một cuộc tranh đấu lâu dài (it indicates victory after long struggle), bởi vì “Vuơng miện của nhà Thông thái” chỉ có đuợc sau nhiều thử thách về tinh thần cũng như những thử thách khác về quyết tâm của họ (for the “Crown of the Magi” is gained only after the long initiation, much soul testing and various other tests of determination). Tuy nhiên, nguời hay thực thể này được ban phúc/phù hộ bởi (blessed with) số 21 sẽ chắc chắn có được thắng lợi cuối cùng sau khi vuợt qua mọi thử thách và chuớng ngại (may be certain of final victory over all odds and all opposition). Đây là số rất may mắn do tạo được nhiều nghiệp tốt trong những kiếp truớc (it's a most fortunate vibration – a number of karmic reward).
(Dịch từ sách Linda Goodman's Star Signs nơi trang 258)
.

Wednesday, November 20, 2024

38 NGÀY LÀM TÙ BINH CỦA QUÂN CSBV TẠI "CHẢO LỬA" ĐỨC LẬP NĂM 1969. 

- Tỉnh Darlac là cái chốt để giữ bánh xe vào trục của hệ thống phòng thủ của VNCH ở phía nam Cao nguyên Trung phần.                    


Lời nói đầu:Từ lâu, các lãnh đạo quân sự Việt-Mỹ vẫn xem tỉnh Darlac, mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột, là cái chốt để giữ bánh xe vào trục (lincpin), một thành phần rất quan trọng của hệ thống phòng thủ của VNCH tại phía nam Cao nguyên Trung phần. Một cộng đồng người Thượng và Việt Nam khoảng 67 ngàn người sống ở tỉnh lỵ Ban Mê Thuột (BMT), chỉ cách biên giới Cambodge khoảng 40 km. (Đây chỉ là dân số của tỉnh lỵ BMT, vì theo bản đồ tỉnh Darlac của VNCH mà tôi có, thì dân số của quận BMT tính tới tháng 12/1970 là 149.994 người, và dân số của cả tỉnh Darlac là 230.475--người dịch). Các đồn điền trà và rừng rậm (scrub forest) che phủ khu vực chung quanh thành phố, trên một địa thế phần lớn bằng phẳng (flat landscape).QL-14 đi ngang rìa cuối của thành phố này, theo hướng đông bắc tây nam. Ngay phía bắc tp, QL-21 xuất phát từ QL-14, chạy về hướng đông ra biển và cuối cùng chấm dứt ở quận lỵ Ninh Hòa.                 



Các lãnh đạo QS của CSBV còn coi trọng nhiều hơn vị trí chiến lược của tỉnh Darlac nên năm Mậu Thân 1968, họ đã tung 1 lực lượng lớn gồm bốn TĐ của trung đoàn 33 CSBV, hai TĐ 301 và 401 quân địa phương và 4 đại đội du kích địa phương, tất cả khoảng 3 ngàn người, nhằm chiếm giữ BMT nhưng đã bị đẩy lui sau 4 ngày giao tranh đẫm máu. Trận đánh ác liệt này đã làm hư hay hủy hoại 3 ngàn căn nhà, và khiến khoảng 20 ngàn dân, hay 1/3 dân số tạm thời ko có chỗ ở. Khoảng 500 người dân chết và 800 bị thương. Nam quân có 74 chết. Có khoảng 900 lính CSBV và VC chết hay bị thương nặng. Cùng năm, họ cũng đánh vào CK và trại LLĐB Đức Lập, nhưng bị thiệt hại nặng. Năm 1969, họ lại mở chiến dịch Bu-Brang kéo dài trong 60 ngày

Năm 1975, họ lại tấn công vào CK Đức Lập vào sáng sớm ngày 9/3/1975 và sau khi chiếm CK đã tấn công vào tỉnh lỵ BMT. 

Tưởng cũng nên nhắc lại, chiến dịch Bu Prang-Đức Lập năm 1969 đã phần lớn quyết định bởi hỏa lực của không quân Mỹ. Trong vòng 60 ngày đã có 1.309 phi xuất chiến thuật để yểm trợ cho quân bạn. Thêm vào đó, 78 phi xuất của pháo đài bay B-52 đã thả bom xuống rừng rậm chung quanh hai trại. Sau cuộc vây hãm này, vì lý do chiến thuật, trại Bu Prang đã bị xe ủi đất cào bằng (razed) và xây dựng lại ở cách đó 11 dặm về phía đông nam, tại một khu vực ít nguy cơ hơn. 

Trại Bu Prang MỚI được xây dựng bởi TĐ 19 công binh Mỹ, khởi công ngày 28/1/1970. Gió mùa đã khiến mặt đất đầy bùn khiến đến tháng 11 mới xong, thay vì xong trước tháng 5. Mọi vật liệu đều chở đến bằng máy bay, vì QL-14 dẫn tới trại Bu Prang ko an ninh. Từ đây, trại Bu Prang mới sẽ an toàn hơn vì ở xa biên giới (trại cũ cách biên giới 5km), trên một đồi cao và mọi sinh hoạt đều dưới mặt đất". 


Sau đây là phần chuyển ngữ.

====

BÀI VIẾT NÀY DỰA TRÊN CUỘC PHỎNG VẤN THỰC HIỆN TẠI BỊNH VIỆN 71 DÃ CHIẾN, PLEIKU, VIỆT NAM NGÀY 10 và 11/12/1969.

Người phỏng vấn: Ông James M. Wearn, phòng quân báo (MID) của sđ 4 bộ binh Mỹ.

Người được phỏng vấn là trung sĩ (TS) Vernon Shepard, là quan sát viên pháo binh, thuộc chi đội B của Chi đoàn 7 của Thiết đoàn hay Trung đoàn 17 Thiết kỵ (Calvary Regiment), mất tích ngày 2/11/1969 và tìm về đơn vị ngày 10/12/1969. Trong bài viết, đương sự hay y đều ám chỉ TS Vernon Shepard. 

Phù hiệu và nhẩn đeo tay kỷ niệm 
của thiết đoàn 17 Mỹ
Trực thăng Cobra
Trực thăng quan sát OH-6
Bản đồ số 6533 IV (làng Đức Minh), xem ở link: Map Edition .
Ngày 2/11/1969 chuẩn úy Grega (phi công) và TS Vernon Shepard, quan sát viên, có phi vụ quan sát cho chi đoàn kể trên gần Bu Brang, Nam VN trên một máy bay quan sát OH-6. (Nói thêm trại LLĐB Bu Prang cũ ở tọa độ 522545, sau tháng 1/1970 dời về tọa độ 683505, xem bản đồ -- người dịch). 
Họ thuộc một toán gồm có một chiếc OH-6 khác (với chuẩn úy Nowicki là phi công và trung úy Curran, quan sát viên), và 2 trực thăng võ trang Cobra. Khoảng 1600 g ở 5 dặm đông của Bu Prang, đương sự thoáng thấy 3 hố chiến đấu cá nhân dọc QL-14. Đạn AK-47 bắn lên máy bay. Đương sự bị thương ở chân, hệ thống truyền tin của máy bay bị hư hỏng và nhớt bắt đầu xịt khắp máy bay. Ngay khi trúng đạn, chiếc OH-6 này bay về phía đông để nhường chỗ cho Cobra. Khoảng 5 dặm phía tây của nơi máy bay trúng đạn, một chiếc OH-6 khác ra dấu cho đương sự và Grega đáp xuống. Họ đáp xuống một cánh đồng trống gần QL-14 (tọa độ YU793658), xem bản đồ.                      
Chuẩn úy Grega và đương sự rời máy bay và chạy về chiếc OH-6 kia. Ngay khi cất cánh, chiếc OH-6 này đã trúng đạn phòng không. Máy bay bị xé toạt, rơi xuống đất và bốc cháy.

