Friday, October 25, 2019

TRƯỚC 54, QUÂN ĐỘI PHÁP CÓ LẼ ĐÃ TRÚ ĐÓNG Ở  TIỀN ĐỒN 3, 4, VÀ 5 -- TRÊN TỈNH LỘ TỪ KONTUM ĐI QUẢNG NGẢI.

Bản đồ sau đây về vùng đông bắc của tỉnh lỵ Kontum, có làng Kon-Sơm-Luh, nơi xảy ra trận đánh lớn, sau HĐ Paris 1973, được nhắc đến trong các bài viết của Vương Mộng Long, Vũ đình Hiếu, Phạm Tín An Ninh, v.v...

ND495MAP.gif (2815×2054)

Một bản đồ cũng về vùng đông bắc Kontum: ND495MAP2insert.gif (1493×1106) 

Một bản đồ vẽ từ thời Pháp: New Page 1


Lời nói đầu: Trong thời gian qua, chúng ta đã nghe các bài về Tiền đồn 4 và 5 của Phạm Tín Anh Ninh hay 13 người cuối cùng trở về từ tiền đồn 3 và 4 Kontum của Mai Bá Tòng. 
Nhờ có đam mê về khảo cổ, trong lúc lang thang trên mạng, tôi đã tìm thấy bài của một người Pháp kể lại về hai đợt phục vụ (gần 5 năm) của người chú của y tên Maurice Millour tại Đông Dương. Chú của tác giả cũng từng hành quân trong khu vực mà sau này các đơn vị của sđ 23 bộ binh VNCH đã hành quân trong giai đoạn từ 1973-75. Đọc để thấy dân Pháp có tinh thần HOÀI CỔ (nostalgie) vì dù cha chú họ đã chết trong chiến tranh Đông Dương lần thứ 1,1946-1954, nhưng con cháu vẫn ghi nhớ sự hy sinh của cha chú của họ.
===

HOẠT ĐỘNG CỦA TIỂU ĐOÀN 4 BMEO TẠI KHU VỰC GIA VỰC TỪ 1948-51

Các cuộc hành quân liên quan đến thung lũng Gia Vực do Tiểu Đoàn 4 Khinh Chiến Viễn Đông viết tắt là B.M.E.O (Batallion de March Extreme-Orient), thực hiện trong thời gian 1949-51.

" 1/ Trong kỳ phục vụ đầu (37 tháng, từ 1948-1951) tại Đông Dương, chú tôi đã ở đại đội 1 thuộc Tiểu Đoàn 3 Khinh chiến Viễn Đông hay Tiểu đoàn 3 B.M.E.O và kế đó là đại đội 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO tại tiền đồn Kon Plong ở cao nguyên trung phần; đồn này khoảng 100 km đông bắc của Kontum, nằm trên một vị trí cao gần con đường đất từ Kontum dẫn tới Gia Vực, quận Ba Tơ Quảng Ngải, và cuối cùng là bờ biển miền trung (sau 1954 con đường này gọi là Liên Tỉnh Lộ 58) - xem bản đồ 1-3. 

                                       
Bản đồ 1 (đã được phóng đại) và bản đồ 2 (dưới đây) về con đường từ Kon Tum đi Gia Vực, Ba Tơ và Quảng Ngải - của hội National Geographic mà tôi là hội viên. 


                                                             
Bản đồ 3, chi tiết hơn, do Rene Riesen vẽ. 

Đồn Kon Plong được bao quanh bởi nhiều núi rừng và được xây trên một đồi nhỏ trong một thung lũng lớn trong đó có một làng Thượng. Đồn làm hoàn toàn bằng những khúc gỗ (log), trừ 2 căn nhà gạch và vài căn lợp tôn. Nhà chánh dài 25 m, cao và rộng khoảng 5-6 mét với một đầu là bịnh xá và đầu kia là phòng truyền tin. Phần dễ bị tấn công nhứt là phần đối diện với đồng cỏ và bảo vệ bởi một bức tường làm bằng các khúc gỗ (log) xen kẻ với lổ châu mai (fire port). Hàng rào phòng thủ cũng bằng những khúc gỗ: đó là hai hàng cây gỗ song song cách nhau từ 6-7 tấc, giữa là đất và đá cuội (pebble), gia cố bởi tre chẻ (split bamboo set) cột các khúc gỗ với nhau để hạn chế soi mòn bởi mưa. Việc xây dựng này ko dùng tới một cây đinh và giữ vững nhờ mây bện (braided rattan). Trong mùa mưa, nước đã sói mòn hàng rào, tạo nên các lổ nên phải sửa liên tục".
                                          
2/ Tiểu Đoàn 4 BMEO gồm một đại đội chỉ huy và bốn đại đội chiến đấu (các đ.đ.13-16) tổng cộng khoảng 1.000 người cộng thêm một đ.đ. huấn luyện, đó là đ.đ. 17.
Mỗi đ.đ. chiến đấu có khoảng 173 người chia thành bốn trung đội (platoon) với ba tiểu đội (squad) cho mỗi trung đội. Mỗi đ.đ. có hai sĩ quan (sq) Pháp, khoảng 15 hạ sq Pháp hay dân bản xứ và mười hạ sĩ (corporal) hay binh nhứt (private first class/PFC) hay binh nhì (private) Pháp. Lính Thượng có mặt trong cả 5 đ.đ: đ.đ.14 và 16 có dân Sê-đăng, đ.đ. 15 có dân Gia-rai và đ.đ. chỉ huy và 13 có cả hai sắc dân này.
Đ.đ.16 trang bị một đại liên FM 1924.29, xem hình, một cối 120 ly tại đồn Kon Plong, một cối 50 ly khi hành quân bên ngoài, và vài phóng lựu. Hạ sq trang bị tiểu liên MAS 38 hay Sten và phần lớn binh sĩ trang bị súng cũ của Canada thời đệ 2 thế chiến.

