Wednesday, May 28, 2014

FAR EASTERN ECONOMIC REVIEW, 1946 – 2004

Established in 1946, the Far Eastern Economic Review was a pioneering force in journalism providing cutting edge, in-depth investigative reporting and objective and clear analysis on Asia. Founded after the Second World War by Eric Halpern, an Austrian Jew, the magazine converted to a monthly publication in 2004 following acquisition by Dow Jones in 1986 (previously a minority shareholder). The final issue was printed in December 2009.
The Asia Society last night commemorated the tenth anniversary of the weekly magazine’s closure by hosting a discussion session with former distinguished Review editors and writers. Those present included renowned journalist Philip Bowring, who started his career at the Review from Sydney in 1972, and who subsequently moved to Hong Kong in 1973 as the Review’s business editor. Michael Vatikiotis, another former editor, fielded questions from the floor. He began his career at the Review reporting from Indonesia, Malaysia and Thailand, and today writes works of fiction and non-fiction on regional politics and Indonesian culture. Many of the former editors and writers who had gathered for the discussion were dedicated readers and subscribers of the Review, having discovered the magazine hidden in academic libraries during their university days.
The Review was founded in 1946 by Eric Halpern, a Jewish immigrant from Vienna, who initially settled in Shanghai and ran Finance and Commerce, a biweekly business magazine. He later moved to Hong Kong where he founded the weekly Review with backing from four key investors, focusing mainly on issues relating to China and Hong Kong. Leo Goodstadt, who participated in HKHP’s Hong Kong Oral History Programme in 2013, takes up the story: ‘FEER was established by a man who had edited a publication in Shanghai and came to Hong Kong, where I’m not sure if he was even a native English speaker but it didn’t seem to make much difference, and he was quite friends with a well-known printer here … and the pair of them had this concept, and a couple of them went to the Kadoories and a couple of other businessmen and they set it up and they were going to have a Chinese partner who disappeared from folk memory but whose family are cousins of mine on the female side … there were four shareholders originally, so there was the printer, there was the Kadoories, there was Jardines and there was the Bank’.

Initially the magazine’s circulation was very low, estimated at around 15,000. In 1958 Dick Wilson was invited on board from the Financial Times as editor and publisher, operating out of Queen’s Building (today’s Mandarin Hotel). At that time there were no full time correspondents, only freelancers and contributors. In 1964 Wilson was succeeded as editor by Derek Davies, a Welsh journalist who had served in the British Foreign Office. During his 25 year tenure, coverage of South East Asia rapidly expanded and the magazine attracted a wider readership mainly from Malaysia and Singapore. The Review was known for the independence of its coverage, whether on the 1967 riots in Hong Kong or the Malaysian race riots of 1969. In 1972 the Review acquired its first staff correspondents outside of Hong Kong, marking a period of growth and expansion. For more than 60 years, Hong Kong was home to the Review, one of Asia’s finest media institutions.
The HKHP Archive holds original copies of the Far Eastern Economic Review from 1946 – 1965. 
Bài viết của ký giả Frank Ching trên Tạp chí Kinh tế Viễn Ðông đề cập đến Công Hàm Bán Nước
Vấn đề Tranh chấp Chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa
Saigon - Hanoi - Paracels Islands Dispute – 1974

Frank Ching (Far Eastern Economic Review, Feb. 10, 1994)

1) Tái thẩm định miền Nam Việt Nam
Chỉ có một số ít các chính phủ sẵn sàng thú nhận rằng họ đã phạm phải sai lầm, ngay cả khi những chính sách của họ cho thấy điều đó một cách rất rõ ràng. Lấy thí dụ như Việt Nam chẳng hạn

Khi nước CHXHCN Việt Nam đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội trên tất cả mọi mặt, ngoại trừ cái tên, thì họ vẫn ngần ngại không muốn thú nhận điều này. Chính sách kinh tế thị trường mà họ đang theo đuổi, dù sao, đã nói lên điều ngược lại.

Trong những năm chiến tranh, những trận đánh chống lại quân đội Mỹ và quân đội miền Nam Việt Nam, đã được chiến đấu dưới danh nghĩa của chủ nghĩa xã hội và nhận được sự ủng hộ của toàn thể thế giới cộng sản, đặc biệt là từ Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa.

Những trận đánh này đã đòi hỏi một sự hy sinh nặng nề về xương máu và tài nguyên của đất nước, là một cái giá mà người Việt Nam vẫn tiếp tục phải trả cho đến ngày hôm nay khi nhà nước CSVN đang cố gắng, một cách rất muộn màng, đặt việc phát triển kinh tế lên trên ý thức hệ chính trị. Cái ý thức hệ đó trong quá khứ đã buộc Hà Nội phải lựa chọn những chính sách mà khi nhìn lại thì không có vẻ gì là khôn ngoan cả. Và việc bóp méo ý thức hệ này đã gây cho họ nhiều thứ rắc rối khác hơn là chỉ đưa họ vào tình trạng khó xử với các đồng chí cộng sản đàn anh của họ ở Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh. Ðôi khi nó cũng làm mờ mắt họ về những lập trường đứng đắn được khẳng định bởi kẻ thù của họ là chính phủ Sài Gòn .

Trong những ngày đó, chế độ Hà Nội rất hăng hái trong việc lên án chính quyền miền Nam, cho họ là những con rối của Mỹ, là những kẻ đã bán đứng quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Ngay cả lúc đó, một điều rõ ràng là những lời cáo buộc này đã không có căn cứ. Bây giờ, 20 năm sau, cũng lại một điều rõ ràng là đã có những lúc mà chính quyền Sài Gòn đã thật sự đứng lên cho quyền lợi của dân tộc Việt Nam, một cách vô cùng mạnh mẽ, hơn xa cả cái chính quyền tại Hà Nội.

Một trường hợp để chứng minh cụ thể là vụ tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa trên biển Nam Trung Hoa. Quần đảo Hoàng Sa, giống như quần đảo Trường Sa ở xa hơn về phía Nam, được tuyên bố chủ quyền bởi cả hai Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng khi chế độ Hà Nội vẫn đang nhận viện trợ từ Bắc Kinh, thì họ im hơi lặng tiếng trong việc tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa. Quần đảo này đã bị chiếm đoạt bởi Trung Quốc sau một vụ đụng độ quân sự vào tháng Giêng năm 1974, lúc quân Trung Quốc đánh bại những người tự bảo vệ từ miền Nam Việt Nam. Từ đó, quần đảo này đã nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.

Sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, có một sự bất đồng nhanh chóng giữa Bắc Kinh và Hà Nội, và chính quyền Hà Nội - vừa mới thống nhất với miền Nam - lại tái tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù đã có những cuộc đàm phán cao cấp giữa hai nước, nhưng vụ tranh chấp này vẫn chưa được giải quyết. Các chuyên gia của hai nước có hy vọng là sẽ gặp gỡ sớm sủa hơn để bàn thảo về những vấn đề chuyên môn, nhưng không chắc chắn là sẽ có một quyết định toàn bộ . Thật ra, một viên chức cao cấp của Việt Nam đã thú nhận rằng vấn đề sẽ được giải quyết bởi các thế hệ tương lai.

Dù không muốn phán đoán về những giá trị của lời tuyên bố chủ quyền của bất cứ bên nào, một điều rõ ràng là cương vị của phía Việt Nam đã bị yếu thế hơn vì sự im hơi lặng tiếng của Hà Nội khi quân đội Trung Quốc chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa. Sự thiếu sót của Hà Nội để phản đối trước hành động quân sự của nước ngoài bây giờ được dùng để quật ngược lại Việt Nam mỗi khi đề tài trên được nêu ra.

Giới thẩm quyền Việt Nam ngày hôm nay giải thích sự im lặng của họ vào thời điểm đó bằng cách nói rằng họ đã phải dựa vào viện trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến chống Mỹ, vốn là kẻ thù chính yếu của họ lúc đó. Vậy thì một điều chắc chắn là, khi chiến tranh càng được chấm dứt sớm hơn thì quan hệ hữu nghị giữa Hà Nội và Bắc Kinh cũng như vậy .

Cộng thêm vào đó là những điều bị bóp méo mới toanh mà Hà Nội phải dùng đến để tăng thêm giá trị cho lời tuyên bố về chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa. Bởi vì sự im lặng đồng ý ngầm trong quá khứ mà Hà Nội bó buộc phải tránh không dám dùng những lời tuyên bố chính thức của họ từ thập niên 1950 đến thập niên 1970, mà phải dùng những bản tuyên bố của chế độ Sài Gòn - tức là công nhận tính hợp pháp của của chính phủ miền Nam. Một cách rất sớm sủa, như vào năm 1956, chính phủ Sài Gòn đã công bố một thông cáo chính thức xác nhận chủ quyền của mình trên Hoàng Sa và Trường Sa.

