https://911gfx.nexus.net/vietnam/maps/nc49-01/nc49_01d.html
https://911gfx.nexus.net/vietnam/maps/nc49-01/nc49_01c.html
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Đoàn Nguyên Đức hay Bầu Đức (sinh ngày 6 tháng 12 năm 1962) là doanh nhân, chủ tịch Hoàng Anh - Gia Lai. Năm 2011, ông được Wall Street Journal đánh giá là một trong 30 doanh nhân quyền lực nhất Đông Nam Á.[2]
ĐOÀN = 4715 = 17 = 8
NGUYÊN = 536155 = 25 = 7
ĐỨC = 463 = 13 = 4
Cộng lại: 8 7 4 = 19 = cực kỳ may mắn.
CHUYẾN CÔNG TÁC CUỐI CÙNG.
25 tháng 3 ,1975
Chỉ trong vòng mấy ngày mà Đà Nẵng gần như tràn ngập dân di tản từ Huế, Quảng Trị cùng với các Binh Chủng TQLC, Bộ-Binh thuộc các Sư Đoàn 1,2,3 và các đơn vị Địa Phương Quân của các Tỉnh vừa mới mất làm cho Thành Phố gần như hỗn loạn, tin tức chiến sự càng lúc càng thêm bất lợi cho phe ta.
Lệnh cấm quân đã được ban hành sau khi Ban Mê Thuột và Phước Long thất thủ, tôi cảm thấy lo lắng không biết gia đình có còn ở Di Linh hay không vì nghe nói Cộng quân đang đánh ở nơi đó, tôi mò về Đà Nẵng để hỏi thăm tin tức từ người chị dâu. Khi qua bến phà thì bị mấy chàng Quân Cảnh chận lại, tôi đã xuống nước năn nỉ mà vẫn bị khước từ cho nên đành phải tự động xé rào đi qua, mặc cho mấy QC kêu trời và bây giờ đến lượt mấy ổng năn nỉ xin đừng để mấy "Ổng" thấy là chết tụi tôi, tới nước này thì ai thấy cũng chả là vấn đề gì quan trọng vì tin tức của gia đình quan trọng hơn, sorry nghe mấy chú.Sau khi biết gia đình đang trên đường di tản về Sài Gòn tôi cảm thấy an tâm hơn, tiện thể ghé quán Thiên Nga làm một ly Cà Phê với mấy đứa bạn đang chờ ở đó.
Vừa về tới đơn vị cũng là lúc có lệnh qua Bộ Chỉ Huy Sở Công Tác họp và nhận kế hoạch của Bộ Tổng Tham Mưu-Nha Kỹ Thuật về việc tái chiếm Huế. Hôm đó tất cả Sĩ Quan của các Đoàn 11,71,72 đều có mặt. Kế hoạch là các Toán của SCT sẽ có nhiệm vụ nhảy xuống những nơi còn phe ta cầm cự giúp họ đánh trở lại, gom những Quân Nhân của các đơn vị còn kẹt lại, tái trang bị và giúp họ có tinh thần để chiếm lại Cố Đô Huế.
Buổi họp được đặt dưới sự chủ tọa của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng SCT,Đ/Tá Ngô Xuân Nghị cho biết Bộ TTM sẽ yểm trợ, tiếp tế lương thực, vũ khí, đạn dược, phương tiện di chuyển đầy đủ vì trong cuộc họp có nhiều câu hỏi được đưa ra về những vấn đề đó. Sau lời kêu gọi của Đ/Tá CHT /SCT mọi người đều đồng lòng chấp nhận hy sinh để thi hành công tác, không một người từ chối, thật không hổ danh Lôi Hổ.
26/3
Đoàn Công Tác 72 đang có 3 Toán hoạt động tại khu vực Đồng Đen nơi có Liên Tỉnh Lộ 544 và 545 chạy từ dãy Trường Sơn về đến khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng. Đoạn cuối của 2 Liên Tỉnh Lộ này đều nối với Xã Hòa Thanh - Quận Hòa Vang, cuối hai con lộ này có một Đại Đội Địa Phương Quân trấn giữ, 3 Toán của Đoàn 72 đang Công Tác Thám Sát con lộ 545 gần đèo Mũi Trâu.
Bộ Chỉ Huy Sở Công Tác cho biết tin tình báo từ Quân Đoàn 1 nhận được là Cộng Sản Bắc Việt sẽ một mặt trà trộn vào đám dân di tản theo Quốc Lộ 1 tiến vào, một mặt sẽ xử dụng LTL 545 để vận chuyển vũ khí, chiến xa, lương thực và chuyển quân theo con đường này để đánh Đà Nẵng.
Ba toán đang hoạt động trong vùng đã gần đến ngày triệt xuất. Chỉ còn một ngày nữa thôi ,tôi được Chỉ Huy Trưởng gọi lên, tưởng đâu sửa soạn ra Huế chứ giờ này gọi lên là biết sửa soạn đi thôi.
-Chú mày chuẩn bị nắm Toán vào thay cho mấy Toán ngày mai triệt xuất. Tụi nó đi học Dù, phá hoại cho nên thiếu người, đi giùm anh một chuyến, nếu có gì thì sẽ bốc ra ngay, 2 toán kia Th/Uý Quách Tố Long và Ch/Uý Nguyễn Trọng Vui sẽ dẫn đi.
-Chuyện nhỏ, đi đâu cũng đi hết, hồi nào tới giờ chưa biết từ chối mà? (mà từ chối sao được hổng đi chỗ này thì cũng phải đi chỗ khác thôi)
Ba toán được lệnh trang bị mìn chống chiến xa, mỗi em một quả để chặn đường tiến quân của CS Bắc Việt. Tôi còn ráng mang theo một dây lựu đạn Mini để lỡ có gì....thì chơi luôn, Lôi Hổ chết bỏ.
Cùng đi chuyến này còn có Th/Uý Thể và Tr/Sĩ Trọng sẽ nằm ở đỉnh Đồng Đen làm Relate cho 3 Toán. Chúng tôi đã chuẩn bị để sẵn sàng xâm nhập khi có phương tiện từ phía Không Quân. Trong lúc đó tình trạng của Đà Nẵng càng xáo trộn hơn vì lính tráng và dân chúng tràn ngập phố phường, đã có nghe những vụ cướp bóc xảy ra đây đó. Bên Sơn Trà cũng thấy nhộn nhịp hơn thường lệ , mọi người hối hả, xe cộ cũng tấp nập khác thường. Sở Công Tác cũng đã phổ biến lệnh di tản thân nhân và gia đình, được loan tải cho mọi quân nhân thuộc SCT và các Đoàn nội đêm hôm nay 26/3.
Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Sư Đoàn Dù và Tiếp Liệu cũng đang lên tàu chuyến chót ở bên Non Nước. Sư Đoàn TQLC từ phía Huế, Quảng Trị đã rút về để thay thế cho Sư Đoàn Dù trám vào những trọng điểm trước đây do SĐ Dù trách nhiệm. Kế hoạch tái chiếm Huế dường như đã bãi bỏ vì không còn lực lượng nào kháng cự với CSBV. Quảng Trị, Quảng Tín cũng đã "di tản chiến thuật". Riêng trong đơn vị Đoàn Công Tác 72 thì vẫn bình thường, không thay đổi gì mấy ,mọi sinh hoạt vẫn như không có gì xảy ra, chỉ có 3 toán đang chờ đợi.... xâm nhập và 3 toán đang mong chờ....triệt xuất.
Dường như linh tính mách bảo tôi rằng lần này sẽ không bình thường như những lần trước. Trong lòng có chút bất an, với tâm trạng buồn buồn, lo lắng xen lẫn những suy nghĩ mông lung , tôi muốn dzọt về Đà Nẵng để coi tình hình ra sao? Và cũng phải báo cho chị dâu của tôi hay về việc di tản, gia đình chị cũng khá đông, khoảng hơn chục mạng chứ đâu có ít, mà làm sao bây giờ, đang chờ phương tiện để vô vùng mà???
Cũng may là hôm đó không có phương tiện vì họ phải giúp bên TQLC chuyển quân và tiếp tế cho các đơn vị bạn cho nên tôi cũng vù về Đà Nẵng để cho chị hay đặng sửa soạn mà đi. Khi gặp chị rồi mới biết là chị cùng các cháu có vào phi trường để kiếm phương tiện nhưng vì sợ phải chen chúc mà có hai đứa nhỏ thì khó mà lên được máy bay cho nên chị đã bỏ cuộc trở về nhà và chị nói rằng để mai chị vô lại phi trường kiếm phương tiện khác vì chồng chị là Không Quân (bị bắt ở chiến trường Hạ Lào năm 71) cho nên chị có nhiều cơ hội hơn, thôi vậy cũng được.
27/3
Cả 3 toán lại tiếp tục ứng chiến. Buổi sáng chầm chậm trôi qua, ngồi trong câu lạc bộ uống cà phê tán gẫu, tôi ngồi im lặng quan sát các bàn kế bên. Có tên đang kể chuyện mà kèm theo nhiều tiếng "Đan Mạch" liên tục làm tôi bật cười, hình như tay nào cũng vậy nói chuyện phải có tiếng đệm đi kèm mới rôm rả. Ngồi lâu cũng chán , tôi thả bộ qua Ban 3 chơi nhưng đi chưa tới đã nghe tiếng Trực Thăng xa xa giống như trong rừng mà (lúc) chờ nghe tiếng máy bay để triệt xuất vậy. Tôi đứng chờ thêm chút nữa để coi có phải là họ đến đón mình không? Đúng là hợp đoàn đến đón chúng tôi . Lúc nào cũng 5 chiếc nếu thả 3 toán, vì lần này thả chỗ tương đối an toàn cho nên không có L19 hướng dẫn. Họ đang lượn một vòng để đáp xuống bãi đáp của đơn vị nằm trên lưng chừng núi. Các toán cũng lục tục ra khỏi CLB về chỗ để "trang bị". Lần này thả điểm an toàn rồi lội bộ tới mục tiêu cho nên không cần thuyết trình như những lần thả xuống vùng có hỏa lực của địch. Xe chở chúng tôi lên sân bay của Đoàn , mỗi toán leo lên một chiếc như vẫn thường đi, hai chiếc còn lại là Gun Ship đi theo yểm trợ, tôi thầm nghĩ:
“Trong khi các đơn vị khác còn không có phương tiện di chuyển hoặc yểm trợ mà đơn vị mình lại có 5 chiếc để thả toán thì đâu có gì đáng ngại khi phải xâm nhập đang lúc dầu sôi lửa bỏng này?? Có gì thì họ cũng bốc mình ra ngay thôi.”
Giờ này cũng đã gần 12 giờ trưa, trời nắng nóng như thiêu như đốt, cái nóng của miền Trung thật khó chịu. Mỗi đứa còn phải vác một cái ba lô nặng chịch, cộng thêm một dây đeo lưng có 8 bình đông nước, đạn, lựu đạn, mìn chống chiến xa cộng cây súng nữa là khoảng 1/2 tạ, khiếp thiệt. Lúc leo lên máy bay rồi cũng vẫn phải đeo đầy đủ trên lưng, cho nên ngồi để chân ra ngoài là thoải mái nhất và cũng để nhảy xuống dễ dàng.
Từng chiếc bốc lên khỏi mặt đất rồi từ từ lao xuống phía biển trước mặt lấy trớn cất lên cao hơn cho đến một một độ cao nào đó mới "bình phi". Tiếng động cơ nhỏ hơn một chút , tiếng chém gió của cánh quạt cũng nhẹ hơn khi đã lấy đủ cao độ. Gió bên ngoài thổi mạnh , hai cái ống quần vỗ liên hồi vô chân làm cho hai chân hơi tê tê. "Hợp đoàn" đang bay về hướng Tây Bắc, phía dưói chỉ còn thấy biển xanh xanh và xa dần, bỏ lại thành phố cùng với những làng mạc dưới kia. Khi bay ngang qua Quốc Lộ 1 nhìn xuống vẫn thấy hàng xe từ phía đèo Hải Vân nối đuôi nhau hướng về Đà Nẵng.
Không nhớ lúc đó tôi đang nghĩ gì mà đến khi nhìn xuống thì đã thấy núi rừng phía dưói rồi. Mọi vật bên dưới giống như vẫn đứng yên một chỗ. Bầu trời quang đãng không một bóng mây. Thường thì mây che khuất đỉnh núi nhưng hôm nay thì đã thấy nó ở đằng xa , từ từ rõ dần, lớn dần. Tự nhiên trong lòng cảm thấy một nỗi buồn khó tả, cái buồn phải xa thành phố, xa cô hàng cà phê, không biết những ngày sắp đến sẽ ra sao?
Máy bay từ từ giảm tốc độ. Chiếc số 1 chuẩn bị đáp xuống. Toán tôi trên chiếc số 2 cho nên còn phải lượn thêm một vòng nữa mới đáp được vì trên đỉnh núi bãi đáp chỉ vừa cho một chiếc thôi. Các toán triệt xuất cũng phải chờ từng chiếc một để đổi tua. Chúng tôi chỉ kịp bắt tay các bạn của toán vừa leo lên chứ không nói gì với nhau được cả vì tiếng ồn của trực thăng và những thằng mới xuống thì bị ù tai cho nên có nói cũng như không. Khi cả 5 chiếc bay đi rồi tôi càng thấy buồn hơn. Cái im lặng của núi cao cùng với cái nóng càng làm tôi khó chịu, chỉ muốn tìm chỗ nghỉ ngơi cho mát mẻ một chút.
Ở trên đỉnh núi này có một Trung Đội thuộc Tiểu Đoàn 14 TQLC đang trấn giữ. Được biết Thiếu Úy Hương là Trung Đội trưởng cùng với 21 anh em khác đang đóng ở đây thay thế cho một Trung Đội thuộc Sư Đoàn Dù đã rút về phía Nam. Chúng tôi đã làm quen với nhau và được Th/Uý H. cho biết tình hình tại đây rất yên tĩnh. Có một lính của anh đã tự hủy hoại một bàn chân của mình, nhưng không được tản thương và đang bị "giam" trong cái chuồng làm bằng kẽm gai. Anh ta đã quay mặt đi, né tránh ánh nhìn của tôi về phía góc sân nắng chang chang-nơi anh bị giam giữ, tôi bỗng thấy thật chạnh lòng!
Chúng tôi đã trao đổi về tình hình chiến sự, về những đơn vị bạn đóng trong vùng này và điểm đóng "chốt" của trung đội. Cả 3 toán dự tính đêm nay sẽ xuất phát. Chúng tôi trở về hầm của toán Truyền Tin và báo cho Th/Uý Thể là các toán dự định tối nay sẽ lên đường.
Chiều xuống, mây đang từ từ kéo đến, không khí trở nên dịu mát hơn nhờ những cơn gió trên đỉnh núi cao này. Tiếng pháo của "Vua chiến trường" 175 ly từ phía ngoài cầu Nam Ô bắn vào phía trong nghe rõ mồn một. Tiếng nổ của nó vang dội cả núi rừng. Họ đang bắn vô phía Bắc của vị trí chúng tôi đang ở, có lẽ khu vực đường mòn dọc theo sông Cu Đê , tôi vì đã đi khu vực này mấy lần rồi nên tôi có thể định hướng được dễ dàng.
Trời bắt đầu tối dần. Bữa cơm chiều đã xong. Núi rừng xa xa mờ đi vì mây mù nhiều hơn, dưới chân núi chỉ còn một màu xanh đen. Chúng tôi đang ngồi im lặng. Toán của tôi và toán của Ch/Uý Vui đã chuẩn bị xong rồi, chờ cho toán của Th/Uý Long nữa là đi thôi. Tôi định đến chỗ Th/Uý H. để cho biết chúng tôi sẽ xuống núi ngay bây giờ, Th/Uý hãy cho chốt biết tụi tôi sẽ đi ngang để tránh ngộ nhận, nhưng Th/Uý H.cũng vừa đi tới phía tôi hỏi nhỏ rằng:
- Bên các anh có lệnh gì chưa?
Tôi hỏi:
- Lệnh gì?
- Thì lệnh rút ra ngoài .?.?
- Làm sao có chuyện đó cha nội?
- Bên tụi này có lệnh rồi đó.!.
- Để tui hỏi lại coi sao.?
Tôi đến gặp Th/Uý Thể để hỏi xem ở bên đơn vị mình có lệnh lạc gì không, sao bên bạn đã có lệnh rút mà mình chẳng nghe gì cả?? Sau khi liên lạc với Bộ Chỉ Huy Th/Uý Thể nói là tình hình không có gì nguy hiểm, lệnh của Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng là nhiệm vụ vẫn phải thi hành và 3 toán phải đi ngay trong đêm nay. Tôi và 2 toán Trưởng kia bàn với nhau là nếu thật sự họ có lệnh rút thì tại sao mình phải đi? Chẳng lẽ mình đi rồi bỏ lại hai ông "rờ le"ở lại đây một mình? Thôi thì mình nằm lại đêm nay để sáng mai xem tình hình như thế nào rồi sẽ tính.
Đêm đó, tôi và các bạn không ngủ được thẳng giấc, vì từ trong phía đèo Mũi Trâu chạy ngược về dãy Trường Sơn, chúng tôi thấy nhiều ánh đèn xe ẩn hiện càng lúc càng nhiều thêm. Có lẽ chúng nó đang chuyển quân về phía mình. Chúng tôi lại liên lạc với BCH Đoàn và cũng như lần trước câu trả lời là phải đi để ngăn chặn tụi nó. Trời ơi! Bộ giỡn sao chớ? Nó đi xe còn mình lội bộ làm sao mà kịp, ban ngày còn đi không kịp nói gì ban đêm hả mấy ông Thần?!?!?! Những ánh đèn vẫn thấp thoáng xa xa rồi lại khuất sau những ngọn núi, và cứ liên tục suốt đêm như thế. Thôi thì đành chờ sáng chớ biết sao bây giờ!!?
