Tuesday, February 26, 2019

PHÍA SAU MẶT TRẬN

25 Tháng Ba 201812:47 SA(Xem: 4315)
                

chien-tranh-viet-nam-photo George McArthur
Chiến tranh Việt nam - photo George McArthur

Đây là lần thứ 27, gia đình tôi mừng Lễ Tạ Ơn tại Hoa-Kỳ. Tiết trời đã ở cuối thu. Những cây sồi dọc hai bên đường, tàn lá phủ màu đỏ, màu vàng, dưới bầu trời xanh lơ tạo nên bức tranh tuyệt vời. Tạo-Hóa quả là một danh họa đại tài! Công sở nghỉ, hãng xưởng nghỉ, trường học cũng đóng cửa nên các con, các cháu có dịp họp mặt đông đủ trong phòng khách của căn nhà nhỏ . Đại gia đình chúng tôi ba thế hệ, hòa mình vào không khí vui vẻ, đầm ấm, trong khi bên ngoài, ngọn gió heo may se lạnh thổi về, đong đưa cành lá .
            Hàng năm, cứ đến dịp Lễ Tạ Ơn, báo chí đăng nhiều bài viết, các cơ quan truyền thanh, truyền hình dành nhiều thời lượng để nói về ý nghĩa, nguồn gốc của lễ hội này. Đây cũng là thời điểm  của “ mùa mua sắm” nên các cơ sở thương mại đưa ra nhiều quảng cáo hấp dẫn để thu hút khách hàng.  Nhớ lại, đầu mùa Xuân năm 1990, sau mười lăm năm sống trong tủi nhục, đọa đầy, phân biệt đối xử; gia đình bẩy người, vợ chồng tôi và năm đứa con, như có phép lạ, được đến định cư tỵ nạn tại thành phố lớn hàng thứ tư của Liên Bang Mỹ, có tên gọi thân thương“thành phố nắng ấm tình nồng” và tám tháng sau, đón mừng Lễ Tạ Ơn lần đầu tiên .
        Rời quê hương yêu dấu, mang tâm trạng của người bị lưu đày biệt xứ, không hy vọng có ngày trở về, đến sinh sống trên một đất nước hoàn toàn xa lạ, từ tiếng nói, con người, phong tục tập quán v .v.Làm sao  tránh được những hoang mang, lo lắng, ưu tư. Chúng tôi đã bỏ lại tất cả ngoại trừ nghị lực và quyết tâm. Có thể nói gia đình tôi đã khởi đi từ dưới số không. Con đường trước mặt có biết bao chông gai, vất vả. Với tuổi đời đã ngoài năm mươi, lại gánh chịu thương tật trong thời gian bị giam cầm ở miền Bắc Việt Nam; nhưng vì trách nhiệm dẫn dắt một gia đình lớn, giống như “ thuyền trưởng trong chuyến hải hành” nên dù cho khó khăn đến đâu, vất vả thế nào và  không có chọn lựa nào khác, chúng tôi phải quyết tâm vượt qua, hướng về phía trước để có thể đứng vững trên đôi chân của mình nơi xứ người …
      Thoắt đã trên một phần tư thế kỷ! Hơn hai mươi bảy năm trong dòng sinh hoạt của xã hội mới, phải “vật lộn” với công việc  để kiếm “đô la”. Cũng vì ý nghĩa này mà mấy ông nhà văn, nhà báo, một chút ái ngại và châm biếm, phong cho những người mhư chúng tôi danh hiệu “đô vật”. Đành rằng đó là sự thực nhưng nghe sao  xót xa quá chừng! …Ôi biết bao kỷ niệm!  Khi vui, lúc buồn.  Đã  bao lần hồi hộp lo sợ, căng thẳng khi đối diện với nhiều vụ tấn công của những tên “côn đồ xấu xí có vũ trang”.   Cũng có lúc cảm thấy sung sướng và thầm tạ ơn Trời, tạ ơn Người đã cho gia đình tôi có cơ hội được …”sống”, như  khi tham dự  lễ tốt nghiệp ở các trường trung học, đại học và những dịp tổ chức  lễ  thành hôn cho các con …
Người ta thường nói người già hay tìm về dĩ vãng và thích sống trong kỷ niệm.  Có những kỷ niệm mờ nhạt dần theo thời gian, nhưng cũng có những kỷ niệm là dấu ấn hằn sâu, tồn tại, đồng hành tới cuối đời. Trong căn phòng nhỏ tràn đầy không khí vui tươi đầm ấm và an bình của ngày lễ hội, tôi lâng lâng, mơ màng nhớ về những kỷ niệm xa xưa. Cũng vào dịp cuối thu, hơn năm mươi năm về trước, đúng vào hạ tuần tháng mười một 1965, tính ra tôi mới về phục vụ tại Đại đội Quân Nhu thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh được hơn hai tháng, sau khi tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ-Đức. Đơn vị của tôi nằm trong  vòng đai căn cứ Phú Lợi, nơi đặt bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, 5km phía đông tỉnh lỵ Bình-Dương.Thời điểm này người dân Mỹ đang nô nức hân hoan mừng Lễ Tạ Ơn.  Thực sự lúc ấy tôi không có một ấn tượng nào về lễ hội này.  Hơn nữa, đất nước nhỏ bé của tôi, nhỏ bé nhưng khổ nạn triền miên nên người dân làm gì có thì giờ nghĩ đến những lễ hội đặc biệt ở một xứ sở quá xa như Hoa-Kỳ.  Ngoài việc lao động cực khổ để mưu sinh, người dân nước tôi còn phải đối diện với thảm họa chiến tranh mỗi ngày thêm ác liệt trên khắp chiến trường miền Nam.  Đặc biệt năm 1965, tình hình chính trị cũng như quân sự tại miền Nam rất xáo trộn và đi vào ngã rẽ bất lợi. Từ việc  chính phủ dân sự giao quyền điều hành đất nước cho quân đội đến những trận giao tranh, đụng độ lớn ngoài chiến trường khiến người dân lo lắng hơn và càng thấy  bất an trong cuộc sống.  Cũng từ năm 1965, nếu không có sự can thiệp trực tiếp của binh đội tác chiến Mỹ, không biết số phận Miền Nam Việt-Nam đã đi về đâu ?...
 Sáng hôm ấy, buổi họp tham mưu trên Sư-Đoàn kết thúc sớm hơn thường lệ.  Ông đại đội trưởng, Đại Úy Hà, về tập họp đơn vị, thông báo lệnh của Sư-Đoàn chỉ thị Đại Đội Quân Nhu của chúng tôi phải đưa ngay Trung Đội Chung Sự và tất cả túi đựng xác hiện có lên vùng hành quân gấp; đồng thời phải cử sĩ quan thường trực tại đó để chỉ huy và liên lạc. Lúc bấy giờ, Đại Đội Quân Nhu Sư-Đoàn, theo bảng cấp số có 3 sĩ quan: Đại Đội Trưởng (cấp số Đại Úy), Đại Đội Phó (cấp số Trung Úy) và Sĩ Quan Tiếp Liệu kiêm Thanh Tra (cấp số Trung Úy). Trung Đội Trưởng là các Hạ sĩ Quan.  Có lẽ vì hiểu được công tác lần này rất quan trọng, hơn nữa ông Tư Lệnh Sư-Đoàn và một số trưởng phòng đang có mặt tại vùng hành quân, nên Đại Úy Hà yêu cầu Chuẩn Úy Lành, khóa 17 Sĩ Quan Trừ Bị, về đơn vị trước tôi một năm, hiện là Đại Đội Phó và tôi, cũng Chuẩn Úy, Sĩ Quan Tiếp Liệu kiêm Thanh Tra, mới về đơn vị đươc hơn hai tháng,  cùng theo ông lên vùng xảy ra chiến sự.
 Sau một tiếng đồng hồ chuẩn bị, chúng tôi có mặt tại sân bay dã chiến Phú-Lợi .  Không biết sân bay thiết lập từ bao giờ, rất đơn sơ.  Cả ngàn tấm vỉ sắt ráp lại thành một phi đạo theo hướng bắc nam, dài khoảng hơn một ki-lô-mét, nằm phía trong vòng đai phòng thủ ngoài  cùng của căn cứ.  Căn nhà tiền chế dùng làm “phòng đợi”, bên hông phi đạo, có chừng mươi  hành khách, quân nhân có, dân sự có; không nghe tiếng nói cười ồn ào, ai nấy nét mặt đăm chiêu, lo lắng. Ông Đại Đội Trưởng bận liên lạc với Sư Đoàn trong khi Chuẩn Úy Lành, tôi, và trung đội Chung Sự của Thượng Sĩ Quang, có tăng cường thêm một số quân nhân của trung đội khác, tất cả trên ba chục người tập trung bên ngoài căn nhà tiền chế cùng quân trang dụng và hai trăm túi đựng xác.
  Đã hơn chín giờ sáng, bầu trời như có mây có khói quyện trong ánh nắng cuối thu . Trên những vùng cỏ xanh dọc theo phi đạo, vẫn còn lấp lánh những hạt sương . Bất ngờ,  từ hướng bắc xa xa, âm thanh quen thuộc của cánh quạt trực thăng vọng về, mỗi lúc một lớn dần. Vài quân xa loại nhỏ đang tiến vào sân bay. Lại thêm một chiếc xe jeep hồng thập tự của Đại Đội Quân Y hối hả theo sau . Mọi người hướng lên bầu trời. Một chiếc trực thăng lao tới, đảo một vòng cung nhỏ, hạ thấp cao độ rồi từ từ đậu kế bên phi đạo, trên nền xi măng rộng có chữ H thật lớn sơn màu trắng, phía trước chúng tôi.  Cánh quạt trực thăng chưa ngừng hẳn, xe jeep hồng thập tự tiến lại, quay đuôi xe đến gần cửa phi cơ.  Rất nhanh nhẹn và nhịp nhàng, hai quân nhân của Đại Đội Quân Y mang chiếc “băng ca” đến nhận thương binh.  Có nhiều người lại gần phi cơ.  Người thương binh không kêu la rên rỉ, mặt xạm đen, nằm bất động như đang ngủ say. Có vết máu thấm qua nhiều lớp vải băng quấn quanh đầu. Bộ quân phục tác chiến trên người chưa bị nhàu nát, với hai bông mai bạc(Trung Tá) vẫn còn gắn trên cổ áo; một bàn chân mang vớ (tất) màu trắng, bàn chân kia đã xỏ trong giầy da cao cổ nhưng chưa cột dây. Có những tiếng khóc, nức nở nghẹn ngào …Không ai ngờ rằng người thương binh nằm trên “ băng ca” ấy là vị Trung Tá Trung Đoàn Trưởng, đã tử thương vì trúng mảnh đạn pháo của địch, được đưa gấp từ mặt trận về…..Xe hồng thập tự và đoàn xe chở thân nhân người  “vừa nằm xuống” vội vã rời sân bay. Chứng kiến trực thăng đưa về một vị chỉ huy chiến trường bị tử thương, trong tư thế chưa sẵn sàng chiến đấu và nhìn những túi đựng xác lạnh lùng vô cảm nằm trên bãi cỏ, tôi thấy bùi ngùi xót xa .  Một chút bâng khuâng, tôi nghĩ về trận chiến đang xẩy ra trên vùng hành quân . . .
