Monday, January 30, 2023

 Chiến Trận Bình Sơn

                                                                                                                          Trần Hữu Giáo

                                                                          Thân tặng Trần Long Yên Và Phạm Hoàng Bách

Ngày 29-7-72 mãn khóa. Tôi ngẩn ngơ đứng dưới hàng cây Dương Liễu Vũ Đình Trường, tạm biệt bạn bè. Nhìn những đoàn xe các binh chủng đến đón các Tân Sĩ Quan về đơn vị hai chữ, bốn chữ mà tiếc xót cho quyết  định nộp đơn gia cảnh để được về Tiểu Khu Biên Hòa của mình. Tôn Thất Thành và Nguyễn Đức Tiêu trao cho tôi cái nón bê rê đen, dặn dò nhớ về Hoàng Hoa Thám thăm tụi tao. Tụi tao học dù ở đó, nào ngờ cả hai nằm xuống khi tôi may mắn có được mười ngày phép sau  trình diện Tiểu Khu với lý do tìm gia đình và cũng kịp đưa tiễn tụi nó ra nghĩa trang. Chiến trường khắc nghiệt đón chờ khóa An Lộc.

Trở lại Biên Hòa trả phép, tôi  được phòng một Tiểu Khu giữ lại chờ phân phối. Những ngày tháng lang thang nơi thành phố xa lạ khiến tôi ngột ngạt. Tôi đánh liều trình diện Trung Tá Tâm Tiểu Khu Phó xin về Tiểu Đoàn 309 ĐPQ vì Tiểu Đoàn này có thêm lương tác chiến như các đơn vị chủ lực. Cầm sự vụ lệnh trên tay, tôi về thẳng hậu cứ Tiểu Đoàn ở Tân Mai, gặp chuyến xe tiếp tế nên trong ngày  tôi được đưa về  Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đang đóng  ở Phước Hòa, Long Thành. Sau màn trình diện đúng bài bản, tôi được đưa về Đại Đội 2 đóng tại cầu Quán Chim. Đơn vị trưởng của tôi   đại úy Huỳnh Khắc Y giữ tôi lại Bộ Chỉ Huy Đại Đội để làm quen. Nào ngờ sáng hôm sau đang ngồi uống cà phê thì có lệnh vào gặp đại đội trưởng, ông vội vàng thông báo đơn vị có lệnh tiếp viện giải tỏa đồn Bình Sơn. Tôi nhận lệnh chỉ huy Trung Đội 3, chân ướt chân ráo về đơn vị với thủ tục bàn giao đơn giản, tôi nhận tấm bản đồ và địa bàn từ tay Trung Sĩ Tân Trung Đội Phó rồi lên xe di chuyển đến nơi đổ quân của Tiểu Đoàn. Tại đây, tôi được biết hai Chuẩn Uý Cẩm 31 và Danh 32 cùng khóa đang ở Đại Đội 1 và Đại Đội 3.