28/3
Sương đêm ướt lạnh, chúng tôi ngồi bàn chuyện phải làm gì nếu TQLC rút. Mọi người đều đồng ý là nếu họ rút thì mình cũng phải lui binh chứ không thể nào làm nhiệm vụ được. Nhâm nhi ly cà phê buổi sáng mà chẳng ngon lành chút nào. Mình cũng lo là nếu cãi lệnh thì sẽ bị phạt, còn nếu tuân lệnh thì chắc chắn mất xác. Chọn đi các con, dĩ nhiên là thà bị phạt chứ chẳng dại gì mà đem thân làm vật tế thần. Bây giờ chờ sáng rồi tính sau.
Trời đã sáng rồi, cái chốt của quân bạn dưới chân núi đã leo lên tới đỉnh. Chắc chắn họ có lệnh rút thiệt rồi. Còn mình thì sao? Đã tới giờ liên lạc mà chẳng nghe ai nói năng gì cả, thế là thế nào?? Có gì thì cũng cho tụi này biết để mà lo liệu chớ? Ngồi chờ tiếp!!!! Phe bạn đã đi gài lựu đạn chung quanh hàng rào phòng thủ. Họ dở lều và chuẩn bị quân trang cá nhân sẵn sàng triệt thoái, có lẽ cơm nước xong là họ sẽ cuốn gói. Thời gian trôi qua nặng nề ,nắng bắt đầu nóng lên mặc dù bao quanh lưng chừng núi là một lớp mây trắng xóa không thấy phía dưới, giống như mình đang ở trên cảnh tiên vậy. Vẫn không có lệnh lạc tin tức gì từ BCH, chán thiệt!
Trung Đội TQLC sau khi cơm nước xong thì cũng đã trưa rồi, Th/U H.đến từ giã và hỏi tụi tôi rằng:
-Mấy anh tính sao, tụi này dzọt trước nghe. Nếu cùng đi thì sẽ có xe đón ở ngoài đồn Địa Phương Quân. Họ sẽ chờ đến 4 giờ sáng. Từ đây ra đó cũng khá xa cho nên nếu mình đi giờ này thì sẽ dư thời gian một chút. Nếu mình đi ra trễ thì không còn phương tiện để về Đà Nẵng đâu ,tùy mấy anh thôi.
Tôi nói:
-Nếu mấy anh muốn đi trước thì cứ đi. Tụi này còn chờ lệnh của đơn vị nữa, lỡ có gì thì phiền lắm. Thôi, các bạn đi đi, tụi này ở lại.
Họ đi rồi cả bọn mới thấy buồn. Có một số anh em cằn nhằn là tại sao họ đi ra mà mình còn ở đây làm gì chứ? Thật là khó xử! Thôi cứ chờ xem sao.
Chờ hoài mà không thấy động tịnh gì hết, Th/U Thể có báo cho đơn vị biết tình hình là như vậy đó nhưng nghe trả lời là: “Kệ họ, các anh cứ ở đó chờ lệnh”. Tôi cũng đinh ninh là nếu có biến chuyển ở đơn vị thì thế nào cũng có Trực Thăng vào bốc ra ngay thôi. Đà Nẵng còn biết bao nhiêu Lính của các đơn vị làm sao mà mất dễ dàng như vậy được?
Chiều xuống, lôi gạo sấy ra làm tiếp một bụng nhưng trong lòng cứ lo lo, không hiểu tại sao cho đến giờ này không nghe nói năng gì hết, điệu này chắc mình phải tự lo thôi. Quả thật chẳng sai, Th/U Thể chạy ra mặt mày nhăn như khỉ ăn ớt:
-Mất liên lạc rồi chúng mày ơi, làm sao bây giờ?
-Thì còn chờ gì nữa mà không dzọt cho lẹ nếu còn muốn thấy mặt vợ con- cả đám nhao nhao lên.
-Mầy thấy chưa , đ.má mày, tao đã đoán trước là thế nào cũng bị bỏ lại mà hồi nãy mày còn cãi tao..!!
-Đ.m. tại lúc đó còn liên lạc được thì tao nghĩ là nếu thả được thì bốc cũng đâu có gì là khó đâu?
-Thôi đi đi mấy ông, còn ở đó mà cãi lộn, xuống tới dưới kia cho tụi bay cãi tiếp.-Ch/U Vui lầu bầu
Phải đi ngay, trời đã chạng vạng tối rồi làm sao ra tới ngoài kia trước 4 giờ sáng mới kịp xe phe bạn đang chờ. Chúng tôi thu dọn thật nhanh và cuốn gói đi liền, không biết có kịp không?
Từ trên đỉnh đổ xuống cũng khá nhanh. Tay nào dẫn đường thật không hổ danh Lôi Hổ, chỉ trong vòng mấy tiếng đồng hồ mà đã bắt kịp quân bạn ở giữa đường. Có lẽ họ bị mất phương hướng cho nên không đi nhanh bằng mình. Thôi thì đi theo tụi tôi, bảo đảm không ra đúng giờ không lấy tiền mà...Phe bạn tỏ vẻ thán phục cái khả năng lội rừng của phe ta hết mình, vì trước khi họ đi thì chúng tôi có cho tần số liên lạc của nhau. Đến khi chúng tôi rời Đồng Đen cũng đã báo cho họ hay rằng đã bắt đầu đi xuống. Lúc đó là khoảng 6 giờ chiều mà cho đến lúc bắt kịp thì chỉ mới hơn 9 giờ thôi.
Lúc nãy dọc đường có gặp anh bạn "đau chân" được 2 đồng đội dìu đi. Tụi này cũng mang nặng quá cho nên không giúp gì được. Thôi ráng đi theo sau vậy. Tụi tôi chỉ cách tìm đường mà đi để khỏi bị lạc bằng những dấu vết tụi tôi để lại trên đường. Với số người đông như vậy thì đi sau sẽ thấy giống như đường mòn, cứ thế mà đi.
Lúc này đã gần nữa đêm rồi, bọn VC đã bắt đầu pháo liên tục từ hướng mục tiêu của chúng tôi định tới để đặt mìn. Chúng nó đang bắn về phía Đà Nẵng. Không biết chỗ nào bị trúng đạn pháo mà thấy cháy sáng cả một vùng, hướng đó thì có lẽ là Phi Trường?
Từ hồi "nhổ neo" khoảng chừng hơn 1/2 tiếng, chúng tôi có nghe tiếng trực thăng bay ở phía ngoài Xã Hòa Thanh. Nó cứ bay vòng vòng lâu lắm rồi lại bay đi đâu không rõ. Sau đó lại nghe tiếng của nó cũng lòng vòng một lúc rồi lại bay đi. Rồi bây giờ nó lại xuất hiện ở phía ngoài cách chúng tôi khá xa. Lúc này hình như bên Đà Nẵng cũng bị cháy ở đâu đó. Chúng tôi cũng đã ra gần khỏi khu rừng, có lẽ khoảng 1 tiếng nữa thôi là tới bìa rừng. Trời đêm nay có trăng nhưng cứ bị mây che khuất, thỉnh thoảng cũng sáng được một lát rồi lại tối, cho nên đi ra ngoài cũng không khó lắm.
Cuối cùng rồi cũng ra khỏi khu rừng, bây giờ đã là gần 2 giờ sáng rồi. Chiếc trực thăng hồi nãy cũng đã đi đâu mất. Cứ nghe tiếng nó bay phành phạch là trong lòng cảm thấy nôn nao. Không khí bây giờ thật là buồn và vắng lặng, mây đã ở lại sau lưng chúng tôi để nhường chỗ cho vầng trăng sáng trên bầu trời đêm nay, chúng tôi ngồi nghỉ lấy sức, tôi ngồi bên cạnh Ch/U Vui:
-Hồi nãy mày có nghe tiếng Trục Thăng không? Vui hỏi nhỏ nhỏ
-Có chứ sao không- Tôi trả lời.
-Anh tao chờ bọn mình ra từ chiều tới lúc nãy luôn mà mình ra không kịp, ảnh cũng không còn xăng để bay cho nên đã đi đâu rồi không biết? (Anh của Vui là Hoa Tiêu thuộc Phi Đoàn 233)
-Sao mầy không nói tao nghe? Tôi hỏi.
-Nói làm gì? Vui trả lời.
-Sao mầy biết là anh của mầy bay chiếc đó? Tôi thắc mắc?
-Tao liên lạc với ổng chứ sao...Trước khi tao đi, ảnh có cho tao số riêng để khi cần thiết thì kêu.
-Bây giờ ổng đi đâu rồi? Tôi hỏi.
-Ổng nói đi kiếm xăng mà phi trường cháy mẹ nó rồi làm sao có xăng mà đổ. Nãy tao có gọi mà không nghe trả lời, không biết có chuyện gì không? Tao cũng đang lo đây.!.!
-Hèn chi, cứ thấy nó bay lòng vòng hoài mà tao đâu có biết.!!!
-Đừng cho ai biết chuyện này, chừng nào tao liên lạc được rồi hẵn hay.
-Ừ, ngu sao nói???
Hai thằng cùng cười tủm tỉm.
Ra được đến ngoài này tự nhiên thấy khỏe re. Chẳng còn bao lâu nữa là ra đến đồn Địa Phương Quân rồi. Ngoài đó có xe của TQLC chờ sẵn cho nên mọi ngưòi đều cảm thấy thoải mái ngồi nghỉ, uống nước, phì phèo thuốc lá, nói chuyện hoặc ngả lưng một chút cho đỡ mệt.
Chúng tôi ngồi nghỉ được khoảng 15, 20 phút gì đó thì Th/U H. bên bạn đề nghị là TQLC sẽ đi trước, Lôi Hổ sẽ đi sau, vì đến đây là khu rừng chồi cho nên đi cũng dễ dàng. Vả lại Lôi Hổ đi quá nhanh thành ra đi sau cũng được. Trời sáng trăng nên cũng dễ thấy đường đi không có gì đáng ngại cả, chúng tôi nói:"các bạn đi trước đi, một lát nữa chúng tôi sẽ đi sau.”
Một lúc không lâu sau đó, bỗng nhiên cả bọn chúng tôi bật cả dậy vì một tiếng nổ dữ dội ở phía trước, là hướng của TQLC đang di chuyển. Mọi người ngơ ngác vì không biết chuyện gì xảy ra: bị phục kích? Mìn hay lựu đạn?..Không nghe một tiếng súng nào có nghĩa là mìn hay lựu đạn gì đó chứ không phải bị phục kích. Chúng tôi đang định chạy về hướng đó thì Truyền Tin cho biết là họ có gọi cho hay là bị nổ lựu đạn và họ nhờ mình lên để giúp cho một người bị thương nặng được "siêu thoát" . Vì có lẽ không cứu được, cả bọn chúng tôi cảm thấy khó chịu vì (về) lời đề nghị đó, đâu có ai mà làm như vậy được? Chúng tôi cùng tiến lên phía quân bạn đang gặp nạn. Và thay vì làm theo lời yêu cầu thì chúng tôi lại kêu 3 người cứu thương của 3 toán băng bó, chích thuốc cầm máu cho anh bạn bị thương. Sau đó mọi người chuẩn bị để đi tiếp, phía bạn lại xin đi trước, chúng tôi đồng ý. Họ tiếp tục đi bỏ lại người bạn bị thương. Chúng tôi có dự định sẽ dìu anh bạn này đi nhưng anh ta từ chối, anh ta nói :"Tôi không muốn làm phiền các anh, các anh cứ đi đi".
Khi chúng tôi bắt đầu lên đường được một quãng không xa thì nghe một tràng súng M16 nổ vang ở phía sau. Một vài người vội chạy ngược trở lại thì thấy anh bạn ấy đã tự sát. Tội nghiệp quá! Mọi ngưòi buồn bã tiếp tục đi vì thời gian cũng gấp rút lắm rồi.
Tôi cảm thấy hơi mệt và buồn ngủ quá, ráng chút nữa hy vọng mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn. Tôi đang nghĩ đến cảnh về tới Đà Nẵng làm một tô bún bò ở Ngã Năm rồi chạy về Thiên Nga làm một ly cà phê sữa đá, se một điếu rồi tới đâu thì tới. Nhưng trong lúc đang mơ mộng thì lại một tiếng nổ nữa cũng là tiếng của lựu đạn ở đằng trước làm cho bún bò, cà phê, thuốc lá bay mất mẹ nó hết trơn, đ.. mẹ , ở đâu mà lựu đạn nhiều dzậy cà?
-Ê, Vui , coi lại coi chỗ nầy là chỗ nào mà nổ lung tung dzậy ?
-Hình như chỗ này có một Tr/Đội TQLC đóng ở đây mà? Vui trả lời- có lẽ lúc họ rút lui họ quên gỡ lựu đạn hay là cố tình gài để chặn đường cũng không chừng?
Tôi nói:
-Nếu vậy thì mình phải đổi hướng ngay lập tức ,trở ngược lại, bẻ 90 độ, nếu không mình sẽ còn bị dài dài, xuống đường 544 rồi đi ra theo đường lộ.
Tôi còn đang nói thì lại một tràng M16 nổ dòn tan. Đằng trước nhốn nháo, có mấy anh bạn chạy ngược trở lại cho biết là lần này Th/U H. bị thương cùng với 2 người nữa, 1 người đã tự sát. Tụi tôi lại phải tới giúp băng bó và lần này dìu cả 2 đi theo luôn. Vì 2 người này bị thương không nặng lắm; Th/U H. bị thương đầu và tay, anh bạn mang máy thì bị thương ở trán, máu chảy khá nhiều cho nên phải băng kín cả mắt không thấy đường đi.
29/3
Chúng tôi kiểm lại quân số 2 bên: phe ta còn đủ 20, phe bạn chỉ còn 17 (3 người đi phía sau,2 người tự sát) và bắt đầu đi ngược lại chỗ dừng chân hồi nãy rồi mới "chặt góc" trái hướng về Liên Tỉnh Lộ 544 mà đi. Đường đi hơi khó khăn hơn lúc nãy. Tuy là rừng chồi nhưng gai góc hơi nhiều làm cho tốc độ chậm hẵn lại, vì vậy chuyện ra được phía ngoài chắc cũng hơi lâu và chẳng biết xe phía bạn có chờ hay không?
Mãi đến hơn 7 giờ sáng mới mò xuống tới con đường 544. Nói là Liên Tỉnh Lộ chứ có ai xử dụng đâu, nó chỉ là con đường đất như ở thôn quê vậy thôi. Trước khi ra đường chúng tôi cũng quan sát hết chung quanh. Bên kia đường là ruộng lúa ,phía bên phải thì ruộng chạy thẳng đến bìa rừng cũng khá xa ,thẳng trước mặt bên kia ruộng là Xã Hòa Thanh, bên trái là đường dọc theo chân đồi dẫn ra ngoài đồn Địa Phương Quân. Giờ này xe của TQLC đã đi mất lâu rồi, tuy nhiên ra được đến chỗ này thì cũng cảm thấy không còn mỏi mệt nữa. Cảnh đồng quê thật yên tĩnh. Chúng tôi cẩn thận đi trên đường một cách chậm rãi, chỉ nghe tiếng chim kêu ngoài ra không thấy bóng dáng một người nào cả. Cả bọn yên trí là ra được tới đồn Đ.P.Q là an toàn, lúc đó sẽ tìm cách để về Đà Nẵng.
Vì mất liên lạc cho nên chúng tôi không biết tình hình bên ngoài như thế nào, cả bên TQLC cũng vậy. Chiếc GMC dự định đón Tr/Đội bạn và phe ta cũng bỏ đi lúc nào không thông báo gì hết. Mặc dù đường đi vắng vẻ nhưng chúng tôi cũng cảnh giác đề phòng mọi tình huống có thể xảy ra như mìn bẫy hoặc lựu đạn gài 2 bên đường cũng không ngoại trừ, lạ một điều là không thấy một bóng người nào đi làm ruộng cả. Mọi người thầm lặng bước đi, không đùa giỡn như mọi khi. Hình như ai cũng biết có chuyện gì đó không bình thường cho nên cứ lầm lũi mà đi.
Chỉ còn một quãng đường ngắn nữa thôi là tới đồn ĐPQ rồi. Tôi đang dẫn toán đi trước, bỗng nhiên anh chàng Tiền Đạo đứng lại ra hiệu cho mọi người dừng bước. Hắn chỉ lên phía đồn ĐPQ, mọi người nhìn theo và tất cả đều chưng hửng vì trên đó có lá cờ của bọn Mặt Trận Phỏng Giái treo lên từ lúc nào rồi. Thế là hết, mọi hi vọng đều tiêu tan. Tôi đứng như trời trồng nhìn lên rồi lại nhìn chung quanh, những gương mặt đầy thất vọng chảy dài ra. Mãi một lúc sau mới có đứa lên tiếng an ủi:
-Có lẽ tụi du kích nó thấy đồn bỏ trống cho nên nó lên nó ở chơi thôi, có gì đâu mà lo.
Lúc đó mọi người mới như chợt tỉnh lại, nói chuyện, bàn tán xôn xao, có đứa hỏi:
-Bây giờ mình làm gì đây? Đi đâu? Đi ra hay là đi dzô rừng lại?
