Thursday, February 18, 2021

 QUÂN ĐOÀN I SỤP ĐỔ, BÀI HAI

Dịch từ trang 300-320 của quyển Black April của George Veith. 

- Trong chiến đấu, tinh thần của người lính bằng ba lần sức mạnh của đơn vị.

- Không có trung đoàn tồi, chỉ có đại tá tồi.-- Hai câu này đều của hoàng đế Napoléon.

- ĐPQ Quảng trị và Thừa thiên ko hèn nhát nhưng tinh thần bị giao động. Họ thấy dân thường lủ lượt bỏ làng mạc nhà cửa, bồng bế con cái và gồng gánh mọi thứ quý giá trên người--trong đó có vợ con và thân của họ. Trước tình hình như vậy, làm sao họ còn tinh thần để chiến đấu."-- ĐT Nguyễn thành Trí đã viết sau 1975. 

LỜI NÓI ĐẦU: 

Trong các bài "Liên đoàn 15 BĐQ, sđ 1 bộ binh, TQLC đã chiến đấu ác liệt ở phía nam Huế từ 19/3 đến 22/3/1975" hay "Vì sao quân đoàn 1 sụp đổ", các bạn đã thấy:

1/ Phần lớn các trận tấn công của CS ở Quảng Trị và bắc Thừa Thiên trong giai đoạn này đều do các tiểu đoàn quân địa phương của VC của tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Sở dĩ họ làm được điều này vì ở bắc Huế chỉ còn LĐ 147 TQLC. Nếu toàn bộ sđ TQLC tiếp tục trấn giữ Quảng Trị và sđ Nhảy Dù tiếp tục hành quân ở Thường Đức thì tôi nghĩ Huế và sau này là Đà Nẳng, đã ko mất dễ dàng như vậy, (vì Huế chỉ bị pháo kích chút đỉnh và đv CS tiến vào tiếp thu Huế chỉ là quân địa phương, nghĩa là du kích của tỉnh); và LĐ 147 TQLC đã ko phơi mình nơi "pháp trường cát" Thuận An và phải đầu hàng du kích vì đói khát và hết đạn--vì họ được lịnh chỉ giữ vũ khí cá nhân và đi bộ về cửa biển này để được tàu bốc về Đà nẳng!

2/Trong khi đó những trận đánh ác liệt lại xảy ra ở nam Huế khi hai sđ 324 và 325 chính quy của csbv tấn công nhưng họ bị thiệt hại nặng khi gặp sự chống trả quyết liệt của các TĐ thuộc trung đoàn 1 và 54 sđ 1 bộ binh và hai TĐ 60 và 61 BĐQ.  Điều này chứng tỏ tinh thần chiến đấu của các đv này rất cao dù lúc đó đã mất Ban Mê Thuột vào ngày 11.3.­­75.


=================

Sau đây là phần chuyển ngữ từ sách đã dẫn.

"Sau khi rút lui từ Quảng Trị, NGÀY 20 THÁNG 3, ĐT TQLC Nguyễn thành Trí đã tái phối trí lực lượng của ông dọc theo phòng tuyến Sông Mỹ Chánh. Ông giao liên đoàn (LĐ) 14 BĐQ và tàn quân của ĐPQ Quảng Trị, cùng với TĐ 7 TQLC chưa-bị-sứt-mẻ-gì-hết, canh giữ khu vực từ cầu Mỹ Chánh, nằm trên QL-1 ra tới bờ biển. Phòng tuyến này dài 11 dặm hay 17.7 km nhưng chỉ được bảo vệ bởi chưa tới 2.000 người. Các thành phần của thiết đoàn 1 vnch có nhiệm vụ bảo vệ QL-1 để chống lại một tấn công bằng thiết giáp của bắc quân. LĐ 147 TQLC được bố trí (array) dọc theo Sông Mỹ Chánh từ cầu Mỹ Chánh, nằm trên QL-1, tới vùng núi phía tây, và rải quân từ đó xuống phía nam tới gần Huế. (Nói thêm: theo trung tá Trần ngọc Toàn, cựu TĐT của TĐ 4 TQLC thì lúc đó phòng tuyến của TQLC nằm trên núi và ở phía tây của QL-1 gồm TĐ 7 ở phía bắc, giáp Sông Mỹ Chánh, TĐ 4 ở giữa, và TĐ 5 ở phía nam.-- người dịch). SĐ 1 bộ binh trách nhiệm vùng núi non ở tây Huế, và từ đó hướng về phía nam tới Sông Truồi, nơi LĐ 15 BĐQ trách nhiệm tới quận lỵ Phú Lộc. TĐ 8 TQLC của trung tá Nguyễn đăng Hòa giữ Phú Lộc, và một liên đoàn ĐPQ giữ Đèo Hải Vân. Tướng Lâm Quang Thi ko còn trừ bị nếu các phòng tuyến này bị thủng. Chỉ có không quân và, đôi khi tàu hải quân có thể yểm trợ quân bạn. 

Quân VNCH tại Thừa Thiên đã ko được nghỉ ngơi (respite), vì cùng ngày 20 tháng ba, tham mưu phó quân csbv tướng Lê Trọng Tấn đã gọi điện cho Mặt Trận B-4, nói rằng trong khi "việc chiếm toàn tỉnh Quảng Trị đáng được khen ngợi (commendable), các chiến sĩ ko được ngừng ở Mỹ Chánh mà phải tiếp tục tấn công." Ông muốn Mặt Trận B-4 cùng tấn công đồng loạt với quân khu 2 csbv vào NGÀY 21 THÁNG BA, hủy diệt mọi lực lượng VNCH ở bắc Huế và chiếm tp này. 

Mặt trận B-4 đã dự định mở cuộc tấn công chánh nhắm các vị trí ĐPQ gần bờ biển. (Nói thêm: điều này cho thấy trong giai đoạn đầu, mặt trận B-4 đã dồn sức mạnh đánh vào nơi yếu nhứt là ĐPQ gần bờ biển vì họ né tránh lữ đoàn 147 TQLC đang chiếm giữ phía tây của cầu Mỹ Chánh và vùng núi non phía tây QL từ cầu này tới Huế.-- người dịch). Mặt trận B-4 có ba TĐ quân địa phương ở phía đông của QL-1, và một trung đoàn cộng (vì quân số trên một trung đoàn), ở phía tây QL-1. Mặt trận sẽ gửi hai TĐ địa phương của Quảng Trị, hỗ trợ bởi 7 xe tăng, chọc thủng phòng tuyến của DPQ và chiếm quận lỵ HƯƠNG ĐIỀN --trước đây đặt BTL sđ TQLC. Từ đó sẽ xuôi nam dọc theo bờ biển và tấn công các cảng Thuận An/Tân Mỹ, con đường duy nhứt để rút quân ra biển của các đv VNCH tại Huế, xem bản đồ. Khu vực cảng Thuận An/Tân Mỹ và các nhà kho nằm trên Sông Hương và kế bờ biển, cách Huế khoảng 8 km. Chỉ có tàu nhỏ mới vào được Huế. Dù Tân Mỹ có vài bến tàu (ramp) cho tàu LST nhưng phù sa (silting) đã khiến tàu ko thể cập bến. Cảng Tân Mỹ nối với cảng Thuận An bằng một cầu nổi qua Phá Tam Giang. 


TĐ địa phương thứ ba của CS Quảng Trị sẽ tấn công gần cầu trên QL1, trong khi trung đoàn 4 sẽ tấn công LĐ 147 TQLC. Hai tiểu đoàn khác đã tấn công, ĐPQ lúc đầu còn giữ được, nhưng vào trưa, họ bắt đầu tan rả. Vì Huế mới bị pháo kích và QL-1 bị cắt, nhiều binh sĩ đã bỏ đv để tìm gia đình, và số còn lại vừa ít ỏi và ko còn đủ tinh thần để chiến đấu. Dù ĐT Trí định gửi một đại đội tqlc và xe tăng để giúp đpq nhưng bắc quân đã bắt đầu pháo kích các vị trí của lđ 147 tqlc làm đình hoản kế hoạch này. Vào giữa chiều, ĐPQ tan rả và đã bắt đầu rút về phòng tuyến cuối cùng ở bắc Huế, nằm sau Cầu An Lổ trên Sông Bồ, chỉ cách Huế 12 dặm. 

Trong khi quân cs chậm chạp đuổi theo tàn quân ĐPQ, lúc 3 g chiều, trung đoàn 4 đã bất ngờ tấn công một TĐ tqlc. Quân cs đã bao vây chia cắt hai trung đội tqlc với thành phần còn lại của TĐ này. Với cạnh sườn phải ko còn vì ĐPQ tan rả , và ko còn trừ bị để trám lổ hổng này, ĐT Trí đã ra lịnh rút về phòng tuyến cuối cùng của Huế ở dọc sông Bồ. Tối đó, hai trung đội kể trên đã thoát và trở về với đv gốc. Trí đã triển khai liên đoàn 14 bđq từ cầu An Lổ về phá Tam Giang, trong khi rút TĐ 7 TQLC về bảo vệ Hương Điền. LĐ 147 rút về phía sau sông Bồ. ĐPQ Quảng Trị đã hầu như tan rả. Phần lớn họ chạy về Huế dù các cố gắng của các viên chức tỉnh và các sĩ quan TQLC ngăn cản họ--Trung úy TQLC Cao Xuân Huy trong "Tháng ba gãy súng" đã viết về tình trạng này--người dịch. 


Vào SÁNG 23 THÁNG BA, bắc quân đã tiếp tục tấn công vùng nam của Huế. Tướng An của csbv ra lịnh sđ 325 gửi 2 trung đoàn tấn công dọc quốc lộ 1, theo hai hướng đối nghịch, một về hướng bắc, một về hướng nam, xem bản đồ. Ngày HÔM TRƯỚC, một TĐ của trung đoàn 101 thuộc sđ 325 đã bị thiệt hại nặng khi tấn công một đồi của bđq, nhưng đã chiếm đồi. SÁNG NGÀY 23 THÁNG 3, trung đoàn 101 tấn công Lương Điền, nơi đặt bch của LĐ 15 BĐQ. Nếu chiếm Lương Điền, bắc quân sẽ đi vòng qua hông quân vnch đang giữ đồi 303 và Mỏ Tàu. Sau một ngày chiến đấu, đv BĐQ này rút lui qua Sông Truồi và giựt sập cầu Sông Truồi. Khi tối đến, họ đã rút về Phú Bài. Trung đoàn 18 của sđ 325 đã tràn ngập quận lỵ Phú Lộc sau khi TĐ 8 TQLC của trung tá Nguyễn đăng Hòa rút lui. 


Để cầm chân sđ 1 bb, trung đoàn còn lại của sđ 324 đồng loạt tấn công đồi 303 và Núi Bông. VNCH đã giữ những vị trí này tới khi xe tăng csbv xuất hiện vào buổi chiều và cuối cùng mất 2 vị trí này. Với phòng tuyến nam Huế bị áp lực nặng, tướng Điềm ra lịnh hai trung đoàn đang giữ các núi Mỏ Tàu, Núi Bông và 303 rút về Phú Bài--cách Huế 16 km. Họ phải chận bắc quân trên QL-1 và hỗ trợ bđq. Điềm cũng rút 2 trung đoàn ở tây Huế về gần tp.


Trong khi mặt trận phía bắc của Trưởng rối tung vì đánh lớn, mặt trận phía nam của ông vẫn còn yên tỉnh tương đối. Nay đã bắt đầu thay đổi. Chuẩn tướng Trần văn Nhựt đã rút những đv để bảo vệ vùng đồng bằng và các tp lớn. Trên một phòng tuyến dài 144.8 km từ bắc Quảng Tín tới biên giới Bình Định, Nhựt có trung đoàn 5 và LĐ 12 bđq giữ Tam Kỳ, trung đoàn 4 giữ Chu Lai, và trung đoàn 6 và LĐ 11 bđq giữ tp Quảng Ngải.