Hơn mười giờ sáng, phi cơ vận tải quân sự loại nhẹ đổ chúng tôi xuống sân bay đồn điền cao su Michelin, khoảng hai cây số bắc thị trấn Dầu-Tiếng, quận lỵ của quận Trị-Tâm, cách tỉnh lỵ Bình-Dương trên năm mươi cây số. Đại Úy Tấn, Trưởng phòng Tư Sư-Đoàn, chờ đợi tại sân bay và chỉ định nơi tạm trú cho đơn vị tôi tại Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư-Đoàn, nằm sát thị trấn.  Ông cũng nhắc lại lệnh của cấp trên là đơn vị chúng tôi phải vào ngay vùng mới xảy ra trận đánh đêm qua, để thu lượm thi hài các quân nhân tử trận.  Ông cho biết thêm chiến sự lắng dịu, địch đã rút lui từ tờ mờ sáng. Hiện có lực lượng Biệt Động Quân đang lo việc an ninh xung quanh, họ sẽ ra khỏi vùng lúc 5 giờ chiều. Sau đó, ông giới thiệu Trung Úy Hậu thuộc Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Trung Đoàn 7, người sẽ liên lạc với chúng tôi trong thời gian công tác .
Sân bay của đồn điền giờ này rất đông quân nhân. Có những nhóm nhỏ năm ba người dân thường tụ tập, bàn tán. Họ là gia đình của những quân nhân tham dự trận đánh đêm qua, lặn lội từ xa, đến đây trông ngóng tin tức người thân . Những tiếng rít xé rách không gian của oanh tạc cơ truy quét địch quân, những tiếng ì ầm của bom đạn còn vang vọng lại. Ông Đại Tá Tư-Lệnh Sư-Đoàn mang kính đen, ngồi bất động trên xe jeep, hướng ra phi đạo. Trong khi chờ trực thăng đưa vào địa điểm công tác, Trung Úy Hậu tâm sự: Đúng một tuần lễ trước đây, Trung-Đoàn 7 đã lập công lớn, đánh tan một trung đoàn địch và đêm qua tổ chức lễ khao quân. Nào ngờ địch tái phối trí, bất thần tấn công phục thù vào lúc mọi người đang  “say sưa” trong chiến thắng. Địch khởi sự tiến đánh lúc hai giờ sáng. Vẫn chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Mở màn là những trận mưa pháo. Không biết địch có cài tiền sát viên nội tuyến hay chăng, mà phần lớn đạn pháo của địch rơi rất gần Bộ Chỉ Huy và các đơn vị bảo vệ xung quanh . Sau đó  địch tấn công phá vỡ tuyến phòng thủ phía đông và bắc, tạo thành hai mũi nhọn, tiến thẳng vào. Trung Úy Hậu ngừng kể vì lúc ấy có đoàn trực thăng xuất hiện trên bầu trời và ít phút sau, Đại Úy Tấn phòng tư, Đại Úy Hà, Trung Úy Hậu và chúng tôi đã nhanh chóng ngồi trên bốn chiếc trực thăng đưa  đến địa điểm công tác, nơi mà đêm qua đã tổ chức tiệc khao quân mừng chiến thắng. Từ trực thăng nhìn xuống, rừng cao su bạt ngàn phía dưới, chia thành những lô tựa như ô vuông của một bàn cờ. Có những làn mây trắng mỏng lướt trên ngọn cây.  Khu vực này nằm trong tầm súng cối từ Dầu Tiếng, có tên gọi khá đặc biệt “làng 13 Bis”,nơi sinh sống của những người phu cạo mủ của đồn điền. Họ nằm trong số hàng chục ngàn người được thuê mướn từ miền Bắc, miền Trung, dưới thời Pháp thuộc, từ nửa đầu thế kỷ hai mươi, đưa vào phục vụ cho các đồn điền cao su ở miền Nam Việt Nam với tên gọi “dân mộ phu Nam Kỳ”. Cái tên gọi làng 13bis, dĩ nhiên với những ai tham dự trận đánh năm nào, nếu còn sống sót, chắc không thể quên. Riêng tôi, mấy chục năm sau, dù cuộc chiến đã đi vào dĩ vãng, vẫn chưa tìm hiểu tại sao lại có tên làng 13Bis? Tôi cũng chưa có dịp đặt chân đến làng 13Bis lần thứ hai. Không biết địa danh này và con số 13 có liên hệ gì đến số phận của những người đã nằm xuống ?
 Trực thăng hạ cánh trên con đường đất phân ranh lô cao su, thả chúng tôi xuống rồi bay đi.  Đã có gần chục chiếc xe vận tải dân sự mui trần, được trưng dụng, đậu trên đường để chở thi hài ra sân bay. Hai bên thành xe và hai bên cánh cửa phòng lái tài xế, có sơn tên công ty cao su.  Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đặt trong căn nhà gạch lớn, nằm giữa bãi cỏ rộng, sát đường đất phân lô; xung quanh có pháo đài và ụ chắn bằng bao đựng cát. Hai bên và phía sau tòa nhà là rừng cao su thẳng hàng cao vút. Đó đây, thấp thoáng trong rừng cao su, vẫn còn những cụm khói vươn lên, nhưng không qua khỏi tàn cây.
Chúng tôi chia thành 5 toán,  từ trung tâm là chỗ đậu xe vận tải, đi dần ra vòng đai bên ngoài. Trong tầm nhìn một vòng tròn bán kính khoảng hơn trăm mét, quanh nơi đặt Bộ Chỉ Huy, hàng trăm xác nằm la liệt dọc theo đường mương hai bên con đường đất, dưới gốc cao su, trên miệng hố cá nhân, trong đám cỏ xanh.  Rải rác quanh đây có những xác địch chưa kịp mang đi. Dù đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, cảnh tượng ấy vẫn còn nguyên trong trí nhớ. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc thu lượm. Có xác nằm sấp, úp mặt xuống đất, một tay bám vào chiếc nón sắt dùng làm nồi đựng gạo, chưa kịp nấu thành cơm.  Có xác nằm ngửa,  tay chân dang rộng, đôi mắt còn hé mở, như muốn nhìn thêm lần nữa cảnh vật trên trần thế. Có những xác nằm đè lên nhau giống hình chữ thập. Cũng có xác phần thân thể phía dưới còn trong hố cá nhân, đầu, mình và hai tay trên mặt đất, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn . Có xác gục đầu, bó gối, chết trong hố cá nhân, phải khó khăn  mới đưa lên được. Lại có xác ngồi  tựa lưng vào gốc cây, đầu ngả sang một bên, như đang ngủ gục. Xúc động hơn nữa là khi lượm những xác không còn nguyên vẹn. Nhưng rất may, chúng tôi gom lại được những phần thiếu sót như cánh tay hoặc những ống chân  v.v vướng trên các cành cây cao su hoặc trong đám cỏ gần đó. Không biết có văn bản nào quy định tư thế một người khi lìa trần?  Nằm sấp, nằm ngửa, nằm nghiêng..? Lại còn y phục nữa? Quần áo che thân đầy đủ hay…giống như một số xác địch để lại chiến trường, chỉ một chiếc áo bà ba đen ngắn tay và một chiếc quần đùi màu đen khi ra mặt  trận, để đổi lấy danh xưng anh hùng “sinh bắc tử nam” hoặc âm thầm làm phân bón những gốc cao su!  Bên cạnh những xác người, trận địa còn vương vãi lăn lóc những chiếc nón sắt, những đôi giầy trận, những chiếc gà men đựng cơm v.v. Đặc biệt có vài ba đôi giầy phụ nữ gót cao và  những chiếc ví da xách tay loang vết máu … . Năm ấy tôi đã 26 tuổi; không phải lần đầu trong đời nhìn thấy xác chết. Tôi vẫn nhớ nạn đói xảy ra ở miền Bắc Việt Nam năm 1945 mà người ta gọi là nạn đói tháng Ba năm Ất Dậu, cướp đi cả triệu mạng sống.  Tôi đã thấy người chết được rắc vôi, phủ bằng tấm chiếu hoặc tấm vỉ đan bằng cói trên những xe bò, do người kéo đi chôn.  Đến cuối thập niên 1940, vì tò mò theo người lớn đi xem đội “Việt Hùng” của Việt Minh xử những người mà họ gọi là “Cường Hào Ác Bá”, tôi đã thấy những xác người bị cắt ngang cuống họng, có xác bị móc hai mắt, nằm phơi mình trên bờ ruộng, bờ ao.  Thuở ấy, tuy là một đứa bé, chưa biết biểu lộ xúc cảm trước cảnh thương tâm, nhưng hình ảnh các tử thi đã in vào trí não. Gần hơn nữa, chỉ ít tháng trước ngày mãn khóa, khi còn là Sinh Viên Sĩ Quan, chương trình huấn luyện có những buổi đến thăm viếng và thưc tập ở đơn vị Chung Sự, nằm trong Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp  (Lúc đó chưa có Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa). Thực tình cờ, tháng 6-1965 chúng tôi theo lịch huấn luyện, đến thăm nghĩa trang đúng vào thời điểm xảy ra trận chiến Đồng-Xoài, cách Saigon khoảng tám mươi cây số về hướng đông bắc, thuộc tỉnh Phước-Long.  Phòng lạnh để ướp xác đầy ắp, không còn chỗ trống.  Thi hài quân nhân tử trận mang về, chờ tẩm liệm, phải để tạm trong nhà quàn, phòng tang lễ, ngoài hành lang v.v. Trở lại quân trường, trong phòng ăn của sinh viên; bữa cơm trưa hôm ấy, nằm giữa những cọng giá xào, nổi bật màu nâu tím và bóng láng của những miếng gan heo, tôi liên tưởng đến màu da của các thi hài trong phòng lạnh ướp xác ở nghĩa trang nên không thể thản nhiên nuốt trôi hạt cơm …