Trong thời gian chờ đợi Tiểu Đoàn tập trung, tôi gặp Trung Sĩ Tân hỏi thăm tình hình, Là người địa phương nên ông rất rành địa bàn hoat động. Được biết đồn Bình Sơn nằm ngay yết hầu Chi Khu Long Thành. Đồn này luôn bị uy hiếp vì là chốt chặn tiền tiêu của Chi Khu, và Trung Đoàn 33 Đồng Nai của đối phương đóng tại mật khu Hắc Dịch, sông Buông. Trước đó không lâu, trong tình huống tương tự, Liên Đội 376  trong khi tiếp viện giải vây đã bị phục kích tan nát, đang nằm chờ bổ xung quân số ở làng cô nhi Long Thành (đơn vị HT BÁCH), đồn do Đại Đội Biệt Lập 452 ĐPQ trấn giữ (đơn vị  HT Trần Long Yên). Đang  chuyện trò thì truyền tin báo về BCH Đại Đội họp. Trong phần thuyết trình tình hình Địch và Bạn, tôi được biết một phần của Trung Đoàn 33 Đồng Nai đang vây hãm đồn Bình Sơn. Chi Khu Long Thành  điều động Tiểu Đoàn 35 (HT Ngô Bá Thành) bị cầm chân  tại ấp Xóm Vườn, mặc dù được tăng cường một  chi đoàn chiến xa, nhưng vẫn chưa  bắt tay  được với đồn Bình Sơn. Nhiệm vụ Tiểu Đoàn 309 chúng tôi là đánh chiếm  ấp Bình Sơn, nơi một phần của Trung Đoàn 33 Đồng Nai  không rõ quân số chiếm giữ để giải tỏa  áp lực  cho đơn vị bạn. Là đại đội trực, nên tôi được lệnh dẫn đầu trong cuộc hành quân. Trở về vị trí, tôi hết sức bối rối trước nhiệm vụ nặng nề, vả lại lần đầu tiên ra mặt trận, tôi  hoang mang liệu những kiến thức  học tại Trường Bộ Binh Thủ Đức có giúp mình được gì không??? Trải tấm bản đồ trên mặt đường nhựa, loay hoay định hướng rồi đo phương giác. Tôi  giao địa bàn cho Trung Sĩ Tấn sau khi nói rõ phương giác, Ts Tấn mỉm cười nhìn tôi  ông ta nói: "Tôi đẻ  ra và  lớn lên ở đây, ông cất bản đồ đi, tôi dẫn ông tới ấp Bình Sơn không tốn một giọt mồ hôi". Trước sự cả quyết của  người thuộc cấp già dặn, lúc đó tôi  mới báo về đại đội chuẩn bị  zoulou. Qủa thật trước kinh nghiệm  của người  thuộc cấp già dặn, chúng tôi ép sát bìa ấp  để tránh mìn bẫy, trận địa pháo và những rừng chồi trống trải dễ bị phục  kích. Sau 3 giờ hành quân chúng tôi đến bìa ấp mà không gặp trở ngại nào cả. Sau khi báo lên cấp trên tôi cho binh sĩ tản ra bố trí  đợi Tiểu Đoàn lên phối hợp tác chiến. Ba giờ chiều hôm đó, Trung Tá Châu Chi Khu Trưởng vào tần số Tiểu Đoàn trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công. Cầm chiếc combine trên tay, tôi nghe Phượng Hoàng (Danh Hiệu CKT) hỏi Đại Uý Lê Anh Võ: Thằng con ba chấm nào gần mục tiêu nhất?", Ông Võ trả lời: "Thằng 3/2 trình thẩm quyền."  Phượng Hoàng hỏi tiếp: "Thằng nào nắm?"  Đ/Uý Võ: "Thằng Alpha Gay Go mới ra trường". Có tiếng chặc lưỡi của Phượng Hoàng: "Mới ra trường chắc còn yếu lắm, anh cho  nó thêm  một thằng con ba chấm nữa, lệnh cho nó tiến vào ấp thử xem." Sau khi nhận lệnh trực tiếp của Đ/Uý Võ, tôi nhận thêm Trung Đội 1 của Trung Sĩ Thọ rồi điều động binh sĩ chuẩn bị tấn công. Đúng là dê non không sợ cọp dữ. Sau khi điều động Trung Đội tăng phái chiếm mấy gò mối bên cánh phải, tôi  lệnh cho binh sĩ dàn hàng ngang xung phong. Chưa kịp tới bìa rừng, từng tràng RBD, xen lẫn B40 của đối phương đã quật ngã mấy thằng em đi đầu của tôi. Hỏa  lực  đối phương gây cho chúng tôi không ít khó khăn khi mang hai thằng em bị thương lui về tuyến sau. Khi biết chắc lực lượng đối phương có khả năng cấp tiểu đoàn, lệnh Phượng Hoàng cho chúng tôi de ra xa chờ phi pháo oanh kích. Sau khi báo cho tiền sát viên trên chiếc L19 đang bao vùng điểm đứng của mình. Chúng tôi nghe từng tràng đạn pháo TOT  từ các Trung Đội Pháo Binh diện địa cộng với sự yểm trợ của trại Bearcat Thái  Lan. Sau đợt pháo, và để chắc ăn hai phi tuần cất cánh  từ phi trường Biên Hòa lên oanh kích hỗ trợ. Đến lúc này, bất chợt xẩy ra khi hai chiếc A37 đầu tiên chúi mũi xuống thả bom, bỗng chúng tôi  nghe tiếng nổ  lụp bụp trên cao và những cụm khói, rõ ràng lực lượng đối phương có phòng không 37 ly. Sau khi lượng giá tình hình đối phương qua hỏa lực là một Tiểu Đoàn cộng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn trừ. Chúng tôi  được lệnh rút lui ra xa hơn, phòng thủ chờ tiếp viện. Đêm đầu tiên  trên chiến địa tôi an nhàn nhìn hỏa châu, hút thuốc nghĩ tới chiến trận ngày mai. Chín giờ đêm hôm đó, chúng tôi giật mình bởi những tiếng rít và những tiếng nổ rền vang như tiếng sấm. Loáng thoáng, tôi nghe tiếng lao xao của thuộc cấp: "B52 thả bom...".

