Friday, March 29, 2019

Lý Tống sanh ngày 1 tháng 9 năm 1946, tên thật Lê Văn Tống .
Tôi dùng Lý thuyết Số để phân tích :
I/ Nếu dựa theo giấy khai sanh .
LÊ = 3 5 = 8
VĂN = 6 1 5 = 12 = 3
TỐNG = 4 7 5 3 = 19 = 1
Tổng cộng : 8 3 1 = 12
Anh hùng Lý Tống sẽ phần nào chịu tác động của số này và sau đây là ý nghĩa của số này .
SỰ HY SINH – NẠN NHÂN (THE SACRIFICE – THE VICTIM)
Sau đây là tử vi và lời khuyên dành cho người sanh ngày 12 hoặc thực thể (entity) bằng hay (có tên cộng lại) bằng 12 . Người này hay thực thể này định kỳ sẽ bị hy sinh cho những kế hoạch hoặc âm mưu của những kẻ khác . Số 12 cũng cảnh báo về sự cần thiết phải tỉnh táo ( alert ) trong mọi hoàn cảnh , phải coi chừng (aware) những lời nịnh hót giả tạo từ những người dùng nó để đạt những mục đích riêng của họ . Phải nghi ngờ những người hứa giao phó chức vụ cao , và phải cẩn thận phân tách động cơ (motive) này . Mặc dù sự lừa gạt không phải lúc nào cũng có nhưng cẩn tắc vô ưu (forewarned is forearmed) . Có một mức độ nào đó lo lắng về tinh thần , tạo nên bởi nhu cầu phải hy sinh mục đích của cá nhân cho tham vọng của những kẻ khác .
Một ý nghĩa thứ hai của số 12 cũng nên được xem xét . Số 1 là thày giáo . Số 2 là người học trò đang quỳ gối , phục tùng . Đôi khi kết quả của sự căng thẳng nặng nề về tình cảm (emotional stress) và nỗi đau đớn về tinh thần (mental anguish ) sẽ tạo ra chứng quên (amnesia) : sự quên lãng những bài học đã học trước đây . Số 12 tượng trưng cho quá trình giáo dục/học vấn ở mọi trình độ , sự tuân thủ của ý muốn đã đặt ra (submission of the will required) và những hy sinh cần thiết để đạt kiến thức và khôn ngoan , trên cả hai lãnh vực tinh thần và trí tuệ . Khi trí tuệ (intellect) được hy sinh cho tình cảm (feelings) , lý trí (mind) sẽ được soi sáng với những giải đáp mà (lý trí) đã tìm kiếm . Hãy nhìn vào bên trong để tìm giải pháp . Nếu đáp ứng thỏa đáng được những yêu cầu của giáo dục/học vấn thì sẽ chấm dứt đau khổ và mang lại thành công ./.
Dịch từ Linda Goodman's Star Signs , trang 251 .
II/ Dựa theo tên sau này :
LÝ = 3 1 = 4
TỐNG = 4 7 5 3 = 19
Tổng cộng : 4 19 = 23
Anh hùng Lý Tống cũng chịu tác động của số này và sau đây là ý nghĩa của số .
Số 23 – Ngôi Sao Của Sư Tử Vua ( The Royal Star of the Lion )
Đây là số may mắn do hưởng phước đã tạo từ kiếp trước (karmic reward number) (1) . Số 23 ban cho (bestows), không những chỉ là một hứa hẹn sẽ thành công trong những nỗ lực (endeavors) thuộc về cá nhân và nghề nghiệp , mà còn bảo đảm có sự giúp đỡ từ thượng cấp (help from superiors) và sự che chở/bảo vệ từ những người có địa vị cao ( protection from those in high places) . Đây là một số rất may mắn , và số này ban phát ( blesses ) dồi dào hồng ân (abundant grace) cho người hoặc thực thể ( entity) tượng trưng bởi số này . Số này , cũng nên được xem xét với những số khác ( như ngày sanh hay tên ) để có một sự phân tách toàn diện dựa theo lý thuyết số ( full numerological analysis ) , điều này có thể đưa đến một kết quả không hoàn toàn may mắn . Nhưng trong những giai đoạn khó khăn , những số khác không có nhiều cơ hội tạo ra (bring about) sự rắc rối nghiêm trọng (serious trouble ) khi có sự hiện diện của Ngôi Sao Huy Hoàng này của Sư Tử . Không số nào có thể thách thức với sức mạnh (strength) của Sư Tử và thắng được nó . / .
( Dịch từ trang 259 của quyển Linda Goodman’s Star Signs ) .
Chú thích : (1) Từ Karmic xuất phát từ danh từ Karma , tiếng Sanskrit có nghĩa là hành động /số mệnh /nghiệp . Ấn độ giáo và Phật giáo tin rằng nghiệp là những hành động/việc làm của con người trong những kiếp trước , và ( nghiệp này) sẽ quyết định số mạng của con người đó trong những kiếp sống sau này .
====

Thursday, March 28, 2019

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=3152836038063534&set=a.197514143595753&type=3&eid=ARDA6cnitFDoQN9ymisiKcMLuKn6sEbQ5TdvkcryYS7ZZ_4ZKldDg9rzxU1pnMbEzAYOwt_BMQ6d7idQ
Bỏ các tính năng ko cần thiết trên windows 10 , giúp máy chạy nhanh hơn .
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1823621520984999&set=pcb.1823080381039113&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARD4a5FrDeGahtIslXwxgB962cpN-pltwW_baJAQ69A075KsRkPa2W2Wddn1wa7cjlvyt5NEugINXSd3
Cài đặt lại Windows 10 nhưng vẫn giữ các tệp tin cá nhân
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1822992657714552&set=pcb.1822981771048974&type=3&__tn__=HH-R&eid=ARAcbBSzBk3jq_FlEBCwEjtQDgBAvnxxXqtTDKMGZBS0Vevvghu0ciAdLt9a63V6FRpGnA9Nvo8cCFps
nhạc sĩ vũ thành an làm an ten trong tù
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10211136016572554&set=a.10208119982133578&type=3&eid=ARCP8MTknNM9ILEgOE0utqgxjd7WpxQgHKeGR1NqmzZZ2dbKHDM6ZX09fpiVNIEnHkoWuHK4N2YgkBZR

Wednesday, March 27, 2019

Lê Ngọc Diệp - Một năm đi làm Phó Quận Trưởng Bố Đức (tỉnh Phước Long)
Posted on May 13, 2015 by Ban Thông Tin
Bài viết nầy chỉ là một bút ký vì tôi nhắc lại những biến cố đã xảy ra từ 50 năm trước một cách không có thứ tự, và vì thời gian quá lâu nên có thể có nhiều thiếu xót về những địa danh và những nhân vật liên hệ nên xin quý vị và quý bạn đồng môn vui lòng miễn chấp. Bài ký sự nầy cũng để kính cẩn tưởng niệm quý vị Giáo Sư và quý đồng môn vị quốc vong thân, tử nạn trong các trại “Học Tập Cải Tạo” và bỏ mình hay mất tích trên đường “Vượt Biên”, đồng thời tưởng nhớ đến các chiến sĩ âm thầm hy sinh trong bóng tối vì ít ai để ý đến họ. Đó là những chiến sĩ Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, các cán bộ và viên chức xã ấp, Nhân Dân Tự Vệ cũng như lực lượng CSQG, LLĐB mà tôi có dịp tiếp xúc trong hai năm 1964 và 1965 tại tỉnh Phước Long.