Chúng tôi còn đang phân vân chưa biết phải tính làm gì, thì bỗng có tiếng loa từ ngoài đầu đường dưói chân đồn chĩa vào phía chúng tôi đang đứng:
-Những tên lính TQLC hãy ra đầu hàng với chính quyền Cách Mạng sẽ được khoan hồng, nếu ngoan cố chống lại sẽ bị tiêu diệt.
Thì ra là nãy giờ tụi tôi đứng đây là chúng nó đã thấy và chúng nó chỉ biết có TQLC mà thôi vì chúng biết Tiểu Đoàn 14 TQLC đóng ở vùng này rất nhiều, còn Biệt Kích thì chúng không biết có mặt ở đây. Chúng tôi thấy tụi nó dàn hàng ngang "dàn chào" anh em chúng tôi, cũng khá đông .
-Bà mẹ tụi bây ông đêch.. đầu hàng, đừng hòng dụ tụi tao..Tôi nói.
-Có ai muốn ra đầu hàng thì cứ ra, tụi này sẽ vô rừng lại.
Các bạn TQLC nói:
-Tụi tôi cũng theo mấy anh luôn.
Tôi, Long, Vui và Thể bàn với nhau sẽ dàn quân ra. TQLC đứng hàng sau, mình ngồi hàng trước, họ sẽ bắn trước rồi chạy, mình sẽ bắn tiếp và sẽ đi sau TQLC, cho họ chạy trước, tôi nói:
-Như vậy thì chúng ta dàn hàng ngang, các bạn TQLC bắn trước rồi chạy, sau đó chúng tôi cũng sẽ bắn và chạy sau, O.K?
Và chúng tôi đã làm như vậy. Bọn VC không ngờ chúng tôi chống cự mãnh liệt cho nên đến khi chúng tôi chạy rồi chúng nó mới bắt đầu bắn theo. Tụi tôi cứ tưởng rằng chỉ có đám du kích thôi, chứ đâu ngờ tụi nó đông quá, hỏa lực chúng nó cũng mạnh, có cả súng cối, chúng nó nhả đạn như mưa. Hầu hết mọi người đều chạy dưới ruộng và tản ra, chạy theo hình chữ chi. Tôi thấy bên trái rồi bên phải rồi phía trước có người trúng đạn, ngã xuống, có người đứng lên chạy tiếp và tất cả đều hướng về phía bìa rừng cuối ruộng lúa, vì nếu chạy ngược lên núi thì rất khó khăn và khó thoát. Hình như tôi là người chạy cuối cùng và quả thật tôi là người chạy sau cùng. Mọi người đã bỏ xa tôi, ngó lại phía sau chỉ thấy VC đang rượt theo. Có lẽ tại tôi chưa bỏ một cái gì xuống hết vì cũng sợ đói, khát, thành ra nặng quá. Chúng nó đang rượt đuổi ráo riết, chúng nó chạy trên đường lộ, có mấy thằng cũng chạy xuống ruộng nhưng rồi lại chạy lên đường. Tôi chạy vô sâu trong ruộng, chẳng còn thấy ai chung quanh tôi nữa.
Chắc phen này không thoát nổi rồi, chúng nó vẫn bắn theo tôi, chỉ có trời cứu may ra mới thoát. Gần tới bìa rừng rồi, cố lên,tôi thầm nhủ.
Tôi chạy lọt xuống một vũng lầy hồi nào không biết, tôi cố bơi mà không tài nào trườn tới được. Nhìn qua bên cạnh khoảng 20 thước tôi thấy 2 đứa trong toán tôi cũng đang bơi như vậy, đó là Chánh và Hậu đều mới về Đoàn không lâu. Trước mặt tôi là một cái đồi thấp, gọi là cái gò thì đúng hơn, có 2 bạn TQLC đang bắn yểm trợ cho tôi lên nhưng không tài nào lết lên được, tôi nghe tiếng Chánh nói với tôi là:
-Thằng Hậu nó nói nó sẽ bỏ máy Truyền Tin có được không?
Tôi nói:
-Có cái máy mà bỏ thì làm sao mà liên lạc với nhau đây cha?
Chừng một lát sau tôi nghe Chánh nói :
-Thằng Hậu nó tự sát rồi anh Ngọc ơi!!
Có lẽ vì nhiều tiếng nổ chung quanh cho nên tôi không biết tiếng nào là tiếng của lựu đạn, tiếng nào là tiếng của súng cối cả, Chánh nói Hậu xin nó trái lựu đạn rồi cho nổ luôn.
Tôi điếng cả người muốn buông xuôi hết tất cả nhưng từ trên gò 2 bạn TQLC hối tôi :
-Nãy giờ tụi tôi bắn gần hết đạn mà ông chưa chịu lên nữa, lẹ lên!
Tôi thật cảm động vì họ chịu trận từ nãy đến giờ. Đến lúc này tôi phải bỏ ba lô, dây nước, chỉ mang theo 2 bình nước, dây lựu đạn và cây súng mà thôi; đồng thời tháo luôn đôi giày đang mắc kẹt dưới sình mới leo lên trên bờ. Khi tôi ngó lại thì không thấy Chánh đâu, chắc nó đã lên trước rồi.
Còn đang mệt đứt hơi mà tự nhiên nghe ai kêu tên mình. Tôi ráng bò lên lưng chừng đồi nơi có tiếng gọi trong một bụi cây nhỏ thì gặp Vui, nó bị thương ở cánh tay, máu chảy ra nhiều, tôi không có băng để băng cho nó cho nên tôi lấy cái khăn tam giác cột đỡ, tôi nói:
-Bây giờ mình phải đi khỏi chỗ này liền, mấy đứa TQLC chờ tao nãy giờ lâu lắm rồi, tao sẽ dìu mày đi.
-Không-Vui trả lời- mày đi đi, đưa tao mấy trái Mini, tao nằm đây chờ tụi nó tới tao cưa với tụi nó luôn.
Tôi nói:
-Hôm qua mấy đứa kia bị thương mình còn dẫn tụi nó đi mà, mày ráng đi với tao , còn chút xíu nữa là vô rừng rồi.
Vui cương quyết:
-Không, tao chẳng muốn làm phiền ai hết, mày cứ đi đi, mặc kệ tao.
Tôi biết tánh nó lì lợm và thẳng tánh, nói là làm. Tôi đưa cho nó một bình nước, nó uống một miếng rồi đưa lại cho tôi, nó bảo :
-Đưa mấy trái lựu đạn cho tao ,tao nằm lại đây, mày đi đi.
Tôi biết không thể thay đổi được tình thế cho nên tôi đành phải bò lên với hai bạn vẫn còn đang bắn yểm trợ. Một trái đạn cối rớt gần chỗ tụi tôi đang nằm, tôi vội chạy thẳng người lên phía trên nhập với 2 tay súng đang cầm cự.
Tôi đưa cho hai bạn bình nước, họ chia nhau uống. Tôi cũng khát quá, uống một miếng rồi dẫn 2 anh bạn lẫn vô rừng. Trên đường đi tôi nói cám ơn 2 bạn đã giúp tôi nãy giờ, họ nói:
-Tụi tôi phải cám ơn mấy anh mới đúng chớ, các anh đã dẫn tụi tôi ra, cứu những người bị thương bên tôi, bắn cho tụi này chạy trước thì tụi tôi phải lo lại cho anh thôi chứ có gì đâu. Thú thật với anh tôi thấy các anh gan lì và hiên ngang quá cho nên tôi rất nể phục mấy anh, bây giờ anh dẫn đi đâu tụi tôi theo đó.
Nghe anh bạn nói làm tôi cũng cảm thấy vui và hãnh diện. Có lẽ lúc đó cái mũi tôi phồng hơi to, tôi nói:
-Chuyện thường thôi mà.
Tôi dẫn 2 người bạn vượt qua mấy ngọn đồi. Tôi nghĩ đi càng xa càng tốt cứ đi chừng nào mệt thì nghỉ và tôi chọn một ngọn đồi khá cao có thể nhìn ra ngoài được để quan sát. Không thấy tên nào trên đường, không biết tụi nó có núp ở đâu không? Ngoài xa kia chỗ tụi VC chận đường hồi sáng không thấy rõ lắm cho nên tôi cũng yên tâm. Nhưng chưa kịp thoải mái thì chúng tôi thấy mấy chiếc xe Tăng đang chạy vô đường 544 tôi nói:” bỏ mẹ rồi”, nếu nó chạy vô đây thì nguy to. Nhưng không, nó đã dừng lại và nó bắt đầu bắn loạn xạ vào phía rừng chỗ sáng nay tụi tôi dừng lại và dọc theo con đường chỗ có khúc quanh. Nó cũng rê súng qua phía tụi tôi bắn mấy loạt đạn đại liên dọa dẫm. Trên đường chỗ ngã 3, tôi thấy xuất hiện nhiều xe Tăng hơn cùng với các loại xe khác nữa đang di chuyển ra ngoài xã Hòa Thanh. Cũng còn hên đấy, nếu hồi sáng mà tụi nó vô sớm hơn chắc là tụi này khó thoát.
Cho đến lúc này tôi vẫn đinh ninh là Đà Nẵng chưa mất cho nên tôi cứ suy nghĩ làm cách nào để về được ĐN đây? Xe Tăng mà vô đến đây nhiều như thế thì ĐN không tránh khỏi số phận như Huế. Ngoài ĐN còn biết bao nhiêu lính có lẽ cũng cầm cự được một thời gian chứ đâu có dễ dàng buông súng chạy hay đầu hàng đâu nhỉ???
Mấy chiếc xe Tăng vẫn nằm đó không bắn nữa. Tụi ngoài đường cũng ngưng tiếng súng nhưng lâu lâu lại có một trái đạn cối bắn bừa bãi vì chúng đâu còn thấy tụi này nữa đâu.?
Ngồi nghỉ ngơi quan sát động tĩnh phía ngoài và chung quanh cũng khá lâu, tuy không thấy tụi nó đi lùng nhưng tôi vẫn cứ dẫn 2 anh bạn đi sâu vô thêm cho chắc ăn . Và cứ thế mà đi theo những đường thông thủy cho đến chiều tối mới dừng lại uống một chút nước rồi lại tiếp tục đi mò mẩm trong đêm tối. Chỗ này lau sậy nhiều cho nên tôi thận trọng đi thật chậm để khỏi gây tiếng động, cứ theo suối cạn lần mò đi tiếp. Tôi đi được chừng hơn 100 thước thì tôi nghe có tiếng động phía trước, ba đứa tôi dừng lại nghe ngóng và tay tôi để sẵn trong cò súng, hễ có gì là phơ liền lập tức. Nhưng bỗng nhiên tôi nghe tiếng chửi thề đ.má nho nhỏ làm tôi thở phào nhẹ nhỏm. Đúng là phe ta chứ chẳng ai vào đây hết. Tôi mò tới gần hơn chỗ phát ra tiếng chửi thề rồi lên tiếng hỏi nhỏ:
-Ngọc Lôi Hổ đây, có phải phe ta không?
Tôi nghe tiếng Q.T .Long trả lời:
-Đúng , phe ta,tụi bây mấy đứa?
-Ba đứa, tui với 2 TQLC nữa.
-Vậy thì dzô đây nhập bọn cho dzui.
-Đ.mẹ chửi thề lung tung bộ hỏng sợ VC nghe hả cha nội?
-Sợ đé.. gì mà sợ?
Tổng cộng được 16 em dại, 9 Biệt Kích + 7 TQLC . Vậy cũng yên tâm và đỡ cô đơn hơn hồi nãy, tưởng đâu chỉ có 3 đứa tôi thôi chứ. Th/U H. cũng có mặt, như vậy là thiếu Ng.Trọng Vui và Th/U Thể, không biết nó có còn không hay đã cưa với tụi kia rồi? Nghĩ tới nó mà mình cảm thấy bứt rứt, thêm thằng Hậu nữa, có gì đâu mà phải làm như vậy??? Toán tôi còn lại Tr/S Đức răng vàng và Tr/S Chánh còn mấy người nữa tôi không nhớ hết.
Chúng tôi ngồi lại bàn với nhau để tìm cách thoát ra khỏi khu vực này. Vì tụi VC biết chúng tôi đang lẩn trốn trong rừng và chưa thể đi xa hơn. Nếu đi đường rừng thì phải mất nhiều thời gian mới về được ĐN, với lại nhiều đứa đã phải bỏ giày làm sao mà lội rừng được. Cho nên chỉ còn một cách là lội ngược trở ra đi trong ruộng lúa, làm sao mà qua được bãi biển gần Nam Ô thì mới có cơ hội đi bằng ghe thuyền để về đơn vị. Giờ này trời cũng chưa có trăng rất thuận tiện để lội ra ngoài, tránh làng xã đi ra Quốc Lộ 1 rồi xuống biển. Tuy rất nguy hiểm nhưng phải liều thôi, không có chọn lựa nào khác.
Bàn xong là chúng tôi đi liền. Trời tối cho nên không lo tụi nó thấy. Chúng tôi đi thật nhanh vì nếu trăng lên thì chết chắc. Ra đựơc khỏi rừng cũng mất hết hơn 2 tiếng đồng hồ mới tới ruộng, rồi lom khom mà đi trong đêm tối. Khi đó, chúng tôi đã gặp phải một khó khăn mới đó là xe Tăng và các loại xe đang chạy trên đường chắn ngang đằng trước mặt- con đường mà sáng nay VC chận tụi tôi. Tuy còn khá xa nhưng ánh đèn của những chiếc xe cũng làm chậm lại sự di chuyển của chúng tôi. Cũng còn khá may cho chúng tôi là tụi nó từ đường 545 đi ra. Mà con đường đó khuất bên kia đồi có đồn Đ.P.Q, tức là song song với hướng chúng tôi đi ra và nó phải quẹo 90 độ mới đi ngang trước mặt. Vì thế, chúng tôi dặn nhau là khi tới gần đường thì phải nằm sát xuống. Khi thấy đèn dọi thẳng thì từng người chạy qua, dọi ngang thì nằm xuống, qua được bên kia thì tất cả phải nằm chờ cho đủ rồi mới đi tiếp.
Nửa tiếng sau mọi người đều qua được phía bên kia. Tuy rằng chỉ có ½ tiếng đồng hồ thôi nhưng sao mà nó dài như vô tận. Xe chạy liên tục, những ánh đèn nối đuôi nhau lướt qua trên đường. Hồi hộp và nín thở, chúng tôi đếm đủ 16 rồi mới tiếp tục đi hơi xéo xéo để tránh cái xã Hòa Hiệp, cũng lội ruộng hơn 1 cây số nữa mới tới một khu nghĩa địa. Từ đây, chúng tôi phải đi cẩn thận hơn vì mặt trăng đã bắt đầu ló dạng.
30/3
Bây giờ đã qua ngày 30/3 rồi, tôi cảm thấy đói bụng vì từ sáng hôm qua cho tời giờ chẳng có cái gì bỏ bụng cả, mà còn phải chạy suốt buổi nữa, nước cũng còn được một chút thôi thì uống nước đỡ vậy. Cả đám lầm lũi bước đi. Dù không ai nói ra, nhưng tôi biết ai cũng mệt và đói cả rồi. Chân thì đau rát vì những vết trầy xước, nếu đi trong ruộng nước thì đỡ đau hơn, giờ bắt đầu đi trên đất đá đầy những bụi gai tôi mới thấy tiếc đôi giày. Tôi nghĩ thầm: "Như vậy là cũng may lắm rồi, nếu không tháo đôi giày thì làm sao ra khỏi vũng sình được. Kệ nó, tới đâu hay tới đó!"
Chúng tôi đi vào một khu Nghĩa Trang, hình như không có ai chăm sóc cho nên cây cỏ mọc tràn lan trên đất cát và cả trên những ngôi mộ xi măng nữa. Đi trong này dù sao cũng đỡ hơn ngoài kia vì mình có thể ẩn núp được, hơn nữa ở đây cát nhiều cho nên đỡ đau chân hơn. Đang đi bỗng tôi vấp phải một vật gì tròn, lớn, hơi lạnh lạnh. Tôi cúi xuống rờ thử thì biết đó là một trái dưa hấu, thật đúng là đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Cả đám ngừng lại ngồi thưởng thức, dù không thấm vào đâu nhưng cũng đủ ấm lòng Chiến Sĩ....đang đói .
Chúng tôi lại tiếp tục đi về hướng Quốc Lộ 1. Sau khi đã nghỉ chân lấy sức, chắc không còn bao xa nữa là có thể băng qua đó để xuống bờ biển. Từ lúc bắt đầu đi ra khỏi chỗ ẩn núp đến giờ thật là may mắn vì không gặp một trở ngại nào đáng kể, mọi chuyện êm xuôi như dự tính. Khi đã ra khỏi Nghĩa Trang để tới một khu đất trống, nơi trước đây là một Phi Trường Dã Chiến của quân đội Đồng Minh sử dụng, giờ đã bỏ hoang, tôi thấy chỉ còn lại cái Phi Đạo hư hỏng và một cái hố rác mục, phía trên được che bởi tảng đường nhựa còn sót lại mà thôi. Lúc này trăng sáng hơn cho nên chúng tôi đi dễ dàng hơn trước nhiều, cũng không quên quan sát mọi phía. Băng qua cái phi trường là đến một cái voi (doi) nước, bên kia voi (doi) nước lại thêm một cái Nghĩa Trang nữa rồi mới tới Quốc Lộ 1. Cả bọn ngồi nghỉ mệt, trong lúc đó Th/U Long và tôi cùng một vài toán viên nữa đi thẳng xuống voi (doi) nước để quan sát tìm cách qua bên kia bờ. Nhưng khi đến nơi mới thấy không dễ dàng vượt qua. Nước thì đen ngòm và sâu hoắm. Tuy rằng trong bản đồ chỉ thấy nhỏ xíu, nhưng ở ngoài thì nó rộng và dài hơn mình nghĩ. Nếu đi đường vòng thì sợ gặp nhà dân chúng, có thể bị lộ. Thôi thì ở lại chờ trời sáng cho chắc ăn.
