Friday, July 5, 2019

Phép lạ kinh tế của Đức .

https://www.facebook.com/trananhtu19/posts/1809070549106763
chào ông Chế,
xin duoc goi la anh cho no than mat,hy vong anh còn nhớ tôi khi anh là Trung úy đuợc về TĐ 1/43.Khi đó anh Dat ở đ.đ. 2/43 , anh Le 3/43 va anh An 1/1/43,tôi thi ở 0 tren 1/43 va ô Hiếu đã là T/T và Chu là phòng 3 hq đ.úy Long là phó [FM đầu bạc].Toi về 1/43 truớc ô Hiếu khi TĐ 1/43 đóng ở Phuớc Lai và đón Dai úy Hiếu đến thay T/T thiếu sinh quân LLĐB dù và FM đầu bạc Long làm tạm Tiểu đoàn Truởng trong thời T/T Wilkerson cố vấn Mỹ[chắc ô Chu da biet toi la ai roi
Bài của Anh rất hay nhưng còn thiếu sót,Đại Ta Lê Minh Đảo về SĐ 18bb lên thẳng Lai Khê để lên An Lộc sau khi TuớngTư Lịnh SD18bb rơi máy bay [Thiết đòan Truởng 5 Kỵ Binh, thay thế Tư Lệnh SD18bb lên An Lộc và đã hy sinh không ai nhắc nho….
Chào Tuớng Đỗ kế Giai ở SD rồi xuống T.Doan không chào nên bị lên trực thăng bỏ vào rừng; đúng ngày đưa về Dai uy Phuoc dd trinh sát 18 vào kiếm không ra vì tôi đã theo đường mòn về đến căn cứ trg.đoan 52 đóng kế sd18bb.Vi tôi là BKD nên rừng rú đâu cũng thuộc cả.Tieu doàn 2/43 Núi Thị đại úy Bá mạnh Hùng [khong nghe noi toi] đóng là bảo vệ sd18bb [lúc đó là hậu cứ],t. đòan 1 và 2/43 là khá nên bị QD 3 và Saigon xài hoài .Tr.đoàn 48 ở Long Thành, tr.đ. 43 Bà Rịa Đất Đỏ , tr,đ. 52 Long Khánh, 2/43 ở núi thị.1/43 đai úy Hiếu đánh tới Thành Tuy Hạ sát T.Doan 38 BDQ trên sông Saigon.Toi ở với Trung tá Hieu đến khi ông lên Trung doan pho 43 tôi lên sd 18 đến khi về Long Bình với SD.
Ở An Lộc các dơn vị Tổng trừ Bị va Trung Dòan 43 đánh giặc hơi nhiều, ăn pháo giặc tối da hon 5000 quả . Quận biên gioi mất va lấy lai nhiều lan Không ai nhắc dến Trung dội TâyLai do Lê Minh Dao thanh Lap ; họ đánh phá đến quận bien gioi để cho các don vi tiến lên mạn bắc theo duờng xe lửa,Dảo đã bỏ tiền tui ra để trả công… Dánh vào đồi Tống Le Chân phá phòng khong địch cũng nhu bảo vệ bãi dáp trực thăng cho SD và di tản dân ra Biên Hòa va bỏ lại co giao trang banh cuon…bằng gạo tiếp tế ăn khong hết của My…
Sau 8 tháng ở An Lộc tôi về phép nhưng bị đình vì thông dịch viên cua An Lộc xin đi và duợc chấp thuận, ra bằng máy bay Mỹ, bi bắn rơi . Tuớng Mỹ mất giò tuớng Fairfield và thong dich vien chet, toi len làm thong dich vien thế cho tỉnh An Lộc và sd18 .thoát nạn ở sd bù 10 tôi về sd 9 lội sình….

Wednesday, July 3, 2019

Lá Thư Lịch Sử của Sisowath Sirik Matak- Lá thư đầy nghĩa khí và tiết tháo

Lá Thư Lịch Sử của Sisowath Sirik Matak (Cố Thủ Tướng Kampuchia)
gởi cho ông Đại Sứ Hoa Kỳ (1975) 
     
Vào tháng  4  năm 1975 , khi quân  đội Cộng  sản  Khmer Ðỏ Pol Pot đang trên đường tiến vào Nam-Vang thì người  Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính  phủ  Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.
     Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thư vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam-Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần” như sau:


Phỏng Dịch.
Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.
Thưa Ngài và Bạn,

   Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do .

   Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy!

   Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không bao giờ tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do .
   Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể  làm được gì hết .
   Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..
   Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó .
   Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ !
   Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi .
   Sirik Matak

Sau ngày 17 tháng 4  năm 1975, tổng cộng có 150 người trong chính phủ  Miên đã di tản theo người Mỹ. Còn lại toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết hết. Riêng gia đình ông  Sisowath  Sirik  Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.

PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU?

KIM THANH

LTS: Kính anh Kim Thanh, tôi nhận được bài này của anh từ một độc giả xa lạ gởi đến, bài viết thật hay và thật xúc động khiến tôi không thể không đăng được. Tuy nhiên, để bảo vệ trang Blog mong manh này, xin anh cho phép tôi được lược bớt vài câu mà người ta hay gọi là “nhạy cảm”. Rất mong anh không phiền trách. Cám ơn anh rất nhiều. Blog Lề Trái
Giữa tháng 7 năm 1971, tôi đang dẫn một trung đội tăng phái hành quân theo chiến dịch Phượng Hoàng tại một quận lỵ thuộc Tiểu khu Khánh Hòa thì nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu về Sài Gòn trình diện. Đối với một sĩ quan cấp nhỏ, trung úy như tôi, đó là một tin vui lớn. Không cần biết về làm gì. Ít nhất được xa chiến trường một thời gian.
Về Sài Gòn, tôi được Bộ Tổng Tham Mưu cho biết phải đi Phnom Penh làm thông dịch viên Pháp ngữ cho Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự. Từ ngày VNCH đưa quân sang xứ Chùa Tháp, nhiệm vụ của Phái Đoàn, như tên gọi, rất cần thiết trong việc liên lạc giữa hai quân đội bạn. Nhận sự vụ lệnh, tôi nghĩ đến nỗi thất vọng của ba mẹ tôi luôn mong ước tôi được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhàn hơn, thọ hơn chăng. Cam Bốt, lúc ấy, cũng đang tơi bời khói lửa.

I. Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự:
Ở chơi Sài Gòn ba ngày, tôi đi Phnom Penh bằng C47, chuyến bay đặc biệt chở đồ tiếp tế cho Phái Đoàn. Hơn một giờ sau, đến phi trường Pochengton. Trời nóng không thua gì Sài Gòn. Một thiếu úy còn trẻ, kém tôi độ vài tuổi, mặt mày trắng trẻo, mang súng ru-lô xệ ngang hông như cao-bồi Texas thứ… giả, trên mép gắn hờ điếu thuốc chưa đốt kiểu James Dean, một chân gác, nhịp nhịp, trên cây cản phía đầu xe jeep trắng, mang bảng số ẩn tế. Một tốp quân nhân, trong số có một thượng sĩ già, bước xuống máy bay, lên xe. Thấy tôi còn đứng lóng ngóng, anh thiếu úy không chào, chỉ hất hàm hỏi, “ông về Phái Đoàn hả, lên luôn, mắc cỡ gì nữa”. Dĩ nhiên, tôi thấy khó chịu, nhưng tự nhủ, đừng nóng, sẽ tính sau. Một chiếc xe dân sự khác chở đầy vật dụng đem xuống từ máy bay.
Xe chạy bon bon trên những đường phố vắng, và đặc biệt rất sạch, có những hàng cây thẳng tắp hai bên đường cành lá sum suê, và những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Vừa lái, anh thiếu úy tự giới thiệu, Nguyễn An Hòa, và sau này, tôi biết thêm anh là con của Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tham mưu trưởng Liên quân, ở trong Phái Đoàn, giữ một chức mà chính anh gọi đùa là “trưởng ban cà nhỏng”, muốn làm gì thì làm.
Sau hơn nửa giờ, đến trụ sở Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, một building đồ sộ trên đường Norodom. Tôi được đưa thẳng lên lầu hai trình diện Trưởng phái đoàn, Đại tá Tô Văn Kiểm. Ông dáng gầy, tầm thước, rất ít nói, nét mặt khắc khổ, nhưng hiền lành, đôi mắt biểu lộ một tấm lòng nhân hậu. Lần đầu gặp ông, tôi thấy có cảm tình ngay và an tâm. Rồi ông dẫn tôi đến một phòng lớn, toàn là sĩ quan cấp tá đang ngồi làm việc, và giới thiệu:
-Trung úy Nguyễn Kim Quý, thông dịch viên mới của Phái Đoàn. 
Có đủ các Phòng Ban, các ngành Hải, Lục, Không quân. Tôi còn nhớ bên Hải quân có Thiếu tá trẻ tên Khôi (quên họ), Không quân có Trung tá phi công già Trịnh Hảo (Văn?) Tâm. Có Trung tá Nguyễn Kiên Hùng, TQLC, người hùng trong vụ đảo chánh cụ Diệm năm 1960, ở phòng 2 hay 4. Đặc biệt có Trung tá Nguyễn Văn Nam, trưởng phòng 5, chồng của nghệ sĩ Mộng Tuyền, dáng dấp hào hoa phong nhã. Trung  tá Nam bước đến vỗ vai tôi, bắt tay, thân mật, nói liền một câu tiếng Pháp, giọng khàn khàn:
- Bienvenu, mon frère!
Dân CTCT có khác, tôi khen thầm. Đại tá trưởng Phái Đoàn cho tôi nghỉ ba hôm, để quen nước quen cái. Ngủ trong dãy phòng sĩ quan cấp úy, gồm các phi công, sĩ quan hải quân, và bộ binh biệt phái công tác ngắn hạn, nghĩa là mới thấy đã biến đâu mất. Ăn tại “phạn xá”, dành cho sĩ quan cơ hữu, nghĩa là làm việc thường trực tại Phái Đoàn. Mỗi người góp tiền hàng tháng cho hai binh sĩ “hỏa đầu quân” đi chợ và nấu ăn chung.
Nguyễn An Hòa đưa tôi đi thăm một vòng building: phòng truyền tin, tiếp liệu, nhà bếp, nhà tắm, phòng ngủ của các hạ sĩ quan, binh sĩ. Tất cả đều chào đón tôi vui vẻ, niềm nở. Phòng Y tế có một bác sĩ và một y tá. Y sĩ trưởng là Thiếu tá Trương Kim Thành rất cởi mở, dễ mến. Sau này, khi rảnh việc, tôi hay mò đến phòng Y tế không phải để xin thuốc, vì lúc ấy còn trẻ đâu cần, nhưng để tán gẫu với anh về đủ chuyện, kể cả văn chương, nghề của tôi, và chữa bệnh hoa liễu, nghề của… chàng. 
Tôi được chia văn phòng với Thiếu tá Son Sanjivith, sĩ quan liên lạc của quân đội Cam Bốt tại Phái Đoàn VNCH, sáng đến chiều đi, luôn mặc quân phục kaki vàng ủi thẳng nếp, mang cấp bậc trên cầu vai như lon Pháp, đeo kính trắng, dáng dấp quan văn hơn quan võ. Son Sanjivith nói anh là con của cựu Thủ tướng Cam Bốt Sơn Ngọc Thành –thủ tướng năm 1945 và 1972, bị ám sát hụt, đày về Việt Nam, rồi sau 1975 bị Việt Cộng bắt và chết trong khám Chí Hòa năm 1977– và cháu của chính trị gia Sơn Ngọc Minh. Tôi cũng không hỏi thêm. Anh không nói được tiếng Việt. Buổi sáng đầu tiên tôi vào nhận việc, anh pha cà-phê mời tôi uống, nói chuyện bù khú với nhau gần một giờ xài nhiều tiếng lóng Pháp, cười thích thú, bên khung cửa sổ, nhìn xuống con đường phía sau, song song với đại lộ Norodom. Rồi ai về bàn nấy. Anh ngồi cuối phòng, còn tôi gần cửa ra vào.
Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự không có thông dịch viên khá lâu, vì người tiền nhiệm của tôi, mãn hạn ba tháng, chưa có ai thay, nên giấy tờ ứ đọng. Giấy tờ không có gì “mật”, cũng thường thôi, của quân đội –đôi khi của chính phủ– Cam Bốt, viết bằng tiếng Pháp, gửi Phái Đoàn, nhờ chuyển cho Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn. Trước khi đến bàn thông dịch viên, văn thư đã được đọc bởi Đại tá Kiểm. Thư nào cần dịch ra tiếng Việt, và ngược lại, ông ghi “à traduire”. Thư trả lời, ông viết bằng tiếng Việt, mặc dù rất giỏi Pháp ngữ, cũng như các trưởng phòng, nhưng ông muốn có một bản dịch do một “chuyên viên” chính thức chịu trách nhiệm. Đôi khi ông gợi ý cho tôi trả lời thẳng bằng tiếng Pháp những bức thư không quan trọng. Ông rất hài lòng về những bản dịch của tôi, khen tôi trước các sĩ quan khác, và để tưởng thưởng, ông cho phép tôi, sau khi nộp bản dịch trong ngày, được đi chơi tùy thích, không phải ngồi “làm cảnh” ở văn phòng. Tôi thầm cám ơn Thượng Đế cho tôi thêm một vị chỉ huy quá tốt, giữa những vị chỉ huy quá tốt khác trong suốt đời lính.
Được phép, nhưng tôi lại không ra ngoài, thích ở văn phòng đọc sách, trừ khi Hòa đến rủ. Mà Hòa thì khoái đi lắm. Đúng hơn, khoái đi với tôi, có lẽ vì đồng trang lứa, đồng cấp úy, có lẽ vì tôi dễ tính, lôi đi đâu cũng được. Quen nhau, tôi thấy Hòa là một người bạn tốt, thẳng thắn, dễ thương, không bao giờ nói hoặc chơi xấu ai, dù bề ngoài có vẻ ngang tàng, bất cần của một công tử Con Ông Cháu Cha. Bên ly rượu, giữa hai làn khói thuốc, Hòa thường tâm sự về cuộc đời, ái tình, sự nghiệp của mình, và tôi được biết anh rất đắt đào, trong số có một ca sĩ cải lương trẻ đang lên mà anh xem như bồ ruột –đôi lúc dự tính “rước em dzìa dzinh luôn”, anh vui miệng kể.
Ra phố, Hòa và tôi diện áo quần dân sự, nhưng không quên lận lưng cây súng, juste dans le cas où… Hòa thường khoe cây mini-Colt dẹp, đẹp, nhỏ xíu, như cái hộp quẹt ga, tôi không chắc bắn có chết ai không. Ngoài những chiều Chúa Nhật dự thánh lễ tại nhà thờ Chánh tòa, nơi gặp gỡ của thành phần thượng lưu Cam Bốt cũng như ngoại quốc, nhất là Pháp, tôi xuống phố, một mình hay với Hòa, cũng chỉ để vào những tiệm ăn Tây, gần trụ sở Phái Đoàn gọi món poulet à la marengo hay civet au lapin, nhấm nháp vài ly rượu vang Bordeaux chánh hiệu. Hoặc lòng vòng quanh Chợ Trung ương (Marché Central) gần đại lộ Monivong và de Gaulle, ăn hủ tiếu Nam Vang –gọi là chính gốc Nam Vang, mà dở tệ hơn mì gói trụng nước sôi. Hoặc lượn trước cửa Lycée Preah Norodom, ngắm các tiểu thư mặc đồng phục váy màu xanh đậm, mặt hoa da phấn, ríu rít tan trường, mà lòng bồi hồi tưởng nhớ những bóng hình xưa cũ. Đôi khi Thiếu tá Son Sanjivith mời về nhà dùng cơm. Vợ anh là người Cam Bốt, xinh đẹp, quý phái, lịch sự. Đáp lễ, thỉnh thoảng tôi mời hai vợ chồng đi ăn những tiệm họ chọn. Theo lời khuyên của anh, tôi tránh vào những bars rượu, có bia ôm dĩ nhiên, vì người Miên, nhất là lính Miên hành quân trở về, súng ống đầy mình, không ưa Việt Nam. Một lần, lỡ bước vô, Hòa và tôi bị họ nhìn với cặp mắt cú vọ, khiêu khích, như chúng tôi đã nhìn lính Mỹ trong các quán bars ở Sài Gòn. Ngồi uống bia kiểu đó mất hứng và mất sướng. Ôm em trong tay mà hồi hộp không biết ăn đạn lúc nào.