Chế độ Sài Gòn cũng công bố một nghị định để bổ nhiệm nhân sự hành chánh cho quần đảo Hoàng Sa. Cho đến khi họ bị thất bại bởi lực lượng quân sự Trung Quốc vào năm 1974 (chỉ vài tháng trước khi miền Nam Việt Nam bị sụp đổ trước sự tấn công của cộng sản từ miền Bắc), thì chính phủ Sài Gòn vẫn tiếp tục tuyên bố chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng Sa.

Trong vài năm vừa qua, nước Nam Dương (Indonesia) đã bảo trợ cho các buổi hội thảo với tính cách phi chính phủ về vùng biển Nam Trung Hoa. Tại các buổi hội thảo lúc có lúc không này, phía Việt Nam một lần nữa lại thấy bối rối khi được yêu cầu giải thích về sự im lặng của họ hồi đó, khi Trung Quốc nắm giữ cái mà Việt Nam bây giờ tuyên bố là một phần của lãnh thổ họ. “Trong thời gian này”, họ nói, “có những tình trạng rắc rối về chính trị và xã hội tại Việt Nam, cũng như trên thế giới, mà phía Trung Quốc đã lợi dụng, theo từng bước một, để dùng biện pháp quân sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Và Trung Quốc đã thu gọn toàn bộ Hoàng Sa vào năm 1974.”

Với lợi thế của hai thập niên về lịch sử, bây giờ có thể thẩm định được những hành động của chính quyền miền Nam với một nhãn quan công minh hơn. Trong cái phúc lợi của việc hàn gắn vết thương chiến tranh, nếu không phải vì những chuyện khác, có lẽ điều khôn ngoan cho Hà Nội là nên xem xét lại quá khứ và trả lại cho Cesar những gì thuộc về Cesar. Và sự chống đỡ mãnh liệt của chính quyền Sài Gòn để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, đúng vào cái lúc mà chế độ Hà Nội đang bận rộn ve vuốt để nhận đặc ân từ Trung Quốc, là một hành động xuất sắc nên được công nhận.

Hồ Chí Minh đã có một lần được hỏi rằng ông ta ủng hộ Liên Sô hay ủng hộ Trung Quốc Ông ta đã trả lời rằng ông ta ủng hộ Việt Nam. Bây giờ là lúc để chế độ Hà Nội nhìn nhận rằng đã có lúc khi mà chính quyền Sài Gòn đã ủng hộ cho Việt Nam nhiều hơn là chính quyền của miền Bắc.

2) Ðằng sau những tuyên bố về chủ quyền trên hai quần đảo

Những gì đã xảy ra sau khi Hồ Chí Minh được quân đội của Mao Trạch Ðông và các đồng chí giúp nắm giữ quyền lực tại miền Bắc Việt Nam.

Việt Nam tuyên bố chủ quyền trên “quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” dựa trên các tài liệu xưa cũ và đặc biệt là tập bút ký “Phủ Biên Tập Lục” của Lê Quý Ðôn. Việt Nam gọi hai quần đảo này là Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratlys); Trung Quốc gọi là Tây Sa (Xisha) và Nam Sa (Nansha). Người Việt Nam đã đụng độ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa vào ngày 19/1/1974 với kết qủa là một tàu lớn của Hải quân miền Nam cũ bị đắm và 40 thuỷ thủ bị bắt. Vào tháng 3/1988 nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa lại đến và đánh chìm 3 tàu của Việt Nam, 72 thuỷ thủ bị thiệt mạng và 9 bị bắt. Vào ngày 25/2/1992, nước Cộng hoà Nhân dân Trung hoa tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của họ.

Lý do chính để Trung Quốc làm như thế đã được biết đến trước đây như một phần của kế hoạch gọi là “Không gian sinh tồn”, bởi vì tài nguyên thiên nhiên của hai vùng Mãn Châu và Tân Cương sẽ bị cạn kiệt sớm. Ðể làm điều này, Trung Quốc bắt đầu bằng phần dễ nhất – là cái mà cộng sản Việt Nam đã hứa trước đây. Có nghĩa là Trung Quốc căn cứ vào một sự thương lượng bí mật trong qúa khứ. Trong một bản tin của hãng thông tấn Reuters ngày 30/12/1993, thì cộng sản Việt Nam đã bác bỏ sự thương lượng bí mật này nhưng không đưa ra bất cứ lời giải thích nào. Lê Ðức Anh đi thăm Trung Quốc và làm chậm trễ vụ tranh chấp này đến 50 năm. Có phải là Trung Quốc có thái độ vì sự vô ơn và những hứa hẹn trong quá khứ của Lê Ðức Anh?

3) Cộng Sản Việt Nam bán Quần Đảo Hoàng sa và Trường sa, nhưng bây giờ muốn nói không.

Theo tài liệu "Chủ quyền tuyệt đối của Trung Quốc trên quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa" của Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Beijing Review, 18/2/1980), thì Hà Nội đã "dàn xếp" vấn đề này trong quá khứ. Đại khái họ đã bảo rằng:

- Hồi tháng 6 năm 1956, hai năm sau ngày chính phủ của ông Hồ Chí Minh đã được tái lập tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Bắc Việt Ung Văn Khiêm nói với Li Zhimin, Xử lý Thường vụ Toà Đại Sứ Trung quốc tại Bắc Việt, rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc".

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là mười hai hải lý, được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, "bao gồm ... Quần Đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa ...". Mười ngày sau đó, Phạm Văn Đồng đã ghi rõ trong bản công hàm gởi cho Chu An Lai, rằng "Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về vấn đề lãnh hải".

Ðây là của văn bản của nhà nước Việt Nam do Phạm Văn Ðồng ký gởi cho Chu Ân Lai vào ngày 14/9/1958 để ủng hộ cho lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc như theo sau:
Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố , ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.

Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958
PHẠM VĂN ĐỒNG
Thủ tướng Chính Phủ
Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa
Thêm một điều cần ghi nhận là Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (PRC) đã chỉ đe dọa những lãnh thổ mà Việt Nam đã tuyên bố là của mình, và để yên cho các nước khác. Rõ ràng là ông Hồ Chí Minh qua Phạm Văn Đồng, đã tặng cho Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa "một cái bánh bao lớn" bởi vì lúc đó ông Hồ Chí Minh đang chuẩn bị cho công cuộc xâm lăng miền Nam Việt Nam. Ông Hồ cần sự viện trợ khổng lồ và đã nhắm mắt để nhận tất cả những điều kiện của Bắc Kinh. Đối với ông ta, việc bán "trên giấy tờ" hai quần đảo lúc đó vẫn thuộc về miền Nam Việt Nam là một điều dễ dàng.

Vì sự việc này mà Cộng sản Việt Nam đã chờ một buổi họp của các quốc gia khối ASEAN tại Manila, để dùng cơ hội này như một cái phao an toàn và ký ngay một văn kiện đòi hỏi những quốc gia này giúp Việt Nam giải quyết vấn đề "một cách công bình"

Về phía Trung Quốc, sau khi đã lấy được những đảo của Cộng sản Việt Nam, họ đã tỏ thái độ ôn hòa đối với Mã Lai Á và Phi Luật Tân, và bảo rằng Trung Quốc sẵn sàng thương lượng các khu vực tài nguyên với các quốc gia này, và gạt Việt Nam qua một bên. Trung Quốc đã nói họ sẽ không tán thành bất cứ quốc gia nào can thiệp vào vấn đề giữa họ và Cộng sản Việt Nam.

Sau đó, Phạm Văn Đồng đã chối bỏ việc làm sai lầm của ông ta trong quá khứ, trong một ấn bản của Tạp chí Kinh tế Viễn Đông ngày 16/3/1979. Đại khái, ông ấy nói lý do mà ông ấy đã làm bởi vì lúc đó là "thời kỳ chiến tranh". Đây là một đoạn văn trích từ bài báo này ở trang số 11:

“Theo ông Li (Phó Thủ tướng Trung quốc Li Xiannian), Trung quốc đã sẵn sàng chia chác vùng vịnh "mỗi bên một nửa" với Việt Nam, nhưng trên bàn thương lượng, Hà Nội đã vẽ đường kiểm soát của Việt Nam đến gần Đảo Hải Nam. Ông Li cũng đã nói rằng vào năm 1956 (hay 1958 ?), Thủ tướng Việt Nam Phạm văn Đồng đã ủng hộ một bản tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên Quần Đảo Trường Sa Và Hoàng Sa, nhưng từ cuối năm 1975, Việt Nam đã kiểm soát một phần của nhóm đảo Trường Sa - nhóm đảo Hoàng Sa thì đã nằm dưới sự kiểm soát bởi Trung Quốc. Năm 1977, theo lời tường thuật thì ông Đồng đã biện hộ cho lập trường của ông ấy hồi năm 1956: "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy".”

Vì hăng hái muốn tạo ra một cuộc chiến thê thảm cho cả hai miền Nam Bắc, và góp phần vào phong trào quốc tế cộng sản, ông Hồ Chí Minh đã hứa, mà không có sự tự trọng, một phần đất "tương lai" để cho Trung Quốc nắm lấy, mà không biết chắc chắn là có thể nào sẽ nuốt được miền Nam Việt Nam hay không.