Lính Dù thuộc TĐ 1 Dù Lê-dương của Pháp bắn súng FM 24/29 trong 1 trận phục kích của VM năm 1952.


3/ NĂM 1949.
Đầu năm 1949, thiếu úy Jacques Pierre tới khu chiến thuật Ban Mê Thuột và tháng 2 chỉ huy đồn Kon Plong với quân số ko đầy đủ.
Ngày 25/5, thiếu uý rời đồn với một trung đội cộng (còn gọi là trung đội tăng cường, với quân số hơn một trung đội) khoảng 50 người, trong đó có 7 người Âu. Trong hai ngày, toán quân nhỏ này đã tới thung lũng sông Re, đi qua đồn Viklum và Violac, sau đó đi theo bờ phải của sông Re tới Gia Vực. Thiếu úy thấy ấp Gia Vực là căn cứ của một trung tâm tiếp tế lương thực của VM, mà lính VM khoảng 1 trung đội đã bỏ chạy khi đơn vị của ông tới. Sau khi đốt cháy kho lương này, đơn vị của thiếu úy trở về đồn Kon Plong qua những đoạn đôi khi rất dốc (via sometimes very steep paths): một đoạn chưa tới 10 km phải đi hơn 8 giờ. Cuộc hành quân này là một trong những lần thám sát đầu tiên của QĐ Pháp tại thung lũng sông Rê - lúc đó còn do VM kiểm soát.
Ngày 14/10, một đv thám sát gửi tới thung lũng này 3 ngày trước đó đã trở về đồn Kon Plong. Họ bị phục kích hai lần, phía bắc Gia Vực và đông của Kon Plong, với 1 chết và 2 bị thương. Trong hai lần phục kích này, binh nhứt Bellei, một y tá của đồn, vài lần đã xông vào lửa đạn địch để cứu kẻ bị thương. Cho hành động quả cảm này, y được 3 giấy khen cấp trung đoàn và một Croix de Guerre, xem hình, với sao đồng. Hai kẻ bị thương đưa về bv Pleiku hôm sau.

Croix de Guerre cho chiến công trên lãnh thổ Pháp
                                       
Croix de Guerre cho chiến công trên lãnh thổ hải ngoại thuộc Pháp (territoires outre-mère/TOM). 

4/ NĂM 1950
Tháng 2/1950, dân Thượng gốc Hre từng bị cưỡng bách tham gia Quân đội nhân dân của VM đã nổi dậy. Sau khi giết các cán bộ và chính ủy (cadre and commissar) của VM, họ kéo tới các đồn Pháp để xin bảo vệ. Thiếu úy Pierre nhanh chóng chụp cơ hội bằng vàng này (realize the potential of that situation) đã hỗ trợ cuộc nổi dậy. Ông cũng tổ chức đưa những ai tình nguyện vào một đơn vị bán quân sự toàn dân Hre dưới tên "Hre Hành Động" (Action Hre).
Ngày 7/4, cuộc Hành Quân "Adrien" được tung ra để hỗ trợ cuộc nổi dậy này và đẩy lui quân VM từ thung lũng sông Re tới bình nguyên ven biển của tỉnh Quảng Ngải. Một "Chiến Đoàn" (groupe mobile) tân lập khoảng 600 người với những thành phần của Tiểu Đoàn 2 Dù của lực lượng Viễn Chinh Pháp (2e BEP), Tiểu Đoàn 1 Dù thuộc địa* (1e BPC) và trung đoàn 2 bộ binh Viễn Chinh Pháp (2 ème REI) cộng với một đơn vị gồm 150 dân binh Hre tân lập và huấn luyện chưa đầy đủ.
Từ 7-13 tháng 4, chiến đoàn chuyển từ Kon Plong tới làng Gilang, đi ngang qua các đồn Vitiong, Viklum, Vipée, Dak Xérong, Monit, rồi vào thung lũng sông Re tới Ta-ma, và cuối cùng là Gilang. Trong giai đoạn này, chỉ có các thành phần tiền phương chạm súng lẻ tẻ với VM.
Từ ngày 14/4, một bãi đáp cho máy bay, các bãi thả dù và một trạm xá dã chiến (a landing zone, drop zones and a field first aid post) được lập ở Gilang. Các hành quân thám sát tại khu vực này gây tổn thất cho Tiểu Đoàn 2 Dù Viễn Chinh và trung đoàn 2 bộ binh Viễn Chinh. Tính tới 22/4, đã phát hiện 5 TĐ Việt minh (4.000 người) trong khu vực và tiến gần Gilang, dẫn tới quyết định bỏ thung lũng sông Re và rút về Kon Plong.
* Sau này có lẽ trở thành TĐ 1 Dù VNCH -- người dịch.

Hình 1: Đường dẫn lên đồn ViMuk, bạn có thể thấy hàng rào hay hào bằng gỗ và đất bảo vệ đồn này.

Hình 2 (của một phụ nữ Pháp có cha phục vụ tại Đông Dương cùng thời điểm): "Cờ của Việt Minh tặng bởi bạn của cha tôi. Cờ này bị tịch thu bởi em của bạn ba tôi khi ông ta chiến đấu tại Đông Dương, nhưng ko may mắn cả hai đã chết và ko có thêm thông tin. Trên cờ có hai dao găm và phù hiệu của lực lượng Dù và GCMA của Quân Đội Pháp".

Một phụ nữ Pháp, con gái của người bên phải trong ảnh trên đây, đã cung cấp ảnh.
                                         

Ba hình dưới chụp tại đồn Kon Plong. Hàng rào hay nhà cửa đều làm bằng những khúc gỗ, cột với nhau bằng mây (braided rattan) hay tre chẻ (split bamboo set), ko dùng đinh; nhưng dễ bị sói mòn bởi mưa.