Thỉnh thoảng, Trung tá Nguyễn Văn Nam cũng rủ tôi đi chơi riêng với ông. Khi thì ông gặp một người Miên lai môi giới hỏi mua chiếc xe Mustang rẻ, đem về Việt Nam miễn thuế, bắt tôi ngồi bên để ông lái thử xem máy chạy có tốt không. Khi thì đến ăn tối tại nhà một chị Việt Kiều quen ông. Khi thì đi thăm Chùa Prasat Prak, còn gọi là Chùa Bạc Chùa Vàng (sàn lót bằng hàng ngàn mảnh bạc và có một tượng Phật khổng lồ đúc vàng), hay vào hoàng cung lộng lẫy son vàng, mái lầu cong vút, bất ngờ nhìn thấy công chúa Bopha Devi, con vua Sihanouk, nguyên trưởng đoàn múa ballet hoàng gia, năm ấy 28 tuổi, ba đời chồng, đẹp mê hồn, bị giam lỏng cùng với gia đình và nhiều mỹ nữ.
Ngoài lương căn bản trong quân đội, do đơn vị gốc giữ hộ, các sĩ quan Phái Đoàn được lãnh thêm tiền phụ cấp công tác hàng tháng bằng đô la xanh. Tôi cấp nhỏ, độc thân, lãnh khoảng $180, đổi ra tiền riel, vật giá lại rẻ, cũng đủ xài hết tháng, một cách đế vương, có khi còn dư chút đỉnh. 
Ban đêm, Phái Đoàn tự lo an ninh. Tất cả sĩ quan luân phiên trực trại, tuần tra bên trong tường building cùng với hai binh sĩ trang bị M16 và lựu đạn. Buổi sáng, nếu không có chuyện gì, ghi vào sổ “rien à signaler”, vô sự. Một vài đêm cuối tuần, không biết làm gì để giết thời gian, các sĩ quan, chờ cho Đại tá Kiểm đi ngủ, gầy sòng phé đánh giải trí. Tôi và Hòa được rủ tham gia. Ai không chơi, ngồi ngoài chầu rìa, tình nguyện đóng vai “thầy bàn”. Tôi mang danh “thầy cúng”, vì thua triền miên. Trung tá Nam đánh rất bạo, mới nước thứ hai đã tố xả láng, tapis (Mỹ gọi là “all in”) liền, thua hết tiền, đứng dậy, tỉnh queo, nhưng thường thường ông thắng, vì đa số nhát, không dám bắt dù đoán ông tháu cáy. Một đêm, đang sát phạt, Đại tá Kiểm bất thần xuất hiện. Ông ghét cay ghét đắng cờ bạc, nên la mắng tận tình, từ cấp trung tá trở xuống, ai nấy ngồi yên, chịu trận. Nhưng qua hôm sau, ông vui vẻ trở lại, coi như không có chuyện gì xảy ra. Những trận phé chui, vì thế, vẫn tiếp diễn trong hồi hộp.
Nói lại công việc dịch. Thực ra, lúc đầu, tôi cũng vất vả với những danh từ quân sự và khuôn mẫu xã giao, cả Việt lẫn Pháp, mặc dù nội dung không có gì khó khăn, gây cấn. Vài lá thư thường xuyên than phiền về việc làm của một, hai đơn vị QLVNCH trong làng xã gần biên giới. Vài thư chia sẻ tin tức quân sự, báo cáo, tổng kết công tác phối hợp. Một số ít thư qua lại mang tính cách ngoại giao như mừng Ngày Quân Lực VNCH, chia buồn vụ Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, hoặc, ngược lại, những lễ lớn của quân đội Cam Bốt. Son Sanjivith cho tôi một quyển cẩm nang về cách viết công văn bằng tiếng Pháp với những câu xã giao có sẵn. Cứ thế mà ráp vào. Sau hai tuần, tôi quen, và bất kỳ văn thư dài ngắn, tôi chỉ đăm chiêu suy nghĩ một hồi, gõ máy chữ (lúc ấy chưa có computer) hai mươi phút là xong. Rồi thay đồ dân sự. Tự do như gió.
Đôi khi tôi đến sân tennis, gần phi trường Pochengton, múa vài đường banh cho giãn gân cốt, kiểu trưởng giả học làm sang, chứ không mong ăn cái giải gì. Nhờ vậy, một ngày đẹp trời, nhân đi xem một trận đấu quốc tế tôi được gặp tại đó một bạn JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) cũ, xinh đẹp, vô cùng dễ thương, Yvette Trương Tấn Trung, cựu sinh viên Dược Sài Gòn. Tha hương ngộ cố tri là một trong tứ… vui. Cả hai hết sức ngạc nhiên, ôm chào nhau mà miệng cùng lúc hỏi nhau một câu giống y chang: “Mais qu’est-ce que tu fais ici?” (Nhưng mà toa làm gì ở đây?). Yvette lấy chồng người Cam Bốt, bạn học trường Dược ở Paris, về Phnom Penh mở một tiệm thuốc Tây, cũng gần đó. Hỏi thăm nhau nhiều chuyện mới, ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Yvette ghi địa chỉ và số điện thoại mời “toa hôm nào đến nhà tụi này chơi.” Tôi hứa, rồi lại quên, cho đến ngày trở về Việt Nam, lên phi trường Pochengton, mới sực nhớ, nhưng trễ quá, không làm được gì nữa. Sau 1975, thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết Yvette và chồng con có thoát được nạn Khmer Đỏ. Năm 1988, tôi ở Paris, tìm trong niên giám điện thoại tên Yvette Trương. May quá, gọi được. Tôi nói, xin lỗi đã không đến thăm ở Phnom Penh và mừng vì Yvette và gia đình trở lại Pháp trước 1975. Lúc ấy, tại Paris, Yvette làm trong một hãng bào chế thuốc.
Một hôm, bà Mộng Tuyền qua Phnom Penh thăm chồng. Thực sự, tôi chỉ nghe tên bà, chứ chưa hề diện kiến dung nhan và cũng chẳng biết bà hát tân nhạc hay cổ nhạc nữa. Quả thật, danh bất hư truyền. Bà rất đẹp, nước da trắng như trứng gà bóc, lại lịch thiệp, gọi tôi bằng “chú” (em). Nhân dịp, Trung tá Nguyễn Văn Nam rủ tôi cùng đi với ông bà, và vài sĩ quan khác, thăm trại Việt Kiều Phnom Penh, gần bến tàu, dưới quyền kiểm soát của chính phủ Miên. Năm 1970, sau khi Lon Nol, với sự trợ giúp của hoàng tử Sirik Matak lật đổ vua Sihanouk (Sirik Matak thuộc dòng chính, đáng lẽ lên ngôi vua, nhưng Pháp chọn Sihanouk, nên rất hận ông này), những người Việt Nam, dù sinh trưởng tại Cam Bốt đã lâu đời, đều bị bắt giết dã man trong thảm nạn “cáp duồng”. VNCH phản ứng chậm, và hàng ngàn người đã chết, như báo chí Việt Nam thời ấy tường thuật. Một số được hồi hương. Một số đang chờ tàu hải quân chở về Việt Nam, như trại tập trung Việt Kiều mà chúng tôi đến thăm. Xem như đi công tác CTCT và sợ bị “cáp duồng” bất tử, chúng tôi được lệnh mặc quân phục và mang theo hai cây M16.
Trại nằm trong khuôn viên một ngôi chùa lớn, trên một sân rộng, có hàng dây kẽm gai vây quanh và rải rác cả trăm lều vải. Hầu hết là những gia đình, đầy trẻ em nheo nhóc, làm ruộng hoặc đánh cá, không nói hoặc nói ít tiếng Việt. Da ngăm đen, trông không khác người Miên, tay chân khẳng khiu vì thiếu dinh dưỡng. Cảnh sống quá thảm thương. Tôi bước theo ông bà Trung tá Nam và Thiếu tá Khôi Hải quân, thăm hỏi một số đồng bào. Một cô trẻ đẹp, khoảng mười tám, da trắng, môi thắm tự nhiên, ngồi một mình buồn bã ở một góc lều. Chúng tôi dừng lại. Thấy tôi, cô nghẹn ngào khóc:
- Anh cứu em với.
- ?
- Cả gia đình em ở Kompong Thom bị giết chết hết. Em chạy trốn được xuống đây. Em chưa có chồng, anh lấy em đi, em mới thoát được chỗ này.
Tôi biết cô nói thật, và có thể với nhiều người khác, vì quá tuyệt vọng. Trung tá Nam nhìn tôi, rồi nhìn cô, an ủi:
- Tàu Hải quân sắp lên đón đồng bào về Việt Nam. Cô đừng lo.
Còn tôi móc bóp, tặng cô một trăm riel, tương đương năm đô. Cô lắc đầu, không lấy, khóc nức nở thành tiếng. Tôi đặt số tiền dưới chân cô, chào và đi thẳng. Viết đến đây, tôi thầm hỏi, cô giờ này ở đâu, còn sống hay đã chết, hỡi cô gái tỵ nạn không biết tên, nạn nhân của chiến tranh ngu ngốc và độc ác của loài người –một Barbara trong thơ của Prévert? 
II. Soriya :“Sweet Helen, make me immortal with a kiss”
(Christopher Marlowe, XVIth c., Faust) 
“You gods [...] ought to be ashamed of yourselves! You are always jealous…”
(lời Calypso nói với thần Hermès, trong The Odyssey của Homère, quyển V)