Bọn tôi quay trở lại chỗ anh em đang ngồi nghỉ và quyết định ngủ lại đây chờ sáng thấy đường rồi tính sau. 16 người chui vô cái hố rác mục để ngủ lấy sức. Hố rộng rãi và có mái che bằng đường nhựa dư sức cho 16 người nằm thoải mái. Vì quá mệt cho nên chỉ trong vòng chưa đầy 5 phút mọi người đều mở máy cưa, máy kéo đủ kiểu. Tôi cũng không thể nào cầm cự lâu hơn và thiếp đi vài tiếng đồng hồ.
Khi tôi tỉnh giấc thì trời đã hửng sáng. Có nhiều tiếng súng ở xa xa, đầu trên, đầu dưới, chỗ nào cũng có, không biết ai bắn, bắn ai???? Một số anh em cũng đã thức dậy. Tôi nhìn lên Quốc Lộ 1 thấy có vài chiếc xe chạy trên đường không rõ lắm, không biết xe gì. Cho đến khi trời sáng hẳn, tôi mới thấy rõ hơn những chiếc xe đó có gắn cờ xanh đỏ, chở đầy người chạy trên đường. Súng vẫn nổ đó đây.
Tôi coi lại súng của tôi, trong băng đạn chỉ còn đúng 3 viên và một trái M79, ngoài ra còn bản đồ, một trái lựu đạn Mini. Tôi suy nghĩ: "Bây giờ phải làm gì với mấy thứ này đây? Chắc chắn là chúng nó đã chiếm ĐN rồi, làm sao bây giờ?". Mỗi người đều vẫn còn mang theo súng của mình, nhưng đạn thì chắc chỉ đủ cho mình thôi chứ bắn được ai đâu? Tôi thấy mọi người đều đã thức dậy và không ai nói với ai câu nào, dù chỉ một lời. Nói gì bây giờ? Mỗi người đều hiểu rằng chẳng còn hy vọng gì hết.
-Bây giờ anh em tính sao? Tôi hỏi.
-..............!!..
-Giờ mình đi đâu?
-..............!!..
-Có ai muốn đi với tôi không?
-.......??..??...
-Nếu không ai đi thì tôi đi một mình, mấy anh ở lại mạnh giỏi.
-.................
Tôi đứng lên, bỏ súng lại, cất bản đồ cùng với trái lựu đạn trong túi quần , leo lên khỏi miệng hố rồi đi ra hướng Quốc Lộ 1. Tôi chẳng biết là mình sẽ đi về đâu? Sẽ làm gì? Sẽ ra sao? Tôi thấy trong lòng rất thanh thản. Không khí ban mai làm cho tôi thấy dễ chịu. Kệ mẹ nó! Tới đâu thì tới, mình phải đi thôi, rủ chẳng ai đi thì mình đi một mình, có chết thì cũng một mình thôi, mà số mình chắc cũng chưa tới vì mới cách đây hơn một tháng mình đi chuyến "Đặc Biệt" mất hết 4 mạng còn chưa chết thì bây giờ cũng đé.. sợ cái thằng nào hết.
Khi tôi đi được chừng khoảng 50 thước thì nghe ở phía sau có tiếng kêu: - Ngọc, chờ tao với.
Tôi quay lại thấy Th/U Long và Tr/S Đức chạy theo, làm cho tôi cảm thấy đỡ cô đơn hơn. Đám còn lại có lẽ chờ tụi này đi một khoảng xa để coi có bị ai bắn không rồi mới chui ra.
Ba đứa tôi đi qua hướng bên trái cặp theo bờ của cái doi nước về phía cầu Nam Ô- nơi có những lũy tre xanh mà ban đêm chúng tôi nghĩ là nhà dân, nhưng sáng ra mới thấy là không có nhà cửa nào ở gần đây hết và chỗ đó có một bờ xi măng giống như cái đập ngăn nước vậy. Chúng tôi đi qua cái đập rồi lại rẽ phải một quãng để vào Nghĩa Trang. Từ đó chúng tôi định đi ra đường QL 1 nhưng thấy nguy hiểm quá, vì trên đường lộ súng bắn lung tung. Không biết tình hình ra sao cho nên tụi tôi kiếm một ngôi mộ có mái che để nghỉ chân và bàn với nhau coi có cách nào để về ĐN an toàn không. Vừa lúc đó tụi tôi thấy một chiếc xe Tang có màn che phướn rũ rẽ vào Nghĩa Trang. Trên xe có khoảng 4 hay 5 người gì đó, có tiếng khóc của phụ nữ cùng với tiếng gõ mõ tụng kinh, không biết họ chôn ai đây? Có lẽ một người Lính hoặc cũng có thể là một thường dân? Chúng tôi quan sát thật lâu cho đến khi xe dừng lại khoảng giữa Nghĩa Trang, một cái hòm được khiêng xuống cùng với cuốc xẻng. Họ khiêng vào một khoảng đất trống rồi chuẩn bị đào huyệt.
-Đúng là Trời thương mình rồi tụi mày ơi! Mình lại xin họ phụ đào huyệt rồi xin họ quá giang Về ĐN, ngồi trên xe này là an toàn nhất không sợ ai thấy..Tôi reo lên mừng rỡ..
Thế là cả ba đứa đi lại chỗ họ đang chuẩn bị đào đất nói cho họ biết ước muốn của bọn tôi và họ chấp thuận ngay không ngại ngần gì cả. Ba đứa thay phiên nhau đào không biết mệt ,chỉ cần đào một chút nữa thôi là cái huyệt đã cao tới cổ của tôi rồi. Họ và tụi tôi cũng chẳng nói chuyện với nhau câu nào cho đến lúc.....những tràng súng từ trên đường bắn xối xả xuống phía chúng tôi đang đào. Mấy người dân vội núp sau những ngôi mộ. Tôi đang đứng dưới huyệt với một người dân cùng với Đức vừa nhảy xuống, họ nói với tụi tôi rằng:
-Đà Nẵng đã mất rồi, nếu mấy anh là lính thì lên "trình diện" với họ
(VC) đi, đừng để tụi tui phải chết chung với mấy anh!!!!!
-Trình diện là sao? Tôi hỏi.
-Ở ĐN họ kêu quân đội ra trình diện hết rồi, sau đó được thả về nhà, cho nên mấy anh đừng sợ.
Tôi vẫn chưa tin. Tuy nhiên vì thấy họ có vẻ khẩn thiết quá, mà tụi chó nào trên đường vẫn cứ tiếp tục bắn xuống, nên tôi phải quyết định đi lên. Tôi lén vùi trái lựu đạn dưới chân, rồi đợi cho mấy người dân đưa áo trắng, để trên kia ngưng bắn tôi mới leo lên.
Thế là hết! Bao nhiêu hy vọng tan tành theo mây khói. Tôi nghĩ nếu tụi nó biết mình là Biệt Kích thì nó sẽ thịt mình ngay. Mà bây giờ biết phải làm sao đây? Nếu nó không giết mình thì hy vọng nó sẽ nhốt mình với ông anh hồi đó cũng bị bắt năm 71, nghe nói đang giam ở đâu ngoài Bắc thì phải. Lúc trước ổng ở Phi Đoàn 219 cũng đi thả Lôi Hổ đấy.(*)
Ba đứa tôi đi lên, tụi nó ra lệnh phải cởi áo ra và để tay lên đầu. Khi lên tới nơi, có một thằng nhóc cầm súng M16 lại gần hỏi tôi:
-Có phải anh là bạn của Th/U Phận không? Tui nhớ mặt anh vì hồi đó anh có ghé làng Liên Chiểu đánh Bi Da uống cà phê với Th/U Phận nè, bộ râu của anh làm sao tui quên được?
Thấy nó có vẻ dễ chịu tôi hỏi:
-Bắt như vậy bị giam ở đâu? Có lâu không?
Nó trả lời:
-Chỗ nhốt ở gần đây thôi, còn lâu mau thì tui hỏng biết, có lẽ cũng không lâu đâu.
Tôi thấy phía trên đường đông lắm, có cả xe Jeep rồi Molotova nữa. Có một toán Phóng Viên của tụi nó cũng đứng đó, có lẽ nó đi ngang thấy rồi đứng lại coi. Sau khi lục soát không thấy vũ khí hoặc vật gì nguy hiểm thì tụi nó không trói, rồi đưa 3 đứa lên xe Jeep chở về xã Hòa Hiệp. Tại đó có một số Tù Binh đủ mọi thành phần, trong số đó có cả 13 ông bạn mình bị trói thúc ké ngồi riêng một góc trông thật tức cười. Một lát sau họ cũng được cởi trói, vì sau khi điều tra, họ không biết chúng tôi là những người hôm qua chống cự rồi rút chạy, coi như thoát nạn.
Có một đám bộ đội CSBV cũng đến coi, chúng nó chỉ trỏ nhục mạ TQLC rồi sau đó hỏi mấy người dân đứng chung quanh:
-Còn mấy thằng đồ xanh tóc dài dài nà nính gì thế?
Dân trả lời:
-Biệt Kích Long Thành đó mờ?
-Mang dza bắn bỏ, mang dza bắn bỏ..bọn nó gào lên.
Dân trả lời:
-Thâu đi mấy chú ơi! Mấy chú khang biết cứa chi coả. Họ đi ngeng đai hùa mà có bô giờ béc gừa béc dzịt của dân đâu mà bén bỏ bén bỏ?
Mấy tay Du Kích cũng lên tiếng:
-Chỗ ni là chỗ chúng tôi trách nhiệm, không cuan chi tới các anh, để chúng tôi lòm việc.
Chiều hôm đó chúng bắt được một anh Cảnh Sát Đặc Biệt. Thật tội nghiệp cho anh này vì dân trong Xã đã kể tội anh ta đủ thứ. Anh này không được cởi trói và dân xông vô chỗ chúng tôi bị giam để khảo tội anh ta. Mỗi lần như vậy họ đánh anh không thương tiếc. Chúng tôi chỉ ngồi yên không có một hành động nào hết cho đến khi tên Tổ Trưởng can thiệp thì anh ta mới được yên. Dân làng đã nấu cho chúng tôi một nồi cháo lòng vì họ biết chúng tôi đói lắm. Thấy họ cũng không có ác cảm gì với tụi tôi. Họ bảo ăn từ từ thôi kẻo bị trúng thực và họ cũng khuyên đừng nên chống lại "Cách Mạng". Đêm hôm đó chúng tôi được ngủ yên vì quá mệt, mặc cho muỗi tha hồ tung hoành. Phía ngoài được canh gác cẩn mật bởi những tay Du Kích. Lâu lâu tôi phải thức giấc vì chân tôi đã bắt đầu đau đớn, những vết thương bị mưng mủ khắp nơi mà không có gì để lau rửa. Đất, sình bám đầy hai bàn chân thật khủng khiếp! Chịu thôi.!.!
31/3
Trời vừa hửng sáng, chúng tôi thấy dân làng lại nấu cháo mang đến cho Tù Binh. Sau khi chúng tôi được ăn uống đầy đủ và có phần khỏe khoắn hơn mấy ngày qua thì thấy dân chúng tụ tập đông hơn. Họ đã yêu cầu tên Tổ Trưởng cho dẫn anh Cảnh Sát ra ngoài để lập "Tòa Án Nhân Dân" xử anh này. Họ đã mang ra ngoài sân trường gần đó và chỉ sau 1/2 tiếng đồng hồ chúng tôi nghe nhiều tiếng súng nổ vang. Chúng tôi biết anh ta đã bị xử tử. Dân chúng giải tán, còn lại tên Trưởng toán, Xã Đội Trưởng thì đúng hơn. Tay cầm cây K54 còn bốc khói bước vào trong nhà, hắn kéo cái bàn ra giữa nhà ngồi lên trên đó. Hắn suy nghĩ một hồi làm tụi tôi nín thở (có lẽ hắn vừa bắn phát ân huệ cuối cùng), đột nhiên hắn hất hàm hỏi:
-Sao? Mấy anh có còn muốn chống lại C.M không? Nếu muốn chống lại thì sẽ như tên ác ôn kia. Thế nào? Các anh tính sao?
Không ai dám hé môi dù chỉ một lời.
Hắn lại hỏi tiếp:
-Các anh có muốn được về với gia đình không?
Cả bọn chưng hửng. Một câu hỏi thật dễ trả lời và trên gương mặt hắn không có vẻ gì là lừa gạt cả, tôi trả lời ngay:
-Chúng tôi không có ý định chống lại ai hết, còn gì đâu để mà chống? Nếu thực sự anh cho chúng tôi về thì chúng tôi cám ơn.
Hắn lại cúi đầu im lặng một lúc lâu rồi ngẩng đầu lên cất giọng khàn khàn:
-Các anh được tự do trở về nhà...
Chúng tôi không nghĩ là hắn nói thật, có lẽ nào? Nhưng rõ ràng mặt hắn rất thành thật khi thốt ra nhưng lời đó, hắn tiếp:
-Các anh được tự do vì chính sách khoan hồng nhân đạo của......
Chúng tôi chẳng cần nghe thêm nữa, tôi hỏi tiếp:
-Anh có cấp giấy trả tự do cho chúng tôi không?
-Có chứ, anh ta đáp: Tôi sẽ dẫn các anh ra ngoài trụ sở để họ làm giấy cho các anh.
Chúng tôi đi theo anh ta ra ngoài Xã. Ở đó có mấy người ngồi phụ trách giấy tờ nhưng..... không ai biết đánh máy, cũng không biết viết cho nên chúng tôi nói :
-Thôi khỏi cần giấy, hễ tụi tôi bị bắt lại thì mấy anh xác nhận là mới thả được rồi. Thế là chúng tôi đi thật nhanh ra ngoài Quốc Lộ 1 mà cứ sợ chúng đổi ý, chúng tôi chia tay với một vài người đi về hướng đèo Hải Vân vì nhà họ ở phía ngoài Huế, còn lại chúng tôi đi về Đà Nẵng.
Như một đám tàn binh, chúng tôi cố gắng đi thật nhanh mặc dù chân đứa nào cũng "thương tích trầm trọng". Lâu lâu có một chuyến xe đò chạy ngang qua nhưng họ không dám dừng lại khi chúng tôi đưa tay đón. Họ không biết chúng tôi thuộc loại nào mà lại lang thang lếch thếch như thế này? Có lẽ họ nghĩ rằng chúng tôi mới ở đâu đó chui ra cho nên chẳng dại gì mà dây vào cho thêm nặng tội.
Khoảng cách từ cầu Nam Ô về Đà Nẵng cũng khoảng trên dưới 30 Km. Chúng tôi biết không có hy vọng để quá giang xe cho nên cứ lết được tới đâu hay tới đó. Trên đường đi, hai bên là đồng ruộng, đường xa vời vợi nhưng nghĩ đến chuyện sẽ về Đà Nẵng cũng cảm thấy hăng hái một chút. Khi chúng tôi đi ngang qua những căn cứ quân sự của B.Đ.Q ở Hòa Vang thì bị bắt lại. Sau khi được xác nhận là đã được tha bởi "quân C.M"ở Xã Hòa Hiệp thì chúng tôi lại được thả cho đi tiếp. Cứ như thế không biết bao nhiêu lần.
Chân tôi càng đau đớn nhiều hơn và bắt đầu sưng lên. Không biết bao lâu chúng tôi đã tới ngã ba Huế và lại bị bắt hạch hỏi đủ điều. Lần này những tên khốn nạn CM 29-30 đã bắt chúng tôi cởi trần mới được vào thành phố. Bây giờ không còn cách nào khác hơn là phải chịu nhục để được yên thân. Gần đến nơi rồi, đừng năn nỉ chúng nó làm gì, kệ mẹ nó, đi thôi.!.!
Về đến ngã ba Cai Lang chúng tôi chứng kiến một cảnh tượng thật đau lòng. Tất cả những người Thương Binh ở Tổng Y Viện Duy Tân đều bị lùa ra ngoài đường. Họ nằm ngồi la liệt bên cạnh những đống rác hôi tanh, bên những vũng nước nhầy nhụa, bông băng, máu mủ. Không thể nào diễn tả hết được những sự độc ác của lũ khỉ hóa người, không tình đồng loại, còn thua xa những con thú chứ đừng nói gì đến so sánh với súc vật. Có những ngưòi nằm chết cong queo, có những ngưòi rên siết vì những vết thương. Chúng tôi đi qua, không có gì để giúp đỡ họ. Chúng tôi chỉ hơn họ là còn đi được mà thôi. Cả bọn chúng tôi ứa nước mắt lầm lũi bước đi trong nỗi căm hờn với cái bọn đê hèn đốn mạt kia.
Mình thua thật rồi. Đà Nẵng mất thật rồi. Bạn bè tôi đâu? Đơn vị tôi đâu? Có lẽ họ cũng bị bắt đâu đó? Nếu họ có thoát được, mong họ bình yên. Còn gia đình tôi giờ đang ở đâu? Tôi về có còn gặp lại ai nữa không? Còn những con súc vật sẽ đối xử với kẻ bại trận như thế nào đây? Bao nhiêu câu hỏi quay cuồng trong đầu tôi, Tôi muốn điên lên được. Chắc các bạn tôi cũng vậy!!