Lúc đầu của chiến dịch, mặt trận B-1 chỉ nhắm chiếm quận Tiên Phước và diệt vài TĐ VNCH. Giờ đây các TL của mặt trận này cảm thấy một cơ hội để diệt toàn sđ 2 của Nhựt và chiếm toàn tỉnh Quảng Ngải. NGÀY 16 THÁNG BA, họ đã thay đổi kế hoạch. Họ dự định rằng khi tấn công Tam Kỳ trên QL1, sẽ thu hút các lực lượng của sđ 2 kéo về bảo vệ tp này, họ sẽ bao vây và tiêu diệt. Lữ đoàn 52 sẽ giải phóng Quảng Ngải. NGÀY 21 THÁNG BA, pháo 130 ly dập tan phòng tuyến đpq gần Tam Kỳ. Các cuộc thăm dò cấp đại đội đã chạm súng (whittle) các vị trí đpq. Nhựt đã phản ứng đúng như mặt trận B-1 mong đợi: ông này đã chuyển trung đoàn 4 từ Chu Lai để tăng cường cho Tam Kỳ, và rút một tđ từ trung đoàn 6 về bảo vệ Chu lai. 


Tuy nhiên, Nhựt cũng có một vấn đề ngày càng lớn. Tinh thần lính tráng đã nhanh chóng suy sụp (sink) khi họ biết cuộc di tản đẫm máu từ Cao Nguyên và, gần nhà họ hơn, tình hình tuyệt vọng (desperate) tại Huế và vấn đề người di tản ngày càng gia tăng tại Đà Nẳng. Nhiều lính tráng của ông gốc Huế và Đà Nẳng và họ rất lo âu về gia đình của họ. Do đó, khi cuộc tấn công chánh vào Tam Kỳ bắt đầu sáng 24 THÁNG BA với pháo binh bắn tập trung theo sau bởi bộ binh tùng thiết, phòng tuyến của Nhựt sụp đổ. Hai TĐ csbv sau đó đã xâm nhập phòng tuyến phía nam của tp, trong khi một tđ khác tấn công trực diện từ phía tây. Trung đoàn 4 vnch đã rút và được trực thăng bốc ở bãi biển gần đó; trong khi đó, nhờ bắc quân ở phía bắc tp chậm chạp cắt đứt QL1, nên lính vnch có thể rút lui. Trung đoàn 5 và phần lớn đpq rút theo hướng nam về Chu Lai, trong khi LĐ 12 BĐQ và hàng ngàn dân thường rút về hướng bắc tới biên giới Quảng Nam.


Tình hình tại TP Quảng Ngải cũng ko khác. Khi biết Tam Kỳ đã mất, đpq Quảng Ngải, LĐ 11 BĐQ, và các phần tử của trung đoàn 6 rút về phòng tuyến phía tây của tp Quảng Ngải. Lúc 1 giờ trưa, NGÀY 24 THÁNG BA, bắc quân đã tấn công. Xe tăng ầm ầm (rumble) tiến tới, đạn đại bác nổ chát chúa trên mục tiêu, và lữ đoàn 52 và vài TĐ quân địa phương đã tấn công vào ngoại ô của TP. Với phòng tuyến này sụp đổ (rumble), tỉnh trưởng Quảng Ngải đã gọi tướng Nhựt và yêu cầu lực lượng của ông được phép rút lui về Chu Lai. Trưởng đồng ý. Các đv vnch tại tp Quảng Ngải đã lập một đoàn công-voa và khởi hành trong đêm đi Chu Lai. Nhờ nghe lén điện thoại, bắc quân đã liên tục phục kích đoàn xe này, gây thương vong 50/100. LÚC NỬA ĐÊM, TP Quảng Ngải đã rơi vào tay quân csbv. Mặt trận phía nam của Trưởng đã sụp đổ, do tinh thần chiến đấu giảm sút của binh sĩ và hoảng loạn của dân hơn là áp lực của địch. Tệ hơn nửa, hàng ngàn dân tị nạn giờ đây đã chạy về Đà Nẳng. 


Ngoài những mặt trận sụp đổ,Trưởng đã đối diện khó khăn (predicament) trầm trọng khác. Sau khi nhận lịnh NGÀY 22 THÁNG BA của bộ TTM phải gửi sđ TQLC về Sài gòn, Trưởng đã ra lịnh cho tướng Thi, TLP gặp ông tại Đà Nẳng sáng hôm sau. Khi Thi tới, Trưởng ra cho Thi tiếp tục bảo vệ Huế, nhưng cũng lập kế hoạch dự phòng (contingency plan) để rút lực lượng về Đà Nẳng. Trong lúc thảo luận, Thi đưa ra kế hoạch của ông. Ông muốn Hải quân đánh chìm tàu để nối hai bờ của Cửa Tư Hiền, và TQLC chiếm giữ Núi Vĩnh Phong --khống chế bờ phía nam của cửa này. Khi đó sđ 1, ĐPQ Thừa Thiên, và LĐ 15 BĐQ có thể đi bộ qua các tàu này để bắt tay với TQLC, bằng cách ấy (thereby) họ ko phải vượt qua nút chận của bắc quân tại quận lỵ Phú Lộc--trên QL1. Các lực lượng ở bắc Huế có thể rút lui về cảng Tân Mỹ và được đón bởi tàu Hải Quân. Sau khi Trưởng và BTM của ông đồng ý, Thi trở lại Huế. 


Thi đã dùng cả NGÀY 23 THÁNG BA để chuẩn bị cho việc này. Ông đã bắt đầu dời BTL ra khỏi Huế để tới căn cứ hải quân Thuận An. NGÀY 24 THÁNG BA, ông họp với ĐT Trí, chuẩn tướng Điềm, và vài sq khác để thảo luận tình hình. Họ đã nhận định tình hình nghiệt ngã (grim). Huế đã bỏ, hàng ngàn dân thường và xe cộ kẹt cứng (cloged) con đường đi tới Tân Mỹ, sđ 1 đang chịu áp lực nặng, và nhờ nghe lén, phòng 7 VNCH cho biết địch sẽ mở thêm nhiều tấn công. Với tinh thần binh sĩ giao động (wavering) và ko còn trừ bị, họ kết luận ko còn hy vọng giữ Huế. Tệ hơn nữa, tướng Điềm nói rằng nếu họ ko nhanh chóng hành động, quân csbv sẽ sớm đánh thủng phòng tuyến và tấn công Tân Mỹ. 


Họ đã quyết định để tqlc rút về Tân Mỹ, vượt qua cửa biển đã kể, và di chuyển dọc bờ biển, ko nên để dân chúng lẩn lộn, để tới một điểm để tàu hải quân đón khoảng ba dặm về phía nam. Liên đoàn 14 bđq và lữ đoàn 1 thiết kỵ sẽ làm đoạn hậu (rear-guard action) và sẽ bắt tay TQLC. SĐ 1 sẽ chuyển về Cửa Tư Hiền, với liên đoàn 15 bđq và đpq Thừa Thiên giữ an ninh bải để tàu vào bốc. Mọi thiết bị nặng, kể cả đại bác và xe tăng, sẽ bị hủy. Điềm nói với Thi rằng chỉ có hai trung đoàn của bốn trung đoàn của ông có thể rút về cửa Tư Hiền, ý nói, hai trung đoàn kia, do ở quá xa nên ko về kịp. 


Thi ra lịnh cho Điềm và tham mưu trưởng của ông bay về Đà Nẳng và trình kế hoạch này cho Trưởng. Gặp Trưởng, Điềm đã nói rõ rằng ko thể giữ Huế, do đó lúc 6 GIỜ CHIỀU 24 THÁNG 3, Trưởng ra lịnh di tản. Cùng lúc, ông gọi Nhựt rút mọi lực lượng tại Quảng Tín và Quảng Ngải về Chu Lai và lập phòng tuyến ở đó. Rồi Trưởng gọi TT Thiệu, ông này cũng đã đồng ý Huế ko thể giữ được. Thiệu đã đồng ý kế hoạch rút lui này, và Điềm và tham mưu trưởng của ông bay về gặp Thi.


Trận đánh cuối cùng của Quân đoàn 1 sắp bắt đầu.


Sau khi họp ở Đà Nẳng với các cấp chỉ huy của BTL tiền phương QĐ 1, Trưởng đã ra lịnh hải quân chuẩn bị di tản khỏi Huế. Phó đề đốc Hồ văn Kỳ Thoại, đã lập một lực lượng đặc nhiệm để đón lính vnch tại các bãi bốc. BTL hải quân tại Sài Gòn cũng đã "cung cấp mọi phương tiện khả dụng, bao gồm chiếc LST Đà Nẳng, mang số HQ-501, đã khởi hành từ Sài Gòn với một máy bị hư và thợ sửa máy trên tàu." Các tàu của BTL hạm đội lập vòng đai an ninh 16 km quanh Cửa Thuận An để ngăn ko cho tàu của csbv âm mưu phá hoại cuộc di tản, hay rải mìn trên cửa biển này. Hai mươi hai tàu đổ bộ loại nhỏ--thời đệ nhị thế chiến--của bch quân vận sẽ đặt dưới sự chỉ huy của hải quân và được lịnh đưa người từ bờ ra tàu lớn. 


NGÀY 24 THÁNG BA, căn cứ hải quân ở Tư Hiền đã được lịnh đánh chìm vài tàu để lính của sđ 1 có thể vượt qua cửa này, nhưng cố gắng này thất bại vì giòng nước quá mạnh. Dự định đánh chìm một tàu cũng được xác định là ko khả thi, do đó hải quân quyết định kéo một cầu nổi từ Đà nẳng. Cuối cùng cầu nổi cũng tới nhưng lại bị VC, xâm nhập từ đêm trước, từ Núi Vĩnh Phong pháo kích khiến hải quân hủy bỏ công tác này. Vì một lý do nào đó, TQLC đã ko kiểm soát núi này dù tướng Thi đã nhiều lần yêu cầu. (NÓI THÊM: Theo yêu cầu của tác giả của quyển Black April, ĐT Nguyễn thành Trí đã yêu cầu TĐT của tđ 8 tqlc, trung tá Nguyễn đăng Hòa, và lữ đoàn trưởng của lđ 468, ĐT Ngô văn Định, trả lời câu hỏi "Tại sao TĐ 8 ko chiếm Núi Vĩnh Phong?" (núi này khống chế cửa Tư Hiền). Hòa nói rằng ông đã ko nhận lịnh chiếm núi Vĩnh Phong, trong khi Định nói ông ko nhớ nhiều về các sự kiện ở đèo Hải Vân. Trí phỏng đoán rằng hoặc lịnh đã đến quá trể với bch lữ đoàn 468, hay BTL QĐ 1 đã hủy lịnh khi biết rằng hải quân ko thể hoàn tất cầu đi ngang cửa Tư Hiền. Trí cũng nghi rằng Trưởng cũng muốn bắt đầu chuyển tqlc về bảo vệ Đà Nẳng. Nguồn: trang 525 của Black April của George Veith).


Ở bắc Huế vào SÁNG 24 THÁNG BA, trung đoàn 4 đã vượt Sông Bồ tại hai chỗ và tấn công TQLC. Ác chiến xảy ra nhưng TQLC vẫn giữ vị trí. Để yểm trợ TQLC, LĐ 14 BĐQ, có thiết giáp yểm trợ, đã phản công vài lần vào sườn của bắc quân,nhưng ko thể diệt hai đầu cầu này. Tuy nhiên, sau quyết định lúc XẾ CHIỀU NGÀY 24 THÁNG BA về việc rút khỏi Huế, ĐT Trí đã ra lịnh cho TQLC rút. Lữ đoàn 1 thiết kỵ và LĐ 14 làm đoạn hậu. Sau khi TQLC rút, BĐQ đã phá cầu An Lổ sau khi rút. 