Trời mờ sáng hôm sau, tôi nghe tiếng binh nhất Hòa, Âm Thoại Viên Trung Đội gọi tôi  lại đầu máy gặp Thẩm Quyền. Lệnh ông Đại Đội Trưởng bảo tôi vì đại đội tôi nằm gần ấp nhất nên cho một Trung Đội vào lục soát. Vì không còn ai là Sĩ Quan  nên tôi phải vào, sau vài lời an ủi trấn an. Tôi đành tuân lệnh, lại kéo thêm một Trung Đội tăng  phái, tôi tiến đến ấp Bình Sơn. Mùi bom đạn còn đậm đặc trong không gian, Trung Sĩ Tấn bàn với tôi: "Vào nhiều cũng chẳng nhằm nhò gì, nếu tụi nó còn trong đó, thôi  ông để tôi cái máy và 5 binh sĩ, tôi vào xem sao, có gì ông lấy máy thằng 1 mà xài". Nhìn những binh sĩ  thuộc cấp gan dạ hi sinh, tôi rơm rớm nước mắt. Gần 30 phút sau, có tiếng xè xè trong combine, tôi nghe tiếng Trung Sĩ Tân gọi báo đã vào trong ấp, tụi nó hình như đã rút lui trước khi B52 oanh tạc. Tôi ra lệnh binh sĩ theo  hướng toán Trung Sĩ Tân tiến vào, chúng tôi vui mừng bắt tay nhau, chiến trường dầy đặc hố bom và  đạn pháo binh. Thỉnh thoảng có một vài hố cá nhân loang lổ vết máu. Sau khi thả trái khói báo hiệu Quan Sát Viên cho chiếc L19, tôi nghe tiếng báo cáo xác nhận con cái tôi  đã hoàn tất nhiệm vụ. Chúng tôi được lệnh rút quân, Tiểu Đoàn hả hê vui mừng vì hoàn thành nhiệm vụ không có thương vong. Trước khi  lên xe trở về nơi đóng quân, tôi nghe tin Tiểu Đoàn 35 đã bắt tay với đồn Binh Sơn, chiến dịch chấm dứt. Trong 6 tháng lăn lộn tại chiến trường Long Thành, tôi được biết đồn Bình Sơn tuy nằm sâu trong lòng đối phương, nhưng chưa bao giờ bị đánh bứt, lý do là  mấy thằng Tây chủ  đồn điền cao su đóng  thuế hai mang, nếu  xẩy ra chiến  trận thì bọn Tây thiệt hại  kinh tế rất  lớn. Cậu Ấm Sài Gòn Trần Long Yên, sau thử thách đầu đời  binh nghiệp xin chuyển về Tiểu Khu Gia Định. Tôi, sau nhiều lần đổ máu, chịu đời không xiết, nên lại làm đơn gia cảnh về giữ Trung Tâm Cải Huấn Biên Hòa cho đến ngày đứt phim. Bài này tôi viết theo trí nhớ đã 40 năm qua nên không khỏi thiếu sót, momg  quí Huynh Trưởng thông cảm.

Trần Hữu Giáo

29-3-2013

Sunday, January 29, 2023

 Ảnh 1: Tại Ibusuki, một tp ven biển ở tây nam của nước Nhật, Nga Thị Nguyễn và Trần Thị Miến, đến từ Việt Nam, làm việc tại cty Mifuku Suisan, chuyên sản xuất vẩy cá ngừ xấy khô (dried bonito flake), một gia vị căn bản trong bữa ăn Nhật. CT của cty nói rằng các người học việc/thực tập sinh (trainee) như vầy, được phép ở Nhật 5 năm, rất cần thiết cho Nhật. 