Như ông Đồng đã nói, "Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy". Vậy thì ai đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam và sẵn sàng làm tất cả mọi sự có thể làm được để chiếm miền Nam, ngay cả việc bán đất ? Bán đất trong thời chiến và khi cuộc chiến đã chấm dứt, Phạm Văn Đồng lại chối bỏ điều đó bằng cách bịa đặt ra việc đổ thừa cho chiến tranh.

4) Trong cuốn “Vấn đề tranh chấp lãnh thổ Hoa -Việt” của Pao-min-Chang thuộc tủ sách The Washington Papers, do Douglas Pike viết lời nói đầu, được Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Quốc tế thuộc Ðại học Georgetown , Washington D.C. xuất bản 

Ngoài cái khoảng cách về địa lý, cả hai nhóm quần đảo này nằm ngoài phía bờ biển của miền Nam Việt Nam và vẫn dưới sự quản lý hành chánh của chế độ Sài Gòn vốn không thân thiện gì. Hà Nội đơn giản là không ở trong cái tư thế để đặt vấn đề với cả Trung Quốc lẫn sức mạnh của hải quân Mỹ cùng một lúc. Do đó, vào ngày 15/6/1956, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đã nóì với phía Trung Quốc: “Từ quan điểm của lịch sử, thì những quần đảo này thuộc về lãnh thổ Trung Quốc” (Beijing Review 30/3/1979, trang 20 – Cũng trong báo Far East Economic Review 16/3/1979, trang 11).

Hồi tháng 9 năm 1958, khi Trung Quốc, trong bản tuyên bố của họ về việc gia tăng bề rộng của lãnh hải của họ đến 12 hải lý, đã xác định rằng quyết định đó áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của Trung Quốc, bao gồm cả Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, một lần nữa Hà Nội đã lên tiếng nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên 2 quần đảo đó. Ông Phạm Văn Đồng đã ghi nhận trong bản công hàm gởi cho lãnh tụ Trung Quốc Chu An Lai ngày 14/9/1958: "Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc" (xem Beijing Review 19/6/1958, trang 21 -- Beijing Review 25/8/1979, trang 25 -- Sự tồn tại của bản công hàm đó và tất cả nội dung đã được xác nhận tại Việt Nam trong BBC/FE, số 6189, ngày 9/8/1979, trang số 1.)

5) Tại sao ?

Theo ông Carlyle A Thayer, tác giả bài "Sự tái điều chỉnh chiến lược của Việt Nam"trong bộ tài liệu "Trung Quốc như một Sức mạnh Vĩ đại trong vùng Á châu Thái Bình Dương" của Stuart Harris và Gary Klintworth [Melbourne: Longman Cheshire Pty Ltd., forthcoming 1994] :

Phía Việt Nam, trong khi theo đuổi quyền lợi quốc gia, đã thực hiện nhiều hành động mà theo quan điểm của Trung Quốc thì có vẻ khiêu khích cao độ. Thí dụ như, trong công cuộc đấu tranh trường kỳ dành độc lập, Việt Nam đã không biểu lộ sự chống đối công khai nào khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền của họ trên biển Nam Trung Hoa và đúng ra lại tán thành họ. Nhưng sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã đổi ngược lập trường. Năm 1975, Việt Nam đã chiếm đóng một số hải đảo trong quần đảo Trường Sa và sau đó đã tiến hành việc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trên toàn bộ biển Nam Trung Hoa.

Như Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận:

"Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Hoa-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc.”

Đặc biệt thêm nữa là cái tuyên bố đó để nhắm vào việc đạt yêu cầu cho những nhu cầu cấp thiết vào lúc bấy giờ để ngăn ngừa bọn tư bản Mỹ dùng những hải đảo này để tấn công chúng tôi. Nó không có dính dáng gì đến nền tảng lịch sử và pháp lý trong chủ quyền của Việt Nam về hai quần đảo Hoàng Sa Và Trường Sa" (Tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2/12/1992, được loan tải bởi Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3/12/1992)

Những ghi nhận này cho thấy rằng tất cả những điều mà Trung Quốc đã tố cáo phía trên là sự thật. Những gì xảy ra ngày hôm nay mà có liên hệ đến hai quần đảo này chỉ là những hậu quả của sự dàn xếp mờ ám của hai người cộng sản anh em trong qúa khứ.

Không một ai trong cộng đồng thế giới muốn bước vào để dàn xếp sự bất đồng giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc. Lý do rất rõ ràng: cái công hàm ngoại giao và sự nhìn nhận của Cộng sản Việt Nam không thể nào xoá bỏ được bởi một nước nhỏ như Việt Nam, kẻ đã muốn chơi đểu để lừa dối Trung Quốc. Hơn nữa, Cộng sản Việt Nam không thể nào tránh được Trung Quốc trong khi họ phải bắt chước theo chính sách"đổi mới" của Trung Quốc để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Lược dịch từ: Paracels Islands Dispute by Frank Ching (Far Eastern Economic Review, Feb. 10, 1994)

Palawan Sun: Bắc Việt Nam ủng hộ Tuyên bố 1958 của Trung Quốc


When in 1957 China protested Vietnam’s move in Robert Island, Saigon was already in control also of two other islands of the Crescent Group: Pattle and Money Islands. The three South Vietnamese held islands are on the western side of the Crescent Group. Then in August 1958 Saigon took over Duncan Island in the eastern sector of the Crescent, thus facing the Amphitrite Group.Two weeks later the PRC government declared its sovereignty over the whole of the Paracels. They were supported by North Vietnam.

Vào năm 1957 khi Trung quốc phản đối sự chiếm đóng của Việt Nam tại đảo Robert, thì chính quyền Sài Gòn đã hoàn toàn kiểm soát hai đảo khác trong nhóm Crescent: đảo Pattle và đảo Money. Ba (3) đảo mà (chính quyền) Nam Việt Nam chiếm giữ nằm bên phía tây của nhóm Crescent. Rồi đến tháng 8 năm 1958, (chính quyền) Saigon lại chiếm giữ thêm đảo Duncan nằm bên khu vực phía đông của nhóm đảo Crescent, đối diện với nhóm Amphitrite. Hai tuần sau đó, chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố chủ quyền của họ trên toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa. Họ đã được ủng hộ bởi (chính phủ) Bắc Việt Nam.
Trích và lược dịch từ A History of Three Warnings By Dr. Jose Antonio Socrates
và Palawan Sun Online

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (1974)
Nhiệm vụ cao cả và cần thiết của một chính phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cương quyết thi hành nhiệm vụ này, bất kể những khó khăn có thể sẽ gặp phải và bất kể những cáo buộc vô căn cứ có thể sẽ đến bất cứ từ đâu.
Trước sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Cộng bằng quân sự trên Quần đảo Hoàng Sa, nguyên là một phần đất thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà, Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà xét thấy cần thiết phải long trọng tuyên bố trước công luận thế giới, bạn cũng như thù, rằng:
Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần không thể cắt rời của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ không khuất phục trước bạo lực và bác bỏ tất cả hoặc một phần chủ quyền của họ trên những quần đảo này.
Chừng  nào mà bất cứ một hòn đảo nào của phần lãnh thổ đó của Việt Nam Cộng Hòa vẫn bị một nước khác chiếm đóng bằng bạo lực, thì Chính phủ và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục tranh đấu để lấy lại quyền lợi hợp pháp của mình.
Kẻ chiếm đóng bất hợp pháp sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về bất cứ tình trạng căng thẳng nào bắt nguồn từ đó.
Nhân cơ hội này, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên các hải đảo ngoài khơi miền Trung và Nam phần Việt Nam, đã luôn luôn được chấp nhận như một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa trên căn bản không thể chối cãi được về địa lý, lịch sử, chứng cứ  hợp pháp và bởi vì những điều thực tế.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những quần đảo này bằng tất cả mọi phương tiện. Ðể gìn giữ truyền thống tôn trọng hoà bình, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết, bằng sự thương lượng, về các tranh chấp quốc tế có thể bắt nguồn từ các quần đảo đó, nhưng điều đó không có nghĩa là Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ từ bỏ chủ quyền của mình trên bất cứ phần lãnh thổ nào của quốc gia.
Tuyên bố bởi  Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 14 tháng 2 năm 1974
Trích và lược dịch từ nguồn:
Paracels Forum - The Discussion Proceeds For Peace

Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa (1979)

Vào ngày 30/7/1979, Trung Quốc đã công khai công bố tại Bắc Kinh một số tài liệu với ý định để minh chứng cho việc tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Về vấn đề này, Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố:

1. Quần đảo Hoàng Sa và Quần đảo Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Các Sứ quân Việt Nam đã là những người đầu tiên trong lịch sử đến chiếm đóng, tổ chức, kiểm soát và khai phá các quần đảo này trong chức năng của họ như là các lãnh chúa. Quyền sở hữu này có hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế. Chúng tôi có đầy đủ các tài liệu lịch sử và luật pháp để chứng minh chủ quyền tuyệt đối trên hai quần đảo này.

2. Sự diễn giải của Trung quốc về văn bản ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà như một sự công nhận chủ quyền của phiá Trung quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản văn chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung quốc.