Chuẩn úy Nowicki, trung úy Curran và y thoát khỏi máy bay nhưng chuẩn úy Grega bị mắc kẹt trong máy bay đang cháy. Grega bị một vết thương ở phần thịt của mông phải do hỏa lực phòng không của địch. Cả ba người chạy xuống một sườn đồi tới khu có cỏ tranh cao (high weed). Một Cobra nhào xuống, bắn vào khu vực này và có vẻ chỉ định điểm bốc. Vào lúc này, trời đã sụp tối, trung úy Curran bò đi chỗ khác. Đương sự nghe một máy bay khác trúng đạn và rơi. Y nghe tiếng người bò sau lưng họ nhưng y nghĩ có thể là địch quân. Kế đó y thấy một ánh đèn (strobe) nhấp nháy của trung úy Curran, và một chiếc UH-1B đến và bốc Curran. Chiếc này đã bị bắn và buộc phải rời trước khi y và Nowicki tới. Vào lúc này, y và Nowicki ở khoảng 100 m tây nam của chỗ máy bay rơi, khoảng tọa độ YU793655. Y và Nowicki ở đây suốt đêm.

Sáng ngày kế 3/11/69, y và Nowicki đã dậy sớm, bò khoảng 20 m và thấy 4 lính CSBV võ trang AK-47 đang khám xét (go through) các máy bay rơi. Suốt ngày hôm đó họ đã thấy những trực thăng và ra dấu cầu cứu nhưng hình như ko ai thấy họ. Vào một lúc, Nowicki đã bò ra nơi đất trống và ném một lựu đạn lân tinh trắng nhưng ko được máy bay thấy. Suốt ngày hôm đó pháo binh và không kích ở cách họ 100 m. Nhiều tiếng nổ của súng nhỏ ở phía bắc của họ. Y cũng thấy những toán lính nhỏ quân csbv đi đi lại lại (intermittently) ở khoảng 200 m nam của vị trí của họ. Y và Nowicki tiếp tục trốn trong bìa rừng (tree line), ko lương thực và nước uống.                         

Rừng rậm ở khu vực Đức Lập

Nowicki có một khẩu Car-15, một băng đạn và một dao đi rừng; y có một dao nhíp. Để có nước, y và Nowicki liếm găng tay, những lá cây thấm nước và cắt những dây leo sũng nước.

Ngày 4/11/69 vô sự. Trong đêm 4/11, y và Nowicki đã bò 300 m xuyên qua một cánh đồng và leo lên một sườn dốc (incline) để tới sườn bên kia của một ngọn đồi - lúc này họ ở khoảng 500 m phía tây của địa điểm máy bay rơi (khoảng tọa độ YU791656). Trong khi bò ngang cánh đồng, họ đã bò ngang dây điện thoại. Y cho biết đã nhiều lần thấy dây điện thoại nhưng chưa bao giờ thấy máy truyền tin hay an-ten. 

Ngày 5/11, họ ở khu vực này suốt ngày. Y cũng nghe tiếng Việt suốt ngày. Vào lúc này họ cũng khám phá một dòng suối ở cách họ 10-20 m. Nowicki nói đã thấy một thân người bị treo trên cây gần nơi máy bay rơi. Chiếc Cobra đang nằm nghiêng và mủi bị gẫy. Địch đã lấy trang bị từ chiếc Cobra. Các thiết bị điện tử trên chiếc trực thăng này đều bị bắn bể và hai chiếc OH-6 bị hư hại do lửa, lựu đạn lân tinh và lựu đạn miểng.

Ngày 6/11 - họ đi về phía tây và nam. Lúc 14 g, họ tới một cánh đồng khác; lúc đó y đi sau Nowicki 20 feet thì súng nhỏ nổ. Y ko thể thấy Nowicki. Ba lính CSBV xuất hiện phía sau và bắt y, đưa tới bìa rừng cách đó 10 m. Y thấy 10 bunker ở bìa rừng và đều có nắp che và lổ ra vào rộng 2 feet x 2 feet, ở khoảng tọa độ YU788657 tới YU788655. Có khoảng 1 đại đội địch trong khu vực. Các bunker rộng 3 x 4 feet và cách nhau 15m. Lính CSBV cắt cỏ để làm giường cho y, cho y cơm vắt và nửa điếu thuốc. Khi di chuyển, có bộ đội mang AK đi sau. Vào lúc này y thấy Nowicki cũng được áp giải tới. Y thấy có 9 lính địch, 1 tên mang M-16, còn lại là AK, đội nón vải. Nowicki ở cách y 5 feet, và bị phỏng ở hông trái, vết phỏng rộng 4 x 8 in. Nowicki bị trói vào cây. Y chỉ vào vết thương và y tá đến. Y đứng dậy, và lính địch lấy ví của y và bỏ đi với 2 lính khác. Người y tá chăm sóc Nowicki mang túi vải cứu thương nhưng ko mang vũ khí. Người này quấn vết thương của Nowicki với vải rộng 7 tấc. Lúc này y và Nowicki được phép nói chuyện. Họ đều bị trói thúc ké với dây điện thoại màu xanh dương. Họ bị giải đi bởi 5 bộ đội, 2 tên đi trước, kế đó là y, kế đó một bộ đội, kế đó là Nowicki, sau đó là 2 bộ đội. Dọc đường mòn là các bunker có người ở và họ di chuyển theo đường mòn suốt ngày và vài giờ mỗi đêm. Khu vực này cây cối rậm rạp và các bunker ngày càng lớn và khoảng cách giữa bunker ngày càng xa. Y thấy có 6 bunker trong khu vực này. Đường mòn rộng 1 tới 2 feet, trên có táng lá dầy đặt, xem hình minh họa. Mỗi đêm họ di chuyển khoảng 2 giờ và ko được nói chuyện và người đi đầu có đèn pin. Khoảng 15 phút, y có thể ngừng để xin chút ít nước uống. Lúc 21g, họ tới 1 bunker nhỏ rộng 5 feet x 3 feet, có nắp che làm bằng những khúc cây, họ được phép cởi giày và cả hai được trói vào nắp che của bunker. Bộ đội ở bên ngoài, nhưng nấu cơm bên trong bunker. Cả 2 được cho ăn và được phép nói chuyện.          