Khóa 9 Đốc Sự là một khóa tương đối đặc biệt vì là khóa “giao thời” giữa hai nền Cộng Hòa: Đệ Nhứt và Đệ Nhị. Nhập học vào khoảng tháng 9 năm 1960 và ra trường vào ngày 23 tháng 3 năm 1964. Và cũng là khóa đầu tiên thụ huấn quân sự tại trường Võ Bị Thủ Đức (khóa 17) thay vì tại quân trường Hạ Sĩ quan Hiện Dịch Đồng Đế ở Nha Trang như các khóa Đốc Sự 7 và 8. Thời gian đi tập sự vào mùa hè năm 1963 nhằm vào những tháng cuối cùng của nền Đệ Nhứt Cộng Hòa, lúc đó tôi đi tập sự tại quận Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, một quận trù phú nằm cạnh Quốc lộ 1 và đường đi Khánh Dương. Tôi đã có dịp tham dự lễ khánh thành ấp chiến lược Hòn Khói ven biển trên đường đi Phú Yên. Trong dịp nầy có sự chủ tọa của ông Ngô Đình Nhu trong trang phục Thanh Niên Cộng Hòa và ái nữ của ông là Ngô Đình Lệ Thủy trong y phục Thanh Nữ Cộng Hòa.

Tôi và đồng môn cùng khóa là anh Phan Thanh Xuân về nhận nhiệm vụ tại tỉnh Phước Long. Tỉnh nầy chỉ cách Sài Gòn 180 km nhưng quốc lộ 13 bất an nên chúng tôi phải đi máy bay của Air Việt Nam đến Ban Mê Thuột, từ đó đón xe đò về ngược lại tỉnh lỵ Phước Long. Khoảng đường chỉ hơn 200 km mà xe chạy từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều mới đến quận lỵ Phước Bình nằm sát chân núi Bà Rá. Núi không cao lắm nhưng trời mưa âm u mây trắng phủ kín ngọn núi, sương mờ huyền ảo, đất đỏ đặc sệt, hai đứa chúng tôi không dám bước xuống xe vì đi không được. Chúng tôi trình diện ông Phó Tỉnh Trưởng là anh Đèo Văn Ngày (1). Sau đó, Phan Thanh Xuân và tôi trình diện Tỉnh Trưởng là Trung Tá Mã Sanh Nhơn, gốc nhảy dù có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường. Trung Tá Mã Sanh Nhơn cho biết hiện đang có hai Phó Quận trống là Đức Phong và Bố Đức, tên nguyên thủy của Đức Phong là Bù Đăng nằm cạnh quốc lộ 14 trên đường đi Ban Mê Thuột, Bố Đức là Bù Đốp nằm sát biên giới Việt Miên hướng bắc Lộc Ninh. Phan Thanh Xuân và tôi quyết định bắt thăm chớ không để Trung Tá Tỉnh Trưởng chỉ định. Xuân đi Đức Phong, tôi về Bố Đức.

Bố Đức cách tỉnh lỵ Phước Long khoảng 25 km về phía Tây và cách biên giới Việt Miên khoảng 4 km, ranh giới Việt Miên chỉ là con suối mang tên Bu Jer Man, mùa khô đi bộ qua cũng được. Cơ sở hành chánh của quận nằm trên một ngọn đồi nhỏ trong một biệt thự do người Pháp xây cất, dân số toàn quận vào năm 1964 chính xác là 9.800 người, đa số là dân thiểu số gốc Stieng, tên của họ chỉ có hai chữ và họ luôn luôn bắt đầu bằng chữ Điểu như Điểu Sen, Điểu Chôm… Quận lỵ là xã Phước Lục chỉ có khoảng 500 dân gồm hai dãy nhà, ở chính giữa là một nhà lồng chợ. Quận có 4 xã và xã xa nhứt là xã Bù Gia Mập cách quận lỵ khoảng 40 km đường rừng về phía Bắc miệt Ba Biên Giới. Đồn điền cao su Bù Đốp nằm giữa quận lỵ và biên giới, đồn điền nầy thuộc công ty Cao Su Viễn Đông (Société des Caoutchouc d’Extrême-Orient), tên thường gọi là CEXO thành lập năm 1911, đồn điền Bù Đốp xây dựng năm 1911 rộng 810 mẫu. Hằng tháng có máy bay Cessna lên tiếp tế và phát lương. Thời cực thịnh công ty nầy đã bỏ tiền ra để làm đường xe lửa Sài Gòn-Lộc Ninh dài 142 km để chuyên chở cao su. Hầu hết dân cạo mủ được mộ từ miền Bắc và miền Trung như Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi từ thập niên 1930 và con cháu của họ vẫn tiếp tục làm phu tại đây. Bên cạnh đó là một số dinh điền như dinh điền Châu Ninh I, Châu Ninh II gần quận lỵ, và đường đi Bù Gia Mập cũng có một số dinh điền. Các dinh điền tọa lạc tại những đất phì nhiêu và thưa dân, thường là những xứ đạo do một linh mục quản trị và án ngữ tại những vị trí chiến lược sát biên giới. Việc thiết lập các dinh điền nầy dọc theo biên giới chứng tỏ các giới chức lãnh đạo đương thời một tầm nhìn rất xa về phương diện kinh tế và an ninh. Ngoài ra, còn có trại Lực Lượng Đặc Biệt Bù Đốp với sân bay riêng nằm sát biên giới Việt Miên cạnh đuờng mòn Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh đó tôi về nhận nhiệm vụ Phó Quận Trưởng Bố Đức vào khoảng tháng 4 năm 1964. Buổi lễ bàn giao rất đơn giản, không kèn không trống, được tổ chức tại văn phòng Quận dưới sự chứng kiến của Đại Úy Quận Trưởng Nguyễn Trắng gốc Biệt Động Quận, Chuẩn úy Băng Chi khu phó, các Xã trưởng, các sĩ quan Trưởng Ban của Chi khu, các Trưởng Ban trong Văn phòng Hành chánh quận, Chi Cảnh sát. Ông Cao Thái Khá, Phó Quận Trưởng tiền nhiệm sau khi ký giấy bàn giao lại cho tôi, bèn nói “Tôi bàn giao cho ông như tôi uống 10 thang thuốc bổ!”.