3. Năm 1965, Hoa Kỳ gia tăng cuộc chiến tranh xâm lược tại miền Nam Việt Nam và phát động một cuộc chiến huỷ diệt bằng không quân và hải quân chống lại miền Bắc Việt Nam. Họ đã tuyên bố rằng khu vực chiến trường của quân đội Hoa Kỳ bao gồm Việt Nam và vùng lân cận của khu vực khoảng 100 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam. Vào lúc đó, trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, nhân dân Việt Nam đã phải chiến đấu trong mọi tình huống để bảo vệ chủ quyền đất nước. Thêm nữa, Việt Nam và Trung Quốc lúc đó vẫn duy trì quan hệ hữu nghị. Bản tuyên bố ngày 9/5/1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa ra lý do để tồn tại chỉ với quá trình lịch sử này.

4. Từ năm 1972, theo sau Bản Thông cáo chung Thượng Hải, những kẻ cai trị Trung Quốc đã âm mưu với bọn hiếu chiến Mỹ để phản bội nhân dân Việt Nam, gây ra biết bao nhiêu trở ngại cho cuộc chiến tranh tự vệ của Việt Nam. Ðầu Tháng Giêng 1974, chỉ trước khi nhân dân Việt Nam toàn thắng vào mùa Xuân 1975, Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp quân sự, lúc đó vẫn dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn.

Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã tuyên bố rõ ràng cương vị của họ như sau đây:

- Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là những câu hỏi thiêng liêng cho tất cả mọi quốc gia.
- Những khó khăn về biên giới lãnh thổ, thường tồn tại trong các cuộc tranh chấp giữa các nước láng giềng do lịch sử để lại, có thể vô cùng rắc rối và nên được nghiên cứu kỹ càng.
- Các quốc gia quan tâm nên cứu xét vấn đề này trong tinh thần công bằng, tôn trọng lẫn nhau, hòa nhã, láng giềng tốt và giải quyết vấn đề bằng sự thương lượng.

5. Tại các cuộc thảo luận tổ chức vào ngày 24/9/1975 với phái đoàn Ðảng và Nhà nước Việt Nam trong chuyến thăm viếng Trung Quốc, Phó Thủ tướng Ðặng Tiểu Bình đã thú nhận rằng có sự tranh chấp giữa hai bên về vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và hai bên sau đó nên bàn thảo với nhau để giải quyết vấn đề
6. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa một cách bất hợp pháp bằng quân sự, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dẫm chân lên làm cản trở tinh thần của Hiến chương Liên Hiệp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam với tầm vóc to lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi tạo ra một tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước. Ðiều rõ ràng là những kẻ cai trị Trung Quốc vẫn không từ bỏ ý định tấn công Việt Nam một lần nữa. Hành động của họ là một sự đe doạ nghiêm trọng cho hoà bình và ổn định trong vùng Ðông Nam Á và làm lộ rõ hơn tham vọng bành trướng, với bản chất bá quyền hiếu chiến của một nước lớn,  bộ mặt xảo trá lật lọng và phản bội của họ.

Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 1979
Trích và lược dịch từ nguồn:
Paracels Forum - The Discussion Proceeds For Peace

Bộ Ngoại giao Trung Quốc diễn giải về Công Hàm Bán Nước


International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands
5. Viet Nam
a) Vice Foreign Minister Dong Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d'affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that "according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory." Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that "judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty."b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government's Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People's Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People's Republic of China, including all islands on the South China Sea. On September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam "recognizes and supports the Declaration of the Government of the People's Republic of China on China's territorial sea."
c) It is stated in the lesson The People's Republic of China of a standard Vietnamese school textbook on geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China

Công nhận của thế giới về chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Trường Sa
5. Việt Nam
 a) Thứ trưởng ngoại giao Ðồng văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung quốc tại Việt Nam đã nói rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc". Ông Le Doc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống"
 b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa.  Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam "nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải"
 c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa .  
Trích và lược dịch từ trang nhà của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc
NGUỒN :  http://conghambannuoc.tripod.com/
Hit Counter    website metrics

Tuesday, May 27, 2014

Về thỉnh nguyện thư xin Nhà Trắng cấm vận Trung quốc .

Một bạn tôi đã email cổ vỏ cho thỉnh nguyện này . Sau đây là trả lời của tôi .
Tôi biết bạn có sự bức xúc trước sự lấn át , ngày càng gia tăng của TQ , mà mới nhứt là dàn khoan . Thật sự mà nói , ko chỉ dàn khoan , TQ đã xâm lăng về kinh tế , văn hóa , kể cã chính trị , v.v...
CP Mỹ , họ phải phục vụ cho quyền lợi của dân tộc họ , và các doanh nhân đã đầu tư hàng trăm ngàn hảng xưởng tại TQ . . . Hiện nay , người Mỹ biết tiếng Hoa dễ xin việc làm vì các cty rất cần người như vậy để quản lý phân xưởng và dễ giao tiếp với ng TQ . Một số TP ở Cali dạy tiếng Hoa từ bậc Trung học cho HS có nhu cầu . . .
Cũng từ chổ này , TQ đã mua những kỷ thuật hay sản phẩm dùng trong dân sự lẫn quốc phòng (dual-use) như động cơ phản lực cho trực thăng , cho máy bay dân dụng và chiến đấu (từ một chi nhánh CND của hảng Pratt-Whitney !) . . . Sau 1979 , mua radar để hướng dẫn cho pháo binh , đã gây thiệt hại nhiều cho quân VN trong các trận chiến từ 79-84 . . . . Nếu kể các sản phẩm song dụng này , cả ngày cũng ko hết . Còn sản phẩm dân dụng thì bạn cứ vào Walmart hay bất cứ các cửa hàng khác sẽ biết .
CP Mỹ cũng biết điều này , nhưng đã nói , họ theo chính sách Realpolitik - đã áp dụng từ thời Kissinger . Vì các mua bán này tạo lợi nhuận cho nước Mỹ ( như công nhân TQ trong các hảng như Flextronics (hậu duệ của Solectron ở bắc Cali) - sản xuất iPhone đã tạo hàng tỉ đô la lợi nhuận cho Apple) . Và rất nhiều Cty Mỹ đã làm giàu nhờ đầu tư , mua bán tại TQ .
Các chánh khách Mỹ , khi sang TQ , ko đá động gì đến Tây Tạng hay nhân quyền , v.v... tại TQ , vì họ ko muốn mất lòng khách hàng "khủng" này ! Các nước Pháp , Đức , Anh , CND , Úc , v.v... cũng như vậy . Chỉ trừ Tây ban nha đang đòi dẫn độ Hồ Cẫm Đào vì tội ác chống nhơn loại .
Tới đây , bạn sẽ biết phản ứng của Nhà Trắng khi nhận thỉnh nguyện này . (Mỹ đã nói , họ không xía vào tranh chấp lãnh hải ở biển Đông) .
Do vậy VN chĩ có TỰ CỨU MÌNH bằng đi theo con đường dân chủ - mà Myanmar đã làm từ ba bốn năm . Một khi người dân ý thức và bảo vệ những quyền căn bản của con người , từ dân thường đến nguyên thủ đều bình đẳng trước luật pháp , mọi người sống và làm việc theo Hiến Pháp , v.v... thì khó có nước lớn nào BẮT NẠT hay XÂM LĂNG họ . Hơn nữa , điều này làm sao xảy ra khi họ ở trong 1 liên minh QS (NATO) như các nước Latvia . . . hay Philippines . . . Đài loan , dù đã bị đá ra khỏi LHQ và ko có quan hệ ngoại giao với Mỹ nhưng vẫn được Mỹ bảo vệ do một Hiệp ước ký kết trước đây .
Dù cho , vì 1 lý do nào đó , Mỹ bỏ rơi ĐL , và TQ xâm lăng ĐL , nhưng để cại trị một dân tộc có truyền thống như ĐL không phải là điều dễ dàng (miếng xương khó gặm) . Và TQ cũng cảm nhận điều này khi tiếp thu Hongkong từ 1997 .

Monday, May 26, 2014

Về Biển Đông .

Bài viết của 
Le Na Morgoun

Trả lời các con về Thư báo tin của cụ Tô gửi Chu Ân Lai (trong thư này được cụ Tô gọi tắt một cách thân mật là đ/c Tổng Lý). Bức thư bị các thế lực thù địch với dân tộc Việt Nam nâng lên mức Công hàm và bêu rếu là “Công hàm bán nước Phạm Văn Đồng” và cho là Công hàm này đã “công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung quốc”. Để sáng tỏ nội dung này, chúng ta cần quay về quá khứ xa hơn nữa.