Ngày 7/11, khi trời sáng họ được ăn cháo gạo và đậu, cho thuốc lá và trả giày. Họ đi theo đường cũ 50 m tới 1 đường mòn khác và đi bộ tới 11 g, cũng đội hình như cũ. Ko có bunker trên đường mòn này. Gặp hai nhóm, mỗi nhóm 20 người, mỗi nhóm có 2 súng cối 82 ly và 10 người mang 8-10 đạn cối. Cũng gặp 5 nhóm, mỗi nhóm 5 người mang đạn cối. Họ đều mang AK-47 và đi ngược chiều. Ko có vẻ là tân binh. Họ mang dép râu nhưng ko nón cối. Lúc 11 g nhóm rời đường mòn, nghỉ ngơi và ăn. Địch mặc áo len xanh, nhìn vết thương của y và chuyển y tới bunker. Y bị cởi áo quần bên ngoài bunker. Bác sĩ dùng ống chích để xịt nước cồn vào vết thương ở mông. Y đếm thấy 300 con dòi rớt ra. Sau đó họ vào bunker, trong đó có 2 người mặc áo len xanh, có vẻ là bác sĩ hay y tá; bác sĩ chích 1 mủi vào cánh tay và 6 mủi chung quanh vết thương (có lẽ là Novocain). Hai bác sĩ thắp đèn cầy để rửa vết thương và y nghe tiếng kéo cắt, nhưng ko thấy đau. Họ băng vết thương và y rời bunker, mặc lại quần áo và bác sĩ cắt lổ lớn trên quần chung quanh vết thương. Họ ko nói tiếng Anh nhưng ko ai mang súng. Y cảm thấy khỏe hơn, nói lời cám ơn và bắt tay bác sĩ. Bác sĩ cười và y trở về chỗ của Nowicki. Họ đi ngược đường mòn cũ và đi theo đường mòn nhỏ tới trời tối. Ko thấy bunker trên đường mòn cho tới chỗ qua đêm. Có đó 4 hay 5 lán nhỏ (lean-to) và bunker. Y và Nowicki ngủ trong bunker kế 1 lán nhỏ. Bộ đội cũng nghỉ đêm trong khu vực. Sau khi trời tối, họ được ra ngoài ăn và hút thuốc. Sau đó trở vào bunker.

Ngày 8/11. Dậy lúc trời sáng, ăn, hút thuốc và vào lại bunker trong 1 giờ. Được trả lại giày. Có 5 vệ binh và 1 sĩ quan đến. Họ bị bịt mắt và mất phương hướng. 

Đi bộ từ 9 g sáng tới 18 g. Dù bị bịt mắt, nhưng nhờ ngẩng đầu lên, y có thể thấy chút ít. Trong lúc di chuyển y gặp đại úy (đ.u.) Chirichigno và một lính VNCH. Đ.u. bị thương ở 2 tay và bàn tay và đang rên rỉ. Người lính thì OK. Xa hơn nữa (further down) trên đường mòn, họ gặp địch dẫn giải chuẩn úy Peterson đi ngược chiều. Họ đã tới trại tù binh lúc trời lặn, được tháo vải che mắt và tháo giày. Trại bao bọc bởi hàng rào làm bằng cọc cao 12 feet với chông nhọn bên ngoài, xem hình.                



Trại có hai hầm nhốt người rộng 15 x 8 feet và đào âm hơn mặt đất 2 feet. Các hầm làm bằng tre với cửa có khóa. Chân được đặt trong cùm (stock) làm bằng những khúc gỗ, khiến cử động rất khó khăn. Ba người Mỹ trong 1 hầm, người lính VNCH ở hầm khác. Họ có thể nói chuyện với giọng nhỏ. Đ.u. Chirichigno và y đang đau nhức. Một vệ binh trực gác suốt ngày trên chòi (shack) ở lối vào khu vực có hàng rào. Khu vực rộng khoảng 30 x 40 feet và có tàn lá che khuất (một tù binh VNCH trốn được cho biết trại gần tọa độ YU7467). 

Ngày 9/11. Địch bắt đầu làm hầm nhốt người mới. Họ phải mất 2 ngày mới xong và giải tới trại thêm 3 lính VNCH. Mỗi hầm nhốt 2 lính VNCH. Khoảng ngày 12-13/11/1969, chuẩn úy Peter được đưa tới bằng cáng và giam chung hầm với 2 lính VNCH. Công việc thường ngày của y, trừ những ngày y bị thẩm vấn, như sau: dậy vào lúc hừng đông, cửa và cùm được mở khóa để làm vệ sinh; ăn sáng với cơm - y phải cúi chào vệ binh để nhận thức ăn, chào vệ binh khi rời, chào khi trả tô thức ăn và chào lần nữa khi rời vệ binh; nghỉ ngơi suốt ngày trong hầm - chân trần; thường ko có ăn trưa bằng cháo, được ăn thịt ba lần. Ăn vào lúc hoàng hôn với thủ tục như lúc ăn sáng; kế đó cùm và hầm giam được khóa suốt đêm. Y và đ.u. Chirichigno đau đớn và rên rỉ suốt đêm. Y tá của trại đã sơ cứu và thay băng.

Khoảng 12-13/11. Cán bộ hỏi cung tới trại. Người này cao gần 6 feet, nặng 120 cân Anh, tóc đen ngắn, mắt nâu, 48 tuổi (y biết điều này nhờ hỏi vệ binh); gò má cao và tai vãnh (protrude); râu nhẳn nhụi, nói tiếng Anh chuẩn, với giọng nhỏ; mặc đồng phục ka-ki với dép râu và vớ; nón bằng vải fla-nen; khăn choàng cổ ngụy trang; mang súng lục nhưng ko cấp bậc. Người này rành tình hình hiện nay của nước Mỹ, Nam VN và thế giới; và cố gắng gây ấn tượng với y bằng kiến thức rộng rải về nước Mỹ như các thành phố, sản phẩm và tạp chí. Các kỹ thuật hỏi cung (y bị hỏi 4 lần khi làm tù binh): lần hỏi cung đầu tiên (có lẽ ngày 13/11) dành cho các câu hỏi về quân sự, ví dụ tên họ, cấp bậc, v.v..., đơn vị, loại máy bay, khu vực hành quân, tôn giáo, và nội quy của trại, ví dụ tôn trọng vệ binh và tuân thủ các lịnh của họ, ko nói chuyện, vệ sinh cá nhân và kẻ trốn trại sẽ bị bắn. Y đã trả lời mọi câu hỏi. Lần đầu tiên kéo dài 1 giờ. Khoảng 4 ngày sau là lần hỏi cung thứ 2.