Công việc hành chánh thật ra không có nhiều, vì 90% là người sắc tộc, hầu hết là thị thực các chứng thư hành chánh. Tôi chú ý đến các giấy tờ di chuyển mà Đại uý Quận Trưởng không chịu ký vì ông cho rằng cho họ di chuyển thì Quận mất dân. Tôi trình bày cùng ông Quận Trưởng rằng ông ta có lý của ông ta để không ký nhưng tôi nghỉ người dân có quyền di chuyển và Quận có nhiệm vụ thị thực chữ ký của xã. Đại úy quận trưởng bận chuyện hành quân nên cũng quên đi chuyện nầy, hơn nữa nếu Quận không cho dân di chuyển, không lẻ con cháu của phu cạo mủ cứ tiếp tục làm phu đồn điền từ đời nầy qua đời khác hay sao?

Làm gì cũng vậy, làm chánh bao giờ cũng có quyền hạn hơn làm phó vì quyền hạn của người làm phó là do người chánh giao cho (2), nhưng làm phó nhiều khi cũng khỏe vì không có trách nhiệm. Người ta thường nói làm “phó thường dân” là sướng nhứt. Một năm làm phó quận trưởng tại Bố Đức vào năm 1964 đến 1965 cũng có nhiều công tác có ý nghĩa và lý thú. Thứ nhứt là mộ phu khai phá đồng Gia Rây để có đất cho dân làm rẫy, đi thăm các xã ở xa, kế đó là tổ chức bầu cử Hội Đồng Tỉnh vì trong hai năm nói trên không có bầu cử Quốc Hội hay Tổng Thống. Tôi có hai kỷ niệm khó quên trong cuộc bầu cử Hội Đồng Tỉnh vào năm 1964.

Người thiểu số Stieng không lưu tâm đến việc bỏ phiếu nên nhân viên phụ trách phòng phiếu phải đến các xã để “vận động” cho họ đi bầu. Văn phòng quận liên lạc xã xa nhứt là xã Bù Gia Mập nói rằng đúng ngày bầu cử quận sẽ mang thùng phiếu đến và xã trưởng thông báo cho cư dân trong xã ở nhà bỏ phiếu. Một phái đoàn bầu cử khá hùng hậu của Quận gồm Đại Úy Quận Trưởng, nhân viên bầu cử và tôi, thêm một tiểu đội nghĩa quân kể cả một toán Lực Lượng Đặc Biệt trong đó có 2 binh sĩ Hoa Kỳ cũng tháp tùng. Đường đi lên Bù Gia Mập khá nhiêu khê vì không có đường dọc biên giới từ quận đến Bù Gia Mập, do đó, phải đi ra quận lỵ Phước Bình mất 25 km rồi theo đường đất đỏ từ chân núi Bà Rá thêm 30 km nữa. Đường gập gềnh chỉ có xe Jeep mới chạy nổi, chạy lắc lư như rùa bò, tối hôm đó phái đoàn ghé một dinh điền ngủ qua đêm. Vấn đề an ninh trong năm 1964 rất tốt, không có chuyện giựt mìn hay đắp đê trong lãnh thổ của quận Bố Đức. Dân dinh điền đêm hôm đó đãi phái đoàn quận một bữa thịt cầy, hai người lính Mỹ không những ăn mà còn khen ngon! Tôi đinh ninh khi đến xã thì dân chúng sẽ tụ họp để bỏ phiếu nhưng chẳng thấy bóng dáng người dân nào, hoàn toàn vắng hoe. Không lẽ người dân sợ đi bỏ phiếu như vậy hay sao? Đây là “tiến trình dân chủ” mà! Đúng lúc tôi đang suy nghĩ miên man thì một đoàn người từ mé rừng khiên vác nhiều con heo rừng đi ra và vô xã, gọi là xã cho vui chớ đúng ra là cái sóc Bù Gia Mập với hơn một trăm gian nhà sàn. Hỏi ra mới biết đó là cách người dân ở đây đi săn heo rừng, khi họ tìm được heo rừng, họ tập trung cả sóc lùa bầy heo vào một khu rừng rồi rào chung quanh khu rừng đó lại, chỉ để một hai lỗ trống. Một số người vô đó rượt đuổi, mấy con heo chạy thoát ra những lỗ trống và bị đập chết. Tôi thấy họ khiêng về hơn một chục con heo rừng! Cuộc bầu cử ngày hôm đó cũng hoàn tất.

Trong cuộc bầu cử nầy, tôi có thêm một kỷ niệm khá hào hứng. Một lần tôi vào thăm đồn điền Bù Đốp cách biên giới không xa và gặp người thơ ký đồn điền. Ông nầy vào khoảng 60 tuổi, vóc người ốm ốm, đầu luôn luôn đội nón len màu nâu vì thời tiết rừng hơi lạnh. Thấy ông ta có vẻ hiểu biết nên tôi thường hàn huyên, ông cho biết vì buồn đời tư nên lên đây làm thơ ký cho đỡ buồn. Nhiều bữa ông đi bộ từ đồn điền ra văn phòng quận gặp tôi, khoảng đường gần 4 cây số không có phương tiện chuyên chở cộng cộng. Đang mùa bầu cử Hội Đồng tỉnh nên ông nộp đơn ứng cử nghị viên cho đơn vị Bù Đốp. Ông có trình độ văn hóa khá và nói tiếng Pháp thông thạo nên ông đắc cử và được bầu làm chủ tịch Hội Đồng tỉnh Phưóc Long, ông đi Sài Gòn tham dự Đại Hội Hội Đồng Tỉnh Toàn Quốc và sau đó được bầu làm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện của VNCH. Người đó là ông Nguyễn Bá Lương, sau 30/4/75 nghe nói ông qua đời trong trại giam Long Thành. Thành thử đất Bố Đức cũng là vượng địa!