Tòa đại sứ VNCH gần Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, trên đường Norodom, nếu tôi nhớ không lầm. Tôi chỉ đến hai lần. Lần đầu vào đầu tháng tám, 1971, khi ông Đại sứ Trần Văn Phước mở một tối tiếp tân, tôi không nhớ nhân dịp lễ nào. Cả Phái Đoàn được mời tham dự. Đèn hoa treo rực rỡ, sáng trưng. Có một số đại diện đồng minh, như Mỹ, hay Lào, Nhật, Thái Lan, Miến Điện… Ăn theo kiểu self-service, rượu vang và champagne uống thả giàn. Một cô Cam Bốt, tay cầm ly rượu, tay cầm đĩa thức ăn, đến bàn tôi, xin ngồi cùng. Và tự giới thiệu, Soriya, thư ký đả tự của Tòa đại sứ Việt Nam. Cô nói tiếng Pháp lưu loát, giọng trong vắt. Trong câu chuyện, cô hỏi tôi có phải là Trung úy thông dịch viên, nghe danh Trung úy lâu rồi, hôm nay mới được làm quen, v.v… Cô dáng cao gầy, nước da bánh mật, có chiếc răng khểnh xinh xinh, nhưng lúc ấy rượu vào, lại được ngồi cạnh người đẹp, tôi thấy cô quyến rũ khác thường, còn hơn cả tiên nữ giáng trần. Lòng lâng lâng yêu đời, tôi bắt đầu trổ tài tán dóc, nghĩa là nói nhiều, nói dai, nói giễu hơn thường lệ. Cô kể, em quê ở Battambang, học tới Bac II, rồi đi làm, hôm nào mời anh đi về quê em chơi… C’est promis? –C’est promis. Tôi hứa đại.
Lần thứ hai tôi đến Tòa đại sứ, mười ngày sau. Tìm gặp Soriya, một buổi trưa, không hẹn trước. Cô đang đánh máy, thấy tôi, vội vàng chạy ra cửa, ôm hôn theo kiểu Đầm, mỗi má hai chiếc. Tôi mời cô tối ra phố ăn cơm. Trong tiệm, một lúc nào đó, tôi nói:
- Tên em đẹp quá. Soriya có nghĩa gì vậy?
- Mặt trời. Mặt trời sưởi ấm những trái tim lẻ loi. Anh có tin là em cô đơn?
Tôi siết nhẹ tay cô:
- Có. Bien sûr. Người ta không nói dối khi nói mình cô đơn. On ne ment pas quand on dit qu’on est seul. Hình như câu đó của James Jones trong Tant qu’il y aura des hommes.
Rồi bỗng cô ngập ngừng, hỏi:
- Sao anh lại chọn nghề này, em muốn nói, nghề lính, bắn giết nhau, hay ho gì?
Tôi nhìn sâu vào mắt cô, để tìm xem có ẩn ý nào không, rồi chậm rãi trả lời:
- Trong lúc đất nước chiến tranh, tôi không có sự chọn lựa. Đi lính càng không phải là một chọn lựa. Có lẽ tại số. Trước khi biệt phái sang đây, tôi là lính chiến, đã bắn và bị bắn trả. Huề. Có một điều bí mật tôi muốn chia sẻ với em mà em chưa được học từ bài học philo hay littérature nào. Đó là loài người chúng ta thường bị ganh tị bởi những vị thần linh bất tử…
Cô im lặng, chưa hiểu. Sau một hớp rượu, tôi tiếp:
- Tôi đọc ở đâu đó, trong L’Iliade hay L’Odyssée của Homère, tôi không nhớ chắc, rằng các vị thần linh trong thần thoại vì là bất tử nên thường hay ganh tị với loài người, ils nous envient, tu sais, bởi chúng ta ai cũng phải chết một ngày, sớm hay chậm hơn, mười năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Cho nên, mỗi một ngày trần thế của chúng ta, của em, của tôi trở thành đẹp vô ngần, quý giá hơn cả ngọc ngà, châu báu. Cũng trong L’Iliade, có đoạn viết rằng các vị thần đứng đầu là Zeus, tức Jupiter, chia làm hai phe trong cuộc chiến giữa thành Troie và Hy Lạp. Họ thèm được đánh nhau như loài ngưòi. Tôi suy diễn, thèm được chết như loài người. Vois-tu, Soriya, les dieux qui sont immortels et ceux qui se croient immortels n’ont pas le lugubre plaisir, ou plutôt l’agréable malheur, d’être condamnés à mourir, à attendre la mort à chaque instant… comme nous tous, comme moi, comme toi, d’ailleurs. Thần linh bất tử không có cái diễm phúc bi thảm, nỗi đau thương dịu dàng được chết, được chờ đợi cái chết đến, từng phút, từng giây, không có thảm kịch bị án phải chết bất cứ lúc nào, như kiếp người mong manh. Như những người lính xông pha ngoài chiến địa… Không bao giờ tôi thấy đời đẹp, và em đẹp hơn là lúc này, khi biết đâu ngày mai ta không còn thấy nhau nữa. Em hiểu tôi chứ?
Soriya suy nghĩ, trầm ngâm, hồi lâu, rồi nói:
- Em hiểu và biết thêm nhiều điều lạ. Merci, mon cher ami.
Trước khi chia tay, cô lại nhắc chuyện đi thăm Battambang. Promis? –Promis. Tôi lại hứa. 
Mãn hạn ba tháng, tôi xin Đại tá Tô Văn Kiểm cho về Việt Nam, mặc dù ông –và cả Nguyễn An Hòa và Trung tá Nguyễn Văn Nam– cố thuyết phục tôi tiếp tục làm việc tại Phái Đoàn, thậm chí đề nghị cho nghỉ phép một tháng với gia đình, rồi trở lại cũng được. Mặc dù rất nhiều người thích qua Phnom Penh, thay chỗ của tôi. Tôi cũng không hiểu tại sao muốn về Việt Nam, trong khi không có vợ con, người yêu để mà vướng bận. Có lẽ vì chán khung cảnh thành phố hàng ngày đơn điệu, trống rỗng, và thấy nhớ núi rừng và mùi hương cau, hương bưởi của những ngày hành quân qua các thôn nghèo và cánh đồng cằn cỗi, những trẻ em và phụ nữ bị thương vì mìn Việt Cộng. Không còn ước mơ được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn nữa.
Tôi không từ giã Soriya. Lời hứa đi thăm quê nàng bay theo mây khói. Mười ba năm sau, 1984, tại trại tỵ nạn Bataan, Philippines, chợt nhớ Soriya quay quắt, và ân hận vô vàn, tôi đến khu người Cam Bốt, tìm nàng và hỏi thăm tin tức. Soriya. Không ai biết. Không chừng, năm 1975, Soriya đã bị giết bởi bọn Khmer Đỏ, một người bảo tôi, vì là nhân viên của Tòa đại sứ VNCH. Battambang “quê em” mỗi ngày một xa lắc lơ, biết bao giờ đến được? Tôi bỗng nhớ lời tôi đã nói với nàng trong tiệm ăn năm xưa: “Những vị thần bất tử thường hay ganh tị chúng ta…”
Soriya có lẽ đã bị giết như hai triệu người Cam Bốt đồng hương. Như, có lẽ, Thiếu tá Son Sanjivith. Như, chắc chắn, Sirik Matak, cựu thủ tướng của họ.
III. Sirik Matak: “My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109) 
Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.
Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay Cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Bắc Việt, đang được đỡ đầu bởi Trung Cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.
Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một cụm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274).
Phạm Kim Vinh dịch cụm từ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.
Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ –đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho nhân dân Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.
Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.
Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên tivi, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu.” Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold).
Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.
Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ –điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ– và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.
Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ –vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Mỹ. 
Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.
Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.
Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle –chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và MT Giải phóng Miền Nam và Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị Bắc Việt sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.
Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.
Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak –một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?
Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc Kinh.
Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):
“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’
Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. (…..)
Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355). 
Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt? 