Trong lần này, các bác sĩ đã tới trại và chích thuốc cho y, ở tay và ở mông và vá quần rách và thay băng cho vết thương. Các bác sĩ mặt áo len màu xanh dương, loại cổ rùa, và một bác sĩ có vẻ lai Tây phương. Cũng trong giai đoạn này, các tù binh được phát quần áo ngủ hay pyjama màu xanh đậm. Họ mặc quần áo ngủ với áo bay nomex để cho ấm. (Nomex là quần áo chống cháy của phi công Mỹ -- người dịch). Chuẩn úy Nowicki được phép ra suối để giặt áo bay nomex vì dính đất, máu và chất thải của người. Lần hỏi cung thứ 2 (có lẽ 16 hay 17/11): Y là người thứ 3 được hỏi cung, kéo dài 2 tiếng. Thẩm vấn viên đã hỏi về các cấp chỉ huy, tổ chức, và chiến thuật (người thẩm vấn có hiểu biết tốt về các chiến thuật và tổ chức của không kỵ Mỹ). Câu hỏi gồm: số người, tên của trang bị, mô tả công việc, và chiến thuật của trung đội tuần thám (scout platoon), bảo hành, trung đội chỉ huy và trung đội vũ khí nặng. Cũng hỏi về tên của chỉ huy trưởng và các trung đội trưởng. Cũng được hỏi về thông tin và vị trí của chi đội A, C, và D của chi đoàn 7/17 không kỵ. Khi được hỏi về số máy bay của 1 trung đội, y cố ý trả lời 1 cách mơ hồ và ko chính xác hay nói những con số xuất hiện đầu tiên trong đầu. Khi được hỏi về các quan sát viên, y chỉ cho tên những ai sắp rời đơn vị (DEROSed). Về tên các phi công, y trả lời ko biết vì y mới về đv. Tuy nhiên y nói chính xác tên của chi đội trưởng (troop commander) của y. Cuộc thẩm vấn chấm dứt.

Sơ đồ tổ chức quân đội Mỹ 
Y nói rằng sau đây là những gì xảy ra giữa lần hỏi cung 2 và 3: vào ngày hay khoảng ngày 17 và 18 tháng 11. Đ.u. Chirichigno và chuẩn úy Nowicki được giải tới lều hỏi cung cùng lúc và vệ binh trả giày cho họ. Họ trở về hầm giam và cho y biết họ sắp đến 1 trại tù lớn và y sẽ đi với họ khi y có thể đi lại. Vệ binh gắn ba-lô vào lưng của Nowicki, trói hai tay của mọi người bằng dây điện thoại và bịt mắt họ. Kế đó họ rời khu vực. Trong giai đoạn này có thêm 2 lính VNCH tới trại. Vì họ chống đối nội quy trại nên bị nhốt vào 1 hố dưới đất và bị đối xử tệ so với các lính VNCH khác.

Lần hỏi cung thứ ba (25-11): Hỏi cung nặng về tuyên truyền như: CCHL Kate đã bị hủy diệt và mọi người của căn cứ đều chết. 96 trực thăng bị bắn rơi, lực lượng GPMN tiêu diệt hai TĐ VNCH. Họ tự xưng thuộc Mặt trận Đức Lập và Bu Prang của chánh phủ cách mạng lâm thời của Nam VN. Họ còn nói tuần hành ở New York và Chicago và các TP khác có lính Mỹ mặc quân phục tham dự, có cả dân thường biểu tình. Cán bộ thẩm vấn cũng kể về sự kiện Mỹ Lai, nhắc tên trung úy Calley chịu trách nhiệm, và các viên chức Mỹ thoái thác trách nhiệm. Người này nói những người Mỹ tiến bộ đã tuần hành đòi Mỹ rút quân và những ai ko tham dự là quân xâm lược. Trong lúc hỏi cung, người này hỏi ý kiến của y. Y nói rằng đã hối hận về tội ác của mình để làm vui lòng người này.

Khi phỏng vấn trung sĩ Vernon Shepard tới đoạn này, người phỏng vấn đã nghi ngờ rằng lời khai cũng như băng thu thanh này của các tù binh, sẽ xúc phạm với quyền lợi của chánh phủ Mỹ. Vào lúc này, trưởng toán phỏng vấn, ông James Waern nhắc nhở trung sĩ Shepard và chuẩn úy Peterson, có xuất hiện của nhân chứng, những quyền của họ theo điều khoản 31 của Cẩm nang của Tòa án Quân sự (Manual for Courts-Martial (MCM). Cả hai trung sĩ Shepard và chuẩn úy Peterson chứng tỏ rằng họ hiểu quyền của họ theo khoản 31 và họ muốn tiếp tục cuộc phỏng vấn. Phỏng vấn tiếp tục.

Lần hỏi cung thứ tư, khoảng 30.11.1969. Y và chuẩn úy Peterson được giải từ hầm giam đến nhà hỏi cung. Ngoài người hỏi cung còn có 6 người. Người này nói y và Peterson rằng đây là các nhà báo và sẽ chụp hình để đăng trên 1 ấn phẩm của Mặt trận Giải phóng Miền Nam ở Hà Nội. Một người trong họ mang máy ảnh. Y và Peterson được mặc áo trận của Mỹ và ngồi trên khúc gỗ, nhìn xuống đất, để được chụp hình (khoảng 8 tấm). Sau đó y được hỏi về đời sống riêng tư, như tên vợ, nghề nghiệp cha mẹ, quan điểm về chiến tranh. Y trả lời rằng sẽ sai trái nếu làm vừa lòng kẻ lấy lời khai của mình. Ông James Wearn, người phỏng vấn tạm dừng bất kỳ câu hỏi nào khác về vấn đề này. Cuộc thẩm vấn của bộ đội CS kéo dài 30-40 phút.

Khoảng 6/12/1969 lúc 18 g, hai tù binh VNCH trốn trại. Sau khi lục soát, trại giam tù binh được lịnh di tản vì sợ bị phi pháo đồng minh tấn công. Y được dẫn giải đi nơi khác. Ngủ ban đêm trên đường mòn. Buổi sáng của ngày 7/12, họ tới 1 nơi có vẻ là một trạm tiếp tế. Nơi này gồm các lều, cánh đồng lúa và gia súc. Y được đối xử tử tế tại địa điểm này, được cấp bàn chải, kem đánh răng, khăn tắm, lương thực, chăm sóc y tế và nghe nói chuyện về lịch sử của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Y được hỏi về quan điểm của mình với Mặt trận. Y được cấp một radio để nghe đài Hà Nội nói về chi phí chiến tranh, tội ác của Mỹ tại làng Mỹ Lai. Vào buổi sáng ngày 8/12, y được cấp giấy viết, kẻ hỏi cung nói rằng những gì viết trên giấy sẽ quyết định y có được phóng thích hay ko. Vào sáng ngày 9/12, y được biết là sắp phóng thích. Dự 1 buổi lễ ngắn. Sáng ngày 10/12, y đi bộ tới 1 hệ thống các bunker, có vệ binh đi theo, có kẻ mang B-40. Ở địa điểm này, 1 vệ binh bằng cách ra dấu và tiếng Anh bồi, cho y biết rằng đ.u. Chirichigno và chuẩn úy Nowicki sẽ bay ra Hà Nội.