Đi bộ gần 32 km trong đêm đó, vào SÁNG 25 THÁNG BA, những người lính tqlc kiệt sức này đã tập hợp ở vài dặm phía nam cảng Thuận An. Sau khi tqlc đã lập một chu vi phòng thủ, ĐT Trí và bch của ông lên một tàu vận tải nhỏ và ra khơi. Thiết đoàn 1 đã buộc phải bỏ phần lớn thiết bị vài dặm cách Tân Mỹ. Hàng ngàn lính khác, bao gồm tiếp vận, công binh, và đpq/nq đã đầy nghẹt cảng này, trong khi xe cộ và thiết bị bỏ lại đầy đường. Nhiều tòa nhà bị cháy do pháo địch, và người ta chết trên những cánh đồng, vì đạn pháo hay bị trấn lột bởi lính tráng do tình trạng hổn quan hổn quân (marauding soldier)! LĐ 14 BĐQ đã giữ đoạn hậu, và đại đội trinh sát của lđ này là đv cuối cùng của vnch rời Huế. May mắn cho quân vnch, lực lượng của mặt trận B-4 đã ko hăng hái đuổi theo họ. Mãi đến gần khuya của hôm đó, mặt trận này đã cho trừ bị của họ, TĐ 8 Quảng Trị chiếm Huế. 


Sau khi bị địch pháo rời rạc tại căn cứ HQ Thuận An, khoảng 6:30 giờ chiều NGÀY 24 THÁNG BA, tướng Thi và BTM đã lên một tàu HQ. Vào lúc này, Thi đã ko thể kiểm soát các đv của ông. Tệ hơn nữa, sau khi đã họp với Trưởng, đã kể ở trên, tướng Điềm họp lần chót với BTM của ông. Trong khi có sự nhầm lẫn về mệnh lệnh chính xác của ông, nhưng thay vì chỉ huy sđ của ông trong những giờ phút nghiêm trọng nhứt, ông đã giải tán sđ và nói với các sq cao cấp rằng họ phải tự lo liệu trên đường tới bãi để tàu bốc ở Tư Hiền. Dù sđ 1 đã anh dũng chiến đấu tới lúc này, vào NỬA ĐÊM 24 THÁNG BA, họ đã sụp đổ. Việc Điềm giải tán sđ làm tình hình nguy kịch hơn. Việc ngưng kháng cự ở nam Huế đã mở đường cho những trung đoàn csbv tiến tới phòng tuyến của TQLC, ko kể các cảng Tân Mỹ/Thuận An. Tại sao Điềm, một người dân Huế ở nhiều năm tại sđ 1, đã giải tán sđ của ông là điều ko ai biết: vì ông đã chết vài ngày sau do trực thăng rơi và ko ai có thể trả lời câu hỏi này.


Dù cảnh mất trật tự tại các cảng, các tàu đổ bộ tiếp tục đưa người từ Tân Mỹ ra chiếc LST Cần Thơ (HQ-801). Họ đã cứu khoảng 6.000 người NGÀY 24/3. Trong khi cuộc di tản này tiếp tục đêm đó, biển động và địch pháo kích khiến điều này càng lúc càng nguy hiểm. Vào GIỮA ĐÊM, hơn phân nửa các tàu đổ bộ đã bỏ cuộc và quay về Đà Nẳng. 


Vào sáng sớm NGÀY 25/3 đã xuất hiện nhiều sóng lớn và giòng chảy mạnh tại bãi bốc TQLC. Tàu HQ từ các cảng này đến bãi biển để bốc tqlc, nhưng do biển động nên các tàu đổ bộ nhỏ ko thể đến sát bờ. LÚC 1:30 giờ chiều, tàu Cần Thơ được lịnh cặp bờ. Chiếc LST chỉ có thể đến cách bờ khoảng 82 m, nơi nó ngừng và thả thang dây hai bên tàu. Trong khi TQLC còn giữ kỷ luật, các đv khác thì ko. Vài ngàn dân thường và lính ko còn cấp chỉ huy đã bám theo TQLC. TĐT của TĐ 5 TQLC đã mô tả như sau. "Những ai ko biết bơi đã bám cứng vào kẻ biết bơi, chiến đấu với tử thần trong sóng biển. Vài chiếc M-113 trên đường ra tàu, đã cán lên họ. Tiếng kêu la khắp trời. Một đợt sóng đẩy họ lên cao nhưng đợt sóng khác đẩy họ xuống dưới mặt nước. Những đầu người nhô lên thụp xuống, và nhiều xác người đã chìm dưới các đợt sóng và biến mất trong khi tàu đang đậu và nổ máy chờ đợi." Với giòng nước ngày càng mạnh hơn, trong chưa tới một giờ, chiếc Cần Thơ phải đổi hướng ra biển để tránh bị mắc cạn. Chỉ có 100 người lên được tàu. 


TQLC đã quyết định di chuyển xa hơn về phía nam để dân và các sắc lính khác ko bám theo. Sau khi đi bộ khoảng 1.6 km, họ phân tán mỏng và đào hố. TQLC đã ko cho dân hay lính khác xâm nhập vào chu vi phòng thủ, và họ đã bắn vài người mà họ nghi là đặc công cs. Đây là vết nứt đầu tiên trong kỷ luật sắt của tqlc. Các tàu HQ cũng chưa tìm được cách nào để bốc họ. 


Sau khi tqlc rút lui, quân csbv ở bắc Huế từ từ tiến tới. Các đv quân địa phương tiến về Thuận An, trong khi trung đoàn 4 di chuyển ở tây Huế dọc theo rặng núi. TĐ 8 Quảng Trị đã vượt qua Sông Bồ trên QL1 và lúc 9 giờ sáng NGÀY 25 THÁNG BA đã chiếm một quận lỵ cách Huế ba dặm Anh. Kế đó trung đoàn này đã gửi một toán trinh sát chiếm một cầu khác ở rìa tp. Trong khi toán trinh sát này ở cầu thứ nhì, hai đặc công giả dạng dân thường cởi một xe gắn máy và thông báo quân vnch đã bỏ tp. Điều khiển một xe jeep của TQLC, ba người của TĐ 8 Quảng Trị và hai đặc công này đã tiến vào tp. Lúc 10:30 giờ sáng, họ đã thượng cờ trên Hoàng Thành Huế, trên cột cờ mà nhiều lính của sđ 1 vnch đã chết khi tái chiếm nó. Vào giữa trưa, các thành phần tiên phong của trung đoàn 3, sđ 324 csbv, ngồi trên các xe tăng của vnch, tiến vào Huế từ phía nam. Tiếp tục tiến quân ra biển, các đv của mặt trận B-4 và trung đoàn 2, sđ 324 csbv, đang tiến về Tân Mỹ, đã bắt tay khoảng 5 g chiều. Cả hai cảng giờ đây đã bị chiếm. 


Trung tướng Thi, khi biết rằng Tư Hiền đang dưới hỏa lực địch và rằng hải quân (HQ) đã ko dựng cầu nối hai bờ của cửa Tư Hiền, đã ra lịnh cho các tàu chạy về phía nam để đón lính bị kẹt ở đấy. Phần lớn các tàu đã rời cảng lúc 4:45 g chiều. Một trung đoàn của sđ 1 VNCH đã tới Cửa Tư Hiền, nhưng sĩ quan hải quân (HQ) chỉ huy duyên đoàn đã đưa tàu ra biển khi một sĩ quan lục quân đã rút súng và đe dọa giết y nếu y ko chỡ lính của ông ta qua bên kia bờ bên kia. Giờ đây bị kẹt lại, một số lính đã trộm (steal) những ghe đánh cá trong khi những người khác cố gắng lội qua cửa biển này. Nhiều người đã chết do giòng nước quá mạnh. Khi các tàu của HQ đã tới Tư Hiền khoảng giữa đêm NGÀY 25 THÁNG BA, tàu đổ bộ nhỏ đã bắt đầu bốc binh sĩ. Vào lúc hừng đông, họ đã cứu khoảng 1.100 binh sĩ. 


Với lực lượng của HQ tại Tư Hiền, ĐT Trí đã sắp xếp BA tàu đổ bộ sẽ cặp bãi lúc bình minh NGÀY 26 THÁNG BA, để cứu 4.000 lính tqlc của ông còn kẹt. Trí đã ra lịnh người bị thương và chết sẽ được đưa lên trước, kế đó bch của lữ đoàn 147, và phần còn lại của lữ đoàn. TĐ 7 của thiếu tá Phạm Cang sẽ bảo vệ phòng tuyến và lên sau cùng. Khi tàu đổ bộ đầu tiên cặp bãi vào buổi sáng, TQLC đã lên tàu trong trật tự, nhưng sau một giờ, địch đã tới. Một đv bắc quân đã phóng một phi đạn (missile) chống tăng Sagger AT-3. Phi đạn trúng tàu, làm bị thương ĐT lữ đoàn trưởng. Sợ bị bắn thêm, tàu đã nhanh chóng quay ra biển. Chỉ có 800 TQLC đã lên tàu. Để tránh địch, TQLC lần nữa tiến về phía nam.


Khoảng giữa trưa, một tàu đổ bộ khác cặp bãi. Lần này, lính TQLC ko còn kỷ luật. Nhiều trăm người đã bơi ra tàu, và tàu trở nên quá tải và mắc cạn trên cát (stuck in the sand). Nhiều dân thường và lính của các binh chũng khác bám theo TQLC cũng chen lấn lên tàu. Vì TQLC đã được nói rằng tàu này dành riêng cho họ, họ đã bắt đầu bắn nhiều người để giảm nhẹ tải trọng của tàu. Sự vô kỷ luật này của tqlc sau đó đã biểu lộ ở Đà Nẳng và những cuộc di tản khác. Vì tàu nằm bất động, các xạ thủ csbv tiếp tục bắn. Vài quả đã trúng tàu, làm bị thương và chết vài chục người. Không muốn làm bia sống (sitting duck), một TĐT của TQLC ra lịnh mọi người rời tàu. Khi cửa tàu mở ra, đại liên của bắc quân đã bắn gục vài chục người. Những lính tqlc còn lại đã tuyệt vọng đào hố để phòng thủ và đã cố gắng đánh trả, nhưng họ gần như hết đạn.


Khi trời tối của NGÀY 26 THÁNG BA, chạm súng giữa 2 bên vẫn tiếp tục. TQLC ko còn chỗ núp, và các sĩ quan cao cấp đã quyết định mở đường máu về Cửa Tư Hiền. Sắp xếp lại đội hình, họ tiến về phía nam dọc bờ biển. Rất ít người tới Tư Hiền, và phần lớn đã bị bắt ngày kế. Nhiều người đã tự tử bằng lựu đạn hơn là đầu hàng. Lữ đoàn 147 TQLC đã tan rả trên bãi biển này; chỉ có 1/4 lính TQLC được di tản. Các con số của quân CSBV về tổn thất của nam VN tại khu vực Huế đã gây sốc cho mọi người: csbv cho rằng đã bắt sống 30.000 quân nhân, bao gồm ĐPQ/NQ. Ngoài ra LĐ 147 TQLC, sđ 1 bộ binh, LĐ 14 và 15 bđq, thiết đoàn 1, vài TĐ pháo các loại, và 15 TĐ địa phương quân đã bị tiêu diệt. Tổn thất về trang bị thật khủng khiếp: bắc quân đã chiếm 140 xe tăng và M-113, 800 xe tải, và hàng chục ngàn tấn đạn. 


Tình hình cũng đã tuyệt vọng ở mặt trận phía nam của Trưởng. Tướng Nhựt suốt đêm 24 THÁNG BA đã ngồi trực thăng để giám sát đoàn xe rút lui từ Quảng Ngải. Đoàn xe đã tới căn cứ Chu Lai SÁNG 25 THÁNG 3. Theo tướng Nhựt, khi ông tới "căn cứ đã tàn ngập với các đv DPQ/NQ, cảnh sát, viên chức chính phủ, và dân thường của tỉnh Quảng Tín và Quảng Ngải. Khu vực bến tàu đã đầy người với một tàu vận tải LST neo ở cảng Chu Lai. Tôi đã hai lần đích thân dùng loa để cảnh báo binh sĩ phải trở về đv và lập vị trí phòng thủ vì địch có thể tấn công, nhưng có vẻ ko ai nghe tôi. Lính tráng sợ bị bỏ lại ở Chu Lai, như đã xảy ra đối với các đv khác trong lúc di tản ở Quân khu 2". 