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông.
Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam. 
Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút –đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.
Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.
Portland, cho Tháng Tư Đen 2011
KIM THANH

Liên Xô viện trợ cho Việt Nam bao nhiêu xe tăng?

Thời chống Mỹ, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam bao nhiêu xe tăng?
Đại Dương (theo Tou Tiao) 30/05/2019 (Dân Việt) Trong cuộc chiến tranh kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, một trong những nguồn vũ khí lớn nhất mà quân đội Việt Nam nhận được là nguồn viện trợ từ Liên Xô, đặc biệt là các loại pháo và xe tăng... Nói tới bộ đội tăng thiết giáp Việt Nam, đây là một lực lượng ra đời trong khoảng trống chiến tranh và trưởng thành trong chiến đấu. Do nguyên nhân lịch sử, trang bị kỹ thuật chủ yếu của lực lượng này đến từ 3 nguồn. Một là xe chiến lợi phẩm của Mỹ, hai là viện trợ của Liên Xô và ba là viện trợ của Trung Quốc.

Trong đó, loại có số lượng lớn nhất, chất lượng tốt nhất là viện trợ của Liên Xô. Còn hàng chiến lợi phẩm thì trong nhiều tình huống là con số trên giấy, số có thể thực sự sử dụng ít hơn con số trên giấy rất nhiều. Hơn nữa cho dù có tính cả những chiếc đã rách nát vào thì tổng cộng cũng chỉ có 550 xe tăng và 1400 xe bọc thép. Về số viện trợ của Trung Quốc, mặc dù năm đó nước này đã dốc toàn lực nhưng do tiềm lực và trình độ kỹ thuật hạn chế cho nên tổng số xe tăng xe bọc thép viện trợ cũng như chất lượng của các xe đó vẫn ít hơn và thấp hơn nhiều các loại Liên Xô viện trợ.

Theo các tài liệu công khai, loại trang bị đầu tiên Liên Xô viện trợ Việt Nam là pháo tự hành Su-76 và xe tăng hạng trung T-34-85. Trong đó xe tăng T-34 đến nay vẫn phục vụ trong quân đội Việt Nam. Trong giai đoạn 1959-1960, tổng cộng Liên Xô đưa sang Việt Nam 50 pháo tự hành Su-76 và 300 xe tăng T-34-85. Số xe tăng này được dùng để xây dựng trung đoàn xe tăng đầu tiên mang phiên hiệu 202.


Xe tăng PT-76.

Sau đó một thời gian, Liên Xô bắt đầu cung cấp cho Việt Nam xe tăng lội nước PT-76. Tuy nhiên loại xe tăng này được giao vào thời gian chiến tranh bắt đầu ác liệt lên nên thời gian bị kéo dài. Từ 1961 đến 1973, có 500 xe tăng PT-76 đã qua sử dụng được Liên Xô chuyển đến chiến trường Việt Nam. Các xe tăng PT-76 đã tham gia vào trận chiến nổi tiếng ở Làng Vây năm 1968.

Về xe thiết giáp phối hợp tác chiến với xe tăng, loại mà Việt Nam nhận được sớm nhất là xe thiết giáp BTR-152 gồm 100 chiếc được giao năm 1961 và 100 pháo tự hành Su-100 giao năm 1962. Từ 1963 đến 1966, có thêm 50 xe trinh sát BRDM và 100 xe bọc thép BTR-40 được giao. Đến năm 1968, khi chiến tranh ngày càng lan rộng, Việt Nam tiếp nhận lô viện trợ xe bọc thép lớn nhất lên tới 400 xe BTR-50.


Pháo tự hành Su-100.

So với các xe BTR-152 và BTR-40 xe BTR-50 có khả năng nổi tốt hơn. Tính năng này đối với địa hình nhiều sông ngòi kênh rạch như ở Việt Nam có tác dụng rất quan trọng. Sau đó đến 50 xe trinh sát BRDM-2. Tuy ý định là dùng để thay thế cho xe BRDM-1 nhưng cả hai loại xe này được sử dụng chung khá lâu.

Đến năm 1970, xe tăng T-54 mới được viện trợ để bổ sung cho các xe tăng T-34-85 bị tổn thất trong chiến đấu với số lượng 500 chiếc. Ngoài ra cũng trong năm 1970 còn có 50 pháo tự hành ISU-122 và 25 pháo tự hành ASU-57. Đến 1973, có lẽ xem xét việc sắp đánh cho Nam Việt một đòn chí mạng, Liên Xô bắt đầu cung cấp các xe tăng T-55 mới hơn. Đến năm 1975, tổng cộng có 600 chiếc T-55 được bàn giao.