Tốc độ thu lượm khá nhanh và gọn vì các thi hài  nằm xung quanh  Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn rất gần nơi đoàn xe đang đậu. Hơn nữa tử thi còn mềm nên khi để vào túi đựng xác, có thể đặt nằm ngay ngắn, kéo “phẹc mơ tuya”, di chuyển và để lên xe vận tải dễ dàng.  Đại Úy Tấn phòng Tư và Đại Úy Hà cũng phụ đưa túi xác đến gần xe. Nhưng chưa lượm hết tử thi quanh Bộ Chỉ Huy và đơn vị phòng thủ phía trong, số túi xác mang theo chỉ còn một nửa .  Đã hai giờ trưa . Đại Úy Tấn và đại Úy Hà được một trực thăng  đón ra Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Trung Úy Hậu Trung đoàn 7 ở lại làm việc cùng chúng tôi.  Trước khi đi, hai ông yêu cầu công tác thu lượm tiến hành nhanh hơn và tập trung lên xe vận tải, di chuyển ra sân bay trước 5 giờ.  Đại Úý Tấn còn cho biết sẽ xin Quân Nhu bổ sung túi đựng xác. Bổ sung túi đựng xác !! Câu nói này tôi nghe chưa quen ! Quân Nhu không là đơn vị trực tiếp chiến đấu ngoài chiến trường . Quân Nhu lo cho quân nhân từ ngày đầu tiên nhập ngũ . Thực phẩm, quần áo, mùng mền v.v. là những nhu cầu trước tiên. Phải ăn no mặc ấm mới có sức đánh giặc. Khi hy sinh đền nợ nước, Quân nhu sẽ lo nơi yên nghỉ cuối cùng, mồ yên mả đẹp. Thông thường, các đơn vị chỉ xin tiếp liệu phẩm ngành Quân Nhu như gạo, lương khô, quân trang, xăng dầu v.v. Thực hiếm khi nghe có binh đoàn  xin bổ sung túi đựng xác,  món hàng có chỉ danh “ đẹp” nhưng chẳng ai thích nhắc đến và dĩ nhiên không ai muốn sử dụng nó ...
Chúng tôi mỗi lúc một đi xa đoàn xe vận tải. Hình như khiêng một người còn sống nhẹ hơn khiêng một xác chết bất động nên công việc thu lượm có chậm hơn trước.  Ra tới vòng đai phòng thủ thứ nhứt, túi đựng xác đã hết. Công việc  tạm ngừng và tất cả thi hài đã chất lên xe. Kiểm điểm lại quân số xong, chúng tôi nhanh chóng phân chia đứng trên các xe vận tải rời khỏi khu vực này. Trời cuối thu, ngày ngắn dần. Những đám mây xám đục di chuyển chậm chạp trên bầu trời. Cảnh vật đang chìm dần vào hoàng hôn. Khi đoàn xe về đến sân bay, hai phi cơ vận tải quân sự đã chờ sẵn. Chia thành hai toán, chúng tôi lại khiêng túi xác từ xe tải chất vào trong phi cơ, xếp ngay hàng thẳng lối xong, trời đã tối . Hai phi cơ rời Dầu Tiếng, bay về phi trường quân sự Tân Sơn Nhất .  Đại Úy Hà đã theo trực thăng về đơn vị từ chiều, giao lại chúng tôi dưới sự điều động trực tiếp của Đại Úy Tấn phòng Tư. Thị trấn Dầu-Tiếng xa xôi hẻo lánh, mới 8 giờ tối mà như khuya lắm.  Mọi người mệt mỏi chìm vào giấc ngủ sau khi dùng một trong hai khẩu phần lương khô mang theo.
  Sáng hôm sau, chúng tôi ra sân bay nhận thêm một trăm túi đựng xác. Đồng thời nhận thêm một trăm poncho(áo mưa), từ Đại Đội gửi lên để phòng hờ khi cần. Hôm nay chỉ có Trung Úy Hậu thuộc Trung Đoàn 7 đi cùng chúng tôi. Trước khi khởi hành, Đại Úy Tấn Phòng Tư Sư Đoàn yêu cầu việc thu lượm phải hoàn tất trong ngày hôm nay. Đoàn trực thăng đưa chúng tôi vào vùng sớm hơn hôm qua trong khi những  xe vận tải đã vào làng 13bis từ mờ sáng .
Hôm nay việc thu lượm khó khăn hơn vì tầm hoạt động rộng và đoạn đường đem thi hài ra xe vận  tải xa hơn. Chúng tôi vẫn chia thành toán, từ trung tâm, tiến dần ra tuyến phòng thủ thứ hai. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp xác địch quân giữa đám cỏ dại. Lực lượng Biệt Động Quân còn hoạt động ngoài xa và trên bầu trời, một chiếc máy bay quan sát  chao lượn. Đã hơn hai giờ trưa. Gần sáu tiếng đồng hồ liên tục, như một cái máy, nào lượm xác cho vào túi, nào gói xác trong áo mưa, rồi khiêng xác di chuyển trên mặt đất không bằng phẳng và chất lên xe vận tải. Túi đựng xác và áo mưa cũng săp hết. Phòng Tư Sư Đoàn nhận được báo cáo, chỉ thị chúng tôi tiếp tục, dù không còn túi đựng, và phải đưa thi hài về càng nhiều càng tốt. Cho dù thực sự thấm mệt, nhưng đây là nhiệm vụ, chúng tôi phải hoàn thành một cách tốt đẹp nhất.Trong đầu óc chúng tôi giờ này chỉ nghĩ đến lượm xác và lượm xác . Chúng tôi không còn biểu lộ cảm xúc trước những người vừa nằm xuống. Mắt chúng tôi mờ đi không phải do những giọt lệ thương cảm mà do những giọt mồ hôi. Cứ đưa thi hài ra xe vận tải, mất cánh tay, mất bàn chân, mất ….dù không nguyên vẹn, vẫn phải đưa về…
Trời đã xế chiều, mặt trời xuống dần, chúng tôi được lệnh ra khỏi vùng dù chưa đi tới vòng đai ngoài xa nữa. Đoàn xe chở thi hài về đến sân bay đồn điền gần thị trấn Dầu-Tiếng, trời đã tối . Một vài ngọn đèn điện không đủ sáng , Sư đoàn điều động năm sáu chiếc quân xa nổ máy và rọi đèn để  chúng tôi làm việc. Tại sân bay, cũng như tối hôm qua, chúng tôi chia thành hai toán, mỗi toán phụ trách chuyển xác vào trong lòng một  máy bay. Lần lượt túi đựng xác xếp lên trước rồi tới áo mưa “gói” xác, rồi tới các thi hài  không có gì bao bọc. Thoạt đầu xếp thành hàng lớp ngay ngắn, nhưng vì số lượng nhiều, phải tranh thủ thời gian nên chúng tôi được lệnh cứ chất vào đầy phi cơ. Lúc này, thực khó khăn cho chúng tôi, xác tử thi đã bắt đầu phân hủy, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Đã có những dòng nước từ thi hài thấm qua quân phục, chảy lan trên sàn xe, sàn tầu bay, đọng trên mặt đất, nền phi đạo . Các quân nhân phải thay phiên, luân chuyển, khi thì trong khoang tàu, khi thì ở dưới đất để thay đổi không khí trong buồng phổi. Dĩ nhiên chúng tôi không thu lượm xác địch quân. Nhưng không ngờ, trong lúc mệt mỏi, các toán đã sơ ý lượm hai “xác lạ” chở về sân bay và đã phát hiện kịp thời trước khi đưa vào phi cơ . Chính quyền địa phương sau đó giải quyết những xác này. Cuối  cùng tất cả những thi hài thu lượm từ trận địa ngày hôm nay, ngày kết thúc, kể cả thi hài không có gì gói ghém, bao bọc đã được chất trên hai vận tải cơ, chuẩn bị đưa về sân bay Tân Sơn Nhất. Đại Úy Tấn để chúng tôi chọn lựa : theo máy bay chở xác về Tân Sơn Nhất hoặc chờ vài ba ngày có máy bay khác lên đón. Sau cùng chúng tôi quyết định theo máy bay về Saigon ngay tối hôm đó. Chỉ sau một giờ bay, phi cơ hạ cánh. Ra khỏi máy bay, tôi tưởng như mình vừa thoát khỏi âm ty địa ngục, dù chưa biết âm ty địa ngục như thế nào!  Sau khi làm vài động tác hit thở, tôi đã tỉnh táo hơn, dễ chịu hơn. Suốt chặng đường bay một tiếng đồng hồ ngồi chung con tàu đầy xác người đã bốc mùi hôi thối , chiếc khăn tay luôn che mũi và miệng, quả thực chúng tôi choáng váng nhận ra không sợ phải sống cạnh xác người mà sợ mùi bốc ra từ xác người đã rữa nát ấy…
Sáng sớm hôm sau, đơn vị cho xe đón chúng tôi về Phú-Lợi . Riêng tôi, công  việc đầu tiên là vứt bỏ ngay, không thương tiếc tất cả y phục, giầy vớ v.v mặc trên người. Thế mà cả tuần lễ sau, tôi vẫn thấy hình như mùi “đặc biệt”, khó diễn tả, từ xác người đã bị phân hủy ấy, vần còn bám trên người tôi, vẫn còn quanh quẩn đâu đó….
Thời gian trôi nhanh, trên nửa thế kỷ qua đi, tôi vẫn không quên kỷ niệm cuộc “hành quân”đầu tiên trong đời binh nghiệp tại làng 13Bis. Hình ảnh những  thi hài dù được thu lượm về hay còn nằm phơi mình dưới nắng mưa ngoài trận địa, hoặc được chôn vùi một cách đơn sơ trong rừng sâu khiến tôi tự hỏi tất cả những hy sinh của họ đã được đền bù xứng đáng chưa? Đem thể xác yếu như “cây sậy” của họ thách thức bom đạn, để phục vụ một lý tưởng nào quá xa xôi và mơ hồ, liệu có tàn nhẫn không? Những danh hiệu, những mỹ từ, những truy phong, truy tặng v.v có đủ để đánh đổi mạng sống của họ hay chăng? Dù gì đi nữa, một điều chắc chắn là thân xác những người đã hy sinh ấy nay đã thành “cát bụi”…Và không biết ba mươi năm chiến tranh Việt Nam 1945-1975 mà nhiều người gọi là cuộc chiến tranh “phúc đức”, có bao nhiêu triệu người dân Việt trở thành cát bụi ?