Chi tiết về lúc phóng thích: Ngày 10/12, y và chuẩn úy Peterson đi bộ dọc một con đường cây cối mọc um tùm (overground), ko biết ở đâu. Y thấy 1 vị trí súng cối, nằm cạnh đường, trong một hố của đại bác.

Sau đó vệ binh dẫn y đi dọc một đường cũ cho tới khi gặp 1 đường tráng nhựa; ở đây y chờ phương tiện vận chuyển sắp xếp bởi các tù binh VNCH được thả trước y. Địa điểm của những sự kiện ngày 10/12 được tin rằng đã xảy ra trong khu vực 8-12 km tây nam của chi khu Đức Lập. Những tù binh Mỹ đã được quân VNCH đón nhận tại tọa độ YU 809721 và sau đó đến trại LLĐB Đức Lập.

Thông tin trên đây cung cấp bởi trung sĩ Vernon Shepard và chuẩn úy Michael Peterson, cả hai thuộc chi đội B của chi đoàn 7 thuộc thiết đoàn 17. Họ được báo mất tích ngày 2/11/69 và trở về ngày 10/12/69.


Chuyển ngữ từ: Bio, Nowicki, Hames E.

Viết xong ngày 23 tháng 11 năm 2024, cập nhật ngày 6/12/2024.

Viết từ San Jose.

Tài Trần


Sunday, November 17, 2024

TRẬN ĐỨC LẬP 1968: PILOT CHÁNH BỊ THƯƠNG, CƠ KHÍ PHI HÀNH THAY THẾ, ĐƯA PHI CƠ TRỞ VỀ CĂN CỨ AN TOÀN.           



Lời nói đầu: Vì là một vị trí chiến lược ở tây bắc của tỉnh Quảng Đức VNCH, quận lỵ Đức Lập đã từng xảy ra những trận đánh nổi tiếng trong chiến tranh VN, đã làm tốn rất nhiều giấy mực của các cựu chiến binh Việt-Mỹ. Đồi 722, nay thuộc xã Dak Sak, huyện Dak Mil, tỉnh Dak Nông, năm 1968 là trại LLĐB Đức Lập hay Dak Sak. Hiện nay tại đây có 1 đài tưởng niệm cấp quốc gia của người CSVN, ghi nhớ những chiến binh của họ đã chết trong 4 ngày của tháng 8/1968, khi tấn công trại này và chi khu Đức Lập gần đó. Hôm nay tôi chuyển ngữ bài sau đây của một cựu phi công trực thăng Mỹ. 


"Trận đánh đã bắt đầu lúc 01:05 giờ sáng ngày 23.8.1968. Tại Đức Lập có 2 doanh trại, 1 là trại LLĐB và 2 là chi khu Đức Lập, trong đó có toán cố vấn Mỹ thuộc MACV (viết tắt của BTL Quân viện Mỹ tại Việt Nam -- người dịch). Hai nơi này ko xa nhau lắm, và đều gần biên giới Cam-bốt. Một lực lượng lính thiện chiến của Bắc VN đã tấn công 2 doanh trại trong đêm. Lính LLĐB đã chống trả mãnh liệt, nhưng chi khu (CK) có nguy cơ bị tràn ngập. (Theo sách của Shelby Stanton, tại đây có khoảng 6 cố vấn Mỹ và 1 đại đội ĐPQ -- người dịch). Toán trực thăng võ trang hay gunship của chúng tôi đã xuất phát từ sân bay Ban Mê Thuột (BMT) từ sáng sớm ngày 23.8. 

Chúng tôi hướng tới doanh trại của chi khu, để xem điều gì có thể làm để thay đổi tình thế. Chúng tôi là những người đầu tiên có mặt trên khu vực chiến sự khi hừng đông ló dạng, và đã gặp bất ngờ. Vì quân bắc VN đã đưa súng phòng không vào vùng trong đêm. Nhưng họ đã ko nổ súng trong đêm vì ánh sáng phát ra từ họng súng sẽ là mục tiêu ngon lành cho các oanh tạc cơ và AC-47. Đây là súng phòng không 12.7 ly bốn nòng đặt trên một xe kéo, với bánh xe có thể gập sát đất.

Bruce Chido làm lead của hợp đoàn trực thăng, và tôi, Gilbert Terry, làm trail. Trên máy bay của tôi, Fred Pratt là co-pilot, Bill Goodness là CE hay cơ khí phi hành, và Carey Arney là DE hay xạ thủ. (Trong một hợp đoàn máy bay, lead là trưởng của hợp đoàn, trail làm phó; người co-pilot có cấp bậc hay kinh nghiệm ít hơn pilot chánh -- người dịch). Trên đường tới Đức Lập, Bruce đã nhanh chóng phát hiện trục trặc về truyền tin: các máy UHF và FM của y ko thể liên lạc với quân dưới đất và quan sát cơ hay FAC. May mắn, y vẫn có thể liên lạc với chúng tôi bằng VHF. Do vậy chúng tôi đồng ý như sau; tôi sẽ làm lead và y làm trail.

Khi chúng tôi tới gần, tôi đã nhận thông tin mới nhứt từ FAC. Họ đã hướng dẫn chúng tôi đến 1 dãy những lều (hootch) gần BCH chi khu, nơi mà đạn từ đó bắn ra. Khi tôi xác định mục tiêu, chúng tôi bắt đầu nổ súng.

Trong vòng đánh hay pass đầu tiên, một loạt đạn súng nhỏ đã bắn lên, và đạn xuyên qua cửa kiếng. Một số mảnh vở của cửa kiếng văng vào mặt tôi và Fred. Chúng tôi luôn bay với kính che mặt hay visor, nên ko bị ảnh hưởng. Một viên đạn khác đã trúng radio FM. Tôi tách hợp đoàn, bay ra ngoài (outbound) và hỏi trên bộ đàm hay intercom, "Mọi người OK?" Mọi người đều OK, kể cả Bruce. Mọi đèn phi cụ đều màu xanh, nên chúng tôi lại nhập vào hợp đoàn.

Ở pass thứ hai, ống nhắm rocket biến mất. Một đạn 12.7 ly trúng ống nhắm. Có thể một miểng đạn 12.7 ly hay mảnh vở của ống nhắm, đã cắt quai của nón bay của tôi làm đôi. Đạn nhỏ bắn lên rất nhiều.

Một viên đã trúng vào bản lề của cửa máy bay và một mảnh vở đã trúng vào chân tôi. Tôi vì quá bận nên ko nghĩ đến nó. Hết vòng đánh thứ 2, tôi lại hỏi, "Mọi người OK?" Mọi người đều OK, động cơ bình thường, đạn vẫn còn, và Bruce vẫn OK. Chúng tôi đang bắn phá các túp lều ở trái và phải.