Với căn cứ đông nghẹt người, Nhựt gọi Trưởng và xin rút về Cù lao Ré, cách bờ 32 km. Dù BTTM ra lịnh đưa sđ 2 về Đà Nẳng để thay TQLC, nhưng với Đà Nẳng đầy người tị nạn, Trưởng đã đồng ý. Nhựt bay ra để gặp thuyền trưởng của chiếc LST Nha Trang (HQ-505). Dù Chu Lai có bến tàu thích hợp với tàu này, nhưng bến này bị chiếm giữ bởi một đám đông mất trật tự khoảng 10.000 người. Nhựt đã quyết định cho tàu cặp vào một bãi biển gần đó trong đêm để đón lính ông. Ông nhanh chóng tập hợp bộ tham mưu (BTM) và các cấp chỉ huy để thảo luận việc di tản. Theo ĐT Lê Thương, chỉ huy pháo binh sđ, "Một thời biểu chi tiết được lập và một cuộc họp gồm toàn BTM của sđ và các đv trưởng để thông báo kế hoạch di tản: rằng sẽ hủy mọi đại bác, xe thiết giáp, và cơ giới nặng vì ko thể mang theo; hủy diệt mọi kho đạn và kho xăng; và đốt rụi mọi doanh trại." Để hỗ trợ di tản này, HQ ra lịnh cho chiếc LST Vĩnh Long (HQ-802) và một tàu đổ bộ hạng trung (LSM) tên Hương Giang (HQ-404), và sau tàu đổ bộ nhỏ từ Qui Nhơn, ra tăng cường cho Chu Lai.


Lúc 9 g tối 25 THÁNG BA, tàu LST Nha Trang cặp bãi biển, nơi khoảng 5.000 lính và vài xe M-113 đang tụ tập. Lại một lần nữa biển quá nông, và tàu này đã mắt cạn cách bờ khoảng 100 yard hay 91 mét. Cảnh khủng khiếp ở bãi biển gần Tư Hiền đã tái diển. ĐT Thương kể lại: "Nỗi sợ càng lúc gia tăng trong bóng đêm khi những tiếng nổ điếc tai từ kho đạn bị nổ, và những ngọn lửa từ những thùng xăng bị cháy đã soi sáng khu vực này. Bên trong căn cứ Chu Lai, các tòa nhà đã bắt đầu cháy, bầu trời đầy khói và khiến mọi người ko thể kiểm soát tình hình (lose their grip) và ko thể phán đoán (ability to reason). Tình hình trở nên ko thể đảo ngược và ko còn giải pháp, ko còn ai ra lịnh, và kỷ luật quân đội ko còn. Mọi người đã cố gắng cứu bản thân họ--vài người đã bơi ra tàu, những kẻ khác treo lên xe M-113 đang liều lỉnh vượt sóng, cán lên nhau để đến tàu. Rất nhiều người đã chết trong lúc lộn xộn này." Sau khi một số binh sĩ hoảng loạn ném lựu đạn và giết vài người trên tàu, chiếc Nha Trang đã quay ra biển. Nhựt đã ra lịnh cho tàu này cặp vào bến tàu ở cảng Chu Lai gần đó. 


Để ngăn ngừa đám đông này tràn lên tàu, chiếc Nha Trang đã đậu cách bờ khoảng 10 mét và dựng một cầu ván giữa bến tàu và tàu. Điều này sẽ khiến mọi người phải đi hàng một lên tàu, tránh được chen lấn. Khoảng 1 g sáng ngày 26 THÁNG BA, một tàu khác đã đến cảng Chu Lai. Vì nước triều rút xuống, chỉ có tàu Hương Giang vào được. Tàu này cột đằng sau tàu Nha Trang và bắt đầu nhận người. Đến giữa trưa, phần lớn mọi người đã lên tàu và hai tàu rời bến. Tàu định trở lại sau đó để bốc trung đoàn 6 của sđ 2, đang làm đoạn hậu, nhưng họ ko thể vào cảng do địch quân bắn từ bờ.


Dù cuộc rút lui hỗn loạn, và toàn bộ cơ giới nặng và nhiều vũ khí nhỏ bị mất, hải quân đã di tản được 10.500 lính và dân. Theo hạm trưởng Phạm Mạnh Khuê, "4.000 người trong số họ thuộc sđ 2 bộ binh, 4.000 người thuộc đpq Quảng Tín và Quảng Ngải, còn lại là cảnh sát, thân nhân của họ, và dân thường. NGÀY 27 THÁNG BA, 6.000 lính và thân nhân đổ xuống Cù lao Ré, phần còn lại đi Đà nẳng."


(còn tiếp)


Nguồn: dịch từ trang 300-320 của quyển Black April.


San Jose ngày 18 tháng 2 2021


Tài Trần


                                                   


                                                                                



Monday, February 15, 2021

Ca sĩ Như Quỳnh tên thật là Lê Lâm Quỳnh Như.

LÊ = 35 = 8

LÂM = 3 14 = 8

QUỲNH = 16155 = 18 = 9

NHƯ = 556 = 16 = 7

Cộng lại: 8+8+9+7 = 32. 

SỰ GIAO TIẾP (COMMUNICATION)
Số kép này có năng lực kỳ diệu để lay chuyển (sway) quần chúng như số 14, có cùng sự giúp đỡ từ những người có quyền lực cao như số 23. Cộng vào đó là khả năng tự nhiên để quyến rũ/lôi kéo (charm) với cách ăn nói thu hút như nam châm, và thật rõ ràng tại sao số 32 đôi khi được biết, khi hiện đại hóa biểu tượng của người xưa như "sự rung động của nhà chính khách". Những phức tạp của quảng cáo, viết lách, ấn loát, radio, và truyền hình, tuy không phải là luôn luôn, nhưng thường thường là một sách mở đối với người mang số 32, (họ) có khuynh hướng làm việc tốt dưới áp lực. Nhưng có lời cảnh cáo được ghi nhận trong giai điệu có vẻ hạnh phúc này. 32 là số RẤT MAY MẮN nếu người mà nó đại diện giữ vững hay không lay chuyển (inflexibly) những ý kiến và phán đoán riêng của họ trong cả hai vấn đề nghệ thuật và vật chất. Nếu không, những kế hoạch này sẽ bị làm hỏng bởi sự ngoan cố và ngu ngốc của kẻ khác.

Dịch từ Linda Goodman's Star Signs, trang 264.

Saturday, February 13, 2021

BAN LÃNH ĐẠO* CỦA VNCH TRONG GIAI ĐOẠN CUỐI CÙNG--QUA LĂNG KÍNH TÂM LINH CỦA LÝ THUYẾT SỐ HAY NUMEROLOGY


- Vũ trụ này được cai quản bởi các con số.

- Người tính ko bằng Trời tính hay Mọi biến cố xảy ra ở VNCH đều có sự sắp xếp của Trời Đất. 


- *Gồm TT Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Cao văn Viên- tổng Tham mưu trưởng, Tư lịnh, tư lịnh phó và tham mưu trưởng bốn quân khu; Tư Lịnh của 11 sđ bộ binh, các đại đơn vị như Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Thiết giáp, v.v...

Họ gồm 29 người nhưng chỉ có bảy người RẤT MAY MẮN gồm:

Quân Khu 1: có chuẩn tướng Điềm (sđ 1).

Quân Khu 2: có ĐT Lý (TMT của QĐ-2).

QK 3: có Tướng Toàn (TL QĐ-3) và tướng Khôi (Chỉ huy thiết giáp QĐ-3).

QK4: có Tướng Nam (TL QĐ), tướng Lạc (sđ 9), và ĐT Cẩn (tỉnh trưởng Chương Thiện). 

22 người còn lại gồm 15 người là TRẢ NỢ DỒN, và bảy người gồm:

- Tướng Đống TL QĐ3 và ĐT Lương,TMT QĐ3, là BÁNH XE ĐỊNH MẠNG. 

- Tướng Thi (TLP của QĐ-1) và tướng Trường (TL sđ 21) là THÀNH LŨY TAN NÁT. 

- Tướng Hưng (TLP của QĐ-4) là HY SINH.

 - Tướng Chương Dzềnh Quay-TMT của QĐ-4 số 18 (rất xấu).  

- Tướng Tất (chỉ huy BĐQ của QĐ-2) là số 29 (cũng rất xấu). 

=======

Tôi dùng LTS để phân tách tên họ những người đã có quyết định quan trọng đến vận mạng đất nước trong HAI tháng hay 50 ngày cuối cùng của chế độ VNCH. Tôi sắp theo thứ tự thời gian, bắt đầu từ:


I/ CUỘC HỌP LỊCH SỬ TẠI DINH ĐỘC LẬP NGÀY 13/3/1975  với thành phần gồm:

1/ TT NGUYỄN VĂN THIỆU

NGUYỄN = 536155 = 25 = 7

VĂN = 615 = 12 = 3 

THIỆU = 45156 = 21 = 3 

Cộng lại: 7 3 3 = 13 = TRẢ NỢ DỒN.

2/ Thủ tướng TRẦN THIỆN KHIÊM

TRẦN = 4215 = 12 = 3

THIỆN = 45155 = 20 = 2

KHIÊM = 25154 = 17 = 8

Cộng lại: 3 2 8 = 13 = TRẢ NỢ DỒN.

3/ Đại tướng CAO VĂN VIÊN, Tổng tham mưu trưởng QLVNCH.  

CAO = 317 = 11 = giữ nguyên

VĂN = 615 = 12 = 3 

VIÊN = 6155 = 17 = 8

Cộng lại: 11 3 8 = 22 = TRẢ NỢ DỒN.

4/ Trung tướng NGÔ QUANG TRƯỞNG, TL của QĐ 1. 

NGÔ = 537 = 15 = 6

QUANG = 16153 = 16 = 7

TRƯỞNG = 426753 = 27 = 9

Cộng lại: 6 7 9 = 22 = TRẢ NỢ DỒN. 


Tháng 3.1975, tại QK1 có hai Tư Lịnh Phó gồm: 

5/ Trung tướng LÂM QUANG THI.

LÂM = 314 = 8 

QUANG = 16153 = 16 = 7

THI = 451 = 10 = 1

Cộng lại: 8 7 1 = 16 = THÀNH LŨY TAN NÁT (shattered citadel). 

6/ Thiếu tướng HOÀNG VĂN LẠC.

HOÀNG = 57153 = 21 = 3

VĂN = 615 = 12 = 3 

LẠC = 313 = 7

Cộng lại: 3 3 7 = 13 = TRẢ NỢ DỒN.

7/ Chuẩn tướng NGUYỄN VĂN ĐIỀM, TL SĐ 1.

NGUYỄN = 7

VĂN = 615 = 12 = 3

ĐIỀM = 4154 = 14 = 5

Cộng lại: 7 3 5 = 15 = RẤT MAY MẮN. 

8/ Chuẩn tướng TRẦN VĂN NHỰT, TL SĐ 2.

TRẦN = 4215 = 12 = 3

VĂN = 615 = 12 = 3

NHỰT = 5564 = 20 = 2

Vì 3 + 3 + 2 = 8 nhỏ hơn 9, nên phải cộng: 12 - 12 - 20 = 44. Số này cùng ý nghĩa với 26. Hai số này đều dẫn đến số 8, nghĩa là TRẢ NỢ DỒN.

9/ Chuẩn tướng NGUYỄN DUY HINH, TL SĐ 3.

NGUYỄN = 7

DUY = 461 = 11 = giữ nguyên

HINH = 5155 = 16 = 7

Cộng lại: 7 11 7 = 25

10/ ĐT HOÀNG MẠNH ĐÁN, TMT của QĐ-1.

HOÀNG = 57153 = 19 = 10 = 1

MẠNH = 4155 = 15 = 6

ĐÁN = 415 = 10 = 1

Cộng lại: vì 1 6 1 nhỏ hơn 10 nên ta phải cộng: 19 15 10 = 44 = 26 = một số rất xấu vì bằng 8 = TRẢ NỢ DỒN.

Tôi ko tính hai tướng Bùi Thế Lân của TQLC và Lê Quang Lưởng của Nhảy Dù vì hai đại đv này bị xé lẻ và dưới quyền của TL và TLP của QĐ-1. 