Các cô gái Hre 


========================================================================= 
Các cuộc HQ liên quan đến thung lũng Gia Vực (tỉnh Quảng Ngải) do Tiểu đoàn 4 Khinh Chiến Viễn Đông (4e BMEO) của Pháp thực hiện, phần 2.
Người dịch: Khoảng thập niên 1960, khi quân Mỹ và VNCH lập trại LLĐB tại thung lung Gia Vực, họ cho biết gần đó có một trại lính hoang phế của VNCH, từng bị VC tấn công vào thời TT Diệm, gần như mọi quân nhân sống sót đều bị giết chết, phụ nữ và trẻ con bị đưa đi vào Trường Sơn.--Theo hồi ký Bên Đồi Trinh Nữ của Thảo Nguyên -- một sĩ quan BĐQ ở trại này. Gần trại LLĐB này có cột chỉ đường ghi "Kontum 25 km", chứng tỏ trước đây có đường lộ từ Gia Vực đi Kontum. 

5/ Cuộc hành quân kế tiếp có tên "Gien" diển ra từ 8-12 tháng 5 cùng năm. Thành phần tham dự là một Chiến Đoàn khác gồm đại đội 15 và 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO, đại đội khinh chiến (Compagnie de Marche) của TĐ 1 Dù Thuộc Địa (BPC) và một toán (section) của trung đội Trường sĩ quan (Officers School). Nhiệm vụ là đẩy lui VM ra khỏi ấp Gia Vực để lập một tiền đồn gần đó và tuyển mộ lính địa phương.
Cuộc hành quân không thành công nhiều vì vùng này ko có bất cứ quân số địch đáng kể (was empty of any significant number of enemies). Cũng ko có đường lộ/đường mòn (road or trail) khiến việc lập một tiền đồn không khả thi (viable) vì quá đơn độc (không có một đồn nào gần đó) và lại không có cơ hội cứu viện kịp thời (rescue in time) bằng đường lộ hay đường mòn.
Tiếp theo cuộc Hành Quân "Adrien", Pháp đã quyết định đưa dân Hre vào một đơn vị quân sự có tổ chức (structured). Dẫn tới việc thành lập vào giữa tháng 6 tại Kon Plong một đơn vị phụ lục quân số 26 (Unité Supplétive Militaire, viết tắt là USM 26) với quân số của một đại đội. Trang bị đầu tiên là hai khẩu FM Bren và một trăm súng trường.
Vào giữa tháng 7/1950, cấu trúc của đại đội này chỉ có 3 Hạ Sĩ Quan Âu châu. Đại đội này sau đó được tăng cường với vũ khí tự động và đổi thành đại đội biệt kích phụ lục quân số 26 (CCS/compagnie de commandos supplétives) - giống như dân sự chiến đấu hay CIDG sau này -- người dịch.
Hạ sĩ Rene Riesen của TĐ 4 BMEO và tác giả của sách "Mission spéciale en forêt Moi" (Nhiệm vụ đặc biệt trong rừng Mọi). Đây là sách DUY NHỨT nói về sự can dự của Pháp với dân thượng Hre, đã dịch sang Anh ngữ (với tựa "Jungle Mission" vào 1957).
R. Riesen nhận trách nhiệm giám sát các người tình nguyện Hre, dạy họ chiến tranh du kích và lập các nhóm tự vệ làng (village self-defence group), còn gọi là militia hay goum. R. Riesen đã sống vài năm với dân Hre, trở thành lãnh chúa (war chief) của họ dưới tên "Ba Tamoi" (ba của Mọi), hay "Ba tchiac gaho tabouac" (ba tóc bạc). Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Riesen là lập một đơn vị dân binh (partisan) tại làng Kon Pong, khoảng 20 km nam Kon Plong, với mục đích dựng một tiền đồn và lập một lực lượng dân vệ (militia). Việc kiểm soát làng này quả nhiên (indeed) rất quan trọng với đại đội 16 của Tiểu Đoàn 4 BMEO vì đại đội này bảo vệ, về phía bắc, đồn Kon Plong và, về phía tây, đồn nhỏ (redoubt) Kon Braith trên con lộ nối Kontum và Kon Plong.
Vào tháng 6, nhiều công tác sửa đường đã tiến hành ở tiểu khu (sub sector) Kon Plong, hoặc đi về nam tới đồn Kon Braith hay về bắc tới đồn Kon Kléang hay Gia Vực.
Ảnh 1: đồn Kon Plong, ảnh 2: khu vực Kon Plong và lân cận.

                                                

                                           

Ngày 31/12, lực lượng tự vệ "Thanh Niên Hre" tại khu vực Mang Mou/Mang Rha (thung lũng sông Re), võ trang với một FM, ba MG và 150 súng trường, chạy theo VM theo sau sự phản bội của phần lớn lực lượng này.

Đầu tháng Giêng, thông tin xác nhận bởi các toán tuần tiểu cho thấy sự có mặt của 400 Việt Minh chung quang Mang Mou và Mang Rha, và 1.200 người tại thung lũng Gia Vực.
Gaston Mille, chỉ huy của Tiểu Đoàn 4 Sơn Cước (TĐ 4 BMEO) đã quyết định tổ chức Hành Quân "Omer" dưới hình thức một đột kích vào khu vực kể trên của VM nhằm lấy lại tất cả hay một phần số vũ khí đã mất cũng như thu lượm tin tức nhằm có thể tái chiếm làng Mang Mou và Mang Rha. Sau năm ngày hành quân vào thung lũng sông Re, không có chạm súng với địch - đã biến mất và dân địa phương có vẻ không hợp tác và dưới sự kiểm soát của VM.

Lực lượng GCMA hành quân tại Gia Vực, 1951-52.