Triệu-Vũmùa Tạ Ơn 2017.

Đời Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh: Trên Mặt Trận Dầu Tiếng


1- Lên Dầu Tiếng 
Về Bến Cát được ít lâu thì Pháo Đội chúng tôi được lệnh đi Dầu Tiếng. Tiểu Đoàn Trưởng Võ Văn Sáng đã phân phối như sau: Tôi (Thiếu Uý Khôi, Pháo Binh Khoá 14 Thủ Đức) làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 2/7 mà Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Uý Lường (?). Thiếu Uý Kỳ, Pháo Binh Khoá 16 thì được cho làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh.
Vì cũng thấy rõ ràng là sự phân phối này hoàn toàn không hợp lý, nên Đại Uý Sáng đã gọi phone cho tôi nói là: “Thiếu úy là sĩ quan đàn anh của Thiếu Úy Kỳ, lẽ ra phải để thiếu úy làm Sĩ Quan Liên Lạc bên cạnh Trung Tá Tư mới đúng, nhưng thiếu úy vừa thông minh lại vừa lanh lẹ hơn, nên thiếu úy hãy chịu khó đi với Tiểu Đoàn 2/7 nhé. Họ sẽ là tiểu đoàn đi mở đường từ Chơn Thành vào Dầu Tiếng, việc này Thiếu Uý Kỳ không thể bằng thiếu úy được đâu”.
Mọi người đều biết chắc là cái lý do mà Đại Uý Sáng đưa ra chỉ là giả tạo, cái lý do chính là bà vợ của cái ông Đại Uý Sáng này rất ghét tôi, tôi đã chụp hình đứa con nhỏ của hai ông bà này khi họ lên Bình Dương thăm pháo đội năm nào, nhưng tôi lại đã không đưa cho ông bà cái hình ấy dù bà ta có hỏi tôi.
Tôi không đưa tấm hình ấy được vì tôi đã bỏ mất nó ở đâu đó rồi, nên bà đã ra lệnh cho ông ấy phải “trù” tôi như trước kia đã không cho tôi đi Bến Súc và lần này thì không cho tôi làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh trung đoàn trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh. Đại Uý Thái Pháo Đội Trưởng và Trung Uý Thinh cũng như Trung Uý Minh và nhất là các binh sĩ trong toán của tôi đều bất mãn cho tôi, nhưng cũng không ai làm gì được. Riêng tôi thì cũng tốt thôi, tôi không hề hối hận vì đã làm mất lòng bà Tiểu Đoàn Trưởng. Ngay cả ông chồng của bà là ông tiểu đoàn trưởng, tôi cũng chẳng coi vào đâu.
Thế rồi vào một buổi tối, tôi nói là buổi tối vì khi đoàn xe bắt đầu lăn bánh để lên Chơn Thành thì đã thấy mọi nhà trên Bến Cát bắt đầu lên đèn, cả Trung Đoàn 7 Bộ Binh và Pháo Đội chúng tôi đều lên xe, dĩ nhiên là tôi phải đi với Đại Uý Lường. Đoàn xe đi được chừng 15 hay 20 phút thì chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ ở một bên bìa rừng và đoàn xe phải tạm dừng lại chờ lệnh. Chúng tôi ai cũng phân vân không biết là địch nhiều ít thế nào.
Một lúc sau chúng tôi được thông báo là cuộc chạm súng vừa rồi chỉ là do ngộ nhận, quân ta đã bắn lầm vào quân bạn. Toán lính mở đường đã nhìn thấy một vài cái nón tai bèo đang len lỏi ở phía xa trong rừng nên cho rằng đó là tụi Việt Cộng, đâu có biết rằng đó là toán Biệt Kích mà Sư Đoàn đã cho đi mở đường trước! Điều đang trách ở đây là Phòng Hành Quân trên Sư Đoàn đã không thông báo cho Trung Đoàn biết sớm để câu chuyện đáng tiếc khỏi xẩy ra.
Chẳng biết là có bao nhiêu kẻ đã bị thương hay bị chết vì sự thiếu sót vừa nói, chỉ biết là sau đó khi có lệnh cho đoàn xe được tiếp tục di chuyển thì chúng tôi thỉnh thoảng có nghe thấy những tiếng lốp bốp ở dưói gầm xe do bánh xe đã cán vỡ sọ của mấy cái xác chết trên đường. Ai chịu trách nhiệm về những sự việc chết chóc kiểu này đây? Không hiểu là ông Thiếu Tướng Trần Thanh Phong nghĩ thế nào khi được báo cáo về vụ này nhỉ? Mới bắt đầu cuộc hành quân mà đã sui như vậy, không trách được là sau này…
Tới Chơn Thành rồi, chúng tôi phải xuống xe và bắt đầu băng rừng về phía dầu Tiếng. Tiểu Đoàn 2/7 của tôi phải đi mở đường, nghĩa là phải đi trước vừa dò địch, vừa chặt cây, dọn đường cho Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn khác cùng Pháo Đội của chúng tôi theo sau …và rồi khi đến gần Dầu Tiếng, Tiểu Đoàn 2/7 sẽ dừng lại để chờ mọi người qua mặt, còn mình thì đi sau cùng.
2- Trận mở màn trên Dầu Tiếng.
Chật vật 3, 4 ngày đêm, chúng tôi mới vào được gần Quận Dầu Tiếng. Tới lúc đó Tiểu Đoàn chúng tôi lại phải dừng lại để trở thành Tiểu Đoàn bọc hậu cho Trung Đoàn và mấy Tiểu Đoàn kia cùng Pháo Đội Súng của chúng tôi vượt lên. Đêm thứ nhất khi chúng tôi làm hậu đội thì không có chuyện gì xẩy ra, chỉ đến đêm thứ hai hay thứ ba gì đó, lúc cả Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn lẫn pháo đội của chúng tôi đang sửa soạn để hôm sau tiến vào Quận Dầu Tiếng thì có chuyện. Trong các cuộc hành quân, chúng tôi phải thức dậy hay đi ngủ theo mặt trời, cứ khi nào mặt trời bắt đầu ngả xuống là chúng tôi cũng sửa soạn chỗ ngủ và khi nào mặt trời sắp xuất hiện là chúng tôi đã phải thu dọn chăn màn hay nói cho đúng hơn là đã phải dọn dẹp đồ ngủ, như xếp võng và poncho lại, cho vào túi đeo lưng để sẵn sàng đi tiếp. Khoảng hơn 6 giờ tối hôm đó khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi sắp sửa ngủ thì mìn chiếu sáng mà chúng tôi đã gài sẵn ở chung quanh vị trí đột nhiên bắn vọt những tia sáng lên, cái đó cho thấy là nghĩa là tụi Việt Cộng đã mò tới và chúng đã vướng phải những cái mìn chiếu sáng kia. Chúng tôi ai nấy đều vội vàng vào tư thế chiến đấu, riêng tôi thì tôi đã phải gọi ngay về Trung Đội Súng tại Dầu Tiếng để xin sẵn sàng yểm trợ, đồng thời tôi cũng báo cho Pháo Đội của tôi lúc đó đang nằm bên cạnh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn để họ đề phòng.
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/Artillery_arvn1.jpg
Tôi phải nói thêm là tôi không thể nhờ Pháo Đội này của chúng tôi để yểm trợ chúng tôi được, lúc đó mấy khẩu súng của Pháo Đội chỉ có thể trực xạ để bảo vệ chính mình thôi chứ không thể yểm trợ cho ai được hết vì súng đã chưa có gióng hướng.
Anh em binh sĩ của tiểu đoàn có bắn ra những nơi mà mìn chiếu sáng đã bị đụng phải, đây dĩ nhiên chỉ là bắn vu vơ thôi, nhưng không thấy có bắn trả, tình trạng này kéo dài trong khoảng 5 hay 10 phút, khiến cho tôi nghĩ rằng mình không phải là mục tiêu của chúng, chắc chúng định đánh úp Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, do đó tôi gọi ngay về Pháo Đội cho Đại Uý Thái biết cái ý kiến của tôi. Tôi đã nhắc Đại Uý Thái là Đại Uý nên cho Pháo Đội sẵn sàng trực xạ, chúng nó sẽ hỏi thăm đại úy ngay bây giờ đó! Vài phút sau, phải, chỉ vài phút sau thôi là tôi đã nghe thấy có tiếng súng tay nổ ở phiá đó cùng với tiếng súng lớn bắn trực xạ nữa. Thế là tôi quay trở về chỗ ngủ của tôi để ngủ lại.
Sáng hôm sau, mấy tên lính của tôi mới khen tôi:
– Thiếu úy can đảm thật, tối hôm qua bắn nhau như thế mà thiếu úy vẫn ngủ được!
Lúc đó tôi mới trả lời họ:
– Lúc đó, nếu tao không ngủ thì còn làm được gì nữa đây, khi chúng đã gần như trộn lộn vào với chúng ta như vậy rồi. Lúc đó chẳng thể nào dùng Pháo Binh của mình được mà là phải dùng súng tay thôi, cái đó là việc của Bộ Binh, chỉ khi nào nó tới được chỗ này thì lúc ấy tao mới phải thức dậy chứ (sự thực thì tôi ngủ được là vì tôi rất dễ ngủ. Ở trong Đại Học Xá Minh Mạng mà không dễ ngủ thì chỉ có chết thôi. Nằm trong phòng mà đèn để sáng suốt đêm, thỉnh thoảng lại lào xào tiếng xoa mạt chược cộng với tiếng bàn tán ầm ĩ của ít nhất là bốn tay chơi bài thành ra không thể không dễ ngủ và do đó, dần dần thành quen thôi).
Thế rồi cả trung đoàn chúng tôi sửa soạn kéo nhau vào Quận Dầu Tiếng. Trong khi sửa soạn tiến vào trong quận, đại úy tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2/7 có nói với chúng tôi (anh em trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn) là: “Chúng ta sắp có được một cái may lớn lắm, tao không hiểu là may như thế nào, nhưng chắc chắn là …rất may”.
Tụi tôi có hỏi là “Tại sao đại úy lại nói thế?”
Ông ta trả lời rằng “Tao đã kinh nghiệm nhiều lần rồi. Mỗi khi tao nằm mơ thấy một giấc mơ tương tự thì lần nào cũng gặp một cái may lớn. Tao nghĩ là trong mấy ngày tới chúng mình sẽ có được một cái may đặc biệt và bất ngờ”
Lúc bấy giờ tôi mới nói là: “Vào Dầu Tiếng rồi thì tiểu đoàn mình được nghỉ lại ở đó trong khi mấy tiểu đoàn kia phải tiếp tục đi nữa, như vậy là chúng mình sẽ gặp may rồi chứ còn gì nữa!”