II/ CUỘC HỌP LỊCH SỬ NGÀY 14/3/75 TẠI CAM RANH, thuộc QK-2 với thành phần tham dự, ngoài ông Thiệu, Khiêm, và Viên còn có: 

11/ Thiếu tướng PHẠM VĂN PHÚ, TL của QĐ 2.

PHẠM = 8514 = 18 = 9

VĂN = 615 = 12 = 3

PHÚ = 856 = 19 = 10 = 1

Cộng lại: 9 3 1 = 13 = TRẢ NỢ DỒN. 

Dưới quyền Phú có các tướng hay đại tá như: 

12/ Chuẩn tướng PHAN ĐÌNH NIỆM, TL của sđ 22 bộ binh:

PHAN = 8515 = 19 = 10 = 1

ĐÌNH = 4155 = 15 = 6

NIỆM = 5154 = 15 = 6

Cộng lại: 1 6 6 = 13 = TRẢ NỢ DỒN.

13/ Chuẩn tướng LÊ TRUNG TƯỜNG, TL của sđ 23 bb: 

LÊ = 35 = 8 

TRUNG = 4 2 6 5 3 = 20 = 2

TƯỜNG = 42753 = 21 = 3

Cộng lại: 8 2 3 = 13 = TRẢ NỢ DỒN.

14/ Chuẩn tướng PHẠM DUY TẤT, chỉ huy BĐQ của QK-2:

PHẠM = 8514 = 18 = 9

DUY = 461 = 11 = giữ nguyên

TẤT = 4 1 4 = 9

Cộng lại:  9 11 9 = 29 = RẤT XUI XẺO. 

15/ ĐT LÊ KHẮC LÝ, TMT của QĐ-2.
LÊ = 35 = 8

KHẮC = 2513 = 11 = giữ nguyên

LÝ = 3 1 = 4 

Cộng lại: 8 11 4 = 23 = RẤT MAY MẮN. 


III/ SAU KHI QĐ 1 VÀ 2 ĐÃ VÀ ĐANG TAN RẢ, QĐ 3 được chỉ huy bởi trung tướng NGUYỄN VĂN TOÀN.

16/ Ông rất mát tay vì ông có ngày sanh là 6/10/1932: số 6 là số RẤT MAY MẮN theo LTS. Theo các chuyên gia quân sự Mỹ-Việt, nếu tướng Toàn ko bị thay thế bởi tướng Phú thì tình hình của QĐ 2 ko thê thảm như vậy!

Trước tướng Toàn, QĐ 3 được chỉ huy bởi: 

17/ Trung tướng DƯ QUỐC ĐỐNG

DƯ = 46 = 10 = 1 

QUỐC = 1673 = 17 = 8

ĐỐNG = 4753 = 19 = 10 = 1

Cộng lại: 1 8 1 = 10 = BÁNH XE ĐỊNH MẠNG. 

Dưới quyền tướng Toàn có: 

18/ ĐT PHAN HUY LƯƠNG, TMT QĐ-3

PHAN = 8515 = 19 = 10 = 1

HUY = 561 = 12 = 3 

LƯƠNG = 36753 = 24 = 6

Cộng lại: 1 3 6 = 10 = BÁNH XE ĐỊNH MẠNG. 

 19/ Chuẩn tướng LÊ MINH ĐẢO, TL của SĐ 18: 

LÊ = 3 5 = 8

MINH = 4155 = 15 = 6

ĐẢO = 417 = 12 = 3

Cộng lại: 8 6 3 = 17 = TRẢ NỢ DỒN.  

20/ Chuẩn tướng LÊ NGUYÊN VỶ, TL của sđ 5:

LÊ = 35 = 8

NGUYÊN = 7

VỶ = 61 = 7

Cộng lại: 8 7 7 = 22 = TRẢ NỢ DỒN. 

21/ Chuẩn tướng LÝ TÒNG BÁ, TL của sđ 25:  

LÝ = 31 = 4

TÒNG = 4753 = 19 = 10 = 1

BÁ = 2 1 = 3

Cộng lại: 4 1 3 = 8 = TRẢ NỢ DỒN.

22/ Chuẩn tướng TRẦN QUANG KHÔI, chỉ huy thiết giáp của QK-3, có ngày sanh 24/1/1930. Theo LTS, số 24 RẤT MAY MẮN. 


IV/ LÚC ĐÓ QK-4 ĐƯỢC CHỈ HUY bởi :

23/ Thiếu tướng Nguyễn khoa Nam 23/9/1927, RẤT MAY MẮN. 

24/ TLP là Thiếu tướng LÊ VĂN HƯNG.

LÊ = 35 = 8

VĂN = 615 = 12 = 3

HƯNG = 5653 = 19 = 10 = 1

Cộng lại: 8 3 1 = 12 = HY SINH. 

25/ TMT là tướng Chương Dzềnh Quay sanh ngày 18/12/1928, số này RẤT XẤU theo LTS.

26/ TL của sđ 9 là chuẩn tướng HUỲNH VĂN LẠC, TL sđ 9, có ngày sanh 27/2/1927, số 27 RẤT MAY MẮN.

27/ TL của sđ 7 là Chuẩn tướng TRẦN VĂN HAI: 

TRẦN = 4215 = 12 = 3

VĂN = 615 = 12 = 3 

HAI = 5 1 1 = 7

Cộng lại: 3 3 7 = 13 = TRẢ NỢ DỒN. 

28/ TL của sđ 21 là chuẩn tướng MẠCH VĂN TRƯỜNG:

MẠCH = 4135 = 13 = 4

VĂN = 615 = 12 = 3

TRƯỜNG = 426753 = 27 = 9

Cộng lại: 4 3 9 = 16 = THÀNH LŨY TAN NÁT. 

29/ Đại tá HỒ NGỌC CẨN

HỒ = 57 = 12 = 3

NGỌC = 5373 = 18 = 9

CẨN = 3 1 5 = 9 

Cộng lại: 3 9 9 = 21 = RẤT MAY MẮN vì là vương miện của pháp sư.


TÓM LẠI : Trong 29 nhân vật trên đây, chỉ có bảy người RẤT MAY MẮN gồm:

QK1: có chuẩn tướng Điềm (sđ 1).

QK2: có ĐT Lý (TMT của QĐ-2).

QK3: có Tướng Toàn (TL QĐ-3) và tướng Khôi (Chỉ huy thiết giáp QĐ-3).

QK4: có Tướng Nam (TL QĐ), tướng Lạc (sđ 9), và ĐT Cẩn (tỉnh trưởng Chương Thiện). 

22 người còn lại gồm 16 người là TRẢ NỢ DỒN; ngoài ra có sáu người gồm: 

- Tướng Đống và ĐT Lương (TMT của QĐ-3) là BÁNH XE ĐỊNH MẠNG, 

- Tướng Thi (TLP của QĐ-1) và tướng Trường (sđ 21) là THÀNH LŨY TAN NÁT, 

- Tướng Hưng (TLP của QĐ-4) là HY SINH, 

- Tướng Chương Dzềnh Quay, TMT-QĐ 4, số 18, rất xấu, 

- Và tướng Tất (chỉ huy BĐQ của QĐ-2) là số 29, rất xấu. 


V/ PHẦN ĐỌC THÊM thứ nhứt: 

1/ Thiếu tướng NGUYỄN CAO KỲ sanh ngày 8/9/1930 tại Sơn Tây. Theo LTS, số 8 là TRẢ NỢ DỒN. 

2/ Trung tướng LÊ NGUYÊN KHANG, cựu TL của sđ TQLC: 

LÊ = 3 5 = 8

NGUYÊN = 536155 = 25 = 7

KHANG = 25153 = 16 = 7

Cộng lại: 8 7 7 = 22 = TRẢ NỢ DỒN.

3/ Chuẩn tướng BÙI THẾ LÂN, TL của sđ TQLC

BÙI = 2 6 1 = 9

THẾ = 4 5 5 = 14 = 5 

LÂN = 3 1 5 = 9

Cộng lại: 9 5 9 = 23 = RẤT MAY MẮN. 

4/ Chuẩn tướng LÊ QUANG LƯỞNG

LÊ = 35 = 8

QUANG = 16153 = 16 = 7

LƯỞNG = 3 6753 = 24 = 6

Cộng lại: 21 = vương miện của pháp sư, RẤT MAY MẮN. 


VI/ DÀNH CHO AI MUỐN NGHIÊN CỨU VỀ LTS: 

Theo LTS, mỗi chữ (letter) trong bảng mẫu tự đều có một trị số tương ứng như: a = 1, b = 2, c = 3, d = 4, e = 5, f = 8, g = 3 , h = 5, i = 1, j = 1, k = 2, l = 3, m = 4, n = 5, o = 7, p = 8, q = 1, r = 2, s = 3, t = 4, u = 6, v = 6, w = 6, x = 5, y = 1, và z = 7.

Ta lấy một ví dụ cho dễ hiểu: nay ta phân tách tên của TT NGUYỄN VĂN THIỆU.

Tên gồm ba phần: NGUYỄN, VĂN, và THIỆU.

Ở mỗi phần, ta thế các chữ bằng trị số tương ứng (dựa vào bản trị số ở trên).

N G U Y Ễ N = 5 3 6 1 5 5 = 2 5 = 7.

VĂN = 6 1 5 = 12 = 3

THIỆU = 4 5 1 5 6 = 21 = 3 

Cộng lại: 7 + 3 + 3 = 13 = TRẢ NỢ DỒN, theo LTS.

Ghi chú: Nếu phần nào cộng lại bằng 11 hay 22 thì phải giữ nguyên, nghĩa là ko thể rút gọn. Ví dụ : ANH = 1 5 5 = 11 = giữ nguyên. Hay NHUẬN = 55615 = 22 = giữ nguyên. 

Sau đó cộng lại các phần này và con số kết quả sẽ tác động lên nhân vật đó. Ý nghĩa của các số này đều có trong sách đã dẫn./.


===================================

VII/ PHẦN ĐỌC THÊM thứ hai: 

CÁC LÃNH ĐẠO CỦA CSBV.

1/ LÊ DUẨN

LÊ = 35 = 8 

DUẨN = 4615 = 16 = 7

Cộng lại: 8 7 = 15 = RẤT MAY MẮN.

Y có tên cúng cơm là:

LÊ VĂN NHUẬN

LÊ = 8

VĂN = 615 = 12 = 3

NHUẬN = 55615 = 22 = giữ nguyên 

Cộng lại: 8 3 22 = 33 = RẤT MAY MẮN. 

2/ LÊ ĐỨC THỌ, trưởng ban tổ chức TƯ ĐVSVN, đại diện của CSVN tại hòa đàm Paris, tay mặt của Lê Duẩn.

LÊ = 3 5 = 8 

ĐỨC = 4 6 3 = 13 = 4 

THỌ = 4 5 7 = 16 = 7

Cộng lại: 8 4 7 = 19 = RẤT MAY MẮN. 

3/ Tướng VÕ NGUYÊN GIÁP 

VÕ = 67 = 13 = 4

NGUYÊN = 536155 = 25 = 7

GIÁP = 3118 = 13 = 4

Cộng lại: 474 = 15 = RẤT MAY MẮN. 

4/ Trung tướng CSBV TRẦN VĂN TRÀ

TRẦN = 4215 = 12 = 3

VĂN = 615 = 12 = 3

TRÀ = 421 = 7 

Cộng lại: 337 = 13 = TRẢ NỢ DỒN.

5/ Thiếu tướng CSBV NGUYỄN HỮU AN, TL của quân đoàn 2 CSBV tại quân khu 1 VNCH. 

NGUYỄN = 7

HỮU = 566 = 17 = 8

AN = 15 = 6

Công lại : 7 8 6 = 21 = MAY MẮN vì là vương miện của pháp sư (crown of the magi). 

CHÚ THÍCH: Những ý kiến trên đây hoàn toàn khách quan và dựa vào hiểu biết của tôi về LTS, phần lớn từ quyển Linda Goodman's Star Signs. Tôi chỉ có công tính toán và cho kết quả, phần giải đoán đều dịch từ sách đã dẫn./.