Ảnh 2: Chikayoshi Gonda, 97 tuổi, nấu bánh bao (dumpling), có tên là oyaki, trong khi Harumi Okubo, 80 tuổi, đang nặn bánh. Nhà hàng này ở tp Ogawa nơi mà họ làm việc, đã bắt đầu thuê mướn người già vì dân số của ngôi làng miền núi này đã lão hóa (grayed). Tuổi trung bình của công nhân hiện nay là 70. 

           



                                 

Ảnh 3. Nhật đang thay đổi diện mạo khi dân số ngày càng già đi, bao gồm những nghi lễ như tắm nơi côn cộng (communal bathing). Jiro Tajima, 88 tuổi, được tắm rửa trước khi ngâm mình tại một nhà tắm ở Tokyo -- mở cửa mỗi đầu chiều cho người già đến tập thể dục, ăn trưa và ngâm mình trong nước. Bảo hiểm y tế dành cho người già tại Nhật chi trả phần lớn chi phí này.

Ảnh 4 a: Hiromu Inada, 89 tuổi, huấn luyện tại một phòng thể dục ở Chiba, năm trên Vịnh Tokyo. Ông đã dự tranh trong 66 cuộc thi triathlon (ba môn phối hợp) kể từ lúc 70 tuổi. Năm 2018, ông đã trở thành người lớn tuổi nhứt dự thi Giải Vô Địch Thế Giới về Ba Môn Phối Hợp. Ông tập luyện mỗi ngày, chuẩn bị cho cuộc thi năm nay. "Ngay cả nếu tôi nghĩ điều gì đó đã ko thể thực hiện được, tôi vẫn thử thách," ông nói.. "và rất ngạc nhiên, nó đã biến thành hiện thực." Ảnh 4b: Fumie Takino, là nhà sáng lập và, ở tuổi 90, thành viên lớn tuổi nhứt của Japan Pom Pom - một đội cổ vũ (cheer squad) gồm toàn cao niên ở Tokyo. Trong 26 năm qua, bà tập luyện mỗi tuần một lần. "Điều quan trọng là phải sống thật (to be yourself) và làm bất cứ gì mà mình thích", bà nói, "ko phân biệt tuổi tác". 

Ảnh 5a: Toyama, một tp trên đảo lớn nhứt của Nhật, đã phấn đấu để trở thành nơi đáng sống cho người già. Một sáng kiến quan trọng là Trung tâm Chăm sóc Phòng ngừa Kadokawa, với các hồ bơi có nước suối nóng (hot spring). Mỗi ngày, khoảng 250 người già đến tập thể dục ở đây. Ảnh 5b: Taira và Ichi Katsuta, 89 và 85 tuổi, là một cặp vợ chồng sống hạnh phúc, dù họ mất trí nhớ. Họ sống trong căn hộ của họ ở Tokyo, thường kể cho nhau những câu chuyện mà chỉ họ mới hiểu. Tại Nhật, cứ 5 người trên 65, thì có 1 người mất trí nhớ. 

                        

                                  

                    



                






Friday, January 27, 2023

 NGÔ = 537 = 15 = 6

KIM = 214 = 7

HẢI = 511 = 7

Cộng lại: 6 7 7 = 20

12/2/1948

 Hủ tục "con ông cháu cha*"-- Không có trong văn hóa Tây phương.

