Wednesday, October 4, 2017

TẠI SAO TA LẠI GẶP ĐAU KHỔ ?
- Muốn biết kiếp trước tạo nhân gì , hảy xem kiếp này hưởng quả gì ,
Muốn biết kiếp sau hưởng quả gì , hảy xem kiếp này tạo nhân gì -- kinh Phật .
Đạo Phật nói , mỗi ng khi ra đời đều có 1 HÀNH TRANG : đây là kết quả những việc làm trong kiếp trước .
Nếu kiếp trước , họ làm nhiều điều tốt hơn điều xấu , cuộc đời họ trong kiếp này sẽ an nhàn , ít gặp giông ba bão tố .
Nếu kiếp trước họ làm điều xấu nhiều hơn điều tốt , họ sẽ thấy nhiều điều xấu đến với họ . 
Những ng giúp ta trong kiếp này , là do kiếp trước họ đã chịu ơn , nay trả ơn .
Ng nào làm khổ ta trong kiếp này , do kiếp trước ta làm khổ y , nay y trả thù . 
Tôi nghiệm thấy , ng làm khổ tôi thì NHIỀU hơn ng giúp tôi : tôi đã bị nhiều ng ghen ghét , nói xấu tôi , v.v... một cách vô lý , dù tôi ko động chạm đến họ . Nhờ học Phật mới biết do mình đã tạo thù oán với họ trong kiếp trước . Và tôi cũng được 1 số ít ng HẾT LÒNG giúp đở tôi , dù tôi chẳng giúp gì cho họ : nhờ học Phật mới biết họ đến với mình để trả ơn . *
Vũ trụ rất CÔNG BẰNG , ko ai chịu đau khổ một cách oan ức hay vô lý : CÓ VAY THÌ CÓ TRẢ ! 
Không có Thượng đế hay Chúa hay Phật có thể gánh chịu các SAI LẦM mà ta đã tạo ra . 
Xã hội , sở dỉ bớt đau khổ chút ít vì cũng có những ng cố gắng giúp đở kẻ mắc phải sai lầm hay trong cơn hoạn nạn . Thực tế cho thấy : thường thường kẻ có TẤM LÒNG thì ÍT TIỀN và kẻ NHIỀU TIỀN thì lại ko có TẤM LÒNG . Không phải mọi người giàu đều như vậy . (Từ lúc ở VN đến hôm nay , tôi đã chứa tổng cộng NĂM kẻ homeless trong nhà hay phòng của mình , ngay cả ko biết rỏ gốc tích của họ : dì tôi đã từng nói , 'mầy chứa nó , có ngày nó sẽ giết mày'; tôi nói , 'chẳng lẽ nó lại giết ng giúp nó' . . . ) 
Tóm lại , CHÍNH mình là ng tạo hạnh phúc hay đau khổ cho mình , chứ ko phải cha mẹ hay thượng đế . Nếu cha mẹ hay thượng đế có thể giúp mình thì mình đã KHÔNG khổ như bây giờ , dù cho họ rất thương yêu mình . 
* Hồi trong tù , cuộc sống rất thiếu thốn , 1 bạn tù đã cho tôi 1 quần lót bộ đội mới tinh - mà anh mới lảnh ; tôi nhớ tới bây giờ . 
Đầu thập niên 1990 , 1 ng Pháp làm cho một NGO đã thuê tôi làm thông dịch cho ông , dù tiếng Pháp (của tôi) ko bằng đồng nghiệp học trường Pháp Marie-Curie nỗi tiếng tại SG . Ông trả lương hậu , cùng ông đi du lịch , công tác từ nam ra bắc (Đà lạt , Huế , Hà nội , Hải phòng , v.v....) bằng taxi , xe lửa , máy bay , ở ks sang trọng . Năm 1994 , biết tôi định đi Mỹ , ông rất buồn vì tôi ko còn giúp ông nữa . Tôi trả lời , đi để biết về nước mỹ , v.v... Qua Mỹ tôi ko gọi phone cho ông nhưng ông và bà vợ VN mới cưới cứ gọi hỏi thăm tôi . Ông đã nhờ bà vợ HAI lần mang tiền sang Mỹ cho tui khi bà thăm cha mẹ tại bắc Cali , dù tôi từ chối vì nói bà ở quá xa San Jose . Bà trả lời , 'vc tôi rất quí anh nên tôi phải đi gặp anh' . Năm 2011 , ông bà định mua vé để tôi về vn cùng du lịch vn với ông bà : tôi từ chối , bảo ' nên dùng tiền đó để giúp em tôi mua 1 laptop để anh em dễ liên lạc' ; ông đã đồng ý và giúp 1.200 đô . 
Và 1 số ng khác cũng giúp đở tôi (dù tôi chưa làm gì giúp họ) (còn tiếp) .