Chúng tôi vào đến thành phố Đà Nẵng vắng vẻ. Một vài nơi đổ nát hoang tàn, phố xá thảm hại, dân chúng chắc ở trong nhà nhiều hơn ngoài đường. Không ai để hỏi thăm tình hình Sài Gòn ra sao cả. Chúng tôi đi qua một ngôi Chùa, ở đó thấy đông người hơn những chỗ khác. Chúng tôi chia tay một lần nữa. Hầu hết các bạn đều vào Chùa xin tá túc. Tôi chia tay Th/U Long và Th/U H.. Tôi sẽ về nhà chị Dâu tôi xem có ai còn ở lại không? Nếu không còn ai có lẽ tôi sẽ đi tìm một Nhà Thờ nào đó xin tá túc rồi sẽ tính sau.
Chỉ còn một mình tôi lủi thủi đi từ Chợ Cồn về đường Phan Đình Phùng /Lê Lợi. Lúc này chân tôi không còn biết đau đớn là gì nữa vì mãi lo suy nghĩ không biết có chuyện gì xảy ra cho gia đình chị Dâu tôi không? Có còn ai ở nhà hay đã di tản khỏi nơi này rồi? Đường phố sao mà vắng tanh như ngày Tết vậy? Hay là người ta ra khỏi thành phố lánh nạn ở đâu đó? Tôi đi qua những hàng quán trước kia tấp nập nay cửa đóng then cài. Xe cộ cũng biến đâu mất cả. Đúng là thành phố chết. Tôi cứ lầm lủi bước đi mà trong lòng chẳng có hy vọng gì gặp lại người thân. Từ xa tôi đã thấy cái cổng sắt trước nhà, tôi đi chậm lại rồi khi chỉ còn vài căn nữa tôi đứng lại quan sát. Nhà nằm ngay góc ngã tư đường, tôi đứng chờ hoài không thấy bóng dáng một ai cả,hàng xóm cũng thế. Tôi nghĩ trong bụng là cứ tới trước cửa coi sao, nếu không có ai thì mình cứ vô nhà rồi tùy cơ ứng biến.
Tôi đứng trước cửa mà tim tôi đập mạnh. Cửa không khóa ngoài lẫn trong, nhà cũng chẳng bị hư hỏng gì cả. Tôi định thò tay vô để mở cái then cài phía trong thì chợt thấy có bóng ai vén rèm cửa lên nhìn. Tôi chưa biết là ai thì nhanh như cắt thằng em của bà chị Dâu tôi chạy ra mở cửa cổng sắt lôi tôi vào rồi đóng cửa lại, kéo tôi chạy vô trong nhà cũng nhanh như lúc nó chạy ra vậy. Thì ra là thành phố đang trong tình trạng giới nghiêm- nó cho tôi biết thế . Mọi người mừng rỡ vì thấy tôi an toàn trở về. Tôi chỉ kể sơ về chuyến đi và làm sao thoát được để về đến đây, thế thôi. Bây giờ tôi cảm thấy tội nghiệp cho mấy người bạn của tôi không biết bây giờ ra sao? Việc tôi làm trước tiên là tắm rửa thay quần áo và săn sóc các vết thương ở dưới chân. Sau đó chị tôi kêu tôi ăn một chút cơm, sao mà nó ngon không thể tưởng tượng được. Lúc này đã là buổi chiều sắp tối rồi, tôi leo lên giường chỉ trong chốc lát tôi không còn biết gì nữa cả, thân thể rã rời vì suốt mấy ngày qua phải đương đầu với bao nhiêu hoạn nạn, khó khăn!!
1/4
Sau một đêm thẳng giấc không vướng bận,không lo nghĩ và thật là ấm áp, sức khỏe của tôi hồi phục thật nhanh. Tôi chỉ ở quanh quẩn trong nhà theo dõi tin tức chiến sự qua các đài V.O.A , B.B.C và đài phát thanh Sài Gòn. Những người trong nhà kể cho tôi nghe những gì đã xảy ra từ lúc tôi đi Công Tác cho đến giờ. Không ai nghĩ rằng tôi sẽ trở về. Đây là lần thoát chết thứ hai trong đời Lính của tôi. Ở nhà có nghe tin tôi mất tích và lần nào cũng thấy được toàn thây trở về.
Hôm nay là hạn chót cho Sĩ Quan, Công Chức, Binh Lính chế độ cũ phải ra trình diện. Chúng nó phát loa kêu gọi, hăm dọa làm cho gia đình chị tôi lo sợ. Họ nói tôi phải đi ra ngoài trụ sở gì đó để "nộp mạng", nên tôi phải đi ra ngoài . Hôm nay trên đường phố có đông người qua lại hơn hôm qua. Tôi thấy ai cũng cắm cúi đi mà không ai nhìn ai cả. Trên đường tới chỗ trình diện tôi có gặp Đ/ Úy Thục và Th/Úy Phụng cũng lang thang ngoài đường tới chỗ làm giấy tờ để vào tù, tôi hỏi Đ/Úy Thục:
-Sao anh còn ở đây? Tưởng anh đi theo Đoàn rồi chứ?
-Đi răng được mà đi? Tau cọ biết chi mô? Đ.mạ, tau với Th/Úy Phụng ở trên núi Sơn Trà mà còn bị bỏ lại đây. Chọ mạ lặm mi ơi, tau thấy mi còn lành lặn trở về là tau mừng rồi, còn thằng Thể với mấy đứa kia đâu?
Tôi chỉ kể vắn tắt cho ổng nghe những gì đã xảy ra cho anh em cùng đi, ai còn, ai mất, rồi mạnh ai nấy đi.
Những ngày sau đó là "Tập Trung Cải Tạo", Thiếu Úy trở lên đi trước, Chuẩn Úy đi sau (15 ngày tại chỗ) sống lang thang đói rách cho đến ngày mất Sài Gòn vẫn còn lang thang, mãi 2 tháng hơn mới về được Sài Gòn. Tưởng đâu được yên nhưng rồi cũng phải chui vào rọ vì trên đầu có dán cái nhãn Biệt Kích Lôi Hổ. Ngày đi thì có, ngày về thì mút chỉ.
Chung Tử Ngọc 729 SCT/NKT
(*)Tr/Úy Chung Tử Bửu -Phi Công Phi Đoàn 219 lúc đó đóng tại Đà Nẵng


NGUYỄN = 7
MẠNH = 4155 = 15 = 6
TƯỜNG = 46753 = 25 = 7
Cộng lại: 7 6 7 = 20
Đánh sập 'vua' ngân hàng miền Nam trước năm 1975
24/04/2016 09:43 GMT+7
Thập niên 1960 - 1970 là khoảng thời gian phát triển rầm rộ của hệ thống ngân hàng miền Nam. Tại Sài Gòn có tất cả 27 ngân hàng tư nhân hoạt động. Trong số 27 ngân hàng tư nhân đó có 14 ngân hàng của người Việt Nam, 3 ngân hàng của người Pháp, 3 của Hoa kiều Chợ Lớn, 2 của Anh, 2 của Mỹ, 1 của Hàn Quốc, 1 của Nhật Bản và 1 của Thái Lan.
Vượt lên trên tất cả về quy mô, chiến lược kinh doanh và uy tín thương hiệu là Ngân hàng Tín Nghĩa do Nguyễn Tấn Đời làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc.
Ông chủ nhà băng… bất đắc dĩ
Năm 1965, một số thương gia miền Nam đứng ra xin phép thành lập một ngân hàng tư nhân lấy tên là Tín Nghĩa để cạnh tranh với một số ngân hàng nước ngoài đóng tại Sài Gòn. Gom góp khắp nơi nhưng số tiền dự trữ tối thiểu theo quy định không đủ, họ đến thuyết phục Nguyễn Tấn Đời mua số cổ phần còn lại.
Đánh sập 'vua' ngân hàng miền Nam trước năm 1975
Không hiểu biết gì về ngành ngân hàng, cũng không có ý định làm ăn trong lĩnh vực này, nhưng Nguyễn Tấn Đời vẫn đồng ý, xem như góp vốn "cho vui". Gọi là "cho vui" nhưng ông góp đến 1/5, tức 40/200 triệu, trong khi các cổ đông còn lại người góp nhiều nhất cũng chỉ đến 500 ngàn.
Đến giữa năm 1966, Ngân hàng Tín Nghĩa có nguy cơ phá sản vì các quản trị viên vay mượn tiền dự trữ nhưng không có khả năng chi trả. Để tìm một giải pháp êm đẹp, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Cộng hòa bàn bạc riêng với Nguyễn Tấn Đời, khuyên ông nên mua lại các cổ phần để trở thành đa số tuyệt đối; Ngân hàng Quốc gia sẽ cho vay một số tiền để cứu nguy Ngân hàng Tín Nghĩa. Nguyễn Tấn Đời một mực từ chối vì ông không muốn dính thêm rắc rối vào lĩnh vực này.
Thống đốc Ngân hàng quốc gia cho biết nếu Nguyễn Tấn Đời không đồng ý thì số cổ phần sẽ bị mất trắng nếu Ngân hàng Tín Nghĩa sụp đổ. Tuy sự cố không phải do Nguyễn Tấn Đời gây ra nhưng do ông là quản trị viên, không kiểm soát những hoạt động sai trái nên phải chịu một phần lớn trách nhiệm.
Nguyễn Tấn Đời liền tìm đến người bạn thân là luật sư Lê Văn Mão cầu cứu, nhờ tìm cho ông một lối thoát để rút lui nhưng không được. Cuối cùng ông đành bất đắc dĩ nhận lời.
Theo điều kiện bắt buộc của Ngân hàng Quốc gia, Nguyễn Tấn Đời phải mua 3/5 trị giá thật sự của Ngân hàng Tín Nghĩa để cụ thể hóa địa vị cổ đông có cổ phần nhiều nhất. Ngoài ra ông còn phải đóng đủ tiền mặt 100 triệu để hội đủ số tiền dự trữ tối thiểu, sau đó Ngân hàng Quốc gia sẽ hỗ trợ kỹ thuật và cho vay 100 triệu để Ngân hàng Tín Nghĩa được tái hoạt động.
Phái đoàn hỗ trợ kỹ thuật gồm 3 người, đứng đầu là ông Dương Hoàng Doanh - Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Thương Tín. Họ đến để hỗ trợ tất cả các mặt về nghiệp vụ ngân hàng, giúp Nguyễn Tấn Đời nhanh chóng ổn định tình hình.
Năm 1968, Nguyễn Tấn Đời đi Canada tìm nơi gửi các con ăn học, nhân dịp này ông cất công tìm kiếm và học hỏi kinh nghiệm của các ngân hàng ở đây. Qua đó, ông phát hiện ra chính nhóm hỗ trợ kỹ thuật làm mất quyền lợi của Ngân hàng Tín Nghĩa. Ông lập tức yêu cầu Ngân hàng Quốc gia hủy bỏ khế ước trước hạn định, rút nhóm hỗ trợ kỹ thuật về.
Qua điều tra, mặc dù kết quả nhóm hỗ trợ kỹ thuật có gây ra những vi phạm đáng kể nhưng Ngân hàng Quốc gia không chuẩn y yêu cầu của Nguyễn Tấn Đời. Họ chỉ chấp thuận theo các điều kiện rất bó buộc, và cương quyết không tái gia hạn số tiền vay 100 triệu nếu nhóm hỗ trợ kỹ thuật rời khỏi Ngân hàng Tín Nghĩa. Lý do đơn giản là Nguyễn Tấn Đời là người không bằng cấp, không kinh nghiệm trong ngành ngân hàng, nên ông phải thực hiện theo yêu cầu của Ngân hàng Quốc gia.
Không chấp nhận thua thiệt, Nguyễn Tấn Đời quyết định trả số tiền 100 triệu cho Ngân hàng Quốc gia để nhóm hỗ trợ kỹ thuật rút khỏi Tín Nghĩa. Và với số vốn tuyệt đối như thế, Nguyễn Tấn Đời chính thức được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Ngân hàng Tín Nghĩa.
Đây là một sự phá lệ đặc biệt của Ngân hàng Quốc gia, vì lâu nay có lệnh cấm Chủ tịch Hội đồng quản trị không được giữ chức Tổng giám đốc. Điều kiện kèm theo là Nguyễn Tấn Đời phải tuyển một người có chuyên môn làm giám đốc kỹ thuật phụ trách về nghiệp vụ. Nguyễn Tấn Đời đã chọn Hứa Xiều, một người trước đây từng làm việc tại Ngân hàng Quốc gia. Và chính nhân vật này đã giúp ông rất nhiều trong việc tổ chức lại hệ thống Ngân hàng Tín Nghĩa.
Những cải tổ gây chấn động
Khi nhận chức Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa mời Nguyễn Tấn Đời đến họp lần đầu tiên. Tại cuộc họp, họ sắp xếp Nguyễn Tấn Đời phải ngồi ở ghế cuối cùng, cách một khoảng trống xa với những người khác, ngụ ý của họ là không muốn ngồi chung với ông…
Ông Nguyễn Tấn Đời (ngoài cùng bên trái) trong buổi dự lễ khánh thành xưởng ráp máy thu thanh và truyền hình tại Thủ Đức.
Không dừng lại ở đó, những người này còn loan truyền tạo ra dư luận những tin đồn kinh khủng: "Tín Nghĩa Ngân hàng sắp phá sản, gửi tiền vào sẽ không rút ra được. Nguyễn Tấn Đời là người điều khiển mà không biết nghề, ông chỉ là thằng chăn trâu mới học được chữ ký, làm giàu nhờ lúc chiến tranh lượm được một thùng vàng của người ta chôn giấu. Việc mua lại Ngân hàng Tín Nghĩa chỉ là thể hiện cái ngông của kẻ trọc phú mà thôi".
Đứng trước sự khinh khi đó, cộng với mặc cảm về sự ít học của mình, Nguyễn Tấn Đời như bừng tỉnh. Ông nung nấu một ý chí phấn đấu tột độ, quyết tâm phải tạo ra một lối đi riêng để khiến họ phải tâm phục khẩu phục. Theo đó, ông đã tung ra những cải tổ gây chấn động, đưa Ngân hàng Tín Nghĩa bước lên dẫn đầu các hệ thống ngân hàng tư nhân tại Sài Gòn
Đầu tiên, Nguyễn Tấn Đời cho mời tất cả khách hàng nhỏ đến và tổ chức tiếp đón niềm nở tại nhà riêng ở 121 Yên Đổ. Những người này lâu nay bị bỏ quên nên không bao giờ được ngân hàng để ý đến. Nay được tiếp đón trọng thị và được cam đoan sự chắc chắn trong việc bỏ lệ phí mở trương mục và phát hành chi phiếu.
Họ bằng lòng mở trương mục và phát hành chi phiếu để gửi tiền rồi ký chi phiếu trả tiền cho các khách hàng lớn, như vậy họ không lo sợ sẽ không rút tiền được khi Ngân hàng Tín Nghĩa phá sản bất ngờ. Người này làm được liền giới thiệu người khác, cứ như thế tiếng đồn lan nhanh rằng Ngân hàng Tín Nghĩa rất tử tế, tiếp đãi ân cần mà lại không tốn chi phí như các ngân hàng khác.
Uy tín Ngân hàng Tín Nghĩa ngày một thêm tăng, chi phiếu giao hoán ngày càng nhiều. Và điều tất nhiên là khách hàng nhỏ luôn nhiều hơn khách hàng lớn, vì vậy không bao lâu chi phiếu của Ngân hàng Tín Nghĩa tràn ngập phòng giao hoán.
Tiếp đến, Nguyễn Tấn Đời mời khách hàng lớn là các thương gia đến nhà riêng và cũng tiếp đón rất trọng thị. Ông thuyết phục: phần đông khách hàng nhỏ đều mở trương mục trong Tín Nghĩa nên ông sẽ dư sức trả chi phiếu Tín Nghĩa cho các thương gia lớn. Đặc biệt, nếu gửi tiền vào các ngân hàng khác, phải mất 24 hoặc 48 tiếng đồng hồ sau, ở các tỉnh thì phải cả tuần hoặc chờ đến khi nào ngân hàng nhận được tiền thì mới cho vào trương mục.
Đánh sập 'vua' ngân hàng miền Nam trước năm 1975
Thời gian đồng tiền chuyển đi sẽ không được tính lãi. Còn với Ngân hàng Tín Nghĩa, chi phiếu sẽ có giá trị ngay trong ngày. Lời thuyết phục rất hợp lý, ban đầu những thương gia lớn thử gửi tạm tiền vào Tín Nghĩa, sau một thời gian họ gửi hẳn như các khách hàng nhỏ. Dần dần Ngân hàng Tín Nghĩa thu hút rất nhiều khách hàng, tạo ra một uy tín rất lớn trong dân chúng.
Cuối năm 1968, Nguyễn Tấn Đời tung ra nhiều biện pháp cực kỳ mới làm cho Hiệp hội Ngân hàng phải "xốn mắt". Ông cho quảng cáo rầm rộ: đăng trên báo chí, phát hành lịch, tranh ảnh và áp phích khắp nơi. Đặc biệt, tất cả khách hàng đều được tặng một đĩa hát "Của Hồi Môn" gồm những bài dân ca nổi tiếng do những ca sĩ tên tuổi thời bấy giờ trình bày. Ngoài ra, mỗi khách hàng mới sẽ được tặng một món quà tương xứng tùy theo số tiền gửi. Ngân hàng còn tổ chức xổ số theo định kỳ, phần thưởng rất giá trị gồm tivi, cassette, máy may, xe máy, thậm chí là xe hơi.