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt 1945-54, tướng Jean de Lattre de Tassigni là Cao Ủy, tổng tư lịnh tại Đông Dương và Các Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Viễn Đông. Con ông đã tử trận tại Ninh Bình, và bịnh tật đã khiến ông phải về Pháp và chết vì ung thư năm 1952. Ông được truy thăng Thống Chế.
"Con trai ông là Bernard de Lattre đã tử trận trong trận Nam Định vào cuối tháng 5/1951. Y đã tuân lịnh của cha phải giữ TP này chống lại 3 sđ quân Việt minh. Sau 3 tuần chiến đấu, chiến thắng của quân Pháp đã ngăn chặn cuộc tiến công của tướng Giáp tại Châu Thổ Sông Hồng. Ngày 20/9/1951, tướng de Lattre đã nói chuyện tại Ngũ Giác Đài để kêu gọi viện trợ Mỹ và cảnh báo về nguy cơ truyền bá của chủ nghĩa CS khắp Đông Nam Á nếu bắc VN hoàn toàn rơi vào tay Việt Minh. Tuy nhiên Mỹ đã bận rộn với Chiến tranh Cao Ly. Mỹ đã gửi một số máy bay vận tải và xe tải và trang bị khác: một "đóng góp ý nghĩa" nhưng "ko đủ để thay đổi cục diện tại VN".
. . .
"Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Minh, đã bắt đầu ngày 29/5/1951 hầu như hoàn toàn bất ngờ. Khi bình minh ló dạng, lực lượng chính (bulk) của sđ 308 bộ binh của VM đã tràn ngập các vị trí của Pháp ở trong và ngoài Ninh Bình, xem hình, khi họ tràn vào tp này và kềm chân tàn quân Pháp trong nhà thờ. Trong đêm hỗn loạn đầu tiên của trận đánh, một tiểu đoàn gồm các viện quân người VN được chắp nối vội vã từ TP Nam Định gần đó đã được tung vào trận đánh. Một trong các đại đội của TĐ này, chỉ huy bởi trung úy (lieutenant) Bernard de Lattre, đã được lịnh bảo vệ bằng mọi giá một đồn Pháp nằm trên một mỏm đá (crag) nhìn xuống Ninh Bình. Dù bị pháo kích nặng nề, đại đội của de Lattre đã cố thủ, nhưng khi hừng đông, trung úy Bernard và hai hạ sĩ quan đã chết trên mỏm đá này. (Trước khi cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhứt chấm dứt năm 1954, có thêm hơn HAI MƯƠI sĩ quan Pháp có cha là thống tướng hay tướng đã chết trong cuộc chiến; 22 người khác, đã chết trong chiến tranh ở Algérie sau đó.)
— Dịch từ Street Without Joy của Bernard Fall, trang 45.[10]
* Vấn nạn tham nhũng tại VN, phần nào liên quan đến hủ tục này.










Ảnh: tướng de Lattre gắn huy chương cho con trai duy nhứt là trung úy Bernard de Lattre.

Wednesday, January 25, 2023

Thông tin MỚI (vì nhiều người chưa biết) về giải pháp cắt đất của tướng Serong hay sức cùng lực kiệt của TT Thiệu. Đọc để biết vì sao chúng ta đã có mặt ở Mỹ.

- Tính già hóa non hay người tính ko bằng Trời tính. 

- Dù đang ở sức cùng lực kiệt (clutching at straws), ông Thiệu vẫn trì hoãn việc đi trước một bước, vì ông biết trước (well aware) những hậu quả chính trị gây chấn thương (traumatic political consequences) khi bỏ nhiều dân và lãnh thổ như vậy đối với phần còn lại của VN.

. . .

"Một số người ngày càng gia tăng, bao gồm thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đã sẵn sàng một điều gì giống như giải pháp Lào (nghĩa là trung lập hóa -- Tài), hay giải pháp tương tự cho Việt Nam.