Mấy tháng cuối năm 1964 tình hình an ninh vẫn còn tốt. Cuối tuần một số nhân viên quận và bên chi khu cùng Hội Đồng Xã tổ chức đi săn, thường đến đồn điền Bù Đốp và chỉ cần 2, 3 người vào rừng đi săn trong đó có ông phó xã trưởng Phước Lục là tay săn bắn nổi tiếng. Trước khi đi ông ta căn dặn: “Quý vị ở nhà bắt sẵn nước sôi chúng tôi về sẽ có thịt”. Thật vậy, họ chỉ đi ra rừng cao su một chặp sau nghe tiếng súng nổ là họ về mang theo thường là heo rừng hay nhím, nhiều khi nước chưa kịp sôi. Ban đêm có rất nhiều thú đến vườn cao su tìm ăn hột cao su, rừng cao su trống nên dễ đi và dễ thấy thú rừng. Đường đi xuống Lộc Ninh phía tay trái quốc lộ 13 khoảng 3 cây số có một cái bàu tức là một hồ nước cạn giữa rừng gọi là Bàu Sen. Nơi đây thú rừng hay tập trung uống nước, chúng uống một lần lúc 6, 7 giờ tối trước khi đi ăn và một lần nữa lúc 4, 5 giờ sáng khi chúng ăn xong và đi về hang ổ. Đi săn ban đêm phải rọi đèn, tức là đội trên đầu một chiến đèn pin chiếu sáng. Ánh mắt của thú rừng phản chiếu ánh sáng của đèn rọi trong đêm tối, và những tay săn chuyên nghiệp nhìn ánh mắt của thú rừng biết là thú rừng gì và bao lớn. Hai con mắt xa nhau (gọi là “bang dang”) là thú to, gần nhau là thú nhỏ. Màu xanh là nai hưu, màu đỏ dợt là chồn, nhím, còn màu đỏ sậm là cọp, beo thì nên tránh, đừng bắn nguy hiểm vì dù trúng đạn chúng cũng có thể nhảy lại chụp người bắn. Lúc bình yên thú rừng rất nhiều, sân đá banh gần bên quận lỵ, nhiều khi đang đá banh, một con mễn từ trong rừng chạy ra sân banh, các cầu thủ bỏ banh tranh nhau rượt con mễn. Cọp còn ra chợ Phước Long liếm các thớt thịt nữa là, chợ Bố Đức thật sự không có thịt heo hay gà vịt mà chỉ có thịt nai, mễn, heo rừng và nhím! Tôi thích đi săn vì xưa nay chưa bao giờ lội rừng đi săn, người dân ở đây gọi rừng là rừng thiêng, tôi không biết có thiêng hay không nhưng vào đó, ban ngày thì ngộp thở vì cây cối dầy đặc, ban đêm thì thấy mình nhỏ bé trong bóng tối mênh mông. Ở chân núi Bà Rá có một cái miếu gọi là Linh Sơn Miếu. Núi Bà Rá ở Phước Long và núi Bà Đen ở Tây Ninh là “hai chị em sinh đôi” và là hai quả núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, núi Bà Đen cao hơn khoảng 100 m nên có lẽ là núi chị! Những người lính Stieng đi hành quân khi ra khỏi rừng đều quay lại chào khu rừng một cách kính cẩn rồi mới về lại quận lỵ. Tôi không lãng mạn đi săn để tìm một “Sơn Nữ Phà Ka” nào đó trong cái không khí huyền ảo của “Trăng Mờ Bên Bờ Suối”. Tôi và Chuẩn úy Phúc, Ban 5 Chi Khu, đi săn với một mục đích rất thực tế, đi tìm một con voi có cặp ngà vì bán cặp ngà thì mua được một chiếc xe Jeep chạy đường rừng. Chúng tôi vác súng đi theo con suối Bù Jer Măn, thấy nhiều vết chân voi và dấu voi cạ mình trên các thân cây nhưng không gặp con voi nào!

Một số phong tục tập quán của người thiểu số ở đây khó lòng áp dụng luật lệ của người Kinh để xét xử. Tôi chứng kiến hai trường hợp, một là tại xã Phước Lục gần quận, xảy ra một vụ thưa kiện giữa một người dân về một cái mác bị mất cắp. Ông ta nghi hai người lối xóm lấy, ông xã trưởng cũng là người thiểu số, yêu cầu hai nghi can lặn nước, người nào nổi lên trước người đó là thủ phạm. Xét xử nhanh chóng và không tranh cãi lôi thôi. Một lần khác về vụ “ma lai”, người dân thiểu số tin rằng con ma lai rút ruột làm người ta đau bụng và chết. Một buổi tối nọ, ông xã trưởng Bù Gia Mập gọi máy truyền tin, lúc đó là máy Motorola, báo cáo bắt được một con ma lai và sẽ giết nó chết. Tôi nói khoan đã, để ngày mai chở “con ma” đó về quận rồi sẽ tính sau. Nhưng sau đó, ông xã trưởng báo cáo đã giết “con ma” đó chết, tôi yêu cầu ông xã trưởng về quận trình diện. Ông ta trình bày trong xã có nhiều người bị đau bụng chết, và hai ba người đã chiêm bao thấy nghi can bị kết tội là một con “ma lai” nên dân trong xã đã giết con ma đó. Tôi hỏi ông ta tại sao ông biết người đó là con “ma lai”? Ông nói cứ nấu chì cho chảy ra rồi đổ vào bàn tay của người đó, nếu bị phỏng thì người đó đúng là con “ma lai”! Tôi nói nếu bây giờ tôi nấu chì đổ thử vào tay của ông, ông có chịu thử không, ông ta gật đầu nhưng không biết tại sao tôi lại không thử?

Vào khoảng tháng 1/1965, tình hình an ninh không còn bình thường nữa sau chuyến tôi đi về tỉnh tham dự một buổi họp. Trên đường về tôi ghé qua quán cà phê duy nhứt ở quận lỵ Phước Bình để ăn tô hủ tiếu và uống cà phê. Tôi tình cờ gặp lại chú Tư, người cùng quê ở Mỹ Tho khi tôi còn nhỏ, chú Tư đang theo nghề xe be vào rừng lấy gỗ. Sau khi thăm hỏi, chú Tư nói với tôi: “Cậu đi đứng cẩn thận, vô rừng tôi gặp mấy ổng nhiều lắm, họ không phải là dân ở đây.” Tôi gật đầu vì tin tức của những người dân đi làm rẫy về cũng cho biết như vậy. Nhiều bữa voi chạy ra đường, nghĩa là rừng bị động, rừng bị động vì có người trong đó, không ai khác hơn là quân cộng sản. Tôi chia tay chú Tư để về quận vì lúc đó đã gần 2 giờ chiều. Nhiều lúc tôi chợt nghĩ nếu tôi lưu lại quận Bố Đức 6, 7 năm như ông cựu phó quận trưởng chắc tôi buồn lắm. Vì vậy khi nghe tin trường QGHC mở kỳ thi tuyển ban Cao Học đầu tiên, tôi nộp đơn thi và đi phép về Sài Gòn mua thêm sách để chuẩn bị thi, học trong sự bất ổn, học trong tiếng súng vang đêm, học trong tiếng vọng của B52. Một số nhân viên Ủy ban Hành Chánh xã và nhân viên quận phải đi ngủ “lưu động”, nghĩa là tối đến mang võng và mùng mền ra rừng ngũ, nay nơi nầy mai nơi khác vì bọn du kích chận xe đò và nói với dân quận rằng chúng nó biết tôi ở căn nhà nào tại quận lỵ. Lúc đó, tôi cũng được tin người bạn cùng khóa, anh Nguyễn Thế Vinh, Phó Quận Trưởng Tuyên Bình, tỉnh Kiến Tường, hy sinh khi cộng sản tấn công và tràn ngập quận.