Vào 1951, Quân Viễn Chinh Pháp tại Viễn Đông (Corps Expéditionaire Francaise en Extrême-Orient hay CEFEO) đã có những đơn vị chống du kích trong tay nhờ vị tân tổng TL, tướng de Lattre de Tassigny. Những đv chống du kích tân lập này là "Đoàn Biệt Kích Hổn Hợp Không vận" (Groupement de Commandos Mixtes Aéroportés hay GCMA) và những Biệt Kích của Miền bắc (Commandos Nord Vietnam) cả hai dùng những lượng bán quân sự người bản xứ được huấn luyện tại địa phương (using paramilitary locally raised indigenous forces) và thường hoạt động sau lưng VM.
"Hre Hành Động" được thành lập năm trước bởi thiếu úy Pierre từ đồn Kon Plong được GCMA chuyển qua đại úy Hentic sau khi được giao nhiệm vụ tái tổ chức thành đơn vị quân sự chiến đấu cho GCMA.
Vào mùa thu 1951, đại úy Hentic với 2 hay 3 cán bộ Pháp và một lực lượng Hre 150-200 người, đã tiến hành nhiều đột kích sâu vào lãnh thổ kiểm soát bởi VM. Những đột kích kéo dài từ ba tuần tới sáu tuần đã tới những nơi như Vidzen, Vibliang, và Gilang và tập họp/qui tụ nhiều lính và dân suốt phần dưới của thung lũng sông Re.

Năm 1952

Ngày 26/4/1952, đại úy Hentic với chưa tới ba trăm lính Hre đã rời Gia Vực và vượt sông Re vào ngày 27 và tấn công Ba Tơ vào buổi sáng của ngày 2/5. Họ đã phá hủy những doanh trại và kho đạn VM cũng như BCH của trung đoàn 108 VM.
Và họ đã biến mất trong rừng trước khi VM có thể phản ứng.
Vào mùa đông 1952 với một trung đội biệt kích VN và một trung đội Hre (tất cả khoảng 100 người), đại úy Hentic đã thực hiện một cuộc thám sát sâu trong hai tháng đi ngang Dakto vào đất Lào hướng tới Attopeu. Trên đường đi, họ đã phá hủy các căn cứ VM và đặt mìn trên những đường mòn của VM. Trong nhiệm vụ trinh sát này, họ ĐÃ KHÁM PHÁ một mạng lưới các đường mòn rộng lớn và ngụy trang rất kỹ gồm những khu vực tập hợp và nghỉ ngơi, kho lương thực của VM. Đây là lần đầu tiên người ta thấy đường mòn HCM nổi tiếng! (This was the first sighting of the famous Ho Chi Minh trail!
Cuối năm 1952, những đường mòn dẫn tới thung lũng sông Re và Gia Vực được cải thiện để chuẩn bị cho việc có thể thành lập một đồn trong tương lai cho quân Pháp để kiểm soát khu vực này.
Vào tháng 12/1952, Gia Vực vẫn dưới kiểm soát của VM mà ko có dấu hiệu của một tiền đồn Pháp nhưng chiến tranh vẫn tiếp diển thêm hai năm!
Thông tin được tôi dịch từ website của Philippe Milour: http://philippe.millour.free.fr/index.html
cũng như từ con gái của đ.u. Hentic (Anne Alexandre): http://www.mahohentic.com
và các sách của R. Riesen như: Jungle Mission, Le Silence du Ciel và của Erwan Bergo như Les Heros Oublies.
Đây là phần hấp dẫn của lịch sử Gia Vực và nếu bạn muốn khám phá hơn về LL đặc biệt Pháp và TĐ 4 BMEO, hai đv đã chiến đấu trong rừng núi ở Cao Nguyên, hãy thăm phần về chiến tranh Đông Dương lần 1 (1945-54) ở: http://www.gia-vuc.com/frenchindochina.htm?LMCL=bzPD_W
Có một lần, trong khi trở về từ một lần tuần tiểu tại địa phương (hè 1967) bằng đường núi nằm kế phía đông bắc của Gia Vực I đã nhân thấy một khẩu tiểu liên MAT-49 rỉ sét. Nó nằm sâu 0.9-1.2 m ở bờ một rảnh nước sâu 1.5-1.8 m (it was located about 3-4 foot down on the side of a 5-6 foot gully). Tôi luôn thắc mắc làm thế nào mà nó lại ở đấy và lịch sử của nó. Tôi đã biết Gia Vực từng là một đồn Pháp, nhưng tôi đã ko ý thức rõ ràng mức độ hoạt động của VM tại khu này. Cảm ơn trung sĩ nhất Ron Knight.

Tên của các địa điểm. 