KHỞI NGUỒN:
- Theo Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp, nên Pháp có nhiệm vụ thực thi quyền đại diện Việt Nam chống lại mọi xâm phạm chủ quyền (tất nhiên cả quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa).
- Ngày 08/3/1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée (còn gọi là Hiệp ước Vịnh Hạ Long) thành lập chính thể Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là cựu hoàng đế Bảo Đại (Bảo Đại là niên hiệu nhưng tục lệ nhà Nguyễn chỉ giữ một niên hiệu nên sau này người ta thường dùng như là tên nhà vua). Bảo Đại yêu cầu Pháp phải trao trả Nam Kỳ cho Việt Nam và Pháp đã chấp nhận, tuy nhiên, trong thực tế quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông (trong đó có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa). Khi đó, Tổ chức Khí tượng thế giới (OMM) đã chấp nhận đơn đăng ký danh sách các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại Hoàng Sa, Trường Sa vào danh sách các trạm khí tượng thế giới: trạm Phú Lâm số hiệu 48859, trạm Hoàng Sa số hiệu 48860, trạm Ba Bình số hiệu 48419.
- Tháng 6/1949, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc Gia Việt Nam, Pháp chuyển giao chức năng hành chính cho Quốc Gia Việt Nam. Lúc này Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chính phủ khánh chiến, đại bản doanh ở An toàn khu Việt Bắc.
- Ngày 14/10/1950, Tổng trấn Trung kỳ là Phan Văn Giáo đã chủ trì việc bàn giao quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa từ Chính phủ Pháp sang Chính phủ Quốc gia Việt Nam, quân đội Pháp vẫn đóng ở đó cho tới 1956. [Phần này, vì một số mục đích chính trị thiển cận đã không có trong sách GK lịch sử].

ĐIỂM NHẤN SAN FRANCISCO-TRUNG QUỐC KHÔNG ĐƯỢC THAM DỰ:
- Từ ngày 05 đến ngày 08/9/1951, đại diện của 51 chính thể họp tại San Francisco, và 48 nước ký kết Hòa ước giữa Đồng minh với Nhật, chính thức chấm dứt thế chiến II.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc không tham dự Hội nghị do Mỹ và Liên Xô không thống nhất được bên nào là đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Hoa, tuy nhiên trong phiên họp toàn thể mở rộng, ngày 05/9, với 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận, đã bác bỏ đề nghị của ngoại trưởng Liên Xô về việc sửa đổi khoản 13 của bản Dự thảo Hòa ước có nội dung là: Nhật Bản thừa nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa về phía Nam. Như vậy, có thể thấy v/đ HS,TS được đưa ra công khai là từ phía Liên Xô (có thể theo một thỏa thuận ngầm giữa Liên xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa?).
Theo lời mời của Chính phủ Hoa Kỳ, với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã tham dự Hội nghị.
- Ngày 07/9/1951, TTg Trần Văn Hữu long trọng tuyên bố nội dung: “Chúng tôi trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa… vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Không một yêu sách nào đưa ra sau tuyên bố đó kể cả Liên Xô.
- Ngày 08/9/1951, Hòa ước với Nhật được ký kết tại San Francisco. Điều 2, mục 7, khoản F ghi: Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel (Hoàng Sa) và Sprathly (Trường Sa) và cả Đài Loan, nhưng không đề cập tái chuyển giao cho bất cứ quốc gia riêng rẽ nào. Như vậy, về mặt pháp lý, các quần đảo này thuộc quyền quản lý tập thể của 48 bên tham gia ký Hiệp ước – trong đó có hai quốc gia đang đòi chủ quyền đối với các quần đảo này là Philippines và Việt Nam. Ngày 28/4/1952 Hiệp ước có hiệu lực.
- Ngày 04/6/1954, Pháp đã ký một Hiệp định với Quốc gia Việt Nam công nhận Quốc gia Việt Nam hoàn toàn độc lập. Theo đó chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ tự chịu trách nhiệm với những hiệp định quốc tế được ký bởi Pháp trước đó có liên quan tới họ, cũng như không còn bị ràng buộc bởi bất cứ hiệp ước nào do Pháp ký sau này.

HIỆP ĐỊNH GENEVE VỀ ĐÔNG DƯƠNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA TRUNG QUỐC:
- Hội nghị Geneve khai mạc 26/4/1954, tới 08/5 thì xoay sang v/đ Đông Dương. Phía Trung Quốc (do Chu Ân Lai trưởng đoàn) là một trong 9 nước tham gia. Ngày 21/7/1954, hội nghị ra tuyên bố cuối cùng là Hiệp định Geneve (đình chỉ chiến sự tại Đông Dương) tạm chia cắt Việt Nam thành hai vùng:
* Điều 1 của Hiệp định quy định đường ranh giới quân sự tạm thời, lấy vỹ tuyến 17 (sông Bến Hải) để phân chia quyền quản lý lãnh thổ giữa 2 miền Nam và Bắc Việt Nam.
* Điều 4 của Hiệp định quy định giới tuyến tạm thời kéo dài bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía nam vỹ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam. Như vậy, chính quyền ở miền bắc VN không có quyền gì với HS,TS.
- Tháng 4/1956, khi quân đội Pháp rút để bàn giao cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Lợi dụng thời điểm giao thời này, Trung quốc và Philippin dùng vũ lực đánh chiếm phần phía đông đảo Hoàng Sa và một số đảo nhỏ.
- Ngày 24/5 và ngày 08/6/1956, Việt Nam Cộng Hòa đã tiếp quản phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Ra Thông cáo quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa luôn luôn là một phần của Việt Nam và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đã được quốc tế thừa nhận…
- Ngày 22/8/1956, tàu HQ04 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa ra Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ, bảo vệ quần đảo trước hành động xâm chiếm trái phép, vi phạm chủ quyền Việt Nam của Đài Loan và Philippin.
- Ngày 20/10/1956, bằng Sắc lệnh 143/VN, Việt Nam Cộng hòa đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy. Năm 1960, bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược chức Phái viên hành chính Hoàng Sa.
- Ngày 04/9/1958 nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra một bản Tuyên bố với nội dung: "Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc" (Tây Sa là tên Hán của Hoàng Sa).
- Mười ngày sau đó, 14/9/1958 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một bức thư thông báo với nội dung: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc."
- Ngày 22/9/1958 bức thư của TTg Phạm Văn Đồng đăng trên báo "Nhân Dân".

CÓ NHIỀU ĐIỂM CẦN LƯU Ý:
- Thư này được ban hành vào ngày chủ nhật, là ngày nghỉ của cơ quan công quyền.
- Bức thư 14/9/1958 của cụ Tô không đề cập cụ thể đến Hoàng Sa hay Trường Sa vì HS & TS khi đó thuộc quyền của Việt Nam Cộng hòa nên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đương nhiên không có quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa để mà cụ Tô thừa nhận hay bàn luận trong một bức thư một trăm từ như thế này.
- Bức thư này chưa được Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay Chủ tịch nước phê chuẩn để nâng nó lên mức CÔNG HÀM.
- Tại thời điểm năm 1958, quyền hạn của chức danh Thủ tướng được quy định theo Hiến pháp 1946. Điều 44 Hiến pháp 1946 ghi:
* Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam DCCH, Phó Chủ tịch và Nội các.
* Nội các có Thủ tướng, các bộ trưởng. Có thể có Phó Thủ tướng.
HP 1946 cho thấy: Vị trí người đứng đầu Chính phủ là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hồ Chí Minh). Thủ tướng chỉ là người đứng đầu Nội các, là một thành viên của Nội các, do Chủ tịch nước chọn và đưa ra Quốc hội biểu quyết.
- Hiến pháp 1946 quy định cụ thể quyền hạn của Chủ tịch nước và quyền hạn của Chính phủ. Quyền hạn của Chủ tịch nước tại Điều 49:
* Thay mặt cho nước;
* Chủ tọa Hội đồng Chính phủ;
* Ký hiệp ước với các nước;
Như vậy Chủ tịch nước mới là chức danh đại diện cho nước Việt Nam DCCH nói chung, cho Nhà nước và Chính phủ nước Việt Nam DCCH nói riêng trong quan hệ bang giao. Thủ tướng chỉ là một thành viên của Nội các – một cơ quan của Chính phủ và không có các quyền hạn này.
- Về cụm từ trong Bức thư: “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành”. Theo tư liệu, nhật ký làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngày 04/9/1958 đến ngày 14/ 9/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chủ tọa bất cứ cuộc họp nào của Hội đồng chính phủ. Cũng không có Phó Chủ tịch nước thay mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh để chủ tọa Hội đồng chính phủ vì thời kỳ này, không ai được bổ nhiệm giữ chức danh Phó Chủ tịch nước. Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi “Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa, quy định về hải phận…” là hoàn toàn không chính xác.
- Hiện nay (qua các thông tin công khai) không có bằng chứng nào cho thấy Chủ tịch nước và Hội đồng chính phủ có ủy nhiệm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng được quyền đại diện ra văn bản phúc đáp tuyên bố ngày 04/9/1958 của Trung quốc.
- Theo Hiến pháp 1946, chữ ký của TTg Phạm Văn Đồng trong bức thư không đủ pháp nhân thay cho Chính phủ Việt Nam. Đây chỉ là một bức thư mang tính thân mật đặc thù của tình đồng chí (trong bối cảnh chính trị khi đó), bởi thế trong thư này cụ Tô không dùng đầy đủ chức danh của ông Chu Ân Lai như chuẩn mực phải có trong các Công hàm cấp nhà nước mà gọi rất thân mật là đ/c Tổng Lý. Có thể coi đây là một bức thư thận trọng và khôn khéo của một người tế nhị trong một bối cảnh phức tạp và khó khăn thời ký đó.