Rồi vào đầu tháng 5 năm 1965 tình hình chiến sự bộc phát một cách dữ dội. Quận Đức Phong bị quân CS tấn công và tràn ngập, người bạn đồng môn cùng lên Phước Long với tôi, là Phó Quận Trưởng tại đây theo xe be thoát ra được vòng vây. Mấy ngày sau tỉnh lỵ Phước Long và quận lỵ Phước Bình cũng bị tấn công nhưng tiếp viện của QLVNCH giải tỏa được, quân cộng sản bị thiệt hại nặng và rút lui. Đầu tháng 6 năm 1965, quân cộng sản tấn công quận lỵ Đôn Luân đặt tại Đồng Xoài. Tại chi khu Bố Đức chúng tôi theo dõi trận đánh qua máy truyền tin Motorola, chi khu Đồng Xoài bị tấn công và kêu gọi chi khu Bố Đức bắn yểm trợ, yểm trợ làm sao được trong khi chi khu Bố Đức chỉ có hai khẩu 81 ly bắn xa không quá 4 km, Bố Đức cách Đồng Xoài 40 km. Chúng tôi nhìn nhau không nói lời nào, Thiếu Tá Trần Như Tăng cũng gốc Biệt Động Quân vừa về đảm nhận chức vụ quận trưởng, ông rất bình tỉnh báo cáo tình hình đến tiểu khu, Bố Đức vô sự. Lực lượng bảo vệ chi khu Đồng Xoài có khoảng 400 tay súng gồm địa phương quân và nghĩa quân xóm Đạo Đồng Xoài. Lực lượng địch gồm trung đoàn 2 của công trường 7 CSVN, các đơn vị phụ thuộc và các bộ đội địa phương, quân số ước lượng không dưới 3.000 quân, tức gấp 7, 8 lần quân trú phòng. Giao chiến suốt đêm 10/6/65, quân ta bị tràn ngập và rút lui về căn cứ quân sự kế bên và cố thủ, đến sáng tiểu đoàn 52 BĐQ được trực thăng vận đến tấn công trực diện vào quận Đôn Luân do quân CS chiếm giữ. Cường độ của trận Đồng Xoài được mô tả rằng “Cứ mỗi 10 giây đồng hồ là có một người ngã xuống” (3). Quân CS rút lui về đồn điền Thuận Lợi, Tiểu Đoàn 7 Nhảy dù được trực thăng vận đến trận chiến và giao chiến ác liệt xảy ra tại đây. Nghe nói Phó Quận Trưởng Đồng Xoài ( tôi không nhớ tên) bị CS bắt đi mất tích. Trận Đồng Xoài là một trận đánh lớn sau trận Ấp Bắc vào tháng 1/1963 tại tỉnh Định Tường và trận Bình Giả vào tháng 12/1964 tại tỉnh Phước Tuy. Phước Long có vai trò chiến lược quan trọng và nằm trong tuyến phòng thủ từ xa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa để bảo vệ Sài Gòn và các tỉnh đông dân trù phú của miền Nam. Phước Long cũng là điểm án ngữ, ngăn chặn hành lang vận tải của quân cộng sản qua Lào và Campuchia vào miền Đông, đồng thời giữ vị trí chia cắt các vùng do quân cộng sản tạm chiếm, cô lập vùng Lộc Ninh với Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông khác. Phước Long là một tiểu khu cùng với tiểu khu Bình Dương và Bình Long thuộc Khu 32 Chiến Thuật của QLVNCH, Bộ Chỉ Huy đóng tại Bình Dương. Ngoài ra, quận Bố Đức nằm sát biên giới Việt Miên nên cộng sản thường chuyển quân xuất phát từ Kampuchea theo tỉnh lộ 748 ngang qua Bù Đốp và tỉnh lộ 741 ngang qua Bù Gia Mập vào căn cứ địa của chúng trong tam giác của 3 địa danh: Phước Long, Bình Long và Đồng Xoài. Mặt trận Đồng Xoài kéo dài đến ngày 20/6/1965 thì ổn định.

Vào thời điểm đó, tỉnh lỵ Phước Long, quận Phước Bình, quận Đức Phong, căn cứ Bà Rá, quận Đôn Luân (Đồng Xoài) và căn cứ LLĐB Đồng Xoài đều bị tấn công. Đồng Xoài là mặt trận chính. Quận Bố Đức và căn cứ LLĐB Bù Đốp đặt trong tình trạng báo động 100%. Vào một hôm mấy người lính của Lực Lượng Đặc Biệt từ trại Bù Đốp ghé thăm Quận và cho Chi Khu xem hai khẩu AK47 mới tinh mà họ vừa tịch thu được khi tiêu diệt một toán Việt Cộng. Một trung sĩ già kinh nghiệm nói: “Đây là toán tiền sát của địch, đại quân của chúng chắc chắn ở phía sau”. Người trung sĩ thông dịch viên dịch lại cho hai người lính Mỹ còn rất trẻ nghe nhưng họ có vẻ không tin và lên xe về lại căn cứ. Nửa khuya hôm đó, LLĐB cách quận 4 km bị quân CSBV tấn công. Súng nổ dữ dội suốt đêm, máy bay dội bom và thả hỏa châu sáng cả một vùng biên giới. Tôi và ủy ban hành chánh xã di chuyển ra một khu rừng gần đó. Sáng sớm hôm sau trực thăng đổ quân tiếp viện, căn cứ LLĐB vẫn đứng vững tuy bị đánh chiếm ¾. Một số sĩ quan LLĐB tối hôm qua ghé nhà thăm tôi và uống bia, nay không còn nữa. Lực lượng tiếp viện đổ quân truy kích quân cộng sản. Tôi tháp tùng Thiếu tá Quận Trưởng đến thăm căn cứ Bù Đốp, xác quân cộng sản để hàng dài trên sân bay, nhiều tên ngồi chết dựa vào các gốc cao su xung quanh vung vãi những lọ thuốc rắn của Trung Cộng. Quân cộng sản chưa đánh quận Bố Đức vì chúng bị chận đứng tại trại LLĐB Bù Đốp và bị thiệt hại nặng tại Đồng Xoài theo sự hiểu biết của tôi.