Đại úy lắc đầu, nói rằng “Cái chuyện tiểu đoàn mình được nghỉ ở DầuTiếng thì là chuyện dĩ nhiên rồi, cái đó đã được định từ trước, đã có ghi sẵn trong Dự Lệnh Hành Quân. Cái may sắp tới của chúng mình là cái may khác cơ! Cái may mà chúng ta sắp gặp không phải là cái vụ chúng mình được nghỉ đâu”.
Nghe được lời khẳng định của Đại Uý như vậy, chúng tôi đều nghĩ rằng nếu đã chắc chắn là sẽ gặp được một cái may lớn thì tốt rồi còn phải thắc mắc làm gì nữa. Đã là sẽ gặp may thì gặp cái may nào mà chả được! Và với tinh thần vui vẻ nhờ những lời nói trên của Đại Uý Tiểu ĐoànTrưởng… chúng tôi tiến vào trong quận.
Vào đến Dầu Tiếng rồi là Tiểu Đoàn 2/7 của chúng tôi được chính thức cho nghỉ tại quận vài ngày và chờ lệnh mới, đúng như đã định.
Vào được trong quận và thu xếp xong chỗ nghỉ rồi, tôi mới đi sang Pháo Đội để hỏi thăm sự việc tối hôm trước, lúc ấy tôi mới biết được những chuyện như sau: Đại Uý Thái bị thương và đã được tản thương đi rồi, Thiếu Uý Kỳ thì không việc gì hết, nhưng chúng tôi đều không biết tại sao mà Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh lại cho Đại Uý Giỏi, Tiểu Đoàn Phó lên thay làm Sĩ Quan Liên Lạc Pháo Binh bên cạnh Trung Tá Tư, còn Th.Uý Kỳ thì được điều đi sang một mặt trận khác, đi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào đó mà nay thì tôi đã không còn nhớ được nữa.
Đêm hôm trước tôi đã ngĩ rằng Đại Uý Thái sẽ báo cáo lên Tiểu Đoàn cũng như báo cáo lên Phòng Hành Quân Sư Đoàn về cái công của tôi là đã báo trước sự tấn công của Việt Cộng và đã đề nghị họ sẵn sàng trực xạ nên mới đẩy lui được tụi Việt Cộng, nhưng nay thì tôi đã không có được cái may mắn đó nữa rồi, Đại Uý Thái đã bị thương và Trung Uý Minh tạm thời lên làm Quyền Pháo Đội Trưởng.
Về Thiếu Uý Kỳ đã được đưa đi nơi khác, thì mấy tên lính của tôi có nói với tôi rằng: “Rồi Thiếu Uý xem, tối nay Ông Kỳ lại chạy nữa cho mà coi!”
Và đúng như vậy, tối đó chúng tôi lại được nghe thấy tiếng của Thiếu Uý Kỳ trong máy đang cuống quýt gởi điện văn xin tác xạ. Tiểu Đoàn của anh chàng này lại đang bị tấn công!
Sau khi về Pháo Đội hỏi thăm mọi anh em xong, tôi mới thả bộ ra phố chợ Dầu Tiếng chơi. Phố này chỉ có một dẫy nhà nằm dài ở bên hông chợ, chợ ở đây thì nhỏ thôi. Hàng hóa thì không có gì mấy, nhưng nay thì lính tráng đầy đường. Mấy quán nước, hàng ăn đều chật ních những người là người, mà toàn là lính trận! Trong những quán nuớc này, có một quán được mấy ông Sĩ Quan mới tới chịu khó chiếu cố đến nhiều nhất, đó là quán của cô Dung. Cô này trắng trẻo và khá đẹp. Dĩ nhiên là Trung Tá Tư, Đại Uý Giỏi của tôi và Y Sĩ Trung Uý Nhất cũng vào quán này, tôi thì đã ra hơi muộn nên không còn chỗ nào để vào ngồi nữa. Thôi thì để hôm sau vậy, tôi đã nghĩ thế. Nhưng chỉ ít lâu sau tôi lại nghe thấy tiếng của một người lính trong quận nói với một người lính của Trung Đoàn 7 Bộ Binhh, một người bạn của anh ta rằng:
– Bộ mày lại muốn hy sinh vì Tổ Quốc hay sao mà muốn dính vào con Dung này. Nó đã có 1 đứa con trai với một thằng Tầu rồi, nhưng thằng Tầu đó đã bỏ nó từ lâu, và sau này anh chàng lính tráng nào mà định sờ vào nó là đều được Tổ Quốc ghi ơn hết. Đầu tiên là một đại úy, sắp đến ngày ông ta cưới nó thì được lệnh đi hành quân và rồi ông ta đã đi luôn. Sau đó có một chuẩn úy trẻ, anh chàng này mới chỉ muốn cưới cô ta thôi nhưng cũng lại lãnh Tử Thương Bội Tinh! Ở đây ai mà chẳng thấy rằng cô ta quả là đẹp nhất quận này, nhưng có ai mà dám tính đến một chuyện gì với cô ta đâu.
Hôm sau, tôi đã cố tình ra sớm nên đã vào được quán nước của cô Dung này. Cô ta là người Bắc, nhưng đã được sinh trưởng trong Nam. Tôi thấy cô ta quả thật là vừa xinh đẹp lại vừa dễ thương, ăn nói rất dịu dàng thế mà trời lại bắt cô ta chịu một số phận trớ trêu đến thế. Không biết sau này khi đã có thêm được một vài tuổi nữa cô ta có thoát khỏi được cái số phận hẩm hiu này không!
Trong mấy ngày này, tôi cũng đã gặp được Thiếu Úy Phạm Oanh, Sĩ Quan Tiền Sát của Trung Đội đóng ở đây. Thiếu Uý Oanh xuất thân khóa 13 Pháo Binh nên sắp được giải ngũ. Chính anh Oanh này sẽ đưa tôi vào Trường Trung Học Nguyễn Trãi bên Khánh Hội sau này, khi tôi bị tái ngũ.
3- Trung Sĩ Bường của Pháo Đội chúng tôi bị chết. 
Tới tảng sáng ngày thứ ba trên quận Dầu Tiếng thì chúng tôi bị pháo kích. Bộ binh thì không sao nhưng Pháo Binh của chúng tôi thì có chuyện. Trung Sĩ Bường thuộc Trung Đội của Trung Uý Minh đã bị trúng một mảnh đạn vào tim nên đã chết.
Về cái chết của Trung Sĩ Bường này thì Trung Uý Minh có nói với chúng tôi là: “Đúng là cái số của nó bị chết thật. Trước ngày dời Bến Cát để lên đường, Trung Sĩ Bường đã được phép về thăm nhà và thường thì tên này luôn luôn tìm cách trốn hành quân, nên tôi đã nghĩ là hắn sẽ cố tình trễ phép để được ở lại Bến Cát, thế mà lần này hắn lại lên đúng hẹn kịp dự cuộc hành quân này để rồi bị chết. Hơn nữa, hắn lại sắp được giải ngũ đấy”.
Lúc ấy Trung Sĩ Nhất Hao A Dưỡng cũng cho mọi người biết là: “Tôi và Trung Sĩ Bường đã cùng nằm trên một tấm ván kê sát cái xe Truyền Tin mà tôi lại nằm ngoài nữa trong khi anh Bường thì nằm trong. Khi nghe tiếng nổ tôi đã vội vàng lăn xuống đất, chui vào gầm xe để tránh đạn, chui được vào trong gầm xe rồi, tôi không thấy Trung Sĩ Bường nhẩy xuống mà vẫn nằm yên trên ván. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng tên này ngủ say thực. Tôi đâu có ngờ! Thật ra thì đạn đã nổ và mảnh đạn đã ghim vào người Trung Sĩ Bường rồi, tôi mới lăn xuống đất.Tôi đã thật may vì tôi thì nằm ở ngoài, thế mà tôi thì không sao trong khi anh ấy lại nằm ở bên trong, sát cái xe Dodge Truyền Tin thế mà lại bị chết!”.
https://i0.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/Artillery_arvn12.jpg
Sau mấy ngày nghỉ ở Dầu Tiếng, Trung Đoàn 7 Bộ Binh lại tiếp tục cuộc hành quân. Chiều hôm đó Trung Đoàn trừ (vì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ lại ở Dầu Tiếng) lên đường vào làng 13, Pháo Đội B thì tạm thởi nằm tại chỗ để yểm trợ cho cuộc di chuyển, vào khoảng 7 giờ sáng hôm sau mới lên đường để bắt tay với Trung Đoàn trên làng 13.
Vào chừng 6 giờ sáng hôm sau thì dân chúng ở trong quận nghe thấy có tiếng súng nổ ran về phía làng 13. Chúng tôi biết ngay là đụng độ lớn đã xẩy ra nơi đó. Không biết rằng lúc này có ai ở Trung Đoàn gọi về xin bắn không. Nhưng nếu có thì cũng chỉ có 2 khẩu đại bác của Quận Dầu Tiếng là có thể thỏa mãn được thôi, 4 khẩu súng của Pháo Đội B/5 Pháo Binh thì không thể làm gì được vì đã được xếp càng móc vào xe và đã ra đường để sửa soạn di chuyển.
Ngay lúc đó chúng tôi đã thấy là tụi Việt Cộng đã tính toán thật hay về giờ giấc, chúng không cần phải pháo kích vào Pháo Đội làm gì mà vẫn làm câm họng được 4 khẩu súng cơ hữu của Trung Đoàn. Phải tới nửa giờ sau Trung Uý Minh mới ra lệnh cho súng trở lại vị trí cũ, rồi cho gióng hướng lại, nhưng hình như chẳng có ai gọi về xin bắn cả. Một lúc sau chúng tôi mới thấy có phóng pháo cơ và Phi Cơ L-19 bay lên. Phóng pháo cơ thì lên để dội bom quanh làng 13 còn phi cơ quan sát L-19 thì lên thay các Tiền Sát viên dưới đất để tìm tọa độ thích hợp, gửi về cho súng đại bác ở Dầu Tiếng tác xạ.
Mặc dầu rằng trên nguyên tắc thì Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi được nghỉ, nhưng gặp trường hợp này thì ai trong chúng tôi cũng biết rằng cái phép nghỉ đó coi như bị hủy rồi, nên chúng tôi vội vã sửa soạn súng đạn để chờ lệnh lên đường. Nhưng ngay ngày hôm ấy, chúng tôi không nhận được bất cứ một cái lệnh nào. Chỉ ngày hôm sau chúng tôi mới có lệnh tiến vào làng 13. Tới lúc đó chúng tôi mới biết rằng gần như tất cả Trung Đoàn trừ, gần 800 người, đã bị tiêu diệt. Về Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn thì ít ra tôi cũng được biết Trung Tá Nguyễn Văn Tư, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 7 Bộ Binh cùng với Đại Uý Pháo Binh Giỏi, Trung Uý Y Sĩ Nguyển Văn Nhất đều đã bị bắn chết. Chết chung trong đám này còn có 2 cô gái, thực ra là 2 con điếm mà Trung Tá Tư đã mang theo. Sau này tôi được nghe đồn rằng mấy cô này bị Việt Cộng bắn vì chúng cho rằng 2 cô đó là 2 cô Cán Bộ Hộ Lý.
REPORT THIS AD