SJ lúc 0:45 ngày 15 tháng 2 2021 nhằm ngày mùng 4 tết năm con Trâu. 





 TRẦN = 4215 = 12 = 3

VĂN = 615 = 12 = 3
HAI = 511 = 7
Cộng lại: 337 = 13

Friday, February 12, 2021

Wednesday, February 10, 2021

 

Khóc Bạn (Về cái chết của một bác sĩ)

Hoàng Thế Định

 Dưới đây là một trích đoạn trong hồi ký của chúng tôi.

 *

“…Huế, những ngày tháng 3 năm 1975.
Căn cứ Giạ-Lê, Tổng Hành Dinh Sư-Đoàn 1 Bộ-Binh.

Tại đơn vị Tiểu-Đoàn 1 Quân-Y, bác-sĩ Bùi Hữu Út, tiểu đoàn trưởng đi họp ở Bộ Tham Mưu Sư-Đoàn, tôi tạm thay thế để điều động đơn vị dù chưa chính thức bổ nhiệm tiểu-đoàn-phó.

Điện thoại reo, hạ sĩ quan quân cảnh ở cổng Bộ Tư Lệnh báo là có một bác sĩ Thủy Quân Lục Chiến muốn vào gặp tôi, chưa rõ là ai, nhưng nghe bác sĩ quân y, tôi vui mừng mời vào. Trong khi chờ đợi, tôi thầm đoán có lẽ đây là vị bác sĩ TQLC đã từng dẫn toán quân y của anh đến cùng làm việc với toán của tôi trong mấy cuộc hành quân phối hợp Việt-Mỹ vào những năm 71, 72 tại 18th Surgery Hospital của quân đội Hoa-Kỳ tại Ái-Tử Quảng-Trị.

Đến khi gặp người bác sĩ trẻ và lạ, tôi hơi bỡ ngỡ, bác sĩ Giang tự giới thiệu khi bắt tay tôi. Trong khi mời uống nước, tôi tò mò hỏi Giang:

– Làm sao Giang lại biết tôi?

-Tôi nghe một số đàn anh bên Nhảy Dù nói anh là tay đàn guitare Classique điêu luyện và chơi cả Flamenco nữa, nên tôi tìm đến xin anh cho thưởng thức.

-Thế anh Giang thích bài nào? Tuy trong tình trạng chiến tranh nầy tôi vẫn rất sẵn sàng làm vui lòng bạn mộ điệu.

-Tôi nghe bác sĩ Nguyễn Mạnh Tiêu nói anh chơi bản Romance hay lắm, tôi có nghe Đỗ Đình Phương độc tấu guitare bài nầy qua radio, nhưng lại không có đoạn introduction.

-Đúng vậy, tôi may mắn có đoạn introduction do Vincent Gomez soạn, bản in từ Paris và ông ta ghi đề bản nhạc là Jeux Interdits cùng với chữ “Romance d’Amour” trong dấu ngoặc đơn.

-Thế chắc anh học trường nhạc từ lâu?

-Không, thật ra tôi chẳng học trường nhạc nào cả, từ 11 tuổi, tôi tự học guitare theo sách Caruly và Léo Laurant, gia đình tôi đều chơi nhạc.

Giang ngồi chăm chú, vừa nghe vừa theo dõi từng ngón tay của tôi, dứt bản đàn, Giang còn yêu cầu tôi chơi lại đoạn introduction.

-Có dịp, tôi sẽ chép lại cho anh đoạn nhạc nầy, Giang cũng chơi guitare?

-Không, tôi không biết đàn, nhưng biết thưởng thức nhạc.

Trong câu chuyện khi hỏi về gia đình Giang cho biết anh còn mẹ và hai em ở Sài-Gòn, Giang còn thổ lộ với tôi rằng anh rất mong được phép về thăm nhà dù mình mới bổ dụng ra đơn vị không bao lâu.

Lần đầu gặp gỡ tôi đã cảm thấy mến Giang lạ lùng, dù trong bộ quân phục rằn ri, Giang vẫn toát ra một tính chất nho nhã, hiền lành và lãng mạn. Giang và tôi lại cùng một cảnh ngộ chỉ khác là vợ con tôi đang lánh nạn tại Đà-Nẵng xa vùng chiến tuyến đang ác liệt, người yêu của Giang thì ở mãi tận Sàigòn.

-Và bây giờ, mình chơi bản nầy tặng cậu nhé, bản Letter à Elize (Fur Eliz) của Beethoven, chắc Giang biết bài nầy?

-Vâng, vâng, xin anh! Tôi có nghe bản nầy nhưng với đàn Piano, và… tôi lại có kỹ niệm đẹp qua bài nầy.
Rõ ràng Giang đang lắng hồn trong ý nhạc của Beethoven viết khi chờ đợi Elize, cô học trò dương cầm mà ông yêu. Ngưng đàn, tôi khẽ hát: “Au dernier rayon du solei dort…”

Nhạc đã dừng nhưng Giang vẫn còn ngồi im thả hồn về đâu, mắt anh chớp chớp, tôi nghĩ là anh đang nhớ nhà, nhớ người yêu…

Thật ra, lúc đó, bên ngoài xa vẫn vang vọng tiếng hỏa tiển 122 ly của Việt-Cộng đang nả vào vòng đại căn cứ Sư-Đoàn 1.

Một lúc sau, Giang ngẩng lên nhìn tôi, thoáng ngượng ngùng, anh kéo chiếc ghế đang ngồi để phá tan không khí im lặng đó, chính tôi cũng tự trách mình đã để âm nhạc du lòng người bạn trẻ mềm yếu và buồn nhớ, dù chỉ là nhất thời.

Tôi lại cầm đàn và rãi hợp âm Mi trưởng thật dòn khởi đầu cho bản nhạc Flamenco “Los Sitios Di Zarogoza” với thể điệu hành khúc hùng tráng, bản nhạc dài 8 phút, chấm dứt thật mạnh và dứt khoát.
Giang đứng phắt dậy, hai tay ghì chặt bàn tay tôi:

-Anh Định! Phải thành thật mà nói là… tuyệt! Cảm ơn anh rất nhiều! Mong lần khác đến thăm anh và sẽ được nghe anh đàn nữa, bây giờ tôi phải đi, phải ra tận Quảng-Trị.

-Vâng, khi khác vậy. Giang đi nhé! À, có dịp gặp bác sĩ Trương Thanh Trừng, cũng TQLC, nhờ cậu nói là mình gởi lời thăm, Trừng là bạn học rất thân với mình.

*

Chiến cuộc ngày càng xấu đi cho QLVNCH, thật sự, có nhiều đơn vị uất ức vì chưa được đối đầu với địch mà lệnh trên buộc rút lui để rồi hai tỉnh phía bắc đèo hải-Vân gần như bị Việt-Cộng khống chế trong thời gian ngắn vào cuối tháng 3-1975. Đêm 25 tháng 3, đêm cuối cùng của Huế Tự-Do diễn ra ở bãi biển Thuận-An, một đêm hỗn loạn cả quân và dân, và không ngờ đêm đó Giang cũng ở Thuận-An mà tôi không được gặp.

*

https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/re-education-or-hard-labor-sentences-04272015215003.html/traicaitao-vuotsong.gif/image

… Thời gian hơn 1 năm lao động khổ sai ở trại 1 Ái-Tử Quảng-Trị, tôi không biết có Giang ở trại 3.
Tổng trại tù Ái-Tử có 5 trại, trại 1 giam các sĩ quan từ cấp đại-úy đến trung-tá, trại 2 cho cấp sĩ quan chuẩn-úy và thiếu-úy, trại 3 và trại 4 giam các sĩ quan cấp trung úy và trại 5 dành cho hạ-sĩ-quan, binh-sĩ, Địa-Phương quân, Nghĩa quân cùng anh em Chiêu-Hồi (quân VC về với VNCH), mỗi tiểu trại cách nhau chừng vài cây số đường đồi núi.

Mỗi tiểu trại chứa trên 500 tù binh, ban giám thị mỗi trại giam gồm chừng 30-50 bộ đội, tất cả đều trực thuộc Đoàn 76. Họ cũng tổ chức ban y-tế cho tù binh thuộc từng tiểu trại, nhưng chỉ chọn các y tá sơ cấp hoặc nhân viên hành chánh quân y; còn tất cả bác sĩ và sĩ quan trợ y đều bị đưa đi lao động khổ sai. Đặc biệt ở trại 3 có vài dược sĩ và bác sĩ được đưa vào toán Đông-Y đi rừng hái lá, đào rễ, bới củ về làm thuốc; trong số đó có dược sĩ Lê Bá Thuận và bác sĩ Vũ Đức Giang.

Ban quản lý tổng trại giam Ái-Tử với cái tên Đoàn 76 và trạm xá là 2 cơ sở cạnh tiểu trại 3, chỉ các nhau 10 phút đi bộ qua mấy ngọn đồi, vùng nầy gồm toàn những đồi tranh và lau lách. Trạm xá Đoàn 76 gồm một số nhà tranh vách đất trên sườn đồi thoai thoải, phần lớn trạm xá dành cho bệnh nhân bộ đội với khoảng 20 bộ đội đãm trách và kiêm việc kiểm soát trạm xá nhỏ dành cho tù binh. Họ có một bác sĩ, vài y tá và một nửa căn nhà làm kho thuốc. Trạm xá của tù binh chỉ gồm vỏn vẹn một nhà nhỏ với 4 giường cho bệnh nhân tù binh từ các tiểu trại đưa đến, nếu là bệnh nặng, có 3 tù binh trong đó chỉ có một người là y tá sơ cấp và hai người thuộc hành chánh quân y được chọn coi sóc thuốc men và ăn ở cho bệnh nhân tù ngoài ra còn đảm trách những việc trồng trọt, chăn nuôi và sai vặc cho bộ đội nữa.

Tháng 5 năm 1976, một hôm bị bệnh, tôi được sung vào toán “lao động nhẹ”, “nhẹ” nghĩa là vượt 7 cây số đường núi đồi từ tiểu trại 1 đến trạm xá Đoàn 76 để cuốc cỏ tranh xung quanh các nhà nơi đây.

Sau giờ ăn trưa, được nghỉ ngơi nửa giờ, tôi nằm dài trên đất dưới mài hiên một nhà nào đó để mong được hưởng hơi mát từ đất, dưới ngọn nắng gay gắt, chói chang và gió Nam Lào hừng hực tôi thiếp đi trong mệt mõi. Tôi được đánh thức giậy bằng mấy cái đá nhẹ vào đùi, bừng mắt thấy một cán binh bộ đội sừng sững nhìn tôi.

-Anh là Định? Theo tôi vào làm việc!

Tôi bàng hoàng chẳng biết mình có làm điều gì sai phạm để phải bị “làm việc”, mọi tù binh đều rất sợ chữ “làm việc” vì có nghĩa là bị thẩm vấn, tra hỏi về vấn đề gì không tốt cho mình.

Theo người cán binh bộ đội vào nhà, không khí bên trong mát dịu làm tôi tỉnh táo, tôi thầm nghĩ:

-Mang thân phận tù là tận cùng rồi thì còn sợ cái quái gì nữa?

Một người bộ đội đứng tuổi với phong cách như là vị chỉ huy nhìn tôi không có vẻ gì ác cảm, giọng nhẹ nhàng làm tôi khá bở ngỡ, ông ta hỏi tôi:

-Anh là bác sĩ bên đối tượng? Anh phẩu được?

Bộ đội Cộng sản dùng từ “đối tượng” để chỉ tù binh và từ “phẩu” nghĩa là giải phẩu.

Tôi gật đầu:

-Thưa, tôi là bác sĩ giải phẩu.

-Có một anh bị tai nạn lao động, cần anh vào xem.

Thế là với bộ áo quần tù lem luốc, tôi được hướng dẫn đi rửa tay. Một y tá bộ đội giọng ra lệnh:

-Rửa tay thật kỹ vào! Không có bao tay (gloves) đâu.

Tôi đang rửa tay, anh y tá bộ đội quấn lên đầu tôi một mảnh vải thay thế mủ trùm đầu, rồi dùng một chiếc khăn vuông gấp chéo, quàng quang mặt tôi, gọi là mask. Lúc đó trông tôi chắc là giống mấy tay cowboys trong phim Western.