Các trại LLĐB thường án ngữ tại các cứ điểm quan trọng dọc theo biên giới Việt Miên, thám thính biên giới và ngăn chận đường xâm nhập, giao liên và tiếp vận của quân cộng sản, mở các trận tấn công tiêu diệt và phá hoại hậu phương của địch. Trại LLĐB Bù Đốp có khoảng 500 quân đồn trú và được trang bị đầy đủ, trong khi đó, các lực lượng địa phương quân và nghiã quân trang bị khá thô sơ, thời gian tôi phục vụ tại Bố Đức, họ còn được trang bị bằng súng Carbine M1 bằng từng phát một, súng Garant, tiểu liên Thompson, trung liên Bar không tương xứng với lực lượng của CSBV. Một thời gian sau được trang bị Carbine M2 bắn liên thanh như M16. Hơn nữa, khi muốn tấn công một vị trí nào, địch thường tập trung một quân số áp đảo nên các vị trí đó thường bị tràn ngập. Địch tập trung một quân số gấp 7, 8 lần đông hơn quân trú phòng ở Đồng Xoài.

Chỉ còn quận Bố Đức chưa bị tấn công, tất cả công chức, cán bộ được lịnh võ trang, tính ra được một trung đội và tôi là người chịu trách nhiệm điều động trung đội nầy góp phần vào việc phòng thủ quận. Tinh thần nhân viên, cán bộ và binh lính trong chi khu sẵn sàng chiến đấu tuy tình hình căng thẳng. Trong tình trạng đó, tôi được tin trúng tuyển vào Ban Cao Học Hành Chánh và sẽ nhập học vào tháng 9 năm 1965. Tôi trình diện Trung Tá Tỉnh Trưởng Mã Sanh Nhơn, ông nhìn tôi một chút rồi nói: “Tôi để anh đi vì đó là tương lai của anh”. Trung Tá Mã Sanh Nhơn sau đó về làm Tỉnh Trưởng tỉnh Hậu Nghiã, bạn đồng khóa của tôi là anh Phạm Thành Trung làm Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh. Anh Trung vào khoảng năm 1968 (?) hướng dẫn một phái đoàn ty sở trưởng đi quan sát cuộc tấn công của địch tại sân banh Hậu Nghiã thì bị quân cộng sản bắn sẻ chết.

Tôi đón máy bay về Biên Hòa, rồi Sài Gòn để chuẩn bị nhập học. Đi về cũng với chiếc va-li cũ nhưng hành trang nặng thêm với những ký ức của cuộc chiến tranh đang ở vào một giai đoạn khốc liệt nhứt. Tình hình quân sự ở biên giới thì như vậy nhưng chánh trị ở Sài Gòn lại bất ổn, miền Nam chứng kiến cuộc Chỉnh Lý của tướng Nguyễn Khánh, chống Hiến Chương Vũng Tàu, rồi chánh phủ dân sự của cụ Trần văn Hương, bác sĩ Phan Huy Quát, đảo chánh hụt của tướng Dương văn Đức và Lâm văn Phát, đảo chánh hụt của Đại Tá Phạm Ngọc Thảo, biểu tình… Ba tháng sau khi về lại Sài Gòn, tôi được tin quận Bố Đức bị địch tấn công và tràn ngập.

Ghi chú:

(1) Anh Đèo văn Ngày hình như lúc đó là Tham sự Hành Chánh, tôi không có thêm chi tiết nhưng Tập I Biên Khảo của HVQGHC xuất bản năm 2015 ghi ở mục “Tử nạn trong các trại Học tập cải tạo” là anh “Đèo văn Ngày (ĐS17B) chết vì bị cộng sản sát hại bên ngoài trại học tập cải tạo sau 30/4/1975”, có thể anh Đèo văn Ngày trở lại học khóa ĐS17B vì khóa nầy tốt nghiệp vào tháng 12/1972?).

(2) Tập I, Phần Biên Khảo về Học Viện QGHC, xb 2015, trang 149, “Mặc dù trong nền hành chánh có dự trù phương thức ủy quyền, nhưng ủy quyền lại phụ tùy cá tính của mỗi cá nhân hơn là vào các văn bản lập quy. Mãi đến năm 1974, Bộ Nội Vụ mới có văn bản hướng dẫn chánh thức về chức chưởng Phụ Tá Hành Chánh cấp tỉnh”, tuy nhiên tất cả tùy thuộc vào mức độ tin cậy của ông chánh.