Vấn đề chính không phải là ở Bức thư mà ở chỗ, với một tư duy hẹp hòi thiển cận và ngã mạn của Cộng sản, nên các Chính thể đã không được thừa nhận đúng vai trò lịch sử mà bị tẩy xóa, mạ lỵ bằng những cách gọi “chính quyền bù nhìn”, “chính quyền ngụy” hay “chính quyền tay sai”… Nhưng lịch sử sẽ sắp xếp lại một cách công bằng.
SỰ KIỆN TIẾP DIỄN hẹn các con thư sau.

Câu chuyện nước Nhật - Văn hoá bán hàng

Mẹ Ổi
Chia sẻ bài viết này
Dù chưa phải là đã được đi khắp thế giới, nhưng mẹ Ổi dám khẳng định dịch vụ khách hàng của Nhật thuộc hàng nhất thế giới. Vì trong đầu mẹ không thể tưởng tượng ra được nếu để tốt hơn như thế, thì phải là thế nào nữa.
Trước hết nói về tác phong phục vụ của người bán hàng. Ví dụ ở siêu thị chẳng hạn. Luôn trong tư thế sẵn sàng phục vụ, dù có khách hay không có khách. Nghĩa là thẳng người, mắt nhìn thẳng. Nếu khách đến quầy thanh toán trong tình trạng phải xếp hàng, thì câu đầu tiên khi đến lượt mình là: Xin lỗi đã để quí khách phải đợi. Thao tác nhân viên nhanh nhẹn, nhưng cẩn trọng, nâng niu hàng của mình xếp gọn gàng vào giỏ, hàng lạnh vào một chỗ, hàng cứng và hàng mềm xếp sao cho tránh bị dập nát thực phẩm. Mỗi item đưa vào máy nhân viên đọc to giá tiền để mình dễ confirm, nếu mình đã chót nhặt do nhầm giá tưởng rẻ hơn, thì OK, trả lại. Khi đón tiền trả thì bằng 2 tay, kèm theo câu: xin nhận của quí khách abc Yên. Tiền trả lại kèm theo câu: hoá đơn đây, và tiền thối là xyz Yên, mời quí khách check lại. Chắp hai tay trước bụng, kính cẩn cúi chào cùng lời cảm ơn với cách nói lịch sự nhất. Quay sang khách kế tiếp ... Xin lỗi vì để quí khách phải đợi ... Đấy là qui trình bất di bất dịch cho bất cứ một nhân viên thu ngân ở bất cứ siêu thị nào. Mà với ai cũng một qui trình ấy, thái độ phục vụ ấy, dù mua nhiều hay mua ít, loại đắt tiền hay loại rẻ tiền. Không bao giờ có thái độ coi thường, bình phẩm về lựa chọn của khách hàng, mặt mũi lúc nào cũng tươi như hoa, lời nói lúc nào cũng lễ độ như với cha mẹ, người bao giờ cũng ở tư thế kính cẩn, tai lắng nghe, mắt nhìn chăm chú, tay không thừa một động tác nào. Khách hỏi về hàng hoá thì chạy như vịt để tìm cho khách. Khách thắc mắc về giá thì: Xin lỗi, để chúng tôi check lại. Kết quả check đúng sai gì cũng xin lỗi rồi mới giải thích. Ở đây lâu lâu quen rồi, mẹ Ổi bị sốc hôm về VN mua bánh ở siêu thị Thái Hà, bánh đề giá một đằng thanh toán một nẻo đắt gấp 3. Mẹ Ổi thắc mắc cô thu ngân khó chịu giải thích, giọng hơi thừa âm sắc: Vì bánh này là bánh ngoại, giá kia là giá bánh nội. Vậy thì cửa hàng phải đổi bảng giá chứ để thế thì quá bằng lừa khách à. Cô thu ngân không biết xin lỗi câu nào nghe mẹ Ổi nói vậy chạm tự ái gân cổ lên cãi mẹ Ổi, mặt mũi xưng xỉa như cái banh đa. Trời ơi, sock quá nghẹn cả lưỡi, mẹ Ổi vội trả tiền mau mau mà đi cho nhanh. Lại nói hôm đi Big C, gửi túi, lúc cần lấy thì thấy cô trông túi đang ngồi tán phét. Mình yêu cầu thì cô ấy uể oải đứng lên, tay cầm cái túi của mẹ Ổi lăng veo một cái ra mặt quầy, mắt không thèm liếc khách hàng một cái. Ặc ặc ... Cứ như việc chính của cô ấy là ngồi tán phét chứ không phải việc trả túi cho khách ấy, khách cứ thỉnh thoảng lại đến lấy túi, bực ghê... Hê hê...Thực ra tác phong làm việc kiểu thiên nhiên thế thì nhiều nơi như vậy, kể cả các nước văn minh khác, chứ như ở Nhật chắc cũng chỉ có một. Trong hoàn cảnh trên, người Nhật sẽ Dạ Vâng rõ to, cung cúc lấy túi trả bằng hai tay, người gập 60 độ. Động tác lời nói đều khoẻ khoắn, luôn cho người khác cảm giác cả cơ thể và tâm trí của họ đều đang dồn hết vào việc phục vụ mình. Mà không phải chỉ các ngành dịch vụ, trong tất cả các ngành nghề, người đang ở vị trí làm việc không bao giờ có tác phong uể oải, không bao giờ ngồi không thẳng lưng, đứng chùng chân, thái độ làm việc rất là nghiêm túc. Ngành dịch vụ thì không bao giờ nói nặng lời với khách, khi bị vặn lại về giá tiền, không bao giờ tỏ chút gì khó chịu, một điều dạ hai điều vâng, cúi giật đùng đùng. Trong nhà hàng, siêu thị mọi nhân viên vừa lăng xăng làm việc vừa luôn mồm gào rất tươi vui: Mời quí khách vào ...(câu này trong tiếng Nhật là lời mời khách, còn khi khách đã ở trong siêu thị thì có nghĩa là mời khách mua hàng). Ở nhà hàng thì khi khách ra về, người thanh toán kêu to: Khách về đấy. Cả lũ ở trong hét theo: Xin cảm ơn qúi khách. Hihi... Rất ngộ.
Hồi nhà Ổi tìm mua ôtô, ôtô cũ thôi mà chú tiếp thị của công ty bán ôtô cũ comple cà vạt lặn lội 60 cây số đến nhà Ổi lúc 8:30 tối (mẹ Ổi hẹn giờ đó để bố Ổi có nhà, và cơm nước xong xuôi). Chú ngồi giới thiệu nhiệt tình đến 10:30 mà vẫn chả có ý định về gì cả. Chắc vì vẫn chưa thấy nhà Ổi kết cái nào. Rồi sau đó lại lái xe 60 km nữa trở về. Thế có tội nghiệp không. Đi đêm khó đi nhanh, ít nhất cũng 12 giờ đêm mới về đến. Mà chú còn nói về là quay lại công ty chứ chưa về nhà ngay đâu. Làm dịch vụ đấy. Nhà Ổi thấy ái ngại cho chú, còn chú thì cứ nói: quí khách cứ tham khảo đi, có gì gọi cho chúng tôi, chúng tôi sẵn sàng cung cấp tiếp. Ối giời ơi, nhà Ổi chả dám. Thương chú ấy quá. Lại đến nhà Ổi lần nữa thì mẹ Ổi đến khóc vì thương mất. Mà trông mặt chú thế kia chắc chưa có vợ rồi. Làm việc thế này thì lấy vợ vào lúc nào?