Trong trận này Sư Đoàn 5 Bộ Binh bị mất một số khá lớn quân nhân, từ Trung Tá đến Binh Nhì. Cũng chỉ sau trận này, mọi người mới vỡ lẽ ra rằng tên nội tuyến chính là tên trung sĩ Truyền Tin của Sư Đoàn, vì ngay sau đó tên trung sĩ này trốn luôn. Thảo nào mà mọi chi tiết của cuộc hành quân đều bị bên địch biết hết (đến đây, tôi nhớ lại vụ ông Tướng Trần Thanh Phong ngày xưa, đã tức mình vì bị một tên lính nào đó chửi đổng trên Chiến Khu Đ, nên đã ra ngay một cái lệnh miệng bắt Trung Đoàn 8 cùng với Đại Đội 5 Thám Báo chúng tôi phải ở lại thêm một ngày, khiến tất cả chúng tôi đã thoát được một trận phục kích quy mô. Lẽ ra, thông minh một chút thì sau nhận được báo cáo về việc chúng tôi có nhìn thấy những hố cá nhân đã được của tụi nó đào sẵn và chỉ ít lâu sau là có cuộc tao ngộ chiến hôm đó, thì toàn thể những sĩ quan trong Bộ Tham Mưu của Sư Đoàn cũng như ông Tướng Tư Lệnh phải để ý xem là tại sao chứ!
Các ông phải tự hỏi là: “Nếu đoàn quân đã ra về theo đúng như dự lệnh thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải là cả đoàn quân đã bị tiêu tùng rồi không?” Và chỉ vì ở lại thêm một ngày theo lệnh miệng, không có trong dự lệnh, nên đoàn quân mới thoát được một cuộc phục kích lớn.
Có tự hỏi như thế thì các ông mới biết rằng mọi quyết định gì của Sư Đoàn mà đã qua hệ thống Truyền Tin thì cũng đã bị nội tuyến thấy hết rồi. Như thế thì phải chịu khó báo ngay cho an ninh để họ điều tra tìm ra tên nào là nội tuyến chứ! Mặc dù không được học về an ninh nhưng ngu dốt như tôi thì cũng thấy là ông Tướng có thể loại ngay những người đi theo mình vào Chiến Khu Đ hôm đó khỏi danh sách những kẻ bị nghi ngờ. Còn lại thì dễ thôi.
Lệnh Hành Quân thông thường sẽ phải qua những tay nào, sau đó ra vài cái lệnh giả, rồi theo dõi thì có ngay kết qủa chứ có khó gì. Nhưng nói đi thì phải nói lại, đầu óc của ông Tướng cùng như của mấy ông Tá trong Ban Tham Mưu của ông này thì làm sao có thể có được một ý kiến nào gọi là sáng suốt đây.
Trong trận Dầu Tiếng này, không những địch có tin chính xác về mọi chi tiết về cuộc hành quân mà chúng còn nghiên cứu kỹ cả cái thói quen bê bối của cái ông Trung Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Tư nữa, nên chúng đã tấn công đúng lúc, khi mấy khẩu súng đã ra đứng trên đường, chờ di chuyển. Còn binh sĩ của Trung Tá trên làng 13 thì có người chưa kịp xỏ chân vào đôi bottes de saut, có người còn đang đánh răng… tất cả gần như chưa kịp thu dọn đồ ngủ. Như vậy thì còn đánh đấm làm sao được nữa!
Khi Sư Đoàn cho phi cơ lên thì bọn Việt Cộng đã coi như thanh toán xong chiến trường và chúng đã phần lớn rút đi, chỉ còn lại một số nhỏ chưa kịp rút mà thôi.
Ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi mới chính thức được lệnh tiến về làng 13 để diệt những tên địch còn sót lại. Lúc này Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng của chúng tôi mới nói là: “Các ông thấy chưa, tôi đã nói là mình sẽ gặp một cái hên lớn mà! Nếu mình cùng đi với Trung Đoàn thì chắc hôm nay tụi mình cũng đã bị tiêu tùng rồi”. Lúc đó chúng tôi mới thấy được cái may mắn lớn của mình.
Rồi ngay ngày đầu khi tới làng 13 chúng tôi đã bắt được một tên Việt Cộng, tên này đã bị mù cả hai mắt. Ông trung sĩ của tiểu đoàn lấy giây dù trói tay hắn lại một cách hơi thô bạo nên đã bị tên Việt Cộng này hằn học mắng cho là: “Tôi cũng là chiến sĩ như các anh mà các anh đối xử thế này à!”. Tụi tôi ai cũng nóng mắt vì câu nói này nhưng chẳng ai trả lời hắn cả và vẫn để ông trung sĩ kia trói chặt hắn lại, không ai mềm lòng vì hắn bị mù đâu. Đối với tụi Việt Cộng vừa ngu xuẩn, vừa dã man này, thì nếu mình sơ hở một chút là khốn nạn với chúng nó ngay. Dắt tên đó đi theo mình thì mình phải trói hắn lại, nhưng có thể để cho hắn ở bên cạnh mình qua đêm không nhỉ? Đại úy tiểu đoàn trưởng có hỏi ý chúng tôi thì đượcThiếu Uý Ban Ba cho biết là không thể cho cọp ở bên mình được và anh ra hiệu cho ông trung sĩ đem hắn ra xa, bắn bỏ. Lúc đó chúng tôi đều nghĩ là nếu mình thương hại nó thì ai thương hại mấy trăm đồng bạn của mình vừa bị chúng tàn sát đây, hơn nữa dắt hắn đi theo thì có khi mình cũng bị hắn tìm cách giết luôn nữa không biết chừng.
Những ngày sau thì không có chuyện gì đáng kể xẩy ra khi chúng tôi phải ngày ngày đi loanh quanh mấy làng 12 rồi làng 13, làng14, để làm gì nữa đây! Tụi chính quy Việt Cộng thì đã rút đi ngay từ sau khi chúng thành công lớn rồi, đâu còn lại ai nữa mà tìm. Tụi du kích thì lại càng dấu mặt đi chứ chúng đâu có dại gì mà dở thêm trò gì ra lúc này. Chúng biết là sư đoàn sẽ điều động môt lực lượng lớn mạnh lên để trả thù, nên mấy tên du kích này chắc chắn là đã có lệnh nằm im rồi. Nằm im nghĩa là không quấy rối thôi chứ không phải là không theo dõi quân ta.
Thực vậy, trong khi Tiểu Đoàn 2/7 chúng tôi đi loanh quanh mấy làng 12, 13, 14 như vây thì luôn luôn chúng tôi thấy mấy cô gánh qùa bánh, báo chí đi theo để bán cho chúng tôi. Tôi đã nêu nhận xét này với Đại Uý Tiểu Đoàn Trưởng, nhưng ông ta cũng chịu thôi, không có cách nào cấm họ không theo chúng tôi được. Thành ra chúng tôi cũng phải lờ đi, chỉ bảo nhau là phải có ý tứ, không những chính mình mà còn phải bảo cả lính của mình là phải kín miệng, không được nói gì với những cô bán hàng này về sự đi đâu, về đâu và vào giờ nào, ngoài ra còn nếu có thể, thì cố thử dò xem tụi Việt Cộng bây giờ đang ở đâu và còn đang tính gì nữa.
Cuối cùng thì Tiểu Đoàn 2/7 cũng được cho trở về Bến Cát để nghỉ, vì chỉ mấy hôm sau, Tiểu Đoàn 2/8 với Đại Úy Của và môt Trung Đoàn lính Mỹ lên Dầu Tiếng.
Tiểu Đoàn 2/7 thì được cho nghỉ, nhưng tôi thì lại được chuyển sang làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Đại Úy Của, Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 2/8, mới được phái lên. Cùng với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, tôi tiến vào một cái biệt thự bỏ trống, khá lớn và khá đẹp của “Tây Đồn Điền”, tôi vào ngay cái phòng chính và chiếm một chỗ rất đẹp trong phòng để sửa soạn làm chỗ ngủ. Xếp dọn vừa xong thì Đại Uý Của bước vào, sau khi nhìn ngắm quanh phòng một chút, ông ta ra lệnh cho tôi tìm chỗ khác mà làm nơi ngủ, để chỗ đó lại cho ông ta. Dĩ nhiên là tôi phải bỏ lại chỗ đó, nhưng tôi rất bực vì cái giọng lớn lối ra lệnh của ông ta nên tôi thu dọn vật dụng của tôi xong, là tôi kéo 2 tên lính của tôi trở về vị trí đóng quân của Pháo Đội tôi ngay. Lúc đó tôi đã nghĩ rằng khi Tiểu Đoàn này di chuyển thì tôi sang để đi theo cũng vừa vì Pháo Đội của tôi và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2/8 này chỉ cách nhau chưa tới 100 mét.
Mấy hôm sau, tôi được Thiếu Uý Mai văn Phú, cùng Khóa 14 Pháo Binh với tôi, đã theo Trung Đoàn 8 lên. Chỉ không biết là anh làm Tiền Sát cho Tiểu Đoàn nào. Anh Phú này cho biết là: “Ông Của không còn thương bạn như xưa nữa đâu”. Thiếu Uý Phú này đã được biết là Đại Úy Của đã từ lâu rất thích tôi vì cái khả năng bắn nhanh, bắn chính xác của tôi, nay thấy ông ta không thích tôi nữa nên mới nói cho tôi hay.
Tôi đã trả lời Thiếu Úy Phú: “Ông ấy thương hay không thương tôi thì mặc xác ông ấy. Tôi đâu có cần ai thương đâu. Mà ông ấy có thương thì tôi được cái lợi gì đây? Trong mọi cuộc hành quân thì chính ông ấy phải nhờ tôi, chứ tôi đâu có nhờ gì ông ấy. Tôi đâu phải là đấy tớ của ông ấy đâu mà ông ấy muốn tôi phải làm cái này, cái nọ là tôi phải răm rắp làm theo. Tôi đâu có xin đi lính để cho ông ấy sai bảo. Về vấn đề chỗ ngủ thì nếu ông ấy đừng ra lệnh mà nói với tôi lịch sự một chút thì tôi cũng sẵn sàng nhường cái chỗ đó lại chứ giữ làm gì, nhất là tất cả chúng mình chỉ ở tạm đây ít lâu thôi chứ có phải là ở dài hạn đâu. Ông ấy đâu có biết rằng tụi mình chỉ chịu phục tùng cái “cấp bậc”của ông ấy trong lúc hành quân thôi, chứ cá nhân các quan lớn như ông ta thì chúng mình đâu có coi ra cái quái gì!”.