(3) Ký giả Everett Runnes của báo Life Magazine ngày 2/7/1965 với tựa đề bài viết về trận Đồng Xoài, tỉnh Phước Long vào tháng 6/1965: “Every ten seconds a man would fall”. Ký giả nầy hy sinh ngày 27/8/1965.
NHỮNG KỶ NIỆM VỀ HÀ VĨNH TƯỜNG
Đặng Xuân Hùng
        Tôi và Tường trở nên thân sau khi cùng chọn nhiệm sở: Tỉnh Phước Long, cùng với Nguyễn Hữu Nhơn và Lê Thanh Quang. Sau khi lên trình diện chúng tôi được cho về ăn Tết và sẽ bắt đầu nhận việc sau Tết âm lịch 1973, bắt đầu cuộc đời công chức tại một tỉnh lẻ. Sau khi sắp xếp công việc, Nhơn: Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Tu Nghiệp, Quang: Trưởng Ty Hành Chánh, Tường: Chủ sự phòng Tài thâu và tôi: Chủ sự phòng Kinh Tế, Ty Kinh Tài (Kinh Tế-Tài Chánh), vì Tỉnh thuộc loại C. Chúng tôi được đưa đến tạm trú tại Lưu trú xá của Trung Tâm Tu Nghiệp, vừa được xây cất xong. Đó là một căn nhà tương đối lớn, có cửa lớn ở hai đầu và một hành lang ở giữa đi vào 4 phòng dọc theo hai bên hành lang. Lưu trú xá này được xây cất để những viên chức xã ấp ở những quận xa xôi về tu nghiệp, có chỗ ngủ qua đêm. Nhưng thực tế nó chưa bao giờ được sử dụng. Lúc đầu tôi và Tường ở chung, Nhơn và Quang mỗi người một phòng, còn một phòng dùng để bàn ping pong. Cuộc sống tỉnh lẻ chẳng có gì giải trí ngoài những nơi như quán cà phê, bàn bi da hoặc ở nhà đọc sách hay đánh bài. Vì chúng tôi có đủ 4 “tay” trong một căn nhà cộng thêm với những bạn bè lui tới thăm nên môn giải trí sau cùng đã trở nên phổ thông nhất, đôi khi đông chúng tôi còn gầy tới 2 “sòng”, một xì phé và một sập xám. Riêng Tường thì nổi bật với tài xì phé, sau mỗi lần tan sòng, Tường thắng 5, 7 ngàn là bình thường. Tuy nhiên chúng tôi có một thỏa thuận người nào thắng nhiều nhất sẽ là “đầu tàu” cho bữa ăn sáng ngày hôm sau nên nếu thắng ít đôi khi còn lỗ.
        Tại Phước Long có cặp vợ chồng Trưởng ty Điện lực với chiếc xe La Dalat màu trắng duy nhất tại tỉnh và họ nổi tiếng tham dự những sòng đánh lớn gồm những bộ mặt cao cấp trong Tỉnh và những thương gia “nặng kí”, họ thường lái xe lòng vòng trong Tỉnh và hầu hết mọi người nhận ra họ, Tường hay nói đùa:
       - Tao sẽ phải “đụng” với hai vợ chồng Trưởng ty Điện lực để nó phải bán nhà máy đèn.
        Thế rồi một ngày Thứ bảy, Tường nghe nói buổi tối sẽ có sòng ở nhà ông Phó Tỉnh và có vợ chồng Trưởng ty Điện lực tham dự. Tường hỏi tôi:
       - Mầy còn bao nhiêu tiền?
        Tôi trả lời:
        - Tao còn 15 ngàn.
        Tường nói:
        - Đưa cho tao, tao còn 25 ngàn, tối nay tao sẽ đụng với tụi nó.
        Chiều tối Tường ra đi, chúng tôi gầy sòng sập xám cò con ở nhà để giải trí cuối tuần. Đến 8 giờ sáng vẫn chưa thấy Tường về. Chúng tôi đoán Tường “chiến thắng”nên mới ở lâu như vậy?. Khoảng 9:00 thấy Tường lững thững đi bộ về  miệng tủm tỉm cười, tôi hỏi:
        - Sao? Tối hôm qua thế nào?
        Tường trả lời:
        - Tao nợ bà Phó thêm 120 ngàn nữa.  
        Sau đó chúng tôi đi ăn sáng và ngồi nghe Tường thuật lại cuộc “đọ sức” đêm qua. Khoảng một tuần sau Tường về Saigon, khi trở lại Tỉnh, Tường nói với tôi:
        - Tao phải nói bà xã đi bán cái nhẫn hột xoàn để lấy tiền trả nợ bà Phó.         
        Trong thời gian làm chủ sự Kinh tế, khi nào anh Trưởng ty Kinh Tài về Saigon thì tôi đảm trách việc Xử Lý Thường Vụ, nhưng đôi khi cả anh Trưởng ty và tôi cùng về Saigon để lo công việc cho Tỉnh thì Tường đảm trách việc xử lý nầy.    
        Một hôm tôi mới vào văn phòng thì ông Phó Tỉnh gọi tôi lên văn phòng để gặp, khi tôi vào, ông đưa cho tôi một tờ giấy và hỏi:
        - Anh làm sao mà tụi thương gia “tố” anh đòi tiền mỗi khi cấp giấy phép kinh tế?
        Tôi bối rối vì đây là lần đầu tiên phải đối đầu với “trouble” trong cuộc đời công chức. Nhìn lướt qua tôi đọc được tên 7 thương gia vẫn thường xin cấp giấy phép chuyên chở hàng hóa. Tôi cho ông Phó Tỉnh biết những lời tố cáo trong đơn là hoàn toàn sai sự thật. Sau đó ông Phó Tỉnh nói tôi về văn phòng làm việc và ông sẽ cho điều tra về vấn đề nầy. Khoảng vài tiếng sau ông gọi tôi lên văn phòng trở lại và cho biết lý do sở dĩ có đơn tố cáo nầy là vì đây là sự trả thù nhưng “lầm người”. Ông giải thích thời gian hai tuần trước đó, tôi và anh Trưởng ty đi công tác ở Saigon, Tường xử lý thường vụ Trưởng ty, nhưng Tường lại vào phòng làm việc của tôi ngồi. Khi ký lộ trình thư cho ông Tỉnh Đoàn Trưởng Cán Bộ XDNT do một cán bộ để trên bàn, vì mới làm việc chưa biết hết những cấp chỉ huy tại Tỉnh nên Tường hỏi:
        - Ông LTB là ông nào?
        Anh cán bộ nghe vậy chạy về văn phòng nói với ông Tỉnh Đoàn Trưởng CB/XDNT:
        - Ông ấy kêu ông lên trình diện.
        Ông Tỉnh Đoàn Trưởng chạy qua tự giới thiệu và trách về việc bắt ông trình diện mới ký Lộ Trình Thư, và ý định trả thù bắt nguồn từ đó, nhưng Tường lại ngồi làm việc tại bàn của tôi nên tôi trở thành nạn nhân của việc trả thù.
        Sau vài tháng bà xã tôi xin chuyển lên Phước Long dạy học. Tường dọn qua phòng khác ở một mình, nhưng ăn cơm chung với vợ chồng chúng tôi. Vài tuần sau Tường nhờ tôi về Saigon đón bà xã lên bằng trực thăng của Air America, một hãng máy bay của cơ quan viện trợ Mỹ, vì tôi làm kinh tế và thường xuyên đi công tác Saigon. Bà xã của Tường là VTT mà một số bạn K17 có lẽ cũng biết. Thật sự hai người quen nhau nhưng gia đình Tường hoàn toàn không biết gì về sự liên hệ đó. Sau khi xuống trực thăng, nhìn qua một bãi đất trống tôi chỉ cho chị  Thủy và nói:
        - Đó là một căn nhà tụi tui ở, chị nhìn nó giống nhà bảo sanh không? Chị vô tư trả lời:
        - Ừ, nó giống nhà bảo sanh nên vào nhà nầy chắc sẽ có con.
        Đó là một câu nói đùa, nhưng đã trở thành sự thật: đó là cháu Hà Vĩnh Thuận, con trai duy nhất của Tường. Bà xã Tường đã có cháu Thuận từ căn nhà đó.
        Vài tháng sau tôi sang lại một căn cư xá công chức. Trên nguyên tắc Tòa HC Tỉnh làm giấy cấp quyền sử dụng nhưng thực sự mình phải thương lượng với chủ nhà cũ và trả họ một số tiền. Chúng tôi dọn về căn cư xá, khoảng một tháng sau, Tường được đưa đi giữ chức Phó Quận Bố Đức, một quận lưu vong được thành lập trên phần đất của Xã Phước Tín, Quận Phước Bình, vì Quận Bố Đức cũ đã bị VC chiếm đóng từ “Mùa hè đỏ lửa 1972”. Ông Quận Trưởng Bố Đức làm chủ căn cư xá bên cạnh tôi nên đã để Tường xử dụng căn cư xá. Thế là chúng tôi lại sống bên cạnh nhau. Đầu năm 1974, tôi được cử đi làm Phó quận Phước Bình, quận Châu thành của tỉnh Phước Long, nhưng văn phòng Quận cách tỉnh lỵ khoảng 3 km, và chỉ cách văn phòng của Tường 2km, Hằng ngày chúng tôi vẫn ăn sáng với nhau và sau đó ra văn phòng vì cùng chung một đường.
         Khoảng giữa năm 1974, Tường được cử đi làm Phó quận Đôn Luân tức Đồng Xoài. Cái tên được nhiều người biết đến. Tường đưa bà xã về Saigon vì cũng sắp đến ngày sanh, Tường ở trong Chi khu cùng với Quận Trưởng, chúng tôi ít gặp nhau hơn. Thỉnh thoảng Tường về Tỉnh họp cùng với Quận Trưởng hoặc đôi khi lấy lý do về Tỉnh công tác để đi trực thăng về Tỉnh chơi vài ngày vì trực thăng là phương tiện di chuyển độc nhất từ tỉnh xuống quận. Có lần tôi về Saigon khi trở lại tỉnh bạn bè cho biết Tường về tỉnh chơi nhưng khi biết tôi đi Saigon, Tường lại xách túi ra sân bay trực thăng kiếm máy bay đi về lại Đồng Xoài, mặc dầu ở tỉnh cũng có cả chục anh em QGHC.
        Khi bà xã tôi gần sanh cháu thứ nhì, mỗi tuần về Tỉnh chơi Tường hay hỏi tôi có cần tiền không? Nhưng tôi luôn trả lời “không” vì tôi biết Tường cũng cần tiền để lo cho cháu Thuận mới sinh. Sau vài tháng, Tường đưa vợ con lên ở trong Chi khu Đồng Xoài cho đến khi bắt đầu trận chiến xảy ra vào ngày 13-12-1974, quận Đức Phong của Phước Long (giáp tỉnh Quảng Đức) đã bị mất sau một đêm bị VC tấn công, sau đó VC tiến đánh Chi khu Bố Đức, bao vây Quận Đồng Xoài và pháo kích vào Tỉnh lỵ. Air Việt Nam ngưng các chuyến bay đến Phước Long từ ngày 13-12-1974. Sáng hôm đó tôi cố gắng ra văn phòng với mục đích dùng máy của Ban Viễn Thông để nói Tường kiếm máy bay trực thăng bay về Tỉnh, nhưng sau khi liên lạc được, ông Trưởng ban viễn thông của tôi cho biết: Ông Phó Tường mới lái xe ra ngoài Chi khu. Sau đó vài ngày tôi lại ra văn phòng và cố gắng liên lạc với Tường một lần nữa nhưng cũng không gặp. Những ngày sau đó tôi không ra văn phòng nữa vì tình trạng pháo kích nặng nề hơn. Tình hình trong tỉnh ngày càng rối loạn, cho tới ngày 23-12-1974, tôi đã trốn khỏi tỉnh bằng máy bay thám thính L.20 của Không quân công tác ở tỉnh và bị Tỉnh Trưởng báo cáo “đào nhiệm” về BNV. Nhóm chúng tôi gồm 4 người: một anh ĐS14, hai anh TS5 và tôi bị ông Tổng Trưởng bộ NV nhờ BTL/CSQG làm thủ tục truy tố về tội “đào nhiệm” với mục đích làm gương cho những tỉnh khác, nhưng tình hình thay đổi quá nhanh sau khi các tỉnh vùng 1, 2 bỏ chạy, các anh em HC chạy về trình diện BNV rất đông, nên việc truy tố chúng tôi được giao lại cho một Uỷ ban có tên “Hội Đồng Quản Trị Viên Chức BNV” đứng đầu là ông TTK xét xử. Cuối cùng chúng tôi được “tha” và đưa lên trông coi Trại Tiếp cư dân Phước Long tại Bình Dương. Tại đây tôi đã đi tìm những người trong Chi khu Đồng Xoài để hỏi tin tức của Tường. Cuối cùng tôi gặp được một sĩ quan cho biết chính mắt anh nhìn thấy khi Tường vừa lái xe ra tới cổng Chi Khu thì một quả đạn pháo kích rơi trúng xe và xác Tường bị tan nát văng tứ tung.
         Quyết định ở lại Đồng Xoài của Tường có lẽ do hai nguyên nhân: thứ nhất muốn chứng tỏ bản lãnh của một cấp chỉ huy và thứ hai là hy vọng những cấp chỉ huy cao cấp sẽ phải tiếp cứu ban tham mưu của Quận vào giờ phút chót, nhưng thực tế không như vậy, tất cả hầu hết những cấp chỉ huy cao cấp của Tỉnh Phước Long từ Tỉnh Trưởng bị chết hoặc bị bắt. Riêng hai người bạn đồng khóa Lê Thanh Quang và Nguyễn Hữu Nhơn bị bắt. Sau ngày 30-4-75 Quang được tha về nhưng đi bộ đến Đồng Xoài thì bị sốt cấp tính và từ trần tại đây. Dân địa phương đã chôn cất và giữ lại kỷ vật của Quang rồi liên lạc trao lại cho vợ Quang khi lên bốc mộ. Nguyễn Hữu Nhơn được tha về, sống ở Saigon một thời gian rồi chết.
        Sau 35 năm tôi mới có dịp viết lại những kỷ niệm của một tình bạn trong một giai đoạn ngắn ngủi của cuộc đời công chức, để chia sẻ với các bạn những gì đã xảy đến cho một người bạn của chúng ta ở một tỉnh lẻ xa xôi. Và cũng như thắp lên một nén hương để tưởng nhớ những người bạn đồng khóa, vì tinh thần trách nhiệm, tự trọng đã hy sinh những gì quý giá nhất đời mình cho Tổ quốc và cũng đã bảo vệ danh dự ngôi trường đào tạo chúng ta và tập thể đã kế thừa từ ngôi trường đó.
         Mùa Thu 2008