Ở Nhật, không chỉ có thái độ phục vụ nhũn nhặn không điều kiện, mà có một cái hay nữa là họ tin khách hàng tuyệt đối. Khách hàng nói sao tin vậy. Xin kể thêm một câu chuyện này: Vào ngày sinh nhật của mẹ Ổi năm 2002, khi ấy bố đang ở Nhật còn mẹ và Ổi vẫn ở VN. Quà kỷ niệm năm ấy là một đôi đồng hồ, và bố gửi về VN cho mẹ chiếc đồng hồ nữ. Khỏi phải nói mẹ vui thế nào, nhưng ngắm ngắm nghía nghía thế nào mẹ phát hiện ra chiếc đồng hồ có một điểm lỗi. Đó là ở vị trí số chín (viết bằng chữ La mã là IX) lại bị thiếu một vạch thành ra là số mười (X). Thực ra cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tác dụng của cái đồng hồ, vì phải soi kỹ mới thấy lỗi, mà đồng hồ thì thậm chí không có số vẫn nhìn ra giờ mà. Nhưng vì đó là một món quà, lại có đôi, nên bố mẹ cũng hơi... khó chịu một chút khi nó không hoàn hảo. 8 tháng sau đó, khi mẹ và Ổi sang Nhật một hôm tình cờ đi đến cái shopping mall nơi bố đã mua đôi đồng hồ đó, bố mẹ nảy ra ý định hay là thử hỏi họ xem sao. Không mang theo giấy bảo hành hay bất cứ một cái gì chứng minh mình đã mua đồng hồ ở đó, bố mẹ Ổi chỉ kể lại chuyện đã mua cách đây 8 tháng, và chìa đồng hồ cho người bán hàng xem. Anh ta, như thường lệ của những người bán hàng, lắng nghe đầy kính cẩn rồi cúi gập người đưa 2 tay đón lấy chiếc đồng hồ. Nhìn thấy đúng là đồng hồ có lỗi, anh ta vội vàng xin lỗi. Rồi không mảy may tỏ ý nghi ngờ hay hỏi han gì về giấy tờ chứng minh mình đã mua ở đó, anh ta giải quyết vấn đề rất nhanh: "Xin hãy để chúng tôi đổi cho quí khách chiếc đồng hồ khác". Vậy là chiếc đồng hồ mẹ đã đeo 8 tháng được đổi không sang chiếc đồng hồ cùng loại, mới toanh. (Nói nhỏ nhé, mà giá chiếc đồng hồ hơi bị nhìu xiền...). Đã thế kèm theo lời tạ lỗi là 2 chiếc ô, tặng cho mỗi người một chiếc. Hihi... chuyện được đổi thì cũng không khó hiểu lắm, nhưng cái lạ là cách mà anh ta tin ngay mình chả cần giấy tờ gì, không hoạnh hoẹ khó chịu gì, lại còn rối rít xin lỗi lên xin lỗi xuống thì thật là ấn tượng.
Chưa hết, 3 năm sau, chiếc đồng hồ hết pin. Khi đó nhà Ổi đã chuyển đến một nơi rất xa. Mẹ Ổi mang chiếc đồng hồ đi thay pin ở một siêu thị bình thường, ko chuyên nghiệp lắm. Về nhà, lúc làm bếp, mẹ kéo cái đồng hồ từ cườm tay lên cho khỏi vướng, tự dưng thấy nhói một nhát dài đau điếng. Thì ra lúc cậy nắp để thay pin, họ đã gây ra một vết xước nhỏ ở mặt trong của nắp đồng hồ. Mẹ Ổi mang đến yêu cầu họ có dụng cụ thì dũa đi một tý là xong. Lần này tiếp mẹ là một người khác. Nhưng đương nhiên cô này cũng tin ngay việc mẹ đã thay pin ở đó, mặc dù cũng phải hàng tuần sau mẹ mới đến, không hoá đơn, không giấy tờ gì cả. Cô bán hàng nhìn thấy vết xước trên tay mẹ thì mặt tái mét, nói to như lệnh vỡ (chắc căng thẳng quá), vừa nói vừa cúi đầu gật lia lịa như gà mổ thóc: Vô cùng xin lỗi quí khách. Hãy cho chúng tôi giữ lại chiếc đồng hồ này để gửi đến nơi khác sửa lại cho thật kỹ, kẻo sửa ở đây vẫn không đảm bảo thì lại làm đau quí khách. Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi... 1 tuần sau, điện thoại đến nhà: Đồng hồ đã sửa xong, xin quí khách cho biết giờ nào ở nhà để chúng tôi mang đến tận nơi trả lại. Hihi... Làm mẹ Ổi cũng thấy phát ngại. Tiền công thay pin thì họ chả được bao nhiêu mà chắc chắn vụ gửi đi sửa thì tốn gấp nhiều lần. Thôi thôi, lúc nào tiện tôi sẽ qua lấy.
Cái đồng hồ của mẹ Ổi đúng là nhiều rắc rối. Nhưng có lẽ chỉ mẹ Ổi mới thấy thế, chứ chính những người bán hàng ở Nhật họ chẳng nghĩ vậy đâu. Người Nhật họ làm việc vì họ rất hiểu công việc của họ là vì tên tuổi của công ty, vì sự hài lòng tối đa của khách hàng chứ không phải vì lợi nhuận trước mắt, bán xong thu tiền xong là bye bye mặc kệ khách hàng. Kính của mẹ Ổi mua ở Tokyo, đi đến Aizu vào hàng kính của hãng đó vẫn được chỉnh gọng, được bảo trì... miễn phí, với một thái độ phục vụ miễn chê... Dường như khi đã bắt tay vào công việc, người ta hoá thân thành một con người khác, cứ như một cái máy tính đã được lập trình chỉ có khái niệm mình là người phục vụ, còn khách hàng là người cần được phục vụ một cách hết mình, và cái máy này cũng chỉ có cảm xúc vui vẻ mà không biết thế nào là mệt mỏi, cáu giận cả. Bây giờ, đã quen với văn hoá bán hàng ở đây rồi, mẹ Ổi không còn lo ngại liệu mình yêu cầu cái này, cái kia... có được không nhỉ nữa. Đúng là cảm giác mình là thượng đế. Hi hi...