Một gian nhà tranh vách đất nhỏ được gọi là phòng mỗ với bên trong được bọc kín bằng một loại vải mùng, nền là những tấm ghi sắt sân bay ghép lại.

Tôi đã giải quyết cho một anh tù binh trẻ thuộc tiểu trại 2, tên Huấn, cấp bực chuẩn úy bị tai nạn lao động do cuốc phải đầu đạn M72. Bác sĩ bộ đội và toán giải phẩu của ông ta định cắt bỏ cánh tay trái của Huấn sau hơn 3 giờ không tìm được mạch máu bị cắt cũng như mãnh đạn. Để chứng tỏ có nhân chứng xác nhận là họ đã tận tình cứu chữa nhưng không cách gì khác hơn là phải hy sinh cánh tay người tù trẻ, họ hỏi ý kiến anh Quý, một tù binh phục vụ trạm xá, anh ta bối rối không dám quả quyết một vấn đề quan trọng như vậy và anh đã đề nghị họ gọi tôi.

20 phút sau khi giải quyết xong trường hợp của Huấn, tôi còn phải mỗ thêm cho một anh tù binh khác cùng bị tai nạn do quả M72 nổ, anh nầy bị mãnh đạn xuyên má bên trái, cắt ngang hai cái răng, mọi việc tốt đẹp, từ đó họ giữ tôi ở lại trạm xá, đây là điểm y tế gọi là cao nhất và là cuối cùng cho anh em bệnh nhân tù.

Càng ngày, vùng khai hoang càng nới rộng, số anh em tù bị đẩy đi lao động khổ sai càng gặp nhiều tai nạn; phần lớn là do bom, mìn, đạn dược vung vãi khắp những nơi mà trước đây là vùng giao tranh ác liệt.

Với một số ít dụng cụ y khoa sản xuất tại Trung Quốc, điều kiện thuốc men hạn chế, phòng ốc thiếu vệ sinh…,tôi phải giãi quyết mọi trường hợp mỗ lớn y như là một bệnh viện. Trên nguyên tắc, trạm xá tù chỉ điều trị cho tù binh mà thôi, nhưng khi dân chúng quanh vùng gặp những trường hợp cấp cứu, phía bộ đội lại giao cho chúng tôi giải quyết, có người đã được chúng tôi mỗ nối ruột non và tạo hậu môn nhân tạo – artificial anus. Ngay cả phía bệnh nhân bộ đội, có nhiều người đã yêu cầu tù binh chúng tôi giải phẩu cho họ, để giữ an toàn, chúng tôi đã tế nhị đòi hỏi họ viết tờ cam đoan với sự xác nhận từ bác sĩ bộ đội của họ là sẽ không làm khó dễ toán y tế tù nếu xẫy ra những điều bất như ý hoặc tai nạn khó lường trong giải phẩu.
Tôi còn yêu cầu họ đóng một bàn mỗ theo bản vẽ thiết kế của tôi, còn về thuốc men cho tù binh ở trạm xá cũng như các tiểu trại, tôi cũng xin được bổ túc thêm, nhất là dành cho cấp cứu tại chỗ.

Vì nhu cầu y tế ngày càng tăng, tôi đã đề nghị bác sĩ bộ đội cho chúng tôi thêm nhân sự, được chấp thuận, tôi viết danh sách gồm nhiều bác sĩ và sĩ quan trợ y ở khắp các tiểu trại, và họ đã chọn những người từ tiểu trại 4 trong đó có BS Trương Ngọc Hiền, thuộc TQLC và BS Nguyễn Văn Thông, Bộ Binh, cùng với 3 sĩ quan trợ y là các anh Lê Như Thành, Nguyễn Văn Tường, Lê Văn Đàn; những sĩ quan trợ y nầy trước đây là những trung đội trưởng trong đại đội quân y do tôi làm đại đội trưởng.

Bam giám thị trạm xá còn dựng một phòng bệnh khá vững chắc có sức chứa 40 bệnh nhân tù và có cả phòng ăn kế bên, số anh em tù từ các tiểu trại bị bệnh khá nặng đều được chuyển đến trạm xá chúng tôi.

Một ngày trời mưa tầm tả và bắt đầu se lạnh của tháng 10 năm 1976, tôi đang viết danh sách số thuốc yêu cầu cho bệnh nhân tù thì liếp cửa bật mở, BS Giang bước vào, người anh ước đẫm từ đầu đến chân, anh vừa cười vừa rũ nước trên chiếc nón vải nặng trĩu.

-Hay quá! Có anh ở đây!

Tôi rất mừng gặp bạn, nhưng sợ phạm phải tội liên lạc với người khác trại nên tôi vội bước ra ngoài nhìn qua lại xem có giám thị trạm xá thấy Giang vào đây không, không có ai qua lại, tôi yên chí cầm túi vải ướt đẫm nước của Giang vào nhà. Trong tất cả các trại giam thuộc Đoàn 76, trạm xá nầy là nơi độc nhất không có hàng rào kẽm gai vây quanh, nhưng chẳng tù binh nào dám trốn trại, vì khắp vùng đều nhan nhản bộ đội và dân quân tuần tra nghiêm nhặt.

Đưa khăn cho Giang lau mặt, tôi ái ngại nhìn bạn:

-Cậu đi đâu về mà ước đẫm thế nầy?

-Em đi rừng đào củ Hà Thủ Ô, còn rộng thì giờ, em vào đây nghe anh đàn.

Tôi kéo bếp than nóng để cạnh bạn và đưa trà nóng cho Giang, Tôi luôn có trà nóng nhờ bếp than dùng nấu syringues và kim chích. Sau khi hít một hơi thuốc Lào dài, tôi cầm cây đàn guitare. Tù binh chúng tôi chống lại với cái lạnh buốt tới xương của vùng rừng núi ẩm thấp của phía tây Quãng -Trị nầy bằng cách hút thuốc lào một loại thuốc rẽ tiền nhất. Sau 30 tháng 4 1975, trong giấy trình diện mà họ gọi là “đi học tập cải tạo” có phần bị chú ghi “trại viên nên mang theo dụng cụ thể thao, âm nhạc…”, điều đó làm cho mọi người nghĩ rằng thời gian “học tập” chắc sẽ chỉ vài ngày hoặc vài tuần. Sự thật thì không phải học tập mà là đi tù và đơn vị thời gian không phải là ngày, tuần, tháng mà là năm hay chục năm. Biết bạn thích những bản nhạc nào, tôi đàn ngay, Giang ngồi sưởi ấm vừa nhấm nháp trà vừa nghe nhạc, sau khi chấm dứt bản nhạc Panpancuillo của Francisco Tarréga, Giang ung dung đặt chén trà xuống bàn:

-Bản nầy nghe âm hưởng như nhạc Nhật Bản, phải không anh Định?

-Đúng vậy! Giang còn nhớ bản nhạc Tranonto không?

-Tiết tấu của bản đó hay thật, nhưng nghe buồn đến héo hắt, y như cái buồn của kẻ lưu đầy, của người mất nước.

Nghe lời bình phẩm của Giang qua giọng Bắc nhẹ nhàng đầy truyền cảm của anh, lòng tôi se thắt chợt nghĩ đến thân phận tù đày hiện tại của mình cũng như các chiến hữu thuộc mọi binh chủng VNCH và kể cả toàn dân miền Nam đang sống trong một nhà tù rộng lớn.

Tình cảm giữa Giang và tôi ngày thêm mật thiết, chúng tôi trở thành đôi tri kỷ; từ đó, mỗi lần soạn thêm bản nhạc nào hoặc có bài ca nào mới sáng tác, tôi lại nhờ mấy bạn tù thân thiết nhắn Giang sang thưởng thức.

Có lần, sau khi đã cẩn thận xem xung quanh không có ai, tôi khẽ hát cho Giang nghe đoạn nhạc mở đầu bài ca đang sáng tác:

“Huế ơi! Huế ơi! Em đã tắt nụ cười,
Dưới cờ đỏ máu tươi,
Xơ xác thân hao gầy, đói cơm xót xa từng ngày…”

Giang gật gù thích chí, rồi trang nghiêm xuống giọng:

-Nầy anh Định! Anh đừng viết lời ca nầy ra trên giấy nhé!

Tôi thầm cảm ơn Giang đã lo lắng cho tôi, chúng tôi ngầm hiểu rằng nếu giám thị trại giam đọc được lời bài nhạc nầy, họ sẽ xữ tôi với nhiều tội danh, thế là tôi đã viết nhạc ra giấy còn lời thì ghi khắc trong trí.

Một đôi lần Giang rủ Dược sĩ Lê Bá Thuận cùng sang thăm tôi, tôi cố tránh không đàn những bản nhạc quá buồn gợi Giang buồn nhớ người thân.

Trong hoàn cảnh tù đầy buồn tủi, uất hận, vợ con tôi thường xuyên bới xách thức ăn, thuốc men, nhất là với tình yêu chồng, thương cha của vợ con tôi đã là một hỗ trợ lớn lao cho tinh thần tôi được thoa dịu, người thêm sức sống, lại thêm người bạn tri kỷ về âm nhạc, thật là một an ủi lớn cho tôi.

Thế rồi, năm 76 qua đi từ hồi nào, xuân 77 đến, anh em tù binh náo nức về cái Tết Đinh Tỵ sắp đến, mọi tù binh bàn tán xôn xao vì cứ mỗi dịp Tết Nguyên Đán, lại có một số người được phóng thích trước Tết. Anh em tù binh truyền miệng, thông báo cho nhau biết họ tên của những người khắp các tiểu trại giam được về với gia đình, trạm xá có BS Hiền và BS Thông cùng được nhận giấy tha, trại 1 cũng có hai bác sĩ được ra khỏi trại đó là BS Bùi Hữu Út, thiếu tá và BS Vĩnh Tráng, đại úy.

Ban giám thị mỗi tiểu trại rất rõ về sự xôn xao trong số tù binh còn lại, họ sợ bất cứ những bàn tán, bình luận, truyền miệng nhau trong đám tù binh, từ đó có thể dẫn tới những bất mãn rồi đi đến chống đối, mà họ gọi là “phản động”. Cá nhân uất ức có thể tự giãi quyết cho mình bằng cách trốn tù hoặc tự sát. Những sự việc như vậy sẽ gây tiếng vang khắp các tiểu trại và lan ra đến dân chúng, bất lợi cho họ; điển hình là trường hợp anh Q., một thiếu úy trẻ đã lớn tiếng chưởi bới, đả đảo Cộng Sản. Họ đã dàn cảnh để anh Q. đi đốn củi trong rừng sâu rồi bắn chết anh rồi phao tin là Q. trốn trại và bị dân quân địa phương bắn chết. Mấy ngày sau, dân chúng đi rừng phát giác xác chết của anh Q. với áo quần tù binh, họ mang về trao cho trại, thú rừng đã xâu xé gần hết cơ thể của người tù binh xấu số.

Họ muốn dằn mặt, đe dọa tù binh bằng phương cách dã man đó, mặt khác, họ lại xoa dịu tù nhân bằng cách tổ chức những buổi sinh hoạt vui chơi, ca hát, ăn uống… hoặc bày ra những lớp học chính trị, buộc tù binh phải phát biểu, phê bình kiểm điểm bản thân và chiến hữu.

Về sau, dược sĩ Lê Bá Thuận kể lại chi tiết về những ngày gần cuối đời của BS Giang sau đợt phóng thích tù binh nhân dịp Tết. Giang còn ở lại trong tù anh chán chường thất vọng đến rũ rượi.

Chiều 30 Tết, trong đội của Giang, mọi người đang ngồi gom lại trong một căn để sinh hoạt gần cuối lán, BS Giang cáo bệnh không ăn, anh nằm trùm chăn im lặng. Bạn bè vẫn nghĩ rằng Giang bệnh, để yên cho anh ngủ, khoảng một giờ sau, mọi người nghe Giang vùng mạnh trong chăn rồi ự, ự lên mấy tiếng. Dược sĩ Thuận, người vẫn nằm cạnh Giang chợt nghĩ có điều gì bất ổn cho Giang, anh vụt đứng giậy, chạy lại giật tấm chăn trên người bạn, mọi người cùng xúm lại, toàn thân Giang run lên, tay chân co quắp rồi từ từ duỗi ra bất động. Thuận lay mạnh vai bạn:

-Giang! Giang! Cậu làm sao vậy?