Liên quan đến tên và địa điểm (name and place), đặc biệt trong giai đoạn đầu của chiến tranh, rất ít bản đồ và vài tên được ghi chép theo phiên âm đễ hiểu bởi người Pháp. Trên bản đồ Mỹ của thập niên 1960, cũng làng đó nhưng được viết khác đi khiến khó mà tìm dấu vết chúng.
====
THÔNG TIN THÊM VỀ SÁCH JUNGLE MISSION R. RIESEN.
TIỀN ĐỒN KON- PLONG: khoảng 60 dặm đông bắc của Kontum và tính tới 1946 là tiền đồn xa nhứt của Pháp ở cao nguyên Kontum. Nó được xây ở giao điểm của các thung lũng của Kontum và núi dẫn tới Sơn Hà và Ba Tơ, xa lộ tới Lào, Cambodia, Bắc VN và những khu ven biển.
Năm 1946, đồn được giữ bởi một đ.đ. lính Thượng, từ 1946-48, đồn này gặp khó khăn khi Việt Minh cố gắng chiếm đồn, vì nó là trở ngại cho các hoạt động quân sự và chính trị của họ.
Năm 1948, quân Pháp đã chuyển từ chiến thuật phòng ngự sang tấn công, với những đột kích vào sâu trong các khu vực do VM kiểm soát. Đồn này năm 1948 có ba SQ, 15 HSQ người Âu châu, 150 biệt kích người bản xứ (indigenuous partisan commando) và 120 lính chính qui người bản xứ (regular native). Liên lạc với Kontum mỗi tháng một lần bằng công-voa. Đ.u. Pierre, đồn trưởng, tiến hành công tác dân sự vụ và lập một chợ để trao đổi hàng hóa -- nơi mà các bộ lạc xa xôi ở phía đông và tây của đồn gặp nhau để trao đổi hàng hóa và lương thực.
Từ bản đồ của ông, bạn có thể thấy R. Riesen đã đi tới Makra (Mangia), khoảng vài dặm nam của Gia Vực, và đi về phía bắc theo thung lũng Sông Re, do đó ông phải đi qua Gia Vực. Nên chú ý là một ít tên trên bản đồ của ông đã viết khác với tên dùng trên bản đồ 1960 của Mỹ.Tôi nghĩ lý do duy nhứt, như trong sách ông đã viết: ko có bản đồ cho khu vực này, ông đã ghi nhận và vẽ lại những địa điểm đã đi qua. Ông đã viết tên những địa điểm này dựa trên một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của ông. Tôi đã có được một bản đồ Đông Dương bằng lụa, mà tên một số làng đã viết khác với bản đồ 1960 của Mỹ!
Nguồn: J-L Delauve (Gia Vuc webmaster) hay Gia Vưc Tribute website (www. gia-vuc.com). 

Cập nhật: Với đam mê về khảo cổ, tôi đã viết bài này đã lâu, nhưng nay cập nhật sau khi đọc bài về trại Gia Vực của anh Trần Lý. Bài của tôi nói chi tiết về trại Gia Vực trong giai đoạn trước 1954. 
SJ ngày 31/8/2024.
Tài Trần
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3756021921078273&set=a.862986513715176&type=3&eid=ARAGI106rtslOxfzwLBolENXYNh9ibxmSFcKHalJRJLEf9lH0RBrJQGU8deNf_Z3xiKLdBQ3ZZsqPZ33
https://www.youtube.com/watch?v=9qqvXsFnSEc&feature=share&fbclid=IwAR0VMbX3oylup31n5QuxNm3idgP5dnK0gyFH7uVl5V4SLdjbrxFas6ZfFq4

Sunday, October 20, 2019

Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 3: Nước sạch cho 3 triệu dân

 0 THANH NIÊN
Cùng với điện, nước sinh hoạt là lĩnh vực thiết yếu cần phải bảo đảm cho người dân sau ngày thống nhất. Thậm chí, ngay trong ngày 30.4 lịch sử, nước sạch vẫn được cấp đủ cho người dân Sài Gòn.

Cùng với điện, nước sinh hoạt là lĩnh vực thiết yếu cần phải bảo đảm cho người dân sau ngày thống nhất. Thậm chí, ngay trong ngày 30.4 lịch sử, nước sạch vẫn được cấp đủ cho người dân Sài Gòn.



Các kỹ sư, công nhân sửa chữa khắc phục máy móc của Nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975
Các kỹ sư, công nhân sửa chữa khắc phục máy móc của Nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975 - Ảnh: tư liệu Sawaco
Nhận cả Ban lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục
Cuối tháng 2.1975, khi đang tiếp quản huyện Phước Long (Bình Phước), ông Bùi Minh Thế nhận được lệnh cấp trên chuẩn bị công tác tổ chức tiếp quản Sài Gòn.
Ngày 30.4.1975, đoàn tiếp quản của ông Thế vào tới Sài Gòn. Dọc hành trình, do trước đây làm ở Nhà máy chế tạo bơm Hải Dương nên ông Thế được phân về đội tiếp quản nước gồm 11 thành viên.
Đến Sài Gòn, đội tiếp quản nghỉ một đêm ở Trường kỹ thuật Cao Thắng để hôm sau tiến hành công việc tiếp quản. Chiều 30.4.1975, dù Sài Gòn đã được tiếp quản nhưng theo ông Thế “tiếng súng đạn vẫn kêu đì đẹt cả đêm. Mọi người dặn nhau nếu không có chuyện gì quan trọng nên tránh ra đường”.
6 giờ sáng 1.5.1975, 11 thành viên lên đường để tiếp quản. Ông Thế kể do không rành đường lại không biết địa chỉ Sài Gòn Thủy cục (tên gọi cũ của Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) trước 1975) nên đoàn cứ nhìn ở đâu có bồn nước to thì cứ đến đó dò hỏi.
Ban đầu đoàn vào khu cấp nước Sài Gòn nằm gần Hồ Con Rùa, nay là trụ sở của Sawaco. Tuy nhiên, một số công nhân cho biết trụ sở chính của Sài Gòn Thủy cục lúc đó ở số 86 Nguyễn Thông (Q.3). Tới nơi, Ban giám đốc của Sài Gòn Thủy cục đã có mặt, trong đó có cả Giám đốc Sài Gòn Thủy cục Vũ Đình Hạnh.


Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 3: Nước sạch cho 3 triệu dân - ảnh 2
Các kỹ sư, công nhân đang sữa chữa khắc phụ máy móc của nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975  - Ảnh: tư liệu Sawaco
Ban đầu tổ tiếp quản vẫn giữ nguyên thành phần lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục và bộ máy cũ hơn 1.500 công nhân viên. Hoạt động của Sài Gòn Thủy cục diễn ra bình thường dưới sự giám sát của đội tiếp quản.
 “Quan hệ giữa đội tiếp quản và lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục lúc đó khá tốt, tôn trọng lẫn nhau. Hằng tuần hai bên vẫn họp giao ban để nắm tình hình”, ông Thế nói.
Theo ông Thế, sau một thời gian, tổ tiếp quản đã tiến hành chuyển đổi Sài Gòn Thủy cục. Tên gọi của công ty được đổi sang thành Công ty cấp nước TP.
Ông Trần Văn Thình - một trong những thành viên của đội tiếp quản - được phân công làm giám đốc công ty, phó giám đốc là các ông Võ Văn Đường, Nguyễn Văn Lang, Trương Hoàng Khải. Ngoài ra, công ty tiếp quản được hệ thống cơ sở vật chất ngành nước hầu như còn nguyên vẹn, từ Nhà máy nước Thủ Đức, Biên Hòa đến các chi nhánh Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn... đủ sức cung cấp nước sinh hoạt cho 3 triệu dân Sài Gòn ở các quận 1, 3, 5, 11, Tân Bình...
Sau đó, công ty còn cung cấp nước sản xuất cho Khu công nghiệp Biên Hòa và một số khu công nghiệp vùng phụ cận.
“Người bên kia” bảo vệ ngành nước
Theo hồi ức của ông Võ Văn Đường (thời điểm tiếp quản là phó giám đốc,  sau này là Giám đốc Công ty cấp nước TP, hiện ông Đường đã mất), việc cơ sở ngành nước Sài Gòn sau ngày 30.4.1975 được bảo toàn nhờ một phần từ chủ trương của lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục mà đứng đầu là Giám đốc Vũ Đình Hạnh.
Khi nắm vị trí Giám đốc Sài Gòn Thủy cục trong những ngày “dầu sôi lửa bỏng”, chủ trương của ông Hạnh là bất kỳ giá nào cũng phải duy trì hoạt động sản xuất, bảo đảm nguồn nước sinh hoạt cho dân thành phố.


Giữ huyết mạch cho Hòn ngọc Viễn Đông – Kỳ 3: Nước sạch cho 3 triệu dân - ảnh 3
Các kỹ sư, công nhân đang sữa chữa khắc phụ máy móc của nhà máy nước Thủ Đức sau năm 1975  - Ảnh: tư liệu Sawaco
Một câu chuyện còn được anh em ngành cấp nước Sài Gòn kể cho nhau nghe về việc lãnh đạo Sài Gòn Thủy cục cố gắng bảo vệ Trạm bơm Hóa An không để cho chiến tranh tàn phá.
Theo đó, vào chiều 28.4.1975, một tàn quân của quân đội Việt Nam Cộng hòa sau khi rút chạy từ Xuân Lộc và Biên Hòa về đã định vào chốt Trạm bơm Hóa An, biến thành nơi tử thủ và phá vỡ hệ thống cung cấp nước của Sài Gòn.
Ông Hạnh nhận thức Trạm bơm Hóa An là đầu nguồn cung cấp nước cho cả Sài Gòn. Nếu đụng độ ở đây, bom đạn khiến hệ thống bơm nước bị phá hủy thì cả Sài Gòn sẽ bị tê liệt về nguồn nước, mọi sinh hoạt và sản xuất xem như đều đình trệ. Ngay lập tức, ông Hạnh bàn với lãnh đạo các sở trực thuộc thủy cục tìm cách can thiệp để quân đội không đưa quân vào trạm bơm tránh những tổn thất cho cơ sở vật chất của ngành nước.
Theo ông Bùi Minh Thế, rất tiếc sau một thời gian làm việc với Công ty cấp nước TP, vì nhiều lý do ông Vũ Đình Hạnh đã nghỉ việc. Một thời gian sau ông Hạnh sang Pháp định cư.
“Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp dù trước đó làm lãnh đạo ở Sài Gòn Thủy cục nhưng sau này vẫn được bồi bổ, cất nhắc. Điển hình nhất là ông Võ Quang Lý trước ngày 30.4.1975 là Trưởng khu cấp nước Chợ Lớn. Khi tiếp quản ông Lý được đưa lên Nhà máy nước Thủ Đức làm chuyên gia, sau này về công ty kết nạp Đảng, làm trưởng phòng kỹ thuật, rồi phó giám đốc công ty cấp nước”, ông Thế nói.       
Chế nòng pháo làm phần bạc cho máy bơm
Ông Phạm Tấn Sỹ - nguyên Giám đốc Nhà máy nước Thủ Đức - cho biết tối 30.4.1975, đoàn tiếp quản đã tiếp quản Nhà máy nước Thủ Đức, nơi cung cấp phần lớn nước sạch cho Sài Gòn.
Dù từng được coi là hiện đại nhất Đông Nam Á nhưng thời điểm tiếp quản Nhà máy nước Thủ Đức đã vận hành được 14 năm nên nhiều thiết bị bắt đầu hư hỏng, cần phải thay thế, sửa chữa. Tuy nhiên, việc sửa chữa không hề dễ dàng vì toàn bộ máy móc của nhà máy đều của Mỹ mà sau 1975 hai nước không bang giao.
“Do đang bị cấm vận nên dù có tiền cũng không mua được thiết bị thay thế. Đơn cử như máy bơm to quá khi hư không xưởng nào trong nước sửa được. Phần bạc trong máy bơm chạy một thời gian bị mòn. Anh em phải đến Nhà máy Ba Son, Nhà máy Z751 cắt những nòng pháo không còn sử dụng để tiện thành bạc thay thế vào. Dù khó khăn nhưng không bao giờ để thiếu nước khó khăn cho sinh hoạt”, ông Sỹ cho hay.
Nguồn : https://thanhnien.vn/thoi-su/giu-huyet-mach-cho-hon-ngoc-vien-dong-ky-3-nuoc-sach-cho-3-trieu-dan-555648.html