Bài này đã đăng trên FB và sau đó có thêm ba còm của tôi .

Tai Tran : Hồi 13-14 t , gia sư (tutor) nói về luân hồi nhân quả , tôi cải lại 'nếu có LHNQ tại sao tôi ko nhớ được KIẾP TRƯỚC , v.v...' Sau này , do gặp nhiều đau khổ do bịnh tật , v.v... tôi đã tìm hiểu về LHNQ . Năm 1986 , nhận dự đám tang của em gái tại chùa , tôi thấy kinh Phật ghi "trong số bà con thân thuộc của ta , có ng kiếp trước từng là KẺ THÙ , v.v..." . Tôi ko tin , nhưng sau khi chứng kiến những lục đục , tranh cải trong gia đình , trong bà con , trong gđ các láng giềng , v.v... tôi thấy điều này là ĐÚNG . Ông tổ trưởng TDP , trước kia ở nhà trệt lợp tôn , có vài đứa em ở chung với ông . Sau này nhờ bà chị VK Mỹ giúp đở xây thành 3-4 từng rất lịch sự . Mấy đứa em khác , trước đây ở ngoài , nay cũng muốn về ở . Thế là cải lộn , đánh nhau , toàn bà con (em rể đánh với anh vợ , anh đánh em , v.v...) . Ông già chỉ biết kêu Trời . Tôi liền gọi CA ; họ ngăn , nói để gđ tự thu xếp . . .
October 4, 2014 at 9:14pmEdited
LikeShow more reactions
1
Manage
Tai Tran Cùng 1 ngày , 1 đứa trẻ ra đời làm con trai của công nương xứ Anh thì cũng có 1 đứa trẻ ra đời trong 1 gđ VN nghèo khổ , sống bằng nghề bươi rác . Đứa thứ hai sẽ có triển vọng thất học , lớn lên sẽ sống trong cảnh nghèo khổ , bịnh tật , v.v... vì lúc nhỏ sống bên bải rác . Bạn giải thích như thế nào ? Chẳng lẽ nói thượng đế muốn như vậy hay TĐ muốn THỬ THÁCH đứa bé thứ hai ? Nếu nói như vậy , chẳng lẻ TĐ lại đối xử bất công : đứa này thì TĐ cho làm con vua , đứa kia cho ra đời ở bải rác ! Theo nhà Phật , do hành động TỐT và XẤU từ KIẾP trước của 2 em này , đã khiến 1 em làm con vua và 1 em sống tại bải rác . Vũ trụ đc cai quản bởi luật NHÂN QUẢ : gieo nhân nào thì hưởng quả ấy .
Trông đậu thì đc đậu , trồng khoai thì đc khoai .
Cùng 1 cha 1 mẹ , cùng chịu sự thương yêu chăm sóc như nhau mà thằng anh vào tù ra khám , còn em gái lại học hành tấn tới , có địa vị cao trong XH . Bạn giải thích thế nào : Tại vì TĐ muốn như vậy hay ngài muốn thử thách thằng anh ; thế tại sao ngài ko thử thách đứa em ?!?
October 4, 2014 at 10:11pmEdited
LikeShow more reactions
1
Manage

Tai Tran Tôi có 2 đứa cháu (con của em) : 1 lần đi xe đò hành hương ở Châu Đốc thì xe đò đụng 1 xe khác chạy ngược chiều . Trước đó thằng cháu trai đang ngồi kế bên tài xế : con cháu gái ở phía sau lên dành chổ , khi xe đụng rất nhiều ng chết và bị thương , con nhỏ này bị máu ra lổ tay , chấn thương sọ não . . . Dù sống sót những vẫn còn di chứng , đầu lúc nào cũng nghiêng và nói ngọng . Trước đó , nó thông minh và giúp mẹ rất nhiều . (Nếu tai nạn này xảy ra ở Mỹ thì cháu này ko bị di chứng nặng như vậy) .
Vậy bạn giải thích như thế nào : do di truyền , do ngẫu nhiên , do Thượng đế muốn hay thử thách đứa cháu gái (đây là ý kiến của ng theo TCG , đặc biệt là công giáo) . Bên PG giải thích , kiếp trước cháu này làm điều gì xấu , nên kiếp này trả quả . Thông thường , những ng hay CHẾ NHẠO các ng DI TẬT thường bị tai nạn gây dị tật như vậy để cảm nhận những ĐAU KHỔ của ng di tật .
October 5, 2014 at 7:35am
LikeShow more reactions