Và một điều rất mới mẻ chưa ai nghĩ đến là sử dụng logo cho ngân hàng. Nguyễn Tấn Đời cho thiết kế logo là hình ảnh ông Thần tài cầm hai xâu tiền, tượng trưng cho sự giàu sang phú quý. Ông cũng cải tổ hoàn toàn về mặt hành chính, quy định nhân viên phải mặc đồng phục có logo Ngân hàng Tín Nghĩa; phải tuyệt đối lịch sự, nhã nhặn khi tiếp khách hàng, bất kể khách gửi tiền hay rút tiền; loại bỏ những thủ tục rườm rà không cần thiết làm mất thời gian cho cả nhân viên và khách hàng. Ông tuyển nhân viên giao dịch rất đông, nhiều hơn đến 30% so với các ngân hàng khác.
Một phương thức rất táo bạo nữa là Nguyễn Tấn Đời cho mở rất nhiều chi nhánh trên một hệ thống rất rộng rãi. Thời bấy giờ các ngân hàng ở miền Nam không cần thiết có chi nhánh nào cả, nhưng Nguyễn Tấn Đời cho rằng cần phải mở chi nhánh ở vùng cư ngụ của những tiểu thương và giới trung lưu. Nhờ đó những người này không sợ rủi ro khi phải di chuyển trên đường dài để đến trụ sở ngân hàng trung tâm ở Sài Gòn. Và đặc biệt, tiền gửi tiết kiệm được rút ra bất cứ tại chi nhánh nào chứ không chỉ ở trụ sở trung tâm như các ngân hàng khác.
Năm 1967, Ngân hàng Tín Nghĩa chỉ có 2 văn phòng ở Sài Gòn với gần 100 nhân viên, thì năm 1972 có đến 32 chi nhánh với gần 1.000 nhân viên. Số tiền gửi tính đến cuối năm 1972 lên đến con số 2 tỷ, đưa Tín Nghĩa Ngân hàng trở thành ngân hàng tư nhân lớn nhất miền Nam.
Những nỗ lực về cách thức đổi mới của Nguyễn Tấn Đời khiến Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa lên án và chỉ trích thậm tệ. Đối với những chủ ngân hàng luôn tự hào về địa vị cao sang của mình thì những phương pháp của Nguyễn Tấn Đời là không chính đáng và… bỉ ổi. Họ đưa ra một bản khiếu nại yêu cầu phải được làm rõ. Dưới sức ép ngày càng lớn, Ngân hàng Quốc gia đã vào cuộc, và mọi việc được giải quyết êm đẹp. Những cải tổ của Nguyễn Tấn Đời đều hợp lệ và ông vẫn là một "ông vua" không có đối thủ.
Mặc dù bị phản đối quyết liệt, khen chê không ít, Nguyễn Tấn Đời vẫn quyết tâm thực hiện những cải tổ của mình. Ông thay đổi toàn bộ hệ thống cập nhật kế toán bằng máy NCR nhập từ Canada, phát hành thẻ tín dụng, mở màn cho một thời kỳ mới cho giới ngân hàng ở miền Nam lúc bấy giờ.
Ông được giới thương gia hoan nghênh chấp nhận nhưng Hiệp hội lại kiện cáo. Ngân hàng Quốc gia lại vào cuộc, tiến hành nghiên cứu về vấn đề có thể xảy ra giữa việc du nhập thẻ tín dụng với nền kinh tế tổng quát và sự bình quân của các ngân hàng ở miền Nam trước khi quyết định cho Tín Nghĩa Ngân hàng phát hành.
Mọi công việc đang quyết liệt, căng thẳng, bất ngờ ngày 21 - 4 - 1973, Nguyễn Tấn Đời bị bắt giam, hệ thống Tín Nghĩa Ngân hàng bị phong tỏa và đánh sập. Và người ra lệnh này là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Tin này làm chấn động cả miền Nam, từ giới bình dân cho đến những tướng tá, quan chức trong chính quyền. Dư luận xôn xao: Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bắt giam Nguyễn Tấn Đời vì lý do gì? Vì sự ghen tức tư thù cá nhân hay có sự nhúng tay của CIA?
Theo CAND
TRẬN CHIẾN ÁC LIỆT CỦA SĐ 6 KHÔNG QUÂN, LIÊN ĐOÀN 31 BĐQ, LỮ ĐOÀN 2 DÙ VÀ HAI TRUNG ĐOÀN CỦA SĐ 2 TẠI PHAN RANG NGÀY 14-15-16 / 04 / 1975
- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính quan trọng gấp BA LẦN hỏa lực của đơn vị. Không có trung đoàn tồi mà chỉ có đại tá tồi.—Hoàng đế Napoléon.
. . .
LỜI NÓI ĐẦU: Sau khi bị vây chặc trong nhiều ngày ở quận lỵ Chơn Thành, vào đầu tháng 4/75, LĐ 31 BĐQ đã mở đường máu đến vùng đất do CP kiểm soát. Sau khi bổ sung quân số và ko kịp ngơi nghỉ tại hậu cứ LĐ tại Biên Hòa, LĐ đã được không vận bằng C-130 ra Phan Rang--để thay thế LĐ 2 Dù rút về bảo vệ SG. Trước một đối phương áp đảo về quân số và hỏa lực, LĐ 31, với quân số thiếu thốn (có TĐ chỉ có 200 quân) đã anh dũng đánh trận cuối cùng tại Phan Rang trước khi tan rả.
Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 409-426 của quyển Black April.
====
. . .
THAY QUÂN VỘI VÃ DƯỚI ÁP LỰC ĐỊCH
. . .
"Không biết sự tập trung này của bắc quân, NGÀY 12 THÁNG TƯ, tướng Toàn, TL của QK-3 đã báo cho tướng Nguyễn vĩnh Nghi, TL của BTL tiền phương của QK-3 tại Phan Rang rằng LĐ 2 Dù sẽ rút về SG ngày kế. TĐ 5 LĐ 3 Dù, của trung tá Bùi Quyền, đã rời Phan Rang ngày hôm trước. LĐ 31 BĐQ, vừa chiến đấu mới đây ở quận lỵ Chơn Thành và hiện phục hồi tại căn cứ Long Bình gần SG, và sđ 2 bộ binh, với hai trung đoàn, cộng thêm vài xe M-113, và một pháo đội (gồm 6 đại bác 105 ly), sẽ thay thế quân Dù. Dù cho Nghi phản đối, Toàn ko đổi ý. Sau khi gửi LĐ 1 Dù của trung tá Nguyễn văn Đỉnh đến Xuân Lộc, Toàn rất cần phục hồi quân trừ bị chung quanh SG. Toàn sau này đã nói với tác giả George Veith, "SG quan trọng hơn Phan Rang." Nói thêm: LĐ 1 Dù, đầu tháng 3/75 còn hoạt động ở Thường Đức Quảng Nam nhưng sau đó lên tàu về SG để dưỡng quân và làm trừ bị.--người dịch.
Lúc 6 giờ sáng ngày 13 tháng tư, LĐ 31 BĐQ, với ba tđ và những đv yểm trợ, đã tập hợp tại sân bay Biên Hòa để đi Phan Rang. Đến 4 giờ chiều, đổ quân hoàn tất. SĐ 2 bb, gồm trung đoàn 4 và 5--riêng trung đoàn 6 và một pháo đội gồm 6 khẫu 105 ly đã đi Phan Thiết ngày 12/4 để bảo vệ tp này--cũng bắt đầu chuyển đến Phan Rang. Ngày 13/4, trung đoàn 4 tới bằng xe, và trung đoàn 5 tới ngày kế. Trung đoàn 5 là đv yếu nhứt của chuẩn tướng Nhật: gồm một tđ ĐPQ của Long An và một TĐ vá víu từ nhiều đv khác nhau của sđ 2. BTL SĐ đến vào sáng 15/4.
Không gì tệ hại hơn quyết định của tướng Toàn khi thay quân ở ngay tuyến đầu, đặc biệt dưới áp lực của địch. Quân mới đến cần thời gian để quen địa thế và tình hình của địch quân. Các đv yểm trợ như pháo hay tiếp vận cũng cần thời gian để tổ chức. Dù hỏa lực của không quân dồi dào, nhưng nếu bắc quân bắt đầu pháo, việc yểm trợ này sẽ nhanh chóng tan biến. Đại bác cũng ko đủ, cũng như ống nhắm, đạn, và phụ tùng. Máy truyền tin rất ít, và những trang bị khác cũng thiếu. Nói thêm: mọi xăng dầu dùng cho xe và máy bay đều chở từ máy bay từ SG hay từ Phan Thiết vì Cam Ranh đã bị chiếm từ đầu tháng 4.
Sau khi gặp tướng Nghi và Sang, ĐT Biết, chỉ huy LĐ 31 BĐQ, đã gửi TĐ 31 thay thế TĐ 11 Dù ở đèo Du Long--đây là tuyến đầu và xa nhứt của mặt trận Phan Rang. TĐ trưởng của TĐ 11 dù và một đại đội đã rút về sân bay Thành Sơn tại Phan Rang, trong khi ba đại đội khác của tđ này đã lập phòng tuyến trên các đỉnh đồi dọc QL-1 ở bắc Phan Rang. Họ sẽ rút về Thành Sơn buổi sáng kế và sau đó về Biên hòa. Một TĐ BĐQ khác sẽ được gửi tới Ba Râu để thay thế tđ 3 dù. ĐT Biết để TĐ 52 ở sân bay Thành Sơn làm trừ bị. (TĐ này bị thiệt hại trung bình trong trận đánh cuối tháng 3 ở quận lỵ Chơn Thành--người dịch). Trung đoàn 4 của sđ 2 sẽ bảo vệ QL-11, con đường từ Đà lạt xuống Phan rang. Khi trung đoàn 5 tới, sẽ được giữ lại gần sân bay.
Khi máy bay chỡ BĐQ đến sân bay Thành Sơn, ĐT Nguyễn thu Lương chỉ huy LĐ 2 Dù, đã cho TĐ 7 Dù và phần lớn của bch LĐ lên các máy bay này. TĐ 3 và 11 Dù sẽ khởi hành ngày 14/4, hoàn tất việc rút LĐ 2 Dù trừ pháo binh--cần thêm một ngày.
TĐ 31 BĐQ của thiếu tá Nguyễn văn Tú đã tới đèo Du Long khoảng 6 giờ chiều ngày 13/4. Sau khi định hướng và quan sát phòng tuyến mà Nhảy Dù để lại, Tú đã hoàn tất việc thay quân lúc 10 g đêm. Trong khi tương đối bình yên trên phòng tuyến Nam quân, Tú đã lo lắng rất nhiều. Những đv đóng gần họ là ĐPQ tại quận lỵ Du Long--đã trở lại tp này sau khi trước đó đã bỏ chạy trong hoảng loạn. Khi Tú hỏi ĐT Biết về yểm trợ hỏa lực, Biết đã bảo đảm rằng dù ko có pháo binh nhưng không yểm thì thừa thải. Tuy nhiên, thiếu pháo binh hay viện binh ko là nỗi lo duy nhứt của Tú, mà là quân số thiếu trầm trọng. Khoảng 200 lính, chưa bằng nửa cấp số, đã có mặt tại Biên Hòa sáng hôm đó. Thông thường, những lính trể phép hay vắng mặt sẽ có mặt đầy đủ sau vài ngày khai diển hành quân, nhưng thiếu tá Tú ko biết làm thế nào họ có thể đến Phan Rang xa xôi để trình diện.
Trong khi Tú quan sát những dãy đồi, ông suy nghĩ về nhiệm vụ kép của ông: ông phải theo dỏi dân tị nạn xuôi nam, trong khi đặc công cs sẽ trà trộn với dân. Nếu là lính sẽ bị giữ lại và gửi về hậu phương để lập dv mới. Trong khi Thiếu tá Tú, một người nhập ngũ từ 1963, đi vào giấc ngủ dưới bầu trời đầy sao, đây là có lẽ là một trong những đêm yên bình cuối cùng của cuộc đời lính của ông.
BẮT ĐẦU CỦA KẾT THÚC CHO PHAN RANG
Vì lúc 5:30 sáng ngày hôm sau (14 tháng tư), pháo của csbv đã bắt đầu nổ trên nhiều vị trí gần Du Long, Ba Râu, và những làng nhỏ dọc QL-1. Nói thêm: Từ Cam Ranh, theo QL-1, đi về phía nam sẽ gặp đèo Du Long và quận lỵ cùng tên, sau đó là làng Ba Râu--làng này ở phía tây QL-1, nằm giữa Du Long và Phan Rang, và làng Kiên Kiên gần đó và cũng nằm trên QL.-- người dịch. Trong một giờ, mưa pháo của bắc quân đã rơi trên các hầm trú ẩn của bđq tại đèo Du Long (chỉ mới có mặt tại đây lúc 10 giờ đêm 13/4) và của Nhảy Dù tại Ba Râu. Lúc 6:30 sáng, một số xe tăng và các đợt xung phong của bộ binh csbv đã cố gắng chọc thủng phòng tuyến của Tú, nhưng BĐQ đẩy lui. Hai A-37 đã xuất hiện sau đó 30 phút. Nhưng bom đã rơi quá sớm và trúng một vị trí bđq, làm bị thương hơn 10 lính của Tú. Dù bị thả bom lầm và pháo địch nặng nề, bđq vẫn cầm cự.
Không thể tiến theo QL-1, bắc quân đi xuyên qua các đồi núi, đi vòng qua (bypass) các vị trí bđq, và tấn công quận lỵ Du Long. Chỉ sau một trận đánh ngắn ngủi, đpq tan hàng và tp này bị chiếm. Dù Tú vẫn giữ được vị trí, nhưng nay ông bị đánh bọc sườn. Ông gọi ĐT Biết và nhận lịnh giữ vững vị trí, vì viện quân từ tđ 52 sẽ tới. Dù TĐ 52 BĐQ cố gắng tiến lên, nhưng họ bị cầm chân bởi cánh quân thứ hai của sđ 3 csbv. Lúc 4 g chiều, Tú nhận lịnh rút lui về sân bay.
Tú đã quyết định chia lính thành những toán nhỏ để xuyên qua phòng tuyến địch. Sau khi ra lịnh và hướng dẫn kỹ lưỡng, Tú bắt đầu rút với bch tđ. Khi ông tuột xuống núi, ông đột nhiên thấy một T-54 quay pháo tháp và chỉa đại bác về phía toán của ông. La lên cho kẻ khác cùng chạy, Tú đã lao nhanh xuống núi, cố gắng thu hút sự chú ý của xe tăng này. Quả đúng như vậy: xe này bắn một phát về ông, nhưng nổ gần đó. Ông choáng váng (dazed) ngả xuống đất. Nhận thấy bị ướt sau lưng và chân phải, ông cảm thấy sợ, ko biết mình bị thương nặng như thế nào. Cẩn thận đưa tay về phía sau, ông đã khám phá rằng một miểng đạn đại bác đã trúng và làm bể bi-đông nước, làm ướt chân ông. Đứng đậy, ông đã tiếp tục di chuyển, và vào sáng hôm sau, ông và phần lớn tđ tới sân bay. Tuy nhiên chỉ có 80 người của đv sống sót. Đèo Du Long, được xem như phòng tuyến quan trọng cho Phan Rang, đã thất thủ.
Trong khi pháo dập các vị trí của lđ 31 bđq, các thành phần của trung đoàn 25 csbv bắt đầu tiến về sân bay. Chẳng bao lâu trực thăng thấy một số lớn bắc quân ngụy trang bằng lá cây tiến về sân bay. Các trực thăng võ trang của trung tá Lê văn Bút đã cố gắng ngăn chận chúng, nhưng chúng đã xâm nhập sân bay và ào tới khu vực chứa máy bay. (Nói thêm: trung tá Bút năm 1979-80 ở tù cùng trại Nam Hà B với tôi, chỉ khác đội.--người dịch). Tướng Nghi lập tức ra lịnh cho ĐT Lương chỉ huy một thành phần của tđ 11 Dù--đang chờ ở phi đạo để về SG, phải ngăn chận bắc quân. Lương phản đối, nói rằng trách nhiệm bảo vệ sân bay là của sđ 2 nhưng cuối cùng miễn cưỡng tuân lịnh.
Lương yêu cầu bốn xe M-113 đang đậu tại sân bay dưới quyền ông, tướng Nghi đồng ý. May mắn cho họ, sự phối hợp giữa M-113 và trực thăng võ trang đã chận đứng hữu hiệu cuộc tiến công này. Khi Nhảy dù đẩy bắc quân khỏi sân bay, cuộc chiến trở nên ác liệt. Chỉ huy tđ 11 Dù kể lại: "Ngay khi lính dù vượt qua hàng rào phòng thủ, địch quân bắt đầu bắn dữ dội. Một xe M-113 bị trúng B-40 bốc cháy. Hai đại đội dù đã liều chết xung phong, trong khi gunship (trực thăng võ trang) tấn công bắc quân đang cố gắng bao vây hai đại đội dù này. A-37 đã tấn công các vị trí súng cối địch ở các chân đồi kế sân bay. Bắc quân đã dùng khói màu để đánh lừa các A-37. Lính dù đã đánh cận chiến bằng cách dùng lựu đạn và lưởi lê. Cuộc phản công anh hùng này của tđ 11 dù đã gây thiệt hại nặng cho bắc quân. . . để lại hơn 100 xác. . . phía chúng tôi chết và bị thương sáu người và một M-113 bị cháy."