Saturday, October 19, 2019


NHỮNG CÁI CHẾT CỦA TRÍ THỨC
Chép từ FB 
Mai-Agnetha Pham
Nguồn: trên mạng
Khi bàn về thân phận của trí thức, Vũ Tài Lục có nêu ra một hiện tượng là trí thức thường bị ngược đãi và đồ sát bởi thế lực chính trị.
Lenin gọi trí thức phản biện là “não đầy cứt”, Mao cũng gọi trí thức là “cục phân”.
Những trí thức ban đầu đi theo “lý tưởng cộng sản” rồi vấp phải thực tế mà tỉnh ngộ thường bị căm thù và săn đuổi bởi các đồng chí.
Bị coi là phản bội và bị giết bằng những hình thức man rợ.
Cái “tội” chết người của họ không phải chỉ vì bất đồng quan điểm mà là tội “phạm thượng” dám coi khinh lãnh tụ.
Đầu tiên là Trotsky, sau khi bị Stalin trục xuất, Trotsky đã sang đến Nam Mỹ mà vẫn bị mật vụ Soviet săn đuổi.
Ông chết như thế nào ? Ta hãy nghe một đoạn của tay sát thủ khai trước tòa :
“Tôi đặt chiếc áo mưa lên bàn sao cho có thể lấy được chiếc rìu phá băng trong túi ra. Tôi quyết định không bỏ lỡ cơ hội tuyệt vời đang có. Thời điểm Trotsky bắt đầu đọc bài viết, cơ hội của tôi đã đến; tôi rút chiếc rìu ra khỏi túi áo, nắm chặt trong tay, nhắm mắt lại, giáng cho ông một cú chết người vào đầu”.
Một lần, trong đại hội đảng, Stalin chìa tay ra, Trotsky không bắt mà nhổ nước bọt vào lòng bàn tay của bạo chúa, một thái độ khinh bỉ đến cùng cực của trí thức đối với phần tử “tinh hoa lãnh đạo”. Stalin không thể nuốt nổi mối hận này.
Hay Tạ Thu Thâu, người ta nói, ông chết vì đã dám coi thường Hồ Chí Minh, cái chết của Tạ Thu Thâu được bàn cãi nhiều, nhưng có một bài báo mà ít người được đọc, đó là bài : “Tôi thấy Tạ Thu Thâu chết” của một người ký tên là Nguyễn Văn Thiệt, đăng trên tờ tuần báo “Hồn nước” của Tập đoàn công binh Việt Nam (Rassemblement des travailleurs vietnamiens) vùng Paris trong hai số 7 (ngày 30-7) và số 8 (ngày 7-8) năm 1949 :
“… Hôm nay thì chắc Tạ Thu Thâu phải chết! Các bạn tôi và cả anh lính cũng bảo thế, vì vừa được lệnh riêng của Cụ Hồ ở Hà Nội điện vô khiển trách Ủy ban bất tuân thượng lệnh.Tôi bàng hoàng lo sợ, ngồi bệt xuống đất, hồi hộp đợi chờ, trong cái im lặng rợn người, một tiếng đoành (Tạ Thu Thâu bị đưa ra pháp trường 2 lần, nhưng những người được lệnh hành quyết không nổ súng- NNĐ).
Bỗng người lính gác kêu lên:
– Châu cha ! Tạ Thu Thâu lại về !
Tất cả đều nhao nhao. Quả Tạ Thu Thâu về thiệt. Đám người đi qua rặng cây và đang tiến về phía trái. Nước mắt tôi trào lên, sung sướng khi thấy cái bóng trắng khấp khểnh kia có vẻ vững chắc hơn và trên môi lạt tôi tưởng tượng thoáng thấy một nụ cười ngạo mạn.
Sự sung sướng của tôi không được lâu. Đám người đi vừa đến gần cổng lao thì một người trai trẻ mặc áo nâu quần sọc trắng ra vẻ học trò, tuổi lối mười bảy, mười tám đang đứng ở cạnh cổng, hung hăng nhảy ra, rút cây dao găm dắt ở lưng đâm vào vai Tạ Thu Thâu, miệng vừa hét:
– Đồ Việt gian phản động!
Rồi đạp Tạ Thu Thâu vào bụng cho ngã quay ra đất, đoạn đấm, đá túi bụi. Câu chuyện xảy ra rất mau, kể lại thì xem ra lâu quá.
Thêm chỗ tôi đứng và chỗ tấn kịch rùng rợn đang diễn ra hơi xa nhau, mắt tôi lại đẫm lệ nên không thấy được tường tận.
Tôi chỉ còn nhớ hình ảnh của một đám người bao quanh một bóng trắng đang quằn quại giữa vũng máu.
Và từ đó, một giọng the thé rất trong của người thiếu niên vang lên:
– Các đồng chí hèn quá, một thằng Việt gian cũng không dám giết!
Đến nay, bao nhiêu ngày tháng đã trôi qua rồi mà không mấy đêm nằm ngủ tôi không thấy trước mắt cái bóng người quằn quại kia và nghe cái giọng nói the thé ấy”.
Hết trích.
Trong buổi phỏng vấn năm 1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: “Tạ Thu Thâu là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt”.
Hay giáo sư khảo cổ học Nghiêm Thẩm, năm 56 sau khi tốt nghiệp xuất sắc tại Pháp ông về nước, không theo lời mời từ Hà Nội mà lại về Sài Gòn (dù nơi ông sinh ra là Hà nội).
Năm 1982, ông bị đập chết bằng chiếc búa khảo cổ chính trong ngôi nhà của mình. Công an kết luận là một vụ cướp.
Hãy đọc một đoạn hồi ký kể về cuộc gặp gỡ giữa trí thức và lãnh đạo Lê Duẩn :
“… Cuối buổi tiệc Lê Duẩn nói :
- Anh Nghiêm Thẩm, chắc anh biết, cả thế giới đang coi Việt Nam mình như “đỉnh cao trí tuệ loài người”, mà anh cũng được vinh dự ấy.