Cao xạ tự hành ZSU-57-2.

Tuy nhiên, lực lượng tăng thiết giáp Việt Nam còn được viện trợ một loại vũ khí rất ít người biết, đó là pháo cao xạ tự hành. Từ 1971 đến 1976, Liên Xô viện trợ cho Việt Nam 150 khẩu pháo cao xạ tự hành gồm ZSU-57-2 và ZSU-23-2. Mặc dù vậy, số lần xuất hiện trên chiến trường của hai loại vũ khí này lại rất ít nên tác dụng cũng có hạn.

http://danviet.vn/dong-tay-kim-co/thoi-chong-my-lien-xo-vien-tro-cho-viet-nam-bao-nhieu-xe-tang-984152.html

Tuesday, July 2, 2019

CHỞ MỘT TU VIỆN BẰNG ĐÁ TỪ TÂY BAN NHA SANG MỸ
Tu viện bằng đá của nhà dòng Thánh Bernard de Clairvaux, trước đây ở Tây ban Nha, đã được tỉ phú báo chí Mỹ Randolf Hearst mua lại và cho chở về Mỹ vào đầu TK 20. Mọi chi tiết đều được đánh số, sau đó được cưa ra, bỏ vào thùng rơm, đưa lên tàu chở về Mỹ. Khi tới cảng New York, do công ty của ông bị phá sản, các thùng này nằm chết trong kho, ko ai ngó ngàng. Sau đó có người biết chuyện, họ quyên được 400.000 đô để mua lại và dựng tại Miami Florida. Có một trục trặc xảy ra là thời đó có một bịnh dịch ở TBN nên quan thuế Mỹ bắt phải mở thùng để thay rơm TBN bằng rơm Mỹ, do vậy các chi tiết đã bị sắp đặt lộn xộn khiến khi ráp lại tốn nhiều thời gian hơn dự định.
https://www.tripadvisor.com/Attraction_Review-g34486-d13038…
ĐỌC THÊM: Lịch sử của tu viện.
"Việc xây dựng tu viện Thánh Bernard de Clairvaux đã được bắt đầu vào năm 1133 sau Công nguyên tại vùng Sacramenia gần Segovia ở miền bắc Tây Ban Nha. Hoàn thành tám năm sau đó vào năm 1141, tu viện được dành riêng cho Đức Mẹ và ban đầu được đặt tên là "tu viện của Đức Mẹ, Nữ hoàng của các thiên thần". Năm 1174, sau khi Bernard de Clairvaux được phong thánh (canonization), tu viện mang tên của ông. Là một tu sĩ và nhà huyền môn (mystic) thuộc dòng tu Cistercian, cũng là người sáng lập và điều hành tu viện Clairvaux, Bernard là một trong những nhà lãnh đạo nhà thờ có ảnh hưởng nhất trong thời đại của ông. Các tu sĩ sống ở tu viện này trong gần 700 năm. Sau một cuộc cách mạng xã hội vào những năm 1830, tu viện đã bị tịch thu, bán và chuyển đổi thành một vựa lúa (granary) và chuồng ngựa (stable).
Năm 1925, William Randolph Hearst đã mua tu viện. Các cấu trúc bằng đá được tháo dỡ từng viên một, bao bọc bằng cỏ khô, được đóng gói trong hơn 11.000 thùng gỗ (wooden grate), được đánh số để nhận dạng và vận chuyển đến Hoa Kỳ. Ngay sau khi lô hàng đến New York, các vấn đề tài chính của Hearst đã khiến phần lớn bộ sưu tập của ông được bán đấu giá. Những chiếc thùng khổng lồ vẫn còn trong một nhà kho ở Brooklyn, New York, trong 26 năm. Một năm sau cái chết của Hearst, năm 1952, chúng được hai doanh nhân mua để sử dụng làm điểm thu hút khách du lịch. Phải mất 19 tháng và tương đương gần 20 triệu đô la (theo tiền tệ ngày nay) để đưa tu viện trở lại hình dạng ban đầu. Năm 1953, tạp chí Time gọi nó là trò chơi ghép hình lớn nhất trong lịch sử.
Năm 1964, đại tá Robert Pentland, Jr, là một chủ ngân hàng triệu phú, nhà từ thiện và ân nhân của nhiều nhà thờ Tân giáo (Episcopal church), đã mua tu viện và tặng chúng cho giám mục Florida. Ngày nay, giáo xứ Thánh Bernard de Clairvaux là một giáo đoàn tích cực và đang phát triển trong giáo phận Tân giáo của Đông Nam Florida. Dịch vụ được tổ chức vào Chủ nhật và các ngày trong tuần bằng tiếng Anh và TBN".
Phần trên dịch từ : https://www.spanishmonastery.com/history


https://www.tripadvisor.com/Attraction_Review-g34486-d130387-Reviews-Cloisters_of_the_Monastery_of_Saint_Bernard_de_Clairvaux-North_Miami_Beach_Florida.html?fbclid=IwAR022B-msGUWEKmtEVrJPiF8l9rSZFWScWKT_sL5Kk7QvgOXsF9JqlYLBM8


Friday, June 28, 2019

KBC 4385* và Nghiệp lính trong đời tôi
Click image for larger version

Name: T242_HH_SD18BB_QLVNCH_7_TrinhSat_B_146x059.png
Views: 0
Size: 16.4 KB
ID: 686202  
Tôi mãn khóa 4/69 vào năm 1970 lúc đó mới 21 tuổi, khi chọn đơn vị tôi đã chọn Sư Đoàn 18 Bộ binh ở miền đất đỏ Long Khánh, về trình diện BTL Sư đoàn Phòng 1 Tổng Quản Trị,

(Bài viết của cựu Trung Uý Vũ ngọc Hải, Đại Đội Trưởng/Đại Đội 18 Trinh Sát)