Tuesday, October 3, 2017

Nếu bạn dùng mạng wifi nơi CÔNG CỘNG * , hảy theo 10 mẹo vặt sau .
1/ Chọn mạng wifi quen biết .
2/ Phải nhớ rõ tên của mạng wifi quen thuộc , tránh những mạng wifi "nhái" , gần giống mạng wifi quen thuộc . 
3/ Tránh những hot spot mà máy bạn xếp là "unsecured" (ko an toàn) . Nên nhớ , kể cả phải nhập mật mã , một hot spot vẫn có thể ko an toàn .
4/ Nếu trang mạng được xếp là secured (an toàn) , nên chọn độ mã hóa (encryption) an toàn nhứt . Không nên chọn WEP , nên chọn WPA hay tốt nhứt là WPA2.
5/ Chỉ vào những trang mạng đứng đầu bởi chữ "https" hay có hình ổ khóa ở trên cùng (xem hình) hay cuối của trang mạng này .
6/ Trước khi dùng wifi công cộng , hảy cài các software như Force-TLS hay HTTPS - Everywhere , đây là add-on free trên trình duyệt Firefox . Software về VPN - có cái free , có cái ko - cũng thêm an toàn cho bạn .
7/ Nên thường thay đổi mật mã và tạo thêm khó khăn bằng cách thêm các dấu hiệu (symbol) như @ , # , $ , % , & , v.v... . Mỗi mật mã cho mỗi tài khoản phải khác nhau : mật mã cho Facebook phải khác với mật mã của địa chỉ email , v.v...
8/ Cập nhật hóa software chống virus và để ý đến cảnh báo trên màn hình .
9/ Tắt wifi nếu ko dùng .
10/ Dùng ĐTTM lướt mạng an toàn hơn laptop .
Dịch từ : Sid Kirchheimer , Scam-Proof Your Life .
* Như thương xá , cà phê Starbucks , McDonald , phi trường , bịnh viện , thư viện , v.v...


Monday, October 2, 2017

Đi bộ 100 dặm Anh với bịnh ALS .
Vào ngày 13/10/16 , Rick Marks , 55 t , 1 trong các giám đốc của ngân hàng Bank of America , đã biết cuộc đời mình thay đổi . Ngày đó , ng cha có 2 con này đã được chẫn đoán bị ALS , bịnh thoái hóa thần kinh tiến triển (progressive neurodegenerative disease) gây thoái hóa cơ nghiêm trọng khiến bịnh nhân ko sống quá 5 năm . Để gây quỹ trị bịnh , ông đã đi bộ 1 phần của đường mòn Appalachian . "Tôi thực hiện thách thức này , vì muốn chứng tỏ tôi làm những gì tôi có thể, " Marks nói , dù ko còn nói được (ông dùng 1 ứng dụng biến văn bản thành lời nói) và mang nẹp (brace) cổ vì cơ bắp cổ quá yếu .
Ngày 17/6 , Marks bắt đầu từ chân núi Greylock trong vùng Berkshires với mục tiêu đi bộ trong 7 tuần và về nhà kịp thời để dự 30 năm kỷ niệm ngày cưới . Càng chục bạn và thiện nguyện viên đi cùng ông để mang đồ tiếp tế cũng như giúp đở ông . Cứ vài ba ngày , Marks về nhà để nghỉ ngơi trong khi đoàn tiếp tục đi .
Khi vượt qua đoạn đường 100-dặm (160 km) vào 26/7 , ông đã gây quỹ được 118.000 đô cho tổ chức vô vị lợi ALS ONE nhằm mục tiêu tìm được cách chữa vào 2020 và ghi nhật ký mỗi ngày trên blog rickshikeforals.org . Dù ko thể leo lên những nơi cao nhứt của đường mòn này (con trai Philip sẽ leo lên đỉnh núi Katahdin 5.267 ft (1.605 m) của bang Maine) , ông nói "Tôi vẫn muốn đánh động nước Mỹ về bịnh này khi tôi có thời giờ."
Ảnh 1 : Marks , vợ Eileen 54 t , 2 con trai Henry 21 t và Philip 18 t chụp tháng 8/2016 .
Ảnh 2 : "Kể từ khi tôi được chẫn đoán , tôi đã muốn tạo 1 ảnh hưởng trên khảo cứu và đánh động mọi người," Marks (ng mặc quần trắng) nói .
Các bạn giúp ông (ng thứ hai từ phải) xuống đường mòn Crawford gần đỉnh của núi Eisenhower trong bang New Hampshire .



Sunday, October 1, 2017

Nhà thơ Hữu Loan: KỂ CHUYỆN BỐ MẸ VỢ BỊ HÀNH QUYẾT


Lời tự thuật của Thi sĩ HỮU LOAN,
tác giả "MÀU TÍM HOA SIM"

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ...

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!


Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

Màu tím hoa sim
(Nguyên văn của tác giả)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Hữu Loan


© Hữu Loan
Nguồn: Huỳnh Ngọc Chênh blog.