Tôi biết có nhiều tên hãy còn ngớ ngẩn. Ở ngay trong Pháo Binh mình chứ đâu xa, ỷ vào sự đã được đi lính trước, ỷ có cấp bậc cao hơn, nên đã tự cho là bậc thầy và gọi tụi mình là đệ tử nữa đấy! Tôi đã từng nghe thấy một tên Trung Tá Pháo Binh nói với ông Tướng Pháo Binh nào đó của hắn là: “Tôi có một tên đệ tử sang được Mỹ này, đã đi học lại và lấy được cái bằng …gì đó”. Ông ta muốn nói tới tôi đó. Ông ta tự coi là “Sư Phụ của tôi”. Nhưng ông ta đâu có dạy tôi cái gì đâu. Hơn nữa về kinh nghiệm chiến trường thì liệu ông ta có hơn tôi được không? Ông ta đi lính từ thời Pháp mà vào thời đó thì chỉ những Đại Úy hay Trung Úy nhiều kinh nghiệm mới được cử làm Đề Lô, còn những Thiếu Úy mới ra trường như ông ta lúc đó thì lại chỉ nằm nhà với súng thôi, mà trong khi đó thì các Chuẩn Úy Pháo Binh mới ra trường sau này lại là những kẻ phải đi với Bộ Binh ra mặt trận. Vì thế các Chuẩn Úy này chắc chắn là có nhiều kinh nghiệm xương máu hơn các Sĩ Quan Pháo Binh cấp cao như ông Trung Tá kể trên chứ. Về vấn đề này thì ai là Sư Phụ của ai đây? Trong khi thực ra ông ta chỉ vì lớn hơn 1 hay 2 tuổi nên đã được đi lính sớm hơn tụi tôi, rồi vì chịu cơm nhà binh nên đã không xin giải ngũ và cuối cùng lên được chức Trung Tá để bây giờ lên mặt với mọi người.
Hình như tôi chỉ đi với ông Đại Úy Của này đâu có 2 hay 3 trận ở trên Dầu Tiếng này thôi thì phải, vì mấy cuộc hành quân quanh vùng sau đó đều do một Trung Đoàn Mỹ, cũng được đưa lên tăng cường gần như cùng một lúc với mấy Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 8 Bộ Binh.
Nói đến Trung Đoàn Mỹ này, tôi lại nhớ đến tinh thần chiến đấu và quân kỷ của họ. Nhiều người đã nói rằng: “Tụi lính Mỹ rất nhát gan trong các cuộc đụng trận.” Theo tôi thấy thì những người nào nói như vậy chỉ là những kẻ ăn ốc nói mò, chính bản thân tôi đã từng thấy tinh thần cao của các toán cố vấn Mỹ trong rất nhiều cuộc đụng trận ác liệt với Việt Cộng.
Trong trận tôi đi với Đại Đội 5 Thám Báo mà tôi đã kể ở trên, khi cả Trung Đoàn 8 lẫn Đại Đội 5 Thám Báo bị tụi Việt Cộng nổ súng ở 3 mặt, thì mấy người trong ban Cố Vấn Mỹ đã anh dũng làm nhiệm vụ của họ, để rồi một Trung Úy Cố Vấn bị chết và một Hạ Sĩ bị thương nặng. Họ đã chẳng tỏ ra nhút nhát một chút nào hết.
Ngày trước, khi tôi làm Sĩ Quan Tiền Sát cho Tiểu Đoàn 33 Biệt Động Quân, tôi đã để ý và thấy rằng trong bất cứ cuộc đụng độ nào, khi nghe thấy tiếng súng nổ ở phía trước là toàn thể Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đều ào lên để nhận định tình hình hầu lấy quyết định. Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Phó, Thiếu Úy Ban 3 và toán Tiền Sát Pháo Binh của tôi thì phải nhào lên ngay đã đành, mà toán Cố Vấn Mỹ cũng hối hả chạy lên chứ họ nào có chịu thua ai đâu! Như vậy chứng tỏ là tinh thần của họ rất cao chứ không phải như ai đó đã nói nhảm.
Còn về kỷ luật của họ thì tôi nghĩ lại mà cảm thấy thật là xấu hổ cho tinh thần quân kỷ của mình. Trong bản doanh của Mỹ, chúng ta có thể trông thấy một Trung Sĩ ghé đít ngồi lên mép bàn giấy của một vị Trung Tá để nói chuyện gì đó khi ông Trung Tá này đang ngồi trong bàn giấy của ông ta. Chịu khó để ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng lúc đó họ đang nói chuyện với nhau trong tư cách bạn bè hay ít nhất đó là một câu chuyện riêng tư, không dính dáng gì tới công vụ hết, trái lại khi nói đến công vụ thì lại khác, lúc viên Trung Sĩ nọ vì công vụ, phải gặp một vị Thượng Sĩ thôi, thì cũng phải đứng nghiêm, dơ tay chào kính hẳn hoi, rồi sau đó muốn trình bầy cái gì thì mới trình bầy.
Trong các cuộc hành quân, chúng tôi được lệnh là không được nằm trong nhà dân mà phải nằm ở ngoài đất trống, nhưng trong thực tế thì ít nhất bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn của chúng ta luôn luôn ngồi nghỉ trong một ngôi nhà nào đó cho mát. Quân đội bạn thì khác. Họ lúc nào cũng thi hành những mệnh lệnh ấy một cách triệt để. Hồi ở trên Dầu Tiếng tất cả chúng tôi đều đã thấy cảnh một Trung Tá Mỹ chịu ngồi, hoặc đứng cạnh một cái máy truyền Tin trong suốt mấy giờ liền (phiên trực của ông ta?) dưới một tấm vải dù ở trên đầu, ngay giữa đồng trống dưới trời nắng nực oi ả, nhiệt độ vào khoảng 40 độ C hay 104 độ F hay hơn, với quân phục gần như đầy đủ, có nghĩa là chỉ không mặc áo trận thôi, nhưng vẫn có mặc áo thung (T Shirt) ở trong.
Thêm vào đó, lính Mỹ còn có tinh thần đáng ca ngợi là họ không bao giờ coi binh sĩ miền Nam Việt Nam như những kẻ dưới tay như kiểu quân đội Pháp đã coi thường những người lính khố xanh, khố đỏ của chúng ngày xưa. Thật vậy đã có nhiều lần, tôi thay mặt cho Pháo Đội sang họp hành quân bên Trung Đoàn bạn. Khi xe của tôi tới cổng trại, tôi nhẩy xuống đất, chưa kịp nói gì thì anh lính Mỹ gác cổng đã bồng súng lên nghiêm chỉnh chào tôi dù anh ta biết tôi chỉ mang cấp bậc Thiếu Uý.
Với sự can thiệp của quân lực bạn, chúng tôi được rảnh rỗi nên tôi và anh bạn Phú mới gặp nhau (Nghe nói là sau biến cố Tết Mậu Thân, anh Phú cũng đã bị tái ngũ và cũng đã được biệt phái về dạy học như tôi, chỉ không biết là anh có sang được Mỹ này hay không thôi)
https://i2.wp.com/vnafmamn.com/ARMOR/Artillery_arvn24.jpg
Lúc này Pháo Đội B của tôi ra đóng ở ngoài Quận phía đi ra làng 13. Pháo Đội tôi đóng ở một bên, bên kia đường là Bộ Chỉ Huy của Lữ Đoàn hay Trung Đoàn Mỹ (Tôi cũng không rõ). Lúc này Pháo Đội Trưởng, Đại Úy Thái của chúng tôi đã trở lại Dầu Tiếng, nhưng chúng tôi lại gần như không có việc gì làm vì quân đội bạn đã không dùng đến Pháo Binh. Làm gì còn Việt Cộng nữa mà phải dùng đến đạn pháo!
Ngày ngày, mấy sĩ quan chúng tôi chỉ để một người ở nhà với súng còn thì lấy xe ra chợ Dầu Tiếng chơi. Quận Dầu Tiếng này nằm bên cạnh một con sông khá rộng thành ra Công Binh đã phải thiết lập một cây cầu dã chiến để cho xe qua bờ bên kia, vùng đất của một cái xã nào đó của Quận. Tôi đã lái xe Jeep sang cái xã đó, nhưng lúc về thi Trung Úy Thinh (mới lên Trung Úy một ít lâu, ở trên Dầu Tiếng này) đòi lái về để trổ tài lái xe trên 2 tấm sắt bắt qua sông, mỗi tấm chỉ rộng đâu chừng 50 cm.
Tuy không phải là dân Tâm Lý Chiến nhưng tôi và Trung Úy Minh cũng la cà vào chơi với những thư ký của đồn điền, hỏi thăm tình hình sinh hoạt của họ. Rồi có một hôm, vợ chồng một nhà nọ có hỏi ngược lại về cách sống của chúng tôi thì Tr. Úy Minh có nói là ăn uống thì hàng quán ở Quận này đã đủ sức cung cấp mọi thứ cho tất cả chúng tôi chỉ có điều là chúng tôi hơi thiếu nước để tắm thôi. Nghe nói thế, hai vợ chồng chủ nhân gia đình này vội nói ngay là “Trung Úy và Thiếu Úy cứ việc ngày ngày tới nhà này mà tắm, ở đây chúng tôi có nhà tắm khá tiện nghi cho quý vị dùng, đừng ngại gì hết”. Qủa là nhà tắm của họ có đầy đủ vòi sen, bồn tắm, chỉ không có nước nóng, nước lạnh thôi. Nhưng ở miền Nam Việt Nam này thì cần gì nước nóng cơ chứ!
Thế là từ đó hai chúng tôi thường lại đó để tắm. Quý vị nên hiểu cho rằng Pháo Đội chúng tôi phải đóng ở một nơi trống trải, không có cây cối gì hết nên rất nóng nực mà nước lại phải lấy về từ khá xa, thành ra chúng tôi muốn dùng một cách không phí phạm, do đó có thể nhờ được một nguồn nước ở nơi khác là 2 chúng tôi sẵn sàng ngay.
Tôi nói là 2 chúng tôi, như vậy nghĩa là không có Trung Úy Thinh, anh này có đến chơi nhà đó một vài lần, thấy nhà đó có con gái nên giữ ý không đến tắm, hắn có nói điều này cho chúng tôi biết, nhưng tôi và Trung Úy Minh có bảo hắn rằng hắn đã quá cẩn thận, vì cô gái kia chỉ là một đứa nhỏ mới chừng 12, 13 tuổi, mà trẻ Việt Nam 12, 13 tuổi thì hãy còn qúa nhỏ, việc gì mà phải quá giữ ý như vậy!
Những ngày về sau, tuy rằng không có chuyện gì xẩy ra thêm nữa nhưng chúng tôi vẫn phải ở lại cái đất Dầu Tiếng này chờ các quan trên tìm quyết định. Chúng tôi, nói đúng hơn là Pháo Đội của chúng tôi, rốt cuộc đã phải ăn Tết ở trên Dầu Tiếng này.
Trong một tháng trước Tết, chúng tôi có nhận đựơc một Công Điện từ Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh đánh lên, nói là: “Sĩ Quan nào muốn sang Pháo Binh Dù thì ghi tên”. Quên rằng mình đã nộp đơn xin giải ngũ từ mấy tháng trước, tôi vội gọi ngay cho Hiệu Thính Viên của Tiểu Đoàn yêu cầu ghi tên tôi vào danh sách đó nhưng anh ta vừa cười vừa nói rằng: “Thiếu úy cần gì phải sang Pháo Binh Dù nữa, thiếu úy dù từ lâu rồi còn gì”.
Qua Tết được vài ngày, tôi nhận được Ccông điện gọi về trình diện tiểu đoàn để nhận lệnh thuyên chuyển sang Tiểu Đoàn 221 Pháo Binh tại KonTum. Điều đó có nghĩa là tôi không được sang Pháo Binh Dù mà phải ra Vùng II.
Thế là tôi tìm cách theo một cái trực thăng nào đó, dời Pháo Đội để về Tân Sơn Nhất, chứ không về ngay tiểu đoàn ở Phú Lợi.
tvvn.org