Tôi mãn khóa 4/69 vào năm 1970 lúc đó mới 21 tuổi, khi chọn đơn vị tôi đã chọn Sư Đoàn 18 Bộ binh ở miền đất đỏ Long Khánh, về trình diện BTL Sư đoàn Phòng 1 Tổng Quản Trị, lúc giờ là Thiếu tướng Lâm quang Thơ làm Tư lệnh, tôi được về Đại đội 18 Trinh Sát (nghe tiếng Trinh Sát ớn quá nếu đọc hai chữ ngược lại chắc ''em'' tôi mà biết được chắc nàng bỏ tôi lắm, tôi quen nàng khi bắt đầu nhập ngũ), thôi thì đến đâu hay đến đó, mọi việc phó mặc cho số mệnh. Nhận sự vụ lệnh về trình diện Đại Uý Ngọc Đại đội trưởng, thủ tục giấy tờ xong tôi được phép đặc biệt 2 tuần lễ về thăm nhà và sau đó lên nhận nhiệm vụ mới (cùng về Đại đội 18 Trinh sát có Chuẩn uý Nguyễn văn Tấn anh ta cùng khóa 4/69 ở Thủ Đức cùng Đại đội 14 nhưng tôi ở trung đội 144, anh Tấn ở Trung đội 141) hết phép tôi lên đúng ngày nên nhận được lệnh dẫn trung đội trinh sát đi học Viễn thám tại Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp (Bà Rịa-Phước Tuy) do quân đội Úc Đại Lợi huấn luyện (quân đội Úc nổi tiếng về nhửng cuộc hành quân ở Phước Tuy, cộng quân rất kiêng nể họ), sau khi nhận lãnh quân trang cá nhân, trang bị cũng như một binh sĩ xong, chúng tôi được đưa tới quân trường Vạn Kiếp. Trung đội trinh sát mà tôi dẫn đi học gồm đủ mọi thành phần: lính già có, trung sĩ già có và những binh nhì độc thân, ba gai lỳ lợm, xâm mình, đi đâu cũng có bidông rượu đế, chỉ có tôi là ''Chuẩn Uý Sữa''. Ở Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp chúng tôi được huấn luyện về những kỹ thuật tác chiến của một toán viễn thám. Chúng tôi được học cách biến tiếng ho thành tiếng thú rừng để giữ im lặng, bảo toàn đơn vị trong suốt cuộc hành quân, khi nghỉ ban đêm thì kiếm những bụi rậm thay phiên nhau canh gác nghỉ qua đêm. Nếu có đụng độ thanh toán mục tiêu xong di chuyễn ngay, không có lục soát, đuợc thực tập về trực thăng di chuyển thang dây, tải thương ngay tại sân vận động Bà Rịa. Cuối khóa chúng tôi có phần học thực hành bằng cuộc hành quân tại vùng tỉnh Phước Tuy (Úc họ đi theo chỉ giám sát và chấm điểm), sĩ quan trưởng toán hoặc hạ sĩ quan làm trưởng toán thay phiên nhau để đi thực tập. Những ngày nghỉ học cuối tuần, lính tráng ra Bà Rịa chơi ăn uống nhậu nhẹt, tôi phải một vài lần ra đồn quân trấn ở Phước Tuy bảo lãnh họ ra, vì nhửng lính tráng này ba gai, đánh đấm nhau... Sau 2 tháng huấn luyện xong, chúng tôi về đại đội và từ đó tôi chính thức nhận trung đội trưởng trung đội viễn thám (tôi nhớ bằng viễn thám là hình 2 cái ống nhòm tôi được lãnh 1000 đồng tiền bằng và thêm tiền trung đội trưởng 600 đồng nữa).

Viễn Thám nhận lệnh hành quân trực tiếp từ Phòng 2 Sư đoàn lúc đó là Thiếu tá Thịnh trưởng phòng, tôi chia trung đội Viễn thám làm 2 toán tôi một toán, Trung sĩ nhất Thính 1 toán, sau này có thêm Chuẩn uý Ngà (khoá 5/69) coi một toán (sau lên Thiếu uý Ngà về chiến đoàn 43 làm đại đội trưỏng, và đã hy sinh trong trận Gia rai Long Khánh). Mỗi toán Viễn thám tối thiễu là 5 người. Khi có những kế hoạch do phòng 2 nhận được viễn thám nhận phải đi nhẩy (bằng trực thăng) để báo cáo tình hình cụ thể về Bộ chi huy hành quân (phòng 3) có kế hoạch điều động hành quân. Tôi vừa là một sĩ quan trưởng toán viễn thám vừa là một sĩ quan đề lô pháo binh, tôi nhớ có một lần trong cuộc hành quân trung đội viễn thám đi cùng với đại đội trinh sát, đại đội trinh sát nhận được lệnh rút về phải để lại toán viễn thám tiếp tục cuộc hành quân, toán viễn thám 5 người (2 người bị đau phải về cùng với đại đội), chỉ còn 3 người: một anh trung sĩ, một mang máy và tôi, tiếp tục di chuyển. Chúng tôi phát hiện dấu vết có căn cứ của địch, và sau khi phát hiện chính xác có Việt cộng canh gác tôi đã gọi về Bộ chỉ huy Hành quân xin pháo binh bắn vào mục tiêu, được sự chấp thuận tôi đã điều chỉnh tác xạ pháo binh sư đoàn bắn vào mục tiêu, và khi chấm dứt tác xạ, chúng tôi quan sát mục tiêu đã bị phá huỷ, chúng tôi không có nhiệm vụ lục soát mục tiêu, nhưng những trái đạn pháo binh đã làm cho cộng quân đã phải khiếp sợ, những toán Viễn Thám như những đài quan sát của Sư Đoàn 18 bộ binh, như những bóng ma trơi làm cộng quân phải khiếp vía... Có lẽ vào năm 1971 Đại đội Trinh sát 18 được lệnh phải giải tỏa quận Đất đỏ (Bà Riạ-Phước Tuy) lúc đó Thiếu Uý Đoàn Thước (nguời miền Thừa thiên Huế nhà ở Thủ Đức ông ta từ hàng hạ sĩ quan lên đã giữ chức Đại đội phó Đại đội 18 trinh sát) được thay thế Đại Uý Ngọc trong chức vụ Đại đội trưởng rất gan lỳ và đánh giặc rất giỏi, kế hoạch hành quân là phải giải toả quận Đất đỏ tránh xử dụng Pháo binh vì nhà cửa của dân gần sát quận. Trung đội 1 và 2 đi cánh trái, giữa là Bộ chỉ huy đại đội và vũ khí nặng, bên cánh phải là trung đội 3 và trung đội Viễn Thám. Thiếu uý Thước điều động các trung đội cho từng toán nhỏ lên chiếm mục tiêu địa thế từ quốc lộ vào Đại đội phải đi qua những bãi trống chỉ có những bụi tre và những bụi cây, chúng tôi đã lần lượt thanh toán từng chốt nhỏ, Thiếu Uý Thước rất gan dạ, ông ta bận đồ dù (trước ở Nhẩy dù chuyển qua Trinh Sát ) đầu đội nón sắt tay cầm bản đồ và liên tục cầm máy AN/PRC25 để điều động, sau không nghe được Thiếu uý Thưóc nữa tôi biết có điều chẳng lành, anh hạ sĩ truyền tin báo tin thẩm quyền đã bị bắn xẻ từ lùm cây xa, cố Trung Uý Đoàn Thước đã hy sinh. Một tấm gương anh hùng của một người Đại đội trưởng gan dạ liều lĩnh mà tôi đã học được nơi anh, lần đầu tiên chứng kiến cái chết của một vị sĩ quan khi tôi mới ra trường. Tôi phải học hỏi kinh nghiệm chiến trưòng từ nơi các sĩ quan già dặn, những người đã mang nghiệp lính gần hết cuộc đời, từ nơi các hàng hạ sĩ quan lão luyện, những binh sĩ gan dạ và nhất là phải đem những lý thuyết từ trường Bộ binh Thủ Đức về lãnh đạo chỉ huy và cách cư xử hoà đồng với những người lính coi nhe mạng sống mình để làm sao cho họ nể phục mình.

Vào năm 1972 Trung đội viễn thám của chúng tôi cùng với viễn thám của các đại đội 43, 48 và 52 trinh sát tăng phái cho Quân đoàn III, cùng với Bộ tư lệnh hành quân Sư đoàn đóng ở Trảng Lớn (Tây Ninh), Phòng 2 Sư đoàn điều động những toán viễn thám để thay phiên nhau nhẩy vào những vùng ranh giới với Kampuchia, từ Thiện Ngôn đến Mimốt, Núi bà Đen. Một lần toán Viễn thám của chuẩn uý Xuân (43 Trinh sát) nhảy vào khu vực Thiện Ngôn khi xuống tới bãi đáp thì bị phát hiện và bị bao vây Chuẩn uý Xuân đã phải cho xử dụng lựu đạn cay và, dùng mặt nạ để tẩu thoát, bị chết và bị thương Viễn Thám 43 chỉ một hai người, ngày hôm sau trực thăng đã chở được quân số còn lại về Bộ Chỉ Huy Hành Quân ở Tây Ninh.