Sau khi đánh bại tấn công này của trung đoàn 25, Lương đã định thuyết phục Nghi rằng tình hình đã yên. Ông dùng jeep chỡ Nghi và Sang thăm Ba Râu. Khi họ trở về, một công điện cho Nghi biết rằng Trần văn Đôn, bộ trưởng quốc phòng mới bổ nhiệm, sẽ cùng tướng Toàn đến thăm vào ngày 15/4. Nghi đã yêu cầu Lương ở lại thêm một đêm để đích thân hướng dẫn Đôn và Toàn thăm khu vực. Dù càu nhàu (grumble) nhưng Lương vẫn tuân lịnh. Nói thêm: LĐ 2 Dù đã có lịnh rút về SG, nghĩa là thuộc điều động của BTTM, nhưng vì chưa có phương tiện nên nấn ná ở lại sân bay, do vậy Lương đã có thái độ như vậy với tướng Nghi--người dịch).
Trong đêm 14/4, Nam quân đã chống trả thành công cuộc tấn công của sđ 3 csbv. Bắc quân đã chiếm tp Du Long và đèo cùng tên, các cao điểm gần Ba Râu, nhưng ko thể tiến xa hơn trên ql-1. Các TL của csbv đã quyết định gửi thêm một tđ để tăng cường cho trung đoàn 25 biệt lập, đưa đại bác gần tuyến đầu hơn, và tiếp tục tấn công và chiếm Ba Râu ngày kế.
Vào bình minh của ngày 15 tháng tư, bắc quân đã tiếp tục pháo dữ dội, lần này tập trung vào Ba Râu và một ấp nhỏ hơn gần đó có tên là Kiên Kiên, bảo vệ bởi tđ 3 Dù. Chỉ huy tđ này, thiếu tá Lã quí Trang, có ba đại đội chiếm cao điểm ở tây ql-1, và bch TĐ và một đại đội khác ở đông ql-1 tại Kiên Kiên. Hai đại đội của tđ 11 dù hỗ trợ họ, cộng với các thành phần của tđ 52 bđq. Sau một đợt pháo dữ dội kéo dài một giờ, bắc quân tấn công. Các đại đội của Trang ở tây QL-1 chẳng bao lâu đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng (dire strait): họ đã cầm cự trong vài giờ với địch quân quân số áp đảo, lại còn bị pháo và bộ binh tấn công liên tục. Vào buổi trưa, Trang xin Lương rút lui. Lương đồng ý và Trang ra lịnh quân Dù ở tây QL-1 phân tán và rút về sân bay. Còn ông và thành phần còn lại rút lên cao điểm ở đông của ql-1, và gọi máy bay phá hủy cây cầu trên ql-1 tại Kiên Kiên. Nói thêm: ở đông QL-1 có nhiều đồi và hang động nên giúp quân dù hay BĐQ có thể cầm cự lâu dài, ko trống trải nhiều như phía tây của QL.--người dịch. Bắc quân phải dừng quân để công binh làm đường vòng quanh cây cầu này. Một ngày đã trôi qua. Vì bắc quân chậm chạp chiếm lãnh thổ, ở nhịp độ này, họ phải cần một tuần để tới tỉnh lỵ Phan Rang của Ninh Thuận. Một trì hoãn như thế sẽ đe dọa khả năng của đoàn quân này để đến SG kịp thời để tham gia tấn công với các đoàn quân khác. Một số chiến thuật mới được áp dụng, và những gì mà tướng An học ở Liên Xô đã đóng góp cho thành quả này.
ÁP DỤNG CHIẾN THUẬT CỦA LIÊN XÔ ĐỂ TẤN CÔNG PHAN RANG
Ngày 13 tháng 4, một đv tiên phong của bắc quân gồm 1 tđ của trung đoàn tăng 203 và trung đoàn 101, sđ 325--xuất phát từ Đà nẳng ngày 7/4, đã tới Vịnh Cam Ranh. Cùng đi với họ có tướng Nguyễn hữu An. Dựa vào thời biểu chặc chẽ và trận đánh trước đó hai ngày chống lại những nút chận của vnch trên QL-1, trung tướng Lê trọng Tấn nói An hãy giao nhiệm tấn công thọc sâu để chiếm Phan rang cho hai đv trên. An nhanh chóng thảo một kế hoạch táo bạo để tấn công tp bị bao vây này.
Kế hoạch gồm một mũi nhọn (spearhead) gồm 20 xe T-54 và thiết vận xa (armored personnel carier hay APC) của tđ 4 trung đoàn tăng 203, tăng cường bởi một tđ bộ binh của trung đoàn 101. Một số bộ binh có thể ngồi trên xe thiết giáp trong khi phần còn lại ngồi trên xe tải chạy xen kẻ (intersperse) với các xe chạy xích. Một bch nhẹ của trung đoàn 101, bảo vệ bởi vài súng 37 ly phòng không do xe kéo, sẽ bám sát thành phần dẫn đầu. Kế đó là những xe tải chỡ 2 TĐ còn lại của trung đoàn 101, cùng với những pháo 85 ly nòng dài để cung cấp hỏa lực trực tiếp. Một TĐ phòng không ở cuối đoàn quân để chống máy bay A-37. Đoàn quân này sẽ dùng tốc độ và hỏa lực của thiết giáp, bộ binh, và pháo phòng không, theo chiến thuật "vừa di chuyển vừa đánh" (attack from the march) để áp đảo đối phương. Đây là một chiến thuật của thiết giáp Sô-viết mà An đã học ở Liên Xô. Nếu mũi nhọn kể trên thất bại, An sẽ dùng một đv khác gồm trung đoàn 18 cũng của sđ 325 và TĐ 5 thiết giáp. Để tập trung pháo cho tấn công này, sđ 325 sẽ triển khai pháo của sđ bên cạnh pháo của sđ 3 để họ có thể phối hợp hỏa lực. Vì lính của sđ 325 KHÔNG QUEN với địa thế này, TL phó của QK-6 sẽ ngồi trong một của những xe tăng đầu tiên.
An cũng giao nhiệm vụ cho những đv csbv khác. Vì những cuộc oanh kích thành công sẽ gây thiệt hại nặng cho bộ binh ngồi trên xe tải, bộ tham mưu của quân đoàn đã chỉ định hai trung đoàn phòng không bảo vệ hai cánh quân này, và giao cho sđ 673 phòng không trách nhiệm bảo vệ mọi đv trong trận tấn công này. Riêng sđ 3 sẽ giữ các vị trí của họ và để mũi nhọn kể trên qua mặt họ. Sau đó sđ này sẽ mở cuộc tấn công thứ hai với 2 trung đoàn cơ hữu và trung đoàn 25 biệt lập. Một trung đoàn sẽ tiến theo mặt tây của QL-1 và chiếm những làng và cao điểm nằm gần chu vi phòng thủ của sân bay Thành Sơn. Một trung đoàn khác sẽ tấn công phía đông của Ql-1 và chiếm cảng Ninh Chữ, 1.6 km bắc của Phan Rang. Trung đoàn thứ 3 làm trừ bị. Trung đoàn 25 cộng sẽ tung ra một tấn công khác vào sân bay này. Một TĐ quân địa phương mới thành lập sẽ cắt QL-11 giữa Thành Sơn và Phan Rang, trong khi du kích sẽ quấy phá các vị trí của Dù và BĐQ trước cuộc tấn công chánh. Những thành phần chánh này sẽ xuất phát từ một khu tập trung gần Cam ranh lúc 10 giờ tối NGÀY 15 THÁNG TƯ. Tấn công sẽ bắt đầu lúc 5 giờ sáng NGÀY KẾ, và sđ 325 được lịnh chiếm mọi mục tiêu vào cuối ngày.
Cuộc tấn công, tính tới thời điểm này, có thể được gọi là cuộc hành quân phối hợp lớn nhứt giữa nhiều binh chũng của bắc quân. Và tiến xa nhứt kể từ Tổng Tấn Công Năm 1972. Không lập lại thất bại ở An lộc khi thiết giáp tấn công nhưng ko có bộ binh và phòng không yểm trợ đúng mức. Tóm lại, quân csbv đã tập trung 40 xe bọc sắt và hai trung đoàn bộ binh, yểm trợ bởi một sđ phòng không và hai trung đoàn pháo, để mở một cuộc tấn công gồm hai mũi vào một mục tiêu nằm trên một xa lộ rất tốt và cách điểm xuất phát 16 CÂY SỐ. Một khi đoàn quân này chọc thủng phòng tuyến VNCH và vào Phan Rang, các đv đi đầu sẽ tỏa ra vài hướng để bảo vệ tp này. Kế đó họ sẽ hỗ trợ cuộc tấn công vào sân bay, ở tây bắc của tp, và lập các nút chận trên ql-1 phía nam Phan Rang để chận đường rút của quân vnch.
Nguyễn hữu An đã lo âu về các máy bay ném bom của nam VN, nhưng ông cảm thấy tin tưởng rằng hàng rào pháo đặt quanh sân bay này sẽ hạn chế các hoạt động của không quân đủ cho phép đoàn quân tấn công vào Phan Rang trước khi máy bay có thể phản ứng. Bí mật tuyệt đối được duy trì để bảo đảm yếu tố bất ngờ. Để nhắn mạnh ý định của TL của quân khu, viên chỉ huy thiết giáp đã có chỉ thị cho chỉ huy của tđ 4 xe tăng: "Đồng chí phải tấn công với tốc độ cao, dùng hỏa lực mạnh để đập tan phòng tuyến bên ngoài của địch, và nhanh chóng tiến vào Phan rang. Dù điều gì xảy ra, ko được ngừng tấn công."
KẾ HOẠCH PHÒNG THỦ PHAN RANG
Nam VN (và người Mỹ) đã hoàn toàn ko biết kế hoạch trên đây. NGÀY 14 THÁNG TƯ, tướng Nghi nhận mật điện thông báo rằng cựu tướng Trần văn Đôn, bộ trưởng quốc phòng mới bổ nhiệm của CP Nguyễn bá Cẩn, sẽ tới Thành Sơn lúc 12 giờ trưa. Ngày trước đó, James Lewis, một cựu sĩ quan LLĐB Mỹ nay làm cho CIA, cũng tới Thành Sơn. Y nói tiếng Việt thành thạo và biết rõ vùng này. Y đã ở Nha Trang tới lúc di tản. Công việc của y là cung cấp cho CIA tình hình Phan Rang.
Vào sáng 15/4, sau cuộc họp nội các đầu tiên của CP của Nguyễn bá Cẩn, Đôn đã gọi các lãnh đạo cao cấp của QLVNCH, bao gồm tướng Viên và Toàn, để lập một chiến lược bảo vệ đất nước. Sau cuộc họp, Đôn và Toàn bay ra Thành Sơn. Vì Nghi yêu cầu, ĐT Lương của LĐ 2 Dù dùng jeep chỡ Đôn và Toàn đi quan sát một vòng. Sau đó họ trở lại sân bay để nghe Nghi và bộ tham mưu thuyết trình.
Trong buổi họp, Nghi đã yêu cầu trả lại LĐ 2 Dù (vì đã được lịnh rút về SG), và đặc biệt yêu cầu giữ lại một TĐ Dù đang có mặt ở Phan Rang. ĐT Biết của BĐQ và tướng Nhựt của sđ nêu các trở ngại: thiếu tiếp liệu, xăng dầu, và trang bị, và TINH THẦN THẤP của binh sĩ. Đôn hứa khi về SG sẽ ra lịnh cho BTTM trả LĐ 2 Dù về Phan Rang. Ông cũng sẽ cố gắng hết sức để tìm trang bị mà các đv bảo vệ Phan Rang đã thiếu, như máy truyền tin, ống ngắm và đạn cho đại bác 105 ly, xăng dầu cho máy bay và M-113. Về các tin đồn chia đất, Đôn nói một đường chia cắt sẽ tạo một VNCH mới, đường này chạy từ Tây ninh ra biển, điểm cuối là NHA TRANG. Để củng cố đòi hỏi này của VNCH, Đôn ra lịnh cho ĐT Lương tái chiếm Nha Trang. Một Lương sửng sốt (flabbergasted) đã nói với Đôn cần cả một sđ dù để tái chiếm tp này, một kỳ công (feat) mà hai TĐ còn lại của ông khó thực hiện. Đôn và đoàn tùy tùng, chán nản (disheartened) với tình hình Phan rang, lên đường vào giữa chiều.
Vào tối ngày 15 tháng tư, và trong lúc tướng An đang chuẩn bị đâm một dao vào tim của phòng tuyến Phan Rang, các đv của vnch tại tỉnh Ninh Thuận, quê hương của TT Thiệu, được bố trí như sau: không quân sẽ cung cấp không yểm từ sân bay, trong khi các tàu nhỏ (cutter) của hải quân như Trần Nhật Duật HQ-03 và Trần Bình Trọng HQ-05 và vài tàu khác chạy dọc theo bờ biển cung cấp hải pháo và chỉ huy bởi phó đề đốc Hoàng cơ Minh.
Trên mặt đất, nam quân tập trung quanh sân bay. Trung đoàn 4 của Nhựt bảo vệ phía tây dọc QL-11, chạy từ Đà lạt xuống; trung đoàn 5 phụ trách khu vực nam của sân bay. Vì ĐT Lương chuẩn bị rút về SG, ông đặt phần lớn LĐ sát sân bay. Ông chỉ có ba đại đội, thuộc hai TĐ Dù vẫn còn ở Phan Rang và bảo vệ QL-1: một đ.đ. của TĐ 3 ở làng Kiên Kiên, trong khi hai đ.đ. của tđ 11 đã rút về phía nam tới Núi Cà Đú, cao điểm khống chế đường tiến sát phía tây trên ql-1 tới Phan Rang. LĐ 31 BĐQ có TĐ TĐ 36 ở bắc sân bay, trong khi những thành phần của TĐ 52 ở Ba Râu cũng đã rút về để bảo vệ chu vi của sân bay. (TĐ 31 của thiếu tá Tú trước đó đã bị tiêu diệt ở Đèo Du Long). Pháo binh chỉ còn vài khẫu. Một TĐ ĐPQ bảo vệ tp Phan Rang, trong khi tđ kia bảo vệ sân bay.
Chỉ có một ít đv VNCH trên QL-1 giữa bắc quân và tp Phan Rang. Không rõ tại sao Nghi lại bảo vệ yếu ớt QL-1. Có lẽ ông nghĩ rằng bắc quân ko thể tấn công trực tiếp tp này trong vòng một tuần lễ, vì các phi công của ĐT Thảo đã báo cáo các cầu trên ql-1 từ Cam ranh tới đèo Du Long đã bị phá hủy. Do đó, trong buổi sáng quyết định của ngày 16 tháng tư, chỉ có một trung đội nhảy dù đối diện đại quân kể trên của csbv. Những lính nhảy dù còn lại này đang ở trong những công sự trên đồi núi khống chế QL-1.
BẮC QUÂN TẤN CÔNG CHỚP NHOÁNG
Dù lịnh của An là "bí mật tuyệt đối" được duy trí, lúc 2 GIỜ SÁNG 16 THÁNG TƯ, một máy bay trinh sát điện tử loại EC-47 đang bao vùng đã bắt được mật điện gửi đi từ một bch bắc quân (có lẽ là bch tiền phương của sđ 325) với danh hiệu "Sông Hồng". BCH này đang cố gắng phối hợp giữa các đv thiết giáp và bộ binh. Chiếc EC-47 vội đáp xuống sân bay và báo với ĐT Thảo rằng bắc quân sẽ tấn công LÚC 5 GIỜ SÁNG. Thảo báo Sang và Nghi và xin ném bom. Sang đồng ý và các phi công bay suốt đêm để tấn công đoàn xe bắc quân trên QL-1 tại khu vực đèo Du Long.
Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng tư, Thảo báo Nghi rằng rất nhiều xe csbv chạy qua đèo này. Nghi đã choáng váng (stunned). Ông muốn biết làm thế nào bắc quân đã đến gần như vậy nếu các cầu đã bị đánh sập. Sang và Thảo bối rối (perplex), và bắt đầu hỏi vài phi công. Họ đã sớm có câu trả lời: các phi công quá căng thẳng (over-stressed) này, vì sợ đe dọa ngày càng gia tăng của SA-7, chỉ cố gắng ném bom càng gần các cầu càng tốt và báo cáo cầu bị phá. Lính bộ binh đã ko phá cầu khi rút quân do phải để dân chạy qua. Chỉ có vài cầu gần Kiên Kiên bị phá, còn lại đều còn nguyên. Tệ hơn nữa, vì ko có chỉ dẫn, lính vnch đã ko buộc chất nổ vào cầu để họ có thể nhanh chóng phá hủy khi khẩn cấp. Đó là một sai lầm lớn.
Quân du kích địa phương, theo lịnh của An, đã mở màn cuộc tấn công. Quân Dù tại chu vi sân bay và núi Cà Đú, cũng như BĐQ ở bắc sân bay, bị pháo và bộ binh thăm dò. BCH của Nghi suốt đêm cố gắng gọi BTTM ở SG để báo cáo địch tấn công và xin tiếp tế lập tức, nhưng toán truyền tin của ông ko thể liên lạc với SG!
Đúng 5 giờ sáng, đại pháo csbv bắt đầu. Đạn pháo rơi xuống các hố chiến đấu của trung đội dù ở ql-1 gần Kiên Kiên. Chẳng bao lâu, xe tăng, thiết vận xa và xe tải chỡ đầy binh sĩ đi ngang qua các vị trí của sđ 3 csbv. Chiếc tăng dẫn đầu trúng đạn chống tăng của nam quân, các xe khác nhanh chóng bắn trả. Bộ binh csbv nhảy khỏi xe và đẩy lui nhảy dù, sau đó tiếp tục xuôi nam.