Monday, February 25, 2019

Tháp chuông nhà thờ Fatima Bình Triệu

Tháp chuông này trước 1975 thuộc nhà thờ Fatima Bình Triệu : người CS đã phá nhà thờ để xây ĐH Luật , như hình chụp , nhưng đã không thể phá bỏ gác chuông . 


Saturday, February 23, 2019

LÍNH VC DƯỚI 18 TUỔI , ĐẦU HÀNG TẬP THỂ TẠI TỈNH GIA ĐỊNH NĂM 1968 .


TRƯỜNG THIẾU SINH QUÂN VÀ TRƯỜNG QUÂN CẢNH


VUA BẢO ĐẠI


ĐƯỜNG XE LỬA CÓ RĂNG CƯA GIỮA ĐÀ LẠT VÀ PHAN RANG 


TRƯỜNG LYCÉE YERSIN Ở ĐÀ LẠT

KHÁCH SẠN TAM THẮNG VŨNG TÀU
THƯƠNG XÁ TAX

XÂY DỰNG DINH ĐỘC LẬP : DÙ DO LIÊN ĐOÀN 5 CÔNG BINH KIẾN TẠO VNCH PHỤ TRÁCH XÂY DỰNG NHƯNG VẪN CÓ THỢ LÀ DÂN THƯỜNG