Sau đó Sư Đoàn 18 Bộ Binh được điều động đến An Lộc để thay thế cho Sư Đoàn 5 và Biệt kích Dù đã tử thủ, có lẽ lúc đó Đại Tá Lê Minh Đảo mới về nhận nhiệm vụ Tư lệnh. Đại đội 18 Trinh sát lúc nầy do Trung Uý Nguyễn Trung Chánh làm đại đội trưởng và có nhiệm vụ nằm vòng đai cho bộ tư lệnh sư đoàn, viễn thám nhận nhiệm vụ cùng với một số binh lính Thượng hành quân bung ra từng toán nhỏ để báo cáo tình hình về bộ chỉ huy hành quân, thời gian ở An Lộc chúng tôi vẫn còn thấy những chiến xa của cộng quân đã bị thiêu rụi nằm la liệt trong thị xã bởi các chiến sĩ Sư Đoàn 5 và Biệt kích Dù. Các chiến binh Bắc Việt nằm trên xe được xích chân vào để cùng chết theo xe, đúng sự mô tả của các báo chí Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ. Mặt trận An Lộc thời điểm nầy vẫn còn bị cộng quân pháo kích liên miên nhất là phi trường Quản Lợi vẫn thường đụng độ với Chiến đoàn 52 của Sư Đoàn 18. Sau trận này Tư lệnh của chúng ta lên Chuẩn Tướng, và đã bàn giao lại cho Biệt Động Quân. Sư đoàn được chuyển về căn cứ Long Bình. Đại Uý Linh từ biệt kích về nắm đại đội trưởng, tôi đuợc đề cử chức vụ đại đội phó, sau một vài tháng Đại Uý Linh chuyển đi đơn vị khác, tôi được đề nghị giử chức vụ Đại đội trưởng, Trung Uý Tấn cùng khóa tôi làm đại đội phó, Thiếu uý Đa (khóa 25 Đà Lạt. Sau này Trung Uý Đa lên Đại độI trưởng) là trung đội trưởng trung đội 2, Thiếu Uý Hiển (khóa 25 Đà Lạt) trung đội 1, Thiếu Uý Xung trung đội Viẽn thám. Với tuổi đời còn nhỏ, kinh nghiệm chiến trường chưa có là bao, tôi giữ chức vụ Đại đội trưởng thật nặng nề, vì là một đại đội biệt lập, lính tráng phần lớn là những tay anh chị gan lỳ và ba gai. Tôi phải làm sao để hoàn thành nhiệm vụ mà thượng cấp đã giao phó và dùng tài lãnh đạo chỉ huy để làm sao cho binh sĩ dưới quyền nể phục mình. Trong thời điểm nầy Đại đội chúng tôi được tăng phái cho Chiến đoàn 52 của Trung Tá Ngô kỳ Dũng cùng với Chi đội thiết giáp (hành quân tùng thiết) nằm án ngữ dọc quốc lộ từ ngã ba Bình Dương đi Phú Giáo những xã ấp nằm ven quốc lộ, ban ngày là quốc gia ban đêm là cộng sản, chúng chỉ để đàn bà con gái ban ngày làm rẫy, làm ruộng hoặc là trẻ em ở nhà, nhưng ban đêm là lúc thuận tiện để chúng bò về xã ấp quấy phá. Một lần tôi nhớ cùng với Chi đội thiết giáp của Sư đoàn 18 nằm từ cua Paris đến Phú Giáo. Tôi ra lệnh cho trung đội 1 đi lục soát về phía bắc của quốc lộ toán khinh binh đi đầu đã dẫm phải mìn và bị thiệt mạng một binh sĩ, điều thiệt hại nầy đã làm cho tôi ray rứt khi lần đầu tiên nắm đại đội trưởng một đơn vị biệt lập ngang hàng với tiểu đoàn. Sau những lần hành quân đó chúng tôi lại được về Long Bình nghỉ và ứng chiến chờ lệnh.

Đại đội 18 Trinh sát ngoài việc đánh giặc còn làm những công tác tâm lý chiến kết hợp tiền tuyến với hậu phương, đã kết nghĩa cùng trường Tiểu học Đoàn thị Điểm ở Trương Minh Giảng (Sàigòn) giúp cho trường có một tủ thuốc học đường. Hàng năm vào những ngày lễ Tết các em học sinh các trường trung học Long Khánh đã đến thăm viếng thư từ tặng quà cho Đại đội. Vào năm 73 tôi được lệnh thuyên chuyển về chiến đoàn 48 của Trung Tá Thành, Đại Uý Hà Văn Cho về nắm chức vụ đại đội trưởng 18 Trinh Sát thay tôi, Trung Uý Phạm Hữu Đa làm đại đội phó, tôi về 48 giữ chức vụ Đại đội trưởng đại đội 4 tiểu đoàn 1/48 (Sấm Sét), Thiếu tá Linh (khóa 4 TĐ) tiêủ đoàn trưởng sau thì Thiếu tá Lập (là tiểu đoàn phó tiểu đoàn 3/52) lên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/48, ông ta đã bị cụt một tay phải và hai tai cũng bị hư trong trận Giaray, Long Khánh (hiện ông ta đang sống cùng thành phố Missouri với tôi).

Về 48 tiểu đoàn chịu trách nhiệm hành quân ở vùng Tân Uyên (Biên Hòa), một lần đại đội 4/1/48 của tôi nằm tuyến phòng thủ về phía bắc của Tân Uyên cũng gần tới cua Balê (đường đi Phú Giáo) tôi cho lính gài mìn Claymore và chiếu sáng tự động tảng sáng toán kinh tài của cộng sản đã bị vướng mìn.

Thiếu Uý Luận là đại đội phó của tôi (cũng đi từ hàng hạ sĩ quan lên), rất gan dạ và lỳ lợm sau khi súng cối của tiểu đoàn hết tác xạ, Thiếu uý Luận cùng với một toán lên để dọn dẹp chiến trường, nhưng ngờ đâu cộng quân một tên còn sống đã bắn ngay đầu của Thiếu Uý Luận và một anh mang máy. Hai người đã hy sinh trận này cộng quân chết 5 tên thu được súng cá nhân và hồ sơ kinh tài, sau đó Tư lệnh Hằng Minh đã bay đến thị xát vùng nầy. Tiếp tục cũng vẫn là hành quân từ Cua Paris đến Phú Giáo, hai bên lộ là những vườn mía và cây cao su gần về phía Phú giáo. Vào cuối năm 73 tôi được đổi về tiểu khu Biên Hoà (có Trung tá Trần Minh Công là Tham mưu trưởng Tiểu khu, trước là trung đoàn phó trung đoàn 48) tôi được phân phối về phòng 3 Tiểu khu phụ trách huấn luyện những đơn vị lưu động của tiểu khu, công việc thì rất nhàn nhưng mà nhớ bạn bè nhớ chiến hữu của trinh sát 18 và của 48. Thời gian nầy tôi đã lập gia đình và sống ở Biên Hoà cho đến ngày tôi bị đi ở tù.

Nhân dịp 30 năm hội ngộ lần đầu tiên tôi biết được đại gia đình sư đoàn 18 bộ binh cùng về đây họp mặt. Trước hồn thiêng sông núi cùng đứng dưới hàng của vị cựu Tư lệnh Sư Đoàn 18 Bộ binh Thiếu tướng Lê Minh Đảo, người anh cả của lính nỏ thần xin cho tôi đốt một nén hương với Cố Trung Uý Đoàn Thước, Cố Trung uý Phạm Hữu Ngà (khóa 5/69), Cố Trung Uý Huỳnh Văn Tư (K25 Đàlạt), Cố Trung Uý Nguyễn Văn Luận của trinh sát 18, của 43, của 48, của 52 và còn rất nhiều những anh hùng chiến sĩ của sư đoàn 18 đã hy sinh vì đại nghĩa dân tộc.

*KBC 4385 là Khu Bưu Chính của Đại Đội 18 Trinh Sát
tm