Chúng tôi đang bay ngang 1 hồ nhỏ, chuẩn bị vòng thứ ba, thì bị trúng nhiều đạn 12.7 ly. Máy bay rung nhẹ vì trúng đạn. Khi đánh vòng thứ 3, tôi lướt nhanh xuống các phi cụ thì thấy đồng hồ hiển thị dầu máy và lực xoắn (torque) đứng yên. Ú-Ồ! Tôi biết ngay rằng máy sẽ ko chạy lâu nếu ko có dầu. (Cơ khí phi hành sau này nói với tôi rằng dầu đã phun ra xuyên qua tường lửa, nghĩa là phần truyền động bị trúng đạn). 

Tôi vội tìm chỗ tốt để đáp. Tòa nhà của cố vấn ở bên phải tôi, do vậy tôi bắt đầu hướng về đó, cùng lúc máy bay mất cao độ. Tôi biết rằng nếu đáp xuống kế tòa nhà thì rất tốt. Copilot bình tỉnh nói, "động cơ đã tắt".

Tôi lập tức hạ cao độ để chuyển qua autorotation, xem hình, nhưng tốc độ của rotor cũng giảm. (Sau này chúng tôi biết bộ truyền động đã trúng đạn 12.7 ly, khiến ko thể quay được).               



Tôi và co-pilot đều biết ko thể đáp xuống tòa nhà cố vấn và cũng ko có nhiều thì giờ để đáp xuống. Do tác động của gió, trực thăng vẫn bay dù đồng hồ hiển thị rotor đứng im và chúng tôi tiếp tục mất cao độ. Và cánh quạt từ từ quay chậm và... đột ngột ngừng quay, đến độ tôi ko ngờ. Mủi máy bay hướng lên trời, và máy bay chạm đất; phần đuôi của trực thăng đụng đất trước và máy bay gần như ở thế lộn ngược xuống đất trên 1 sườn đồi. 

Trực thăng bắt đầu lăn long lóc trên đồi. Phần đuôi sút ra. Bụi đất tung tóe. Rồi máy bay đứng lại, im lặng hoàn toàn. Tôi nhớ lại mình vẫn ngồi trong ghế, nhìn 2 bàn tay, và nghĩ, "Mình vẫn còn sống."Tôi nhìn qua co-pilot thấy y OK. Nhưng máy truyền tin ở mủi máy bay đang nằm đè lên chân của y, và cửa máy bay đã sút ra.

Và 1 đạn cối đã nổ bên ngoài cửa, cũng có thể là 1 lựu đạn. Tôi vói tay để tháo đai an toàn và lập tức đập đầu vào trần của phòng lái và vào người của Fred. Hóa ra máy bay đang lộn ngược. Tôi bò ngang qua Fred và rơi xuống đất, và như 1 phản xạ tôi nói với co-pilot "Xin lỗi!", nhưng y trả lời lập tức, "Đưa tôi ra khỏi đây!" Tôi bắt đầu đẩy máy truyền tin ra khỏi chân của Fred, nhưng ko được.

Tôi lướt nhanh chung quanh và thấy 1 người, khoảng cách 50 mét, đang nhắm súng vào chúng tôi. Y bắn 1 phát, trúng vào trực thăng, nhưng ko trúng ai. Nhưng trước khi y bắn tiếp, xạ thủ của chiếc trail đã bắn trúng y.

Cùng lúc đó, vì ko còn bị máy truyền tin đè lên chân nên Fred đã rơi xuống đất. Y đứng dậy, và chúng tôi lập tức tìm kiếm cơ khí phi hành. Dây an toàn của người này đã sút ra, nhưng ko thấy y ở đâu. Tôi thấy 1 cái chân ló ra từ dưới trực thăng. Tôi nắm chân kéo ra, may mắn rất dễ dàng, vì trực thăng đã tì lên giá treo vũ khí (armament pylon), khiến máy bay ko đè lên y. 

Tôi thấy y bị trúng đạn súng nhỏ ở đùi trái, và bên dưới xương sườn và máu chảy nhiều. Lúc nảy, khi tôi kéo các máy truyền tin khỏi người của Fred, tôi nhận thấy xạ thủ nằm lắc lư trên ghế, bất tỉnh. Nhưng khi tôi kéo cơ khí phi hành khỏi trực thăng thì xạ thủ Arney tỉnh dậy. Chúng tôi lấy lại bình tỉnh và suy nghĩ "Điều gì sẽ xảy ra?"

Chúng tôi ngồi như vậy 1 hay 2 phút, nói rất ít. Chúng tôi kiểm tra đạn dược. Tôi và copilot vẫn còn nón bay và áo giáp, và còn súng lục. Nhưng súng M-16 và M-60 văng đâu mất. Rất may tôi vẫn còn máy truyền tin cứu cấp. Tôi thử gọi nhiều lần nhưng ko được. Nhưng còn may vì tôi còn đeo một la-bàn trên cổ tay. Tôi còn nhớ lúc đó la bàn hướng về BCH/chi khu. Thế là chúng tôi bắt đầu bò lên đồi, băng qua cỏ cao.

Tôi và Fred thay phiên cỏng và kéo cơ khí phi hành bị thương. Đạn bay khắp nơi, dù ko nhắm vào chúng tôi. Tôi biết địch gần đó, và đang kiếm chúng tôi. Cỏ bị trúng đạn văng vào chúng tôi.

Lát sau, 2 phản lực F-100 vào vùng, làm vòng chờ để tìm mục tiêu, và bắt đầu bắn phá bằng đạn 20 ly. Bắc quân tìm chỗ núp. Chúng tôi bắt đầu lạc quan nhưng niềm vui nhanh chóng vụt tắt khi một chiếc F-100 bị trúng đạn. Nó bay khỏi mục tiêu với khói từ sau đuôi, sau đó 1 cái dù bung ra. Chiếc thứ 2 bỏ đi và chúng tôi lại tự lo lấy mình.

Khi có máy bay thì chúng tôi đã di chuyển rất nhanh lên đồi. Nhưng khi máy bay đi xa, chúng tôi ko thể di chuyển vì sợ địch phát hiện. Tôi và copilot cố gắng giúp cơ khí phi hành im lặng, dù y đang bị đau nhiều. Chúng tôi nằm ngửa trên cỏ với súng lục cầm tay, mắt hướng về chung quanh.

Hai chiếc Phantom F-4 xuất hiện. Vì Phantom phát tiếng động rất lớn và đang tấn công, nên địch tìm chỗ núp. Chúng tôi lợi dụng điều đó, và bắt đầu bò lên núi và được 1 khoảng xa.

Chẳng bao lâu chúng tôi đã tới hàng rào ngoài cùng của chi khu. Chúng tôi nằm xuống nghỉ ngơi và nghĩ rằng đã thoát nạn. Nhưng giờ đây bị chi khu bắn.