Im lặng hoàn toàn, Thuận hốt hoảng:

Ái! Ái ơi! Cậu xem Giang sao vậy nầy!

Nguyễn Đình Ái, Y sĩ trung úy trưng tập, cùng đơn vị với tôi. Ái giật chiếc ống nghe trên đầu nằm của Thắng, y tá trại 3, vừa nghe tim vừa tìm mạch trên cườm tay Giang. Không còn nhịp tim mạch.

Thường ngày Ái rất nhỏ nhẹ, ăn nói từ tốn, lúc đó anh thét lớn:

-Adrénaline ngay!

Trong khi chờ đợi y tá sửa soạn thuốc, BS Ái bảo DS Thuận xoa bóp lồng ngực Giang còn mình thì dùng phương pháp bouche à bouche (mouth by mouth) mong cứu sống bạn.

BS Ái chích Adrénaline trực tiếp vào cơ tim Giang và cùng DS Thuận tiếp tục làm cấp cứu hồi sinh, dù biết rằng nếu cứu được chỉ sẽ xẩy ra trong vài phút, nhưng BS Ái và DS Thuận vẫn cố cứu bạn suốt cả giờ.

Vô vọng, hai người quỳ gối bên xác bạn, BS Ái gục đầu giữa đôi vai, tay buông xuôi, rã rời, DS Thuận thì khóc như chưa bao giờ được khóc, bạn tù trong đội sững sờ, đứng im như những pho tượng. Một cảnh tang tóc thảm sầu.

Gần 6 giờ chiều, trời đã nhá nhem tối, bên phía trạm xá Đoàn 76, cách trại 3 chỉ một ngọn đồi, tôi chẳng biết chuyện gì cho tới khi BS Phan Xuân Tín, trưởng trạm xá bộ đội hấp tấp tìm tôi.

-Định, theo tao qua trại 3 có việc gấp! Mang theo túi cấp tứu!

Trên đường đi, người bác sĩ bộ đội vắn tắc với tôi về sự việc một trại viên vừa chết, dường như là tự tử, vừa thấy tôi, DS Thuận nước mắt ràn rụa, chụp lấy tay tôi, giọng lắp bắp:

-Anh Định! Giang đó…Vũ Đức Giang…chết rồi!

Như tiếng sét đánh ngang tai, tôi bổng thấy đầu óc thoạt trống rỗng, sửng sốt, rồi bao nhiêu hình ảnh Giang dồn dập chen chồng ập tới. Tôi theo chân DS Thuận đi về phía Giang, đứng yên nhìn người bạn trẻ im lìm trong chăn phủ kín. Cả lán im lặng một thứ tịch mịch đến rùng rợn, tôi cố trấn tỉnh đảo mắt xung quanh tìm BS Ái, rồi đến bên anh dọ hỏi, Ái lắc đầu thiểu não.

Ông Tín dục:

-Anh Định! Cố thử xem có làm được gì hơn không!

Tôi tin tài của BS Ái, biết chẳng còn gì cứu vãn được nữa, nhưng vẫn đến ngồi bên Giang, lật chăn để nhìn bạn lần cuối. Tôi quan sát thấy đồng tử của người bạn xấu số đã hoàn toàn nở rộng. Thật hết rồi!

Tôi ghé sát miệng Giang và ngửi mùi hăng hắc đặc biệt ở những người tự tử bằng Chloroquine. Chống tay đứng dậy, tôi cảm thấy mình yếu xuội hẵn đi. Tôi hỏi anh y tá của trại 3, anh nói nhỏ bên tai tôi:

-Mất đến mấy chục viên CP (Chloroquine-Primaquine).

Sau đó anh em trong lán mỗi người một tay lo phần cuối cùng cho người bạn tù, tôi đến xin BS Tín để được ở lại với Giang một lúc, ông ta gật đầu rồi bỏ ra ngoài.

Nhà kế bên là nơi dành cho toán thợ rèn, vào dịp Tết nên lúc đó không ai làm việc, chúng tôi vào chung sức dọn dẹp đồ đạc để có một khoảng trống cho chiếc quan tài vừa đóng vội. Các bạn tù thân nhất của Giang và tôi mang xác anh ấy sang để cạnh quan tài, hầu hết anh em trong lán đều còn trẻ, chưa biết thủ tục liệm xác. Tôi nhờ một số anh nấu một nồi nước ấm rồi tắm rửa cho Giang, đang lau khô thân thể bạn, anh đội trưởng của lán mang lại đưa cho tôi một bộ quần áo tù mới tinh, anh nói:

-Ban giám thị vừa đem xuống cho anh Giang.

Tôi tần ngần, một ý nghĩ thoáng vụt qua, tôi đứng dậy kéo DS Thuận ra xa mọi người:

-Cậu tìm trong hành lý của Giang có bộ đồ trận nào không, mình nhớ có lần Giang qua mình chơi với bộ đồ trận.

Thuận vội vả đi và trở lại trao cho tôi một bộ áo quần bộ binh VNCH của Giang với cả đôi vớ lính, Thuận hiểu ý tôi là không muốn Giang đã chết mà còn mang bất cứ cái gì thuộc về nhà tù theo với anh.

Vừa mặc cho Giang, tôi thầm nghĩ như đang nói với bạn:

“Nếu có bộ đồ TQLC mặc cho cậu thì hay hơn, thôi đành vậy nhá! Còn lá cờ vàng ba sọc đỏ thì…bây giờ thật khó quá… Dù thế nào, cậu vẫn mãi mãi trong lòng các bạn và chiến hữu”

Thật may mắn cho tôi, vừa đặt Giang vào quan tài thì BS Tín trở lại gọi tôi về lại trạm xá. Tôi còn dặn DS Thuận cố gắng có một bát cơm với một đôi đũa cắm lên cơm để cúng Giang, không có nhang và đèn cầy, nhưng bạn hữu trong lán mang đèn dầu tự tạo thắp xung quanh quan tài Giang sáng rực.

Đứng trước quan tài chưa đậy nắp, nhìn người bạn trẻ tri kỷ vừa là đồng nghiệp lần cuối cùng, tôi chắp tay ngang ngực rồi vái Giang hai cái, nhưng trong trí tôi vẫn nghĩ mình đang chào theo quân kỷ đối với một chiến hữu vừa nằm xuống.

Ra đến bên ngoài tôi ngõ ý với BS Tín nói với ban giám thị cho anh em trong đội thay phiên nhau ngồi với Giang suốt đêm. Ông Tín có vẻ xúc động và hứa sẽ nói lại với ban giám thị trại 3 và ông đã giữ lời.

Về sau, trong một nhà vệ sinh, tôi tình cờ đọc được tờ viết nháp “Bản Kiểm Điểm” của BS Tín gởi chính trị viên Đoàn 76, tên Hỷ, là bạn học cũ của ông Tín. Trong bản “Tự Kiểm” ông Tín nhận khuyết điểm vì đã cho tôi ở lại trại 3 khá lâu, đủ thì giờ để sắp xếp một buổi tẩm liệm mà họ gọi là trọng thể và vô tình tạo một sự tổ chức có quy củ trong hàng ngủ “Quân Đội Sài-Gòn” ngay trong trại tù, đó là điều họ rất lo sợ.

Tờ mờ sáng mồng một Tết Đinh Tỵ, giờ đưa đám BS Vũ Đức Giang. Ban quản lý trại giam chọn một số ít tù binh không cùng một đội với Giang gánh quan tài anh ra khỏi trại.

Nghĩa địa là một đồi cao với lau lách và cỏ tranh vây quanh; ở đó đã có sẵn hai nấm mồ, một là của trung úy V. thuộc trại 3, anh nầy đã bị giám thị tù đánh chết và phao tin là V. thắt cổ tự tử trong hầm biệt giam; mộ thứ nhì là của đại úy Đ.R. thuộc trại 1, chết vì một tai nạn do chính anh gây nên. Trong 3 ngôi mộ, chỉ có ngôi của Giang được bạn tù trong toán thợ rèn làm một bia mộ bằng một tấm kẽm đục thủng lỗ thành hàng chữ với họ, tên cũng như ngày tạ thế của BS Giang.

Mấy tháng sau, một buổi chiều đầu Thu, ban quản lý trạm xá gọi tôi hướng dẫn thân nhân của BS Giang từ Sàigòn ra thăm mộ. Họ căn dặn tôi không được tiết lộ mọi tin tức về cái chết của Giang. Một người bộ đội quản lý cầm súng đi kèm tôi.

Sau khi chỉ ngôi mộ của Giang, người bộ đội ra dấu bảo tôi đứng xa hai người phụ nữ, tôi tần ngần một lúc rồi đến chào mẹ và người yêu của Giang xong bước về hướng trạm xá, đứng ẩn trong đám cỏ tranh cao quá đầu người.

Cả hai người phụ nữ đều gầy, mẹ của Giang tóc đã xám bạc cả đầu với chiếc khăn nhung đen vấn theo lối đặc biệt của đàn bà miền Bắc, đôi vai khẳn khiu trong bộ áo quần màu trắng ngà lấm tấm bụi đất đỏ; đôi mắt đờ đẫn mờ đục trong khuôn mặt khắc khổ hằn rõ nét đớn đau vô bờ bến của người mẹ mất đứa con trai tài danh và hiền lành.

Cô gái hãy còn trẻ lắm, đôi mắt đỏ hoe, nước mắt nhạt nhòa trên má, chảy dài xuống cằm rồi lã chã xuống chiếc áo dài trắng, đôi cánh tay nhỏ quàng qua quai chiếc nón lá Huế, hai bàn tay siết vào nhau cố ghì lại những cơn nấc rung cả người.

Nắng chiều gần tắt, từng đám hoa tranh trắng nuốc hiện rõ trên nền trời pha sắc tím hồng phất phơ trong gió, khói nhang lam nhạt là đà bay vờn quanh hai người phụ nữ bên nấm mồ bác sĩ Giang uất nghẹn dâng tràn. Đôi bàn tay gầy gò của mẹ Giang lần mò trên đất sõi đỏ như đang vuốt ve thân thể của đứa con trai yêu dấu. Vị hôn thê của Giang tì cằm trên hai gối bó chặc trong vòng tay, nhìn chòng chọc nấm mồ với gió chiều vun vút qua hàng chữ đục thủng trên tấm bia bằng nhôm.

Trời đã ngã sang màu xám, bó nhang trên mộ đã tắt ngấm từ lâu, hai người phụ nữ rã rời chống tay đứng dậy, họ trầm ngâm một lúc trước mộ của Giang rồi chậm rãi quay lưng, ra đến khoảng đường đất đỏ, hai người còn mấy lần quây lại nhìn lại chốn đau thương vô cùng ấy.

Người bộ đội dẫn đường cho hai người ra lối cũ về trục lộ chính, tôi còn đứng lại bồi hồi nhìn quang cảnh đồi tranh với ba nấm mồ, riêng trên mộ của Giang, cô gái còn để lại chiếc nón lá nằm nghiên với chiếc khăn tay trắng đẫm nước mắt cột chéo vào giãi nón màu xanh lơ.

-Sao trên đời nầy còn có cảnh bi thương đến như thế?!

Đó là chứng tích buồn đã gây xúc động trong lòng mọi người qua lại chốn nầy, riêng tôi, cảnh chiếc nón lá của vị hôn thê đặt trên mộ người yêu còn gây ấn tượng mạnh hơn cả cảnh bi hùng với chiếc súng gắn lưỡi lê cắm lên vùng gió cát, treo đong đưa chiếc nón sắt đã hoen rĩ từ lâu theo cát bụi và thời gian của người lính đã giã từ vũ khí.

Florida, ngày 8 tháng 7 năm 1994
Hoàng Thế Định