Bên trong một biệt thự sơn trắng ko xa phủ tổng thống VNCH với hồ tắm trong vắt như thủy tinh, giải pháp dự phòng (contingency solution) này đã được nghiên cứu trước đó vài tháng. Tác giả của nó là một trong những người đáng chú ý (remarkable) đã từng sống trong bóng của chiến tranh Việt Nam - đó là Ted Serong, một chuẩn tướng (brigadier) hồi hưu, một thời từng là chỉ huy Toán Huấn Luyện Lục Quân Úc tại VN, sau đó được Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA) thuê để thành lập lực lượng cảnh sát dã chiến (police field force) VNCH, sau đó là tư vấn cho RAND (một định chế phi lợi nhuận của Mỹ nhằm giúp các lãnh đạo trên thế giới quyết định chánh sách bằng cách thông qua khảo sát và phân tích với 1950 nhân viên mà 54/100 có học vị tiến sĩ (doctorate), hoạt động tại 50 quốc gia, nói được 75 ngôn ngữ -- người dịch), và bây giờ là một cố vấn độc lập cho chính phủ VN. Ông đã họp với một nhóm nhỏ các viên chức cao cấp của VN để nghĩ điều ko ai nghĩ tới (unthinkable). Điều mà họ đã nghĩ là Nam VN nên bỏ (abandon) vùng Cao Nguyên (Highlands) và miền Trung (Central Vietnam) trong một cố gắng, tốt nhứt (preferably) bằng thương thuyết, nhưng, nếu ko được, sẽ bằng lực lượng quân sự (force of arms), để bảo vệ phần còn lại. Serong là một người can đảm, sáng chói, tự cao tự đại (patronizing) và được thông tin đầy đủ (well informed), với một cái tôi/bản ngã phù hợp (matching ego). Tường trình mới nhứt của ông đã gửi đến chính phủ. "Tôi đã đề nghị", ông viết, "rằng VN nên tự lập một hạn chót (deadline) để dựa vào ngày đó ra một quyết đinh chiến lược quan trọng - 14 tháng Hai 1975, hai tuần lễ kể từ hôm nay. Nếu vào ngày đó 300 triệu đô * ko được giải ngân (granted) (số tiền này đã được Quốc hội Mỹ đồng ý nhưng chưa chuyển giao cho VN), hay nếu chỉ giải ngân một phần, hay nếu bị trói buộc bởi những điều kiện ko khả thi (tied to unworkable strings), chúng ta sẽ triển khai quyết định cắt bỏ (ampute) Quân khu 1".

Ông Serong đã khuyến cáo rằng nên bỏ Huế và Đà Nẳng và những vùng khác, bao gồm phần lớn Cao Nguyên Trung Phần (Central Highlands). Ông đã dự kiến rằng quyết định này vừa là một chiến dịch quân sự để thu hẹp tuyến phòng thủ (shorten lines) và cũng là cơ sở để cho các thương thuyết mới. Bảy của 13 sư đoàn chánh qui của chánh phủ VNCH chỉ bảo vệ 1/6 dân số, và kinh tế vùng này chỉ bằng 1/6 của cả nước. Sức mạnh của quân CSBV, tại hai quân khu này, hay tại Lào, hay tại Bắc VN, khiến chúng ta khó bảo vệ các quân khu này trừ phi việc tiếp liệu đạn dược đầy đủ được bảo đảm nhưng chúng ta đã ko bảo đảm (được điều đó).

Những thương thuyết cho biên giới mới này, ông đã tin rằng, nên dựa vào đề nghị đầu tiên của chánh phủ VN là chọn vĩ tuyến thứ 15, ngay phía nam thành phố Quảng Ngải. Nếu điều này ko được đối phương chấp nhận, và dễ thấy điều này sẽ xảy ra, chính phủ nên chuẩn bị thương thuyết lại và chọn vĩ tuyến 13, ngay phía bắc Ban Mê Thuột, một đường sẽ cắt Nam VN làm hai phần gần bằng nhau, xem bản đồ 1. Hấp dẫn, và cực kỳ quan trọng, phần của kế hoạch của ông là cuộc thương thuyết để cắt đất nên thực hiện với Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam VN (CPCMLT, gọi tắt theo tiếng Anh là PRG), chứ ko phải với Hà Nội, một quan điểm sẽ chấm dứt một cách trớ triu (ironically) mọi cơ may mà Nam VN có thể có trong giai đoạn hoàng hôn (twilight) của sự hiện hữu của họ trước khi bị Bắc VN xóa bỏ. Một trong những lý do khiến Hà Nội đẩy mạnh (accelerated) cuộc tấn công sau khi vùng Cao Nguyên bị sụp đổ là để tránh dính dáng với các thương thuyết có thể dẫn đến một vai trò nào đó cho CPCMLT.

TRƯỚC ngày 5/2/1975 khá lâu , CP Sài Gòn đã nghiên cứu NHIỀU kế hoạch dự phòng để bỏ Quân khu 1 và 2, bao gồm miền Trung và Cao Nguyên, nhưng thời điểm và phương pháp chưa được giải quyết. Ông Thiệu thì giữ chặt mọi điều động quân sự, và bộ TTM đã thấy rõ (emasculate) rằng họ thiếu khả năng hay phương tiện (machinery) để đảm nhận một loại kế hoạch như thế và cũng ko nhận một chỉ thị nào từ ông Thiệu để thực hiện điều này. Cũng có một miễn cưỡng (reluctance) tự nhiên từ ông Thiệu khi để cho CPCMLT, ko tính tới Bắc VN, một cái gì mà ko được cái gì đó từ đối phương. Dù đang ở sức cùng lực kiệt (clutching at straws), ông Thiệu vẫn trì hoãn việc đi trước một bước, vì ông biết trước (well aware) những hậu quả chính trị gây chấn thương (traumatic political consequences) khi bỏ nhiều dân và lãnh thổ như vậy đối với phần còn lại của VN.