Việt Nam chúng ta phải làm chủ miền Đông Nam Á này. Mọi yếu tố làm chủ hầu như đã đầy đủ, chỉ còn thiếu một điều...
Từ trước tới nay, mấy thằng chép sử “nhãi ranh” vẫn cho rằng: nguồn gốc các sắc tộc miền Đông Nam Á này là Mã Lai hay Indonesien.
Liên Xô mới tìm được dấu vết chứng tỏ rằng Việt Nam chúng mình mới là thủy tổ.
Chúng ta đang làm lại lịch sử Đông Nam Á. Khoa nhân chủng học và khảo cổ của ta lúc này đang phát triển, nên anh phải nắm lấy cơ hội này, với uy tín sẵn có của anh, anh phải viết một bài lớn, thẩm định lại: Dân Việt Nam là thủy tổ các dân tộc Đông Nam Á. Như thế mới đúng ý nghĩa của “Đỉnh cao trí tuệ loài người” và mới xứng đáng tài năng hiếm có của anh.
Tôi im lặng một phút... trả lời hắn:
- Uy tín của tôi lúc này là nói đúng và nói thật. Theo các tài liệu khoa học hiển nhiên, nhất là khoa khảo cổ học và nhân chủng học quá rõ ràng, tôi không thể viết thế khác được. Viết như đồng chí nói là phản khoa học.
Hắn mỉm cười, bảo tôi:
- Anh nói thế tức là còn đang ở trong vòng gò bó của sách vở, của óc đế quốc, của hủ lậu, chứ không theo sử quan một tí nào cả.
Tôi cảm thấy tức đầy ruột, và thực sự lúc ấy tôi nhìn thằng Lê Duẩn như một con chó chết đê hèn, nên tôi hơi bạo lời:
- Nếu tôi viết như thế, thì các nhà khảo cổ và nhân chủng học trên thế giới sẽ cho tôi và cả chế độ tôi phục vụ là con chó chết. Tôi không bao giờ làm chuyện sa đoạ ấy.
Lê Duẩn vẫn không lộ vẻ tức giận. Hắn hỏi tôi vắn tắt:
- Anh nhất định không làm chuyện đó?
Tôi bỗng tìm được một danh từ xưng hô, trả lời hắn:
- Tôi không thể đáp ứng yêu cầu của “đàn anh” trong việc này.
Lê Duẩn ném cho tôi một cái nhìn có vẻ dữ tợn với câu nói cộc lốc:
- Anh nhất định thế... Mong anh đổi ý.
Tôi cũng nhìn thẳng vào mặt hắn, trả lời cương quyết:
- Tôi không bao giờ đổi ý.
Hắn ra đi, không nói thêm nửa lời.
Tôi coi đó như một biến cố đổ vỡ trong đời tôi, dưới chế độ khốn nạn này. Nhưng tôi thà tan vỡ cả tấm thân với cả chế độ này, còn hơn đổ vỡ cho đất nước tôi, cho chí hướng và danh dự học thức của tôi”.
Hết trích.
Lần gặp gỡ của giáo sư Trần Đức Thảo với Lê Duẩn được ông kể lại cũng cho ta thấy sự đụng độ giữa trí thức và quyền lực chính trị với thành phần “tinh hoa”.
Tất cả các lãnh tụ như Hitler, Lenin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh vv…hay Stalin, Chu Ân Lai, Trường Chinh, Lê Duẩn, Polpot, vv…không có ai xuất thân từ những giai cấp nông dân, thợ thuyền. Họ được gọi là “tinh hoa”.
Kẻ sỹ, người đọc sách và sau này gọi là “trí thức” cũng chỉ xuất thân chỉ ở giai cấp trung lưu, tiểu tư sản ? Vì vua chúa, đại tư bản không thèm đọc sách, dân nghèo không có điều kiện để đọc sách.
Cùng xuất thân ở một tầng lớp, tại sao trí thức lại thường bị đồ sát bởi người anh em cùng nguồn gốc nhưng tự coi mình mới đúng là “tinh hoa” ?
Có lẽ, xem xét cuộc đời của Maurice Barrès, một nhà văn Pháp sau này theo đuổi chính trị, được bầu vào Hạ viện với ước mơ xây dựng Pháp thành một “Quốc gia Cộng hòa XHCN” ta sẽ thấy được sự khác biệt giữa “trí thức” và “tinh hoa”, tất nhiên không nói đến thành phần “trí thức tinh hoa” một sự kết hợp hiếm hoi.
Maurice Barrès viết về trí thức như sau :
“ Không có gì đáng ghét bằng lũ trí thức nửa mùa tự nhận là những tay quý tộc tư tưởng tự cho ta khác xa với đám quần chúng tanh hôi…Bọn ấy đúng là rơm rác mà xã hội đang cố gắng tạo thành tinh hoa. Những thiên tài thiếu tháng, những tâm hồn bị đầu độc đáng cho ta thương hại chúng như lũ heo được đưa về viện Pasteus để thử thuốc điên rồ. Đương nhiên người ta phải giết chúng không thì cũng phải giam nhốt chúng”.
Sứ mạng của trí thức là đi tìm chân lý và phê phán.
Chính vì thực hiện sứ mạng này mà trí thức thường mang thái độ đối lập.
Phê phán thì động chạm, những kẻ nắm quyền lực độc tài không bao giờ chấp nhận thái độ đó, chúng tìm mọi cơ hội để tiêu diệt phê phán. Cũng vì sứ mạng mà trí thức chấp nhận bị ngược đãi và đồ sát, cũng vì thế họ khác biệt với kẻ cũng đọc sách mà sẵn sàng gạt bỏ mọi quy chuẩn đạo đức để tiến thân, tự nhận là “tinh hoa”.
Phê phán tạo nên sự thù hận giữa kẻ cầm quyền độc tài và trí thức, nhưng thù hận mặc, phê phán cứ phê phán, trí thức chấp nhận bị ngược đãi, bị thủ tiêu vì sứ mạng của mình.