KHÔNG QUÂN XUẤT KÍCH
Dù bị pháo dữ dội và mệt lả sau khi oanh kích suốt đêm, các phi công A-37 cất cánh trở lại. Khoảng cách giữa sân bay và tăng địch trên ql-1 ngắn đến nỗi phi công đã ko có thời giờ để thu bánh đáp trước khi thả bom. Dù sương mù của sáng sớm, khói từ đạn đại bác, và hỏa lực phòng không dày đặc, các phi công vẫn kiên trì. Một chiếc tăng đầu tiên, rồi một chiếc khác trúng bom. Tuy nhiên thiết giáp tiếp tục tiến. Các A-37 liên tục nhào xuống, bom đã khiến xe tải và tăng bốc cháy. Các gunship trong phi đoàn của trung tá Bút cũng tham chiến. Đoàn quân nam tiến đã bắn trả A-37 bằng súng phòng không. Một số máy bay bị thiệt hại nặng và cố gắng trở về sân bay. Dù bị máy bay tấn công, các xe tăng tiếp tục tiến. Bằng cách đi vòng quanh các cầu đã bị hư gần Kiên Kiên, trong vòng một giờ, những xe tăng đi đầu đã tới ngoại ô của tp Phan Rang.
Phản ứng nhanh của các A-37 của Thảo và gunship của Bút đã làm chậm đáng kể những xe tải chỡ phần còn lại của trung đoàn 101 csbv. Trong khi thiết giáp tiến về trước, các xe tải này phải ngừng để tránh máy bay ném bom liên tục. Tệ hại hơn nữa, các đv phòng không ở phía sau ko bắt kịp đoàn xe tải. Hậu quả là, đoàn xe tải vượt xa đoàn xe phòng không nhưng ko bắt kịp cánh thiết giáp. Các A-37 đã ko bỏ cơ hội hiếm có này. Quân sử của QĐ-2 CSBV viết:" từ 6 đến 9 giờ sáng, máy bay địch thực hiện 37 phi xuất (mỗi phi xuất hai chiếc) tấn công đội hình thứ hai của trung đoàn 101. Có sáu xe bị hủy, 10 chiếc khác bị hư hại--có một tăng, một số cán bộ và chiến sĩ chết và bị thương. Cán bộ và chiến sĩ đã quyết tâm tiếp tục tiến quân, nhưng pháo và không yểm của địch đã làm chậm rất nhiều bước tiến của họ. . . . TĐ 120 phòng không, vẫn còn ở khu vực Du Long và tầm súng của họ ko thể với tới khu vực ở nam của làng Hồ Diêm. Nói thêm: đây là làng Công giáo chống cộng.--người dịch. Các vị trí đại bác của sđ 3 và của trung đoàn pháo của sđ 325 ko thể với tới hay làm tê liệt sân bay Thành Sơn và ko thể trấn áp các vị trí pháo địch đặt bên trong sân bay hay từ khu vực núi Cà Đú".
Vì lực lượng của ông bị chận đánh giữa đồng trống, TL của sđ 325 nắm quyền chỉ huy hai tđ của trung đoàn 101. BTL của quân đoàn 2 csbv ra lịnh cho tư lịnh của cánh quân phòng không phải đẩy các đv của y về phía trước để bảo vệ cánh bộ binh đang nguy khốn, nhưng các đv phòng không vẫn còn cách xa cánh bộ binh này. Cánh thiết giáp đi đầu đã từ từ ko còn bộ binh tùng thiết bảo vệ họ.
SƯ ĐOÀN 3 CSBV CỨU NGUY
May mắn cho bắc quân, sđ 3 đã cứu họ. Theo kế hoạch ban đầu, sau khi cánh thiết giáp vượt qua vị trí của họ, sđ 3 đã bắt đầu tấn công. Tuy nhiên, sau khi một tđ chiếm vài làng ở tây ql-1, tiến gần tới sân bay, và kềm chân bđq vnch, một trung đoàn của sđ đã thay đổi kế hoạch. Họ đã gửi một tđ khác để chiếm núi Cà Đú và chận Nhảy Dù--đv này từ trên núi tràn xuống đường và dùng súng chống tăng để chống xe tăng bắc quân. Trung đoàn này của sđ 3 csbv đã bắt tay với cánh thiết giáp đi đầu trong khi những trung đoàn khác của sđ 3 tiến dọc phía đông của ql-1. Với bộ binh mới vừa tăng viện, bắc quân nhanh chóng tiếp tục tiến quân. Chẳng bao lâu họ gặp phòng tuyến cuối cùng bên ngoài tp, đó là một đv đpq trong các hầm hố. Sau 45 phút, họ đã đẩy lui đpq nhưng mất thêm hai xe tăng và hàng chục binh sĩ. Sau khi diệt phòng tuyến cuối cùng, đoàn xe tăng này tiến vào tp và nhanh chóng chiếm bch tiểu khu. Dù cánh xe tăng dẫn đầu mất 1/4 số xe tăng và phần lớn bộ binh tùng thiết, lúc 7 giờ sáng Bắc quân đã kiểm soát tp này.
Theo kế hoạch ban đầu, một số xe tăng và xe tải nhanh chóng tách ra từ đoàn quân. Một nhóm hướng về cảng chánh và nhóm khác hướng về một cầu trên ql-1 ở nam tp. Chiếm cầu sau trận đánh ngắn ngủi, csbv tiếp tục về phía nam và chiếm một quận lỵ gần đó, thực tế đã chận đường rút của nam quân. Ở cảng, một T-54 đã tiến vào bến tàu. Thấy tàu chạy ra biển, chiếc này nổ súng và bắn chìm một tàu nhỏ. Một số đv ra khỏi tp để bắt tay trung đoàn của sđ 3 đang tiến ở phía đông của ql. Lúc 9:30 sáng, đoàn quân này đã đè bẹp mọi kháng cự còn lại của vnch và chiếm cảng Ninh Chữ. Với hai cảng nay trong tay cs và QL-1 bị cắt, thòng lọng quanh bch của Nghi đã nhanh chóng siết chặt.
Trong khi trận chiến diển tiến, An đã di chuyển BCH tiền phương tới gần chiến trường hơn. Từ vị trí trên QL, y có thể thấy máy bay cất cánh và ném bom bắc quân. Với Phan Rang thất thủ, y quyết định tiêu diệt mọi kháng cự cuối cùng này của nam VN bằng cách lịnh cho sđ 325 dùng một đv hỗn hợp thiết giáp bộ binh từ Phan Rang tấn công sân bay. TL của sđ này ra lịnh cho hai tđ đang đánh trên ql-1 về Phan Rang lập tức.
Lúc 8:45, một lực lượng cấp tđ gồm tăng và bộ binh tiến dọc QL-11 (con đường Đà Lạt đi Phan Rang) đến sân bay. Giữa tp Phan Rang và sân bay là trung đoàn 5 của tướng Nhựt. Trước khi bắc quân đụng với lính của Nhựt, họ tách làm hai: một nhánh đánh trung đoàn 5, nhánh kia đi vòng để đánh sân bay. TĐ du kích địa phương tân lập, phối hợp thiết giáp, bắt đầu tấn công trung đoàn 4 của Nhựt trên Ql-11. Cùng lúc, trung đoàn 25 tăng cường tấn công phía bắc sân bay. Dùng chất nổ, bộ binh đã cắt 11 lớp kẽm gai và tấn công sân bay. Ba cánh quân csbv giờ đây hội tụ vào sân bay.
Phía vnch, vào sáng sớm hôm đó, Nghi đã ra lịnh Nhựt dời BCH của ông này gần BTL tiền phương QĐ3 để dễ phối hợp. Sau khi hoàn tất lịnh này, Nhựt đi thanh tra các đv, trong khi Nghi và Sang ở sân bay để theo dỏi máy bay ném bom. Lúc 9 giờ sáng, một SA-7 bắn từ một đỉnh đồi gần sân bay trúng một gunship. Một lát sau đó, vài máy bay khác bị trúng phòng không khi cất cánh. Cũng lúc, trung đoàn 4 của Nhựt báo cáo đụng địch. Theo tướng Sang, "Vào lúc này, trung tướng Nghi vẫn còn tin vào khả năng của trung đoàn 4 bảo vệ sân bay và trung đoàn 5 có thể chận địch quân vượt qua cổng số 1 của sân bay."Lòng tin này đã đặt sai chỗ. Nhận định trước đây của Nhựt về tinh thần của lính tráng rất chính xác. Dù trung đoàn 4 dễ dàng ngăn được đv du kích địa phương, trung đoàn 5 vá víu từ nhiều đv khác nhau (hodgepot), sau một đụng độ ngắn, đã tan hàng khi thấy thiết giáp csbv. Xe tăng chẳng bao lâu chiếm cổng chánh sân bay. Ở phía kia của sân bay, BĐQ bị tấn công mạnh bởi pháo và thiết giáp. ĐT Biết báo cho Nghi rằng phòng tuyến của ông đang sụp đổ. Trung đoàn 25 csbv đẩy lui BĐQ giữ cổng bắc của sân bay và chiếm kho bom. Bắc quân bắt đầu tiến vào trung tâm sân bay.
ĐT Lương ra lịnh đ.đ. trinh sát tái chiếm kho bom, nhưng vì ít quân nên ko thể thực hiện. Các phòng tuyến của sân bay tiếp tục sụp đổ, và, chẳng bao lâu, lính CSBV xuất hiện trên đường băng (tarmac). Không còn đv khả dụng, lữ đoàn phó của Lương, trung tá Trần văn Sơn, chỉ huy đại đội chỉ huy của LĐ 2 Dù, liều lỉnh xung phong vào bắc quân để bảo vệ đài kiểm soát (control tower) của sân bay. Dù tuyệt vọng, lính Dù đã chiến đấu với bắc quân, nhưng một loạt đạn đã trúng bụng trung tá Sơn (ông này chỉ còn một mắt từ lúc còn làm đ.đ. trưởng của tđ 5 dù.-- người dịch). Ông chết tại chỗ. Lính Dù còn lại nhanh chóng bị tràn ngập (overwhelm). Lúc 9:30 sáng, bắc quân thuộc trung đoàn 101 sđ 325 và trung đoàn 25 biệt lập đã bắt tay ở đài kiểm soát sân bay. Cuộc kháng cự của Nam VN bị nghiền nát, và quân csbv đã kiểm soát sân bay Thành Sơn.
RÚT LUI
Vì ko còn giải pháp nào, tướng Nghi ra lịnh rút về Cà Ná, một bán đảo nhiều đá gần 31 km nam của Phan Rang. Ở đây QL-1 chạy thẳng dọc theo bờ biển, và cung cấp một vị trí phòng thủ rất tốt. Một nhóm lính và thường dân đã tiến về cổng chánh của sân bay, nhưng đã bị chiếm bởi tăng của bắc quân. Lương ra lịnh cho công binh cắt hàng rào kẽm gai, và ba người gồm Nghi, Sang, và Lương, cùng với James Lewis và một nhóm lớn dân và quân đã trốn thoát. Dùng máy riêng, người Mỹ này đã báo TĐS Mỹ rằng sân bay đã mất. Ra được bên ngoài, nhóm này đã gặp một toán lính của tđ 11 dù ở gần sân bay. Di chuyển chậm vì có dân, vào trưa, toán này đã đi gần 4, 8 km và tới một vườn mía giữa sân bay và Phan Rang gần QL-11, nơi mà họ nghỉ ngơi ở một mương nước rộng.
Lúc đó, tướng Lưởng, TL của Dù đã gửi một L-19 và 25 trực thăng để tìm lính dù thất lạc. Vào buổi chiều, ĐT Lương đã liên lạc với chiếc L-19. Toán cấp cứu này xin phép Tướng Nghi đáp xuống cánh đồng gần đó. Nghi, sợ rằng dân sẽ hoảng loạn và tranh nhau lên trực thăng nên từ chối. Ông ra lịnh cho Lương bảo với trực thăng nên thử lại vào buổi sáng, khi đoàn người đã đi xa về phía nam. Lương đành miễn cưỡng thi hành.
Nghi quyết định sẽ chờ đến tối để tiếp tục đi về phía nam, hy vọng đoàn người ko bị phát hiện. Tuy nhiên thường dân đi ra ngoài để kiếm thức ăn, và bắc quân đã biết. Khoảng giữa đêm, Lương ra lịnh cho một đ.đ. dù phá vòng vây của bắc quân đang giữ QL-11. Tấn công chớp nhoáng, nhảy dù vượt qua đường này. Tuy nhiên một đv csbv gần đó đã nổ súng dữ dội vào bụi rậm này và làm bị thương TĐ trưởng của 11 Nhảy Dù. Trong bóng đêm và hổn loạn của súng nổ, Nghi, Sang, và Lewis ko còn ở với quân Dù. Trong khi Lương và quân Dù đi về phía nam, ba người trên đây và một phần của toán người trở lại mương nước này. Lúc 2 giờ sáng, lính của sđ 3 csbv bao vây mương nước và kêu gọi đầu hàng. Nghi là sq cao cấp nhứt bị bắt trên chiến trường.
Một sq nam VN khác đã chiến đấu anh dũng để giữ phòng tuyến Phan Rang, đó là trung tá không quân Lê văn Bút đã trốn thoát với nhóm của Sang. Cuối cùng, ông đã tới SG bằng cách đi bộ trên QL-1. Sau này ông đã nói đùa với tác giả, "Tôi đã bị không quân của tôi ném bom suốt con đường về nhà." Ở phút cuối cùng, ngay khi Thành sơn bị tràn ngập, đại tá Thảo đã gọi một phi công A-37 đáp xuống và bốc ông. Họ đã bay về Tân Sơn Nhứt với phần còn lại của không đoàn của Thảo. Trong 72 chiếc A-37 mà ông có đầu tháng Ba, chỉ có 1/3 thoát được ngày 16/4, sau khi hơn một tháng chiến đấu ko nghỉ ngơi! Không một đv nào của không quân VN đã chiến đấu với can đảm và hăng say như không đoàn 92 chiến thuật của đại tá Thảo!
Nguyễn văn Tú, chỉ huy TĐ 31 bđq, trốn thoát với vài người lính. Họ đi ra biển, nơi họ gặp tàu đánh cá đưa về Vũng Tàu. Từ đây họ đi xe đò về SG. Chuẩn tướng Nhựt thoát được bằng trực thăng, đáp xuống một tàu HQ. Ông gọi BTTM báo cáo Phan Rang thất thủ. ĐT Lương, dù đã vượt QL-11 và xuôi nam, đã nhận lịnh ngày kế của Toàn phải trợ lại và cứu Nghi và Sang. Lương đã bị bắt vài ngày sau. Một thành phần của tđ 11 Dù đã chọc thủng vòng vây quanh vườn mía, cuối cùng theo hướng đông tìm tàu. Ngay khi đến bờ biển, họ đã nhanh chóng bị phát hiện bởi bắc quân. Họ đã trả lời bằng súng khi bắc quân kêu gọi đầu hàng. Sau khi bị pháo bằng cối trên bãi biển trống trải, họ đầu hàng. Chỉ huy TĐ 3 Dù, Lã Quí Trang, và một đ.đ. của ông trên QL-1 rút về đỉnh núi gần đó, được cứu thoát vài ngày sau đó bởi trực thăng. Phần còn lại của TĐ đã cởi quân phục và đi bộ về SG. Gần 80/100 TĐ này trở về an toàn. Tướng Nghi và Sang, và James Lewis, được nhanh chóng đưa về Nha Trang, rồi Đà Nẳng, và bay ra Bắc. Lewis được thả tháng 12/75 sau khi bị tra tấn khủng khiếp (terrible). Ông đã làm việc trở lại và chết trong vụ TĐS Mỹ ở Li Băng bị đánh bom năm 1982. Nghi được thả năm 1987, nhưng đã từ chối nói về diển biến ở Phan Rang với tác giả".
. . .
Dịch từ trang 409- 426 của sách đã dẫn.
Phần đọc thêm:
TRẬN PHAN RANG (13-16/4/1975)
Ngày 18/41975 các đv của quân đoàn 2 CSBV đã đánh vài trận trên QL1 trong khu vực Cà Ná. Khi Bắc quân tới khu vực này, một số tàu của nam VN đã xuất hiện ngoài khơi và bắt đầu bắn vào QL-1. Chiếc Chí Linh HQ-11, đã cũ 30 năm và trang bị chỉ có một khẩu 76.2 ly—đã trông thấy xe tăng chạy trên QL-1 gần quận lỵ. Dù hỏa lực yếu kém, chiếc tàu này đã cố gắng tiến gần bờ. Tàu đã bắn trên 100 phát. Để bắn chính xác hơn, thuyền trưởng cho tàu gần bờ hơn. Bắc quân đã bắn trả bằng đại bác 122 và 130 ly. Thuyền trưởng sau này kể lại: “Khoảng 3:45 chiều, một quả đã trúng mạn phải (starboard) gần đuôi tàu (stern), làm hư hại nơi ở của thủy thủ đoàn (crew quarter). Một miểng đại bác đã giết thuyền phó (chief petty officer) Nguyễn văn Bang, khi ông leo thang để gắn an-ten phụ. Đầu ông bị thổi bay và thân hình rơi xuống phòng ở của thủy thủ đoàn.” Vì bị hư hại tàu phải rút lui.
San Jose ngày 7 tháng tư 2021.
Tài Trần