. . .

Sài Gòn hiện nay đã nhận dạng BỐN sư đoàn CSBV tại Cao Nguyên. Họ được bảo vệ mạnh mẽ bởi súng phòng không, nhưng trong sự vội vã để khai thác chiến thắng ban đầu tại BMT họ ko cần ngụy trang (concealment) nữa. Hàng đoàn xe tăng và xe tải trên các con đường mới, họ là mục tiêu lý tưởng cho B-52. Nhiều kẻ trong bọn họ từng nghĩ rằng B-52 sẽ đến.

Tuy nhiên, vào ngày 13/3, Sài Gòn thấy rõ rằng mọi mưu toan tái chiếm BMT đã thất bại (failed). "Thông tin này đã gây sốc tức thời cho Sài Gòn", theo chuẩn tướng Serong. "Một nhóm các tướng đã ĐE DỌA (threatened) Thiệu rằng nếu ông ấy KHÔNG nhanh chóng ra lịnh việc thực hiện kế hoạch BỎ QK 1 và QK 2 (miền Trung và Cao Nguyên) họ sẽ LẬT ĐỔ (remove) ông*. Ông ta đã tuân thủ, với một nhanh chóng đầy tai họa (disastrous alacrity)".

Vào ngày 13/3 ông Thiệu đã gặp bốn tư lịnh QK tại Sài Gòn. Họ đều ngạc nhiên với tính cơ động (mobility) của bắc VN, nó lớn hơn nhiều so với mong đợi. Trong cuộc họp ông Thiệu ko đưa ra cảnh báo trực tiếp rằng ông đã có ý bỏ Cao Nguyên, nhưng ông nói với tướng Trưởng, tư lịnh QK 1, rằng ông muốn rút sư đoàn Dù (đang ở bên ngoài Đà Nẳng), để sư đoàn TQLC từ Quảng Trị vào đó trám chỗ. Trước ý kiến này, Trưởng cũng như các tư lịnh khác, rất bi quan về tình hình của QK mình.

. . .

* Kế hoạch của Serong đã gây ngạc nhiên cho một cựu thành viên của bộ TTM khi ông này đọc nó. Y chẳng những ko biết gì về một đe dọa đảo chánh nhưng, tính tới 12/3, đã làm việc theo lịnh của ông Thiệu để mở cuộc phản công."

(còn tiếp)

Dịch từ trang 13 , 14 , và 18 của quyển CERTAIN VICTORY : How Hanoi Won The War của Dennis Warner .

Các bản đồ sau đây lấy từ quyển Decent Interval của Frank Snepp , trưởng nhóm phân tích chiến lược của CIA tại VN .

    


         


Monday, January 23, 2023

 Số 7 và tôi

Tôi ra đời năm 1947* (Đinh Hợi) tại làng Quản Lợi tỉnh Thủ Dầu Một. Năm 14 tuổi, 2 lần của số 7, tôi bị bịnh nặng. Năm 16 tuổi (1 + 6 = 7), tôi bắt đầu ăn cắp tiền để mua sách. Năm 21 tuổi, 3 lần của số 7, vào quân đội. Tốt nghiệp sq vào năm 1969, tôi về TĐ 53 ĐPQ, bảo vệ sân bay TSN, nhưng vào lúc đó ai hỏi, tôi đều nói về sư đoàn 7 bộ binh, và 4 năm sau đó (1973) tôi về sđ này. Năm 28 tuổi (1975), 4 lần của số 7, tôi đi tù 6 năm. Trước khi ra tù ở đội 7 của phân trại B trại Nam Hà.

Qua Mỹ năm 1994, ở tại SJ, một tp thành lập năm 1777. Từng ở một chúng cư ở góc đường số 7 và Julian.