Khi cố vấn của chi khu thấy máy bay chúng tôi biến mất trên đồi, cắm đầu xuống đất, họ nghĩ rằng chúng tôi đã chết (goner). Và điều ấy đã xảy ra trước đó khoảng 2 giờ.

Do vậy khi chúng tôi tới hàng rào, họ tưởng là Bắc quân và bắn chúng tôi. Chúng tôi la lớn bằng tiếng Anh và họ nhận ra. Một trung úy và 1 trung sĩ ra đón chúng tôi và dẫn qua bãi mìn.

Khi đã vào bên trong chi khu, tôi để cơ khí phi hành sau 1 bức tường cao ba bộ hay 0.91 mét. Copilot biết sơ cứu vì từng làm việc với LLĐB, nên giúp đỡ cơ khí phi hành, còn tôi vì quá mệt nên ngả vật (plop down) xuống tường. 

Tôi thấy 1 thiếu tá mặc đồ lót bằng vãi olive (olive drab hay OD), đội nón sắt hướng về chúng tôi. Ông ta là chỉ huy toán cố vấn. Chúng tôi nói chuyện rất nhanh. Tôi nói một phi hành đoàn bị thương còn ông nói về tình hình. 

Ông cho biết rất nhiều súng AK-47, M-16, và cạc-bin nằm rải rác khắp nơi. Cũng có 1 M-60 nhưng ko còn đạn. Tôi nói còn rất nhiều đạn 7.62, cũng là đạn của M-60, nằm cạnh khẩu min-gun trên trực thăng của chúng tôi. Ông yêu cầu tôi xuống đó, mang đạn về cho ông. Một trung sĩ của ông đi theo chúng tôi.   

Tôi có súng lục nhưng viên trung sĩ thì tay không. Chúng tôi băng qua bãi mìn và chạy nhanh xuống nơi trực thăng rơi. Chỉ tốn chưa tới 10 phút, ít hơn rất nhiều khi chúng tôi trèo từ đó lên đây. Máy bay đầy đạn, vì chúng đã bắn min-gun ko nhiều. Tôi lập tức kéo băng đạn 7.62 ra khỏi khẩu minigun.

Tôi quấn dây đạn quanh ngực và cổ, trung sĩ kia cũng làm như vậy.

Vì mang đạn lên núi nên đi chậm, nhưng ko gặp gì hết. Sau khi chúng tới chi khu, một trực thăng Dustoff hay tải thương đáp xuống giữa chi khu. Lính VN chạy nhanh tới và lấp đầy trực thăng, dù nhiều người ko bị thương. Họ tỏ ra hoảng loạn.

Tôi và copilot Fred rất khó khăn lắm mới tìm chỗ cho xạ thủ và cơ khí phi hành vì máy bay đầy người. Tôi đứng trên càng trực thăng và nghiêng người vào phòng lái nói với phi công Iley, "máy bay quá tải, và tôi và Fred đi chuyến sau." Y nhìn tôi và nói qua cửa sổ, "Bỏ cái tật khùng của ông đi, vì tôi sẽ ko trở lại".

Ko có thì giờ để cãi cọ, tôi cố gắng thu người, ngồi giữa 2 phi công, và Fred ngồi chen chút phía sau. Tôi đang nhìn đồng hồ phi cụ trong khi đại úy Iley kéo cần lái để cất cánh. Khi đồng hồ N1 vượt quá 100/100, tôi ko dám nhìn nữa. Tôi sợ rằng rất nguy hiểm khi đồng hồ N1 quá 100. Nhưng chiếc UH-1 H của y mạnh hơn chiếc gunship của tôi nên mọi việc ổn thỏa.

Ko có bịnh viện ở Ban Mê Thuột mà chỉ là một lều bạt lớn. Họ để chúng tôi nằm trên ghế bố xếp. Chẳng bao lâu người bị thương đưa về rất nhiều. Cả 2 chúng tôi rất đau lưng, hậu quả của vác đạn lên núi. Chúng tôi phải đi khom lưng (stoop over), và chúng tôi không thể xoay cổ hay lưng. Vì vậy, chúng tôi lăn mình ra khỏi ghế bố, quỳ xuống và thận trọng đứng dậy cho đến khi hết đau lưng. 

Khi chúng tôi định ra cửa, ai đó hỏi chúng tôi định đi đâu, chúng tôi nói rằng đến lều của mình. Sau đó trong ngày, chúng tôi gặp bác sĩ phi hành. Chúng tôi rất cần chiếu X-quang, để xem thương tổn mức độ nào, nhưng ko có máy này. Bác sĩ nói "ko sao, chỉ có các cơ bắp bị kéo căng." Nhưng ông ta ko cho chúng tôi bay. "Cho tới khi các cơ bắp tốt hơn," ông nói.

Chúng tôi trải qua vài ngày ko làm gì hết (goof off). Tôi còn uống rượu nữa. Tại sao ko? Vì chúng tôi ko được bay. Vào ngày thứ ba, copilot Fred ko còn kiên nhẫn nữa (chomp at the bit). Các anh em LLĐB của y đang chiến đấu, và y ko muốn ngồi chơi. Dù chúng tôi chưa khỏe 100/100 nhưng chúng tôi ko muốn ngồi chơi trong khi bạn bè đang bay bổng trong vòng lửa đạn. Chúng tôi gặp bác sĩ phi hành.

Lúc đầu ông nói,"Tôi ko cho phép ông bay vì ông ko thể đứng thẳng, và đi lại khó khăn."Tôi nài nỉ rằng các bạn trong phi đoàn rất mệt mỏi, có lẽ khắp kiệt sức, trong khi chúng tôi còn rất khỏe. Cuối cùng ông đồng ý và chỉ vào tôi với yêu cầu, "Anh phải là copilot." Ông chỉ vào Fred nói, "Anh ko thể bay cùng với Gilbert (tác giả bài viết)." Chúng tôi vội vả ra đi vì sợ ông đổi ý.

Chúng tôi đến phòng HQ của phi đoàn và nói cho họ biết được phép bay. Ngày kế, Fred Pratt là copilot với đại úy David Rutledge, trưởng hợp đoàn của chúng tôi và là một phi công xuất sắc (a heck of pilot). Tôi là copilot với Brad Jones trong chiếc cuối của hợp đoàn.

Chúng tôi đã đánh vài pass, và khi sắp hết đạn, chúng tôi nghe trên máy, "Pratt bị trúng đạn," Đ.u. Rutledge nói với chúng tôi rằng Pratt bị miểng của cửa kiếng plexiglass văng vào mắt, ko thấy rõ, và sắp đáp xuống BCH CK.

Tôi quay lại nhìn cơ khí phi hành và xạ thủ -- chúng tôi phải cứu Fred Pratt. Chúng tôi quăng các thùng đạn rỗng của M-60, lương khô ra ngoài để máy bay nhẹ và có chỗ trống. Chúng tôi vừa hết đạn và sắp hết xăng.

Tôi và đ.u. Brad Jones đáp xuống kế máy bay của đ.u. Rutledge. Xạ thủ của chiếc này đang đứng bên ngoài để bắn M-60, trong khi cơ khí phi hành kéo Fred qua máy bay tôi. Ngay khi Fred vừa vào, Brad kéo cần lái để cất cánh. 

Chúng tôi bay xuống sườn đồi, bay qua nơi mà máy bay chúng tôi đã rơi.

Ngay khi chúng tôi rời vùng, một hợp đoàn võ trang khác vào vùng để bảo vệ chúng tôi bay ra. Danh hiệu của hợp đoàn là Buccaner, và của chỉ huy là Buc 8.

Nhưng khi chúng tôi cách mặt đất khoảng 15 tới 20 bộ, chúng ta bay ngang 1 tên VC đang nả 1 băng AK vào cạnh phải máy bay. Tôi ko sao vì ngồi ghế trái, nhưng đạn đã xuyên qua bàn đạp trái, xuyên qua giày, trúng ngón chân, và trúng miếng giáp bảo vệ ngực của Brad.

Tôi đỡ y khỏi ghế và cho y quay ra sau, hướng về cơ khí phi hành. Khi đạn trúng áo giáp của y, những mảnh gốm bị bể nát và bắn vào cổ và mặt y. Máu văng đầy buồng lái, giống như ai đó quăng hộp sơn đỏ vào tôi. Brad nghĩ rằng y trúng ở cổ họng nên nói, 'bây giờ anh điều khiển máy bay'.

Tôi cố gắng đưa máy bay lên cao. Anh cơ khí kéo cần màu đỏ ở ghế phi công và kéo Brad về phía sau. Tôi nói với cơ khí Wusso, 'lại đây'. (Nói thêm: khi bay gunship để test hệ thống hỏa lực, lúc về tôi để  cơ khí phi hành lái. Họ rất thích điều đó. Tôi dạy họ cách đáp xuống và đậu hàng dọc trên phi đạo. Tôi ko dạy họ cách hover hay bay đứng 1 chỗ vì ko có thì giờ).

Khi y cố gắng để trèo lên ghế của phi công, chúng tôi bay lên cao. Trong khi cơ khí phi hành buộc dây an toàn, tôi nói, "Nếu điều gì xảy ra với tôi, hãy nắm chặt các cần điều khiển. Ko nên kéo cần mạnh quá vì vòng quay trên phút hay RPM sẽ tụt giảm. Tôi chuyển tần số qua số 3 và nói với y, nếu điều gì xảy ra với tôi, kẻ mà anh cần nói chuyện là Buc 8, y sẽ chỉ đường cho anh về và đáp xuống phi đạo. Ko nên quẹo trái hay phải, ko nên bay đứng một chỗ, chỉ cần đáp xuống phi đạo. Y ko nói một lời. Tôi rất bận, nhưng nhìn y và mắt y mở to. Có lẽ y đang nghĩ, "Ú-ồ, tôi có thể phải làm điều này." Nhưng y đã ko làm vì ko điều gì xảy ra với tôi.

Chúng tôi bay về Ban Mê Thuột càng nhanh càng tốt, tới thẳng bãi đáp của Hồng Thập Tự. Fred vẫn còn sống khi chúng tôi khiêng y ra khỏi máy bay. Chúng tôi bay về chỗ đậu của trực thăng (revetment) và tắt máy. Và lúc đó mới biết trực thăng đã trúng nhiều đạn. Hai trong số những ống điều khiển tới cánh quạt đuôi của máy bay bị cắt gần như làm hai khúc. Chúng ta đã may mắn trở về mà ko gặp tai nạn. 

Và một lát sau, chúng tôi được biết Fred đã được chở tới Pleiku, nhưng chết trên đường đi. Dù về căn cứ an toàn, nhưng chúng tôi đã mất một người tốt. Một ngày rất buồn.

NÓI THÊM:

Không thể tin được khi phi công máy bay F-100, bị bắn rơi vào ngày hôm đó đã được cứu thoát. Bốn người lính LLĐB Mỹ, trong khi chiến đấu cho sự sống còn của họ, để bảo vệ doanh trại chống lại địch quân áp đảo (overwhelming odds), đã thấy dù đã bung ra từ máy bay. Họ đã chạy nhanh khỏi doanh trại trên hai chiếc jeep, đánh nhau với 1 đại đội CSBV đang chiếm giữ 2 bên đường, cứu sống phi công và đánh nhau lần nữa với kẻ thù trên đường về trại. 

Vài tuần sau trận đánh, vị tuyên úy TĐ gửi cho tôi bản đồ trận đánh. Nhiều chỗ trên bản đồ được đánh số. Chú thích của bản đồ cho thấy số 15 là địa điểm máy bay của chúng tôi rơi, và số 15 là hầm của BCH của CSBV chỉ huy trận đánh -- hai nơi rất gần nhau. Chúng tôi đã rơi xuống 1 nơi rất xấu và đã sống để kể lại điều ấy.

Trở lại phi đoàn ở Trại Coryell ở BMT, sau khi Bắc quân rút sang Cam-bốt và tình hình lắng dịu, tôi nộp đơn xin đi phép (put in for R&R). Tôi lấy thư mỗi ngày để biết đơn xin được chấp thuận hay ko. Sau khi ba lần được biết đơn xin đi phép có thể thất lạc, tôi gặp chỉ huy phi đoàn. Ông nói tôi chưa thể đi phép.

Tôi không định nói điều này với ông, nhưng tướng Abrams sẽ đến đây để gắn huy chương cho ông. Tôi nhớ rất rõ suy nghĩ đầu tiên của mình khi nghe tin rất bất ngờ đó: "Họ không thể gửi nó qua đường bưu điện sao?"

Tôi không cần huy chương hay thăng thưởng, nhưng chỉ muốn được đi phép. Trên thực tế, tôi thậm chí còn không biết mình đã được cấp huy chương. 

Khi nói như vậy, tôi thực sự ko tự xem mình là anh hùng. Tôi chỉ làm những gì phải làm. Chúng tôi có rất nhiều người tuyệt vời trong Đại đội 155 trực thăng tấn công. Bất kỳ ai trong số những người khác cũng sẽ làm những điều tương tự như tôi đã làm. Chỉ tình cờ là tôi là người gặp nhiều điều xấu ngày hôm đó. 


Lời của ban biên tập: Gilbert Tery đã nhận một Anh dũng Bội tinh (Distinguished Service Cross) và Chiến  thương Bội tinh (Purple Heart) cho các chiến công ngày 23.8.1969 và một Phi dũng Bội tinh (Distinguished Flying Cross) cho hành động trong ngày 26.8.1969. 




Chuyển ngữ từ bài Shot down at Duc Lap của Gilbert Terry, cựu phi công trực thăng võ trang của đại đội 155 trực thăng tấn công, đồn trú ở ban mê thuột.