Câu chuyện nước Nhật - Phải chăng đây là xã hội chủ nghĩa?

Mẹ Ổi
Chia sẻ bài viết này
Một ngày cuối tuần, cả nhà Ổi đi chơi. Bố lái xe. Mẹ thích nhất cảm giác ngả ngốn ở ghế sau, chìm mình trong tiếng nhạc, ngắm những vạt cây lướt vun vút trên nền trời xanh qua ô cửa kính, và nghĩ ngợi vẩn vơ.... Trong khung cảnh thật yên bình, mẹ nghĩ đến những tháng ngày mình đang sống - cuộc sống ở Nhật, đến xã hội này, con người ở đây,... rồi mẹ chợt nhận ra cái này thật ngộ: Đây chính là xã hội chủ nghĩa... :-)
Hihi... thực ra, bao nhiêu kiến thức lý luận triết học, xã hội học, kinh tế học về xã hội chủ nghĩa đầy cao siêu đã học trong trường ĐH mẹ Ổi quên tiệt hết rồi. Chủ nghĩa xã hội theo cách hiểu của mẹ Ổi chỉ đơn giản là một xã hội thật đẹp, như những gì mẹ đã mường tượng ra qua những bài tập đọc sách đạo đức lớp 5, nơi có những con người sống trung thực nhặt được của rơi trả người đánh mất, sống trách nhiệm như bạn Thắng trên đường đi học về thấy thanh ray đường tàu bị trật đã tìm mọi cách báo hiệu cho đoàn tàu dừng lại... nơi con người ta sống bình đẳng, yêu thương nhau, không có người nghèo khổ... thì đây, chính là những gì mẹ nhìn thấy.
Tại sao nói là bình đẳng. Tất nhiên đây chỉ là khái niệm tương đối. Bình đẳng ở đây không phải là cào bằng, nhưng có thể nói xã hội Nhật bản đã xây dựng được một hệ thống phân phối của cải một cách khá đồng đều, mà người ta vẫn lao động nghiêm túc, lao động hết mình. Có lẽ không nước nào trên thế giới này có tỷ lệ dân số trung lưu (middle class) lớn như ở Nhật. Phải khoảng 80-90% dân số Nhật có mức sống trung lưu. Nghĩa là hầu hết mọi người trong xã hội có mức sống như nhau, có chăng chỉ là một sự chênh lệch rất thấp, không có quá nhiều người rất giàu hay quá nhiều người rất nghèo. Hầu hết mọi người dù ở nông thôn hay thành thị cũng đều ăn uống như nhau, cho con đi học ở những trường học có cơ sở vật chất như nhau, dịch vụ y tế, bệnh viện... về cơ bản như nhau. Cái cột điện ở Tokyo thế nào thì cái cột điện ở một nơi nhà quê hẻo lánh nhất cũng như thế. Không có chuyện cột điện ở Tokyo bằng bê tông sắt thép, còn ở nhà quê làm bằng cột tre... Hihi... Mọi thứ đều đã được chuẩn hoá, cứ thế mà theo. Ở Nhật dù làm nghề gì, thì thu nhập cũng thường ở một mức nhất định tương đương nhau. Mới đầu mẹ Ổi cảm thấy rất sáo rỗng khi nghe người Nhật nói: tôi muốn làm tiếp viên hàng không vì muốn mang văn hoá Nhật bản đi ra thế giới, vì muốn cống hiến cho khách hàng những phút giây thư giãn trên chặng bay dài. Tôi muốn làm y tá để xoa dịu nỗi đau đớn của người bệnh. Tôi muốn làm cảnh sát để góp phần giữ gìn xã hội trật tự, yên bình... Nhưng giờ mới hiểu họ nói thật lòng. Đơn giản vì dù làm nghề nào ở thành phần kinh tế nào, người đi làm nhà nước, hay làm công ty, hay nông dân làm ruộng, về cơ bản thu nhập cũng tương đương nhau, nên người ta chọn nghề theo sở thích. Không có chuyện lương cao vượt bậc, làm nghề nọ, công ty nọ lương gấp 10 lần nghề kia, công ty kia. Ai thấy mình thích hợp với việc gì thì làm việc ấy. Cũng chính nhờ thế người ta có tình yêu với công việc hơn, làm việc hết mình hơn. Và ở Nhật người ta cũng đánh giá theo việc chăm chỉ cần cù nhiều hơn là năng lực. Đúng là làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Không phải ai sinh ra cũng giỏi giang, nhưng dù là ai, dù làm việc gì cao sang hay thấp hèn, miễn anh chăm chỉ lao động, anh sẽ có thu nhập và cuộc sống tốt như của mọi người.
Tất nhiên vẫn có những người giàu, rất giàu (thường những nghề có thu nhập đặc biệt như giới nghệ sĩ, hoặc doanh nhân lớn) còn phải nói là người nghèo thì rất hiếm gặp. Ít đến mức mỗi khi nhìn thấy một người nghèo ở đây mẹ Ổi đều cảm thấy thương vô cùng. Mà nghĩ kỹ ra thì những người trông khổ sở hơn như thế nhiều mình vẫn gặp đầy rẫy trước đây mà sao không thấy thương bằng. Trong khi những người này chỉ là trông mặt họ đen đúa gió sương hơn, quần áo trên người cũ kỹ một tý mà mình thấy mủi lòng. Chắc vì ai ai ở đây cũng trắng trẻo, bóng bẩy cả mà.
Một người bạn VN thắc mắc, sao ở Nhật mình gặp nhiều người khuyết tật thế nhỉ. Bố mẹ Ổi lý giải thế này, và người bạn đó đã gật gù công nhận đúng: Vì người khuyết tật ở đây không bị lãng quên, người ta vẫn có mặt trên mọi nẻo đường của cuộc sống. Tivi có chương trình thời sự nói bằng tay cho người điếc. Chương trình trẻ em hàng sáng có phần dành riêng cho trẻ kém phát triển. Vỉa hè luôn có vạch cho người mù, hiếm có toà nhà nào, dù to dù nhỏ, lại không có lối cho người đi xe lăn... Vậy là họ ra đường nhiều, họ tham gia các hoạt động xã hội nhiều thì mình thấy nhiều thôi.
Hệ thống hành chính của Nhật rất gọn gàng, hiệu quả. Họ không quản lý người dân bằng sổ hộ khẩu, mà theo nơi sinh sống, làm việc của người dân đó, nhưng cực kỳ chặt chẽ. Đến đâu sống chỉ cần ra wardoffice đăng ký hộ tịch ở đó. Thủ tục cũng vô cùng đơn giản và nhanh chóng. Khai một bản khai (form), trình hộ chiếu, chờ khoảng 20 phút là xong, không dấu má chứng nhận lên xuống gì cả. Thế là mọi quyền lợi trách nhiệm của mình sau đó sẽ tự động được người ta quản lý. Ví dụ trợ cấp y tế, trợ cấp nuôi con... nếu mình không biết, thì họ cũng sẽ gửi thư đến tận nhà nhắc nhở, không phải kiểu con khóc mẹ mới cho bú. Thậm chí, khi mình đến làm thủ tục nhận trợ cấp, họ rất vui cứ như thêm được một khách hàng bán được cái gì chứ không phải là chi tiền cho mình vậy, rồi đưa thêm một đống tờ rơi để mình tìm hiểu thêm các quyền lợi khác, nhắc nhở mình đủ thứ. Nói đến thái độ tiếp dân thì ôi, đúng là dùng từ "đầy tớ của dân" cũng không hề có gì quá đáng. Vô cùng mẫn cán, nhiệt tình. Phục vụ từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, không nghỉ trưa. (Buổi trưa họ cắt đặt thay nhau làm và ăn trưa vội vàng). Hỏi han cái gì cũng được trả lời tận tình, hỏi bao nhiêu cũng thế, không bao giờ cáu gắt. Mẹ Ổi nhớ lần về VN đi làm chứng minh thư, trời nắng như đổ lửa, đến nơi thấy cái cổng im ỉm. Nhìn cái biển ở ngoài giờ tiếp dân: sáng đến 11 giờ, chiều 2:00 đến 4:00. (trời ơi, nghỉ trưa gì mà những 3 tiếng). Mà lúc mẹ Ổi đến mới có hơn 3 giờ chứ đã đến 4 giờ đâu. Thế là không nộp được. Trước đó còn bao nhiêu công chạy xin dấu đủ loại giấy tờ cũng thành công toi. Cuối cùng cái CMT của mẹ Ổi bây giờ vẫn nằm trong "danh sách những việc phải làm lần về VN sau". Không phải là nói xấu VN, mà thấy sốt ruột cho nước nhà. Vì trong khi ở Nhật công chức chỉ có 950 nghìn/110 triệu dân, còn ở VN là 11,1 triệu công chức/hơn 80 triệu dân (nhiều gấp hơn 10 lần), còn chất lượng dịch vụ hành chính lại ngược nhau đến thế?
Các dịch vụ cộng đồng khác ở Nhật cũng rất là dễ chịu. Không có chuyện bệnh viện đúng tuyến, hay cấp lương nào mới được vào Việt-Xô... Thẻ bảo hiểm áp dụng cho mọi bệnh viện, công và tư, ở bất cứ đâu trên cả nước Nhật. Chất lượng các bệnh viện, phòng khám tư ở nông thôn cũng tốt chả kém, nên người ta không phải đổ xô lên tuyến trên. Ở bệnh viện thì ai đến trước khám trước, ai đến sau khám sau theo số, cứ thế mà chờ. Vì công bằng nên có phải chờ lâu cũng không thấy khó chịu. Y tá thì tận tuỵ dịu dàng đến cảm động. Vừa tiêm vừa luôn mồm xin lỗi, an ủi. Bác sĩ cũng nhẹ nhàng. Trộm vía nếu phải nằm viện thì cũng chỉ khổ vì bệnh chứ bệnh viện bao giờ cũng có điều hoà trung tâm quanh năm 27-28 độ, bước chân qua cửa bệnh viện là chả biết ngoài kia nắng đổ lửa hay tuyết đang rơi nữa. Giường được thay ga thường xuyên, mỗi người đều có tivi, tủ lạnh, và nút bấm gọi y tá ở đầu giường. Gọi bao nhiêu cũng không lo y tá bực mình bao giờ. Cấp cứu thì nếu gọi phải chuẩn bị xong xuôi rồi hãy gọi, kẻo mình vừa dập điện thoại đã thấy ò e ò e rồi. Hihi... khổ nỗi cái này mẹ Ổi phải kinh qua rồi mà. Thống kê trên toàn nước Nhật là trung bình xe cấp cứu sẽ đến bệnh viện trong khoảng 6 phút kể từ lúc được gọi. Choáng không? Phòng khám nhi thì trang trí cho cái gì cũng rất dễ thương, bác sĩ ngọt ngào với trẻ, luôn chuẩn bị sẵn đồ chơi để dỗ trẻ. Trẻ em dưới tuổi đi học miễn phí hoàn toàn cả tiền khám lẫn tiền thuốc, dù khám ở bất cứ đâu. Khám định kỳ miễn phí 6 tháng/lần nếu dưới 2 tuổi, và 1 năm/lần từ 2 tuổi trở lên. Còn Nhà trẻ thì cô giáo nào cũng nhẹ nhàng như cánh hoa, miệng cười mắt cũng cười... trẻ con đi học đứa nào cũng cảm nhận được tình yêu của cô dành cho mình, và đứa nào cũng rất yêu cô giáo chứ không sợ cô bao giờ.
Nói về an ninh ở Nhật. Chỉ có phạm tội lớn chứ không có ăn cắp vặt, cướp giật dọc đường, đánh nhau, ẩu đả cũng không thấy bao giờ, chứ đừng nói đến đánh bom với súng đạn. Nhìn vào thời sự ở Nhật cũng đủ biết là tội phạm ít, vì cả những vụ vớ vẩn như có cái ôtô ở đâu đâm vào cái cột điện ko có người chết chẳng hạn, cũng đưa lên tivi. Những vụ mà như thế mà ở nước khác thì đăng bao nhiêu cho xuể. Tội giết người thường vì những lý do tinh thần hơn là vì tiền, nên có thể là những cách giết người cực kỳ quái gở,... còn vì tiền thường là phá máy ATM, cướp ngân hàng. Mà rất buồn cười là thủ phạm thường không phải là dân ăn cắp chuyên nghiệp, nên hành sự cực kỳ stupid và toàn bị tóm tại trận... Haha. Còn người dân trong cuộc sống hàng ngày thì nhìn chung không phải lo nghĩ gì, rất yên bình. Nhà của Nhật bao giờ cũng có một mặt hướng ra lan can, sân vườn là cửa kính rất to để hứng ánh sáng, kính sát xuống tận sàn nhà, mà không có chấn song. Mở cửa kính này ra là bước toẹt ra vườn/hành lang luôn. Hàng rào cũng thấp, chủ yếu để ngăn đất và cho đẹp chứ không phải để tránh trộm. Mẹ Ổi nhiều lúc nghĩ, mình mà là dân đạo chích, chắc mình sẽ mơ một nơi thế này để tha hồ hành nghề. Hihi... Ra đường, trên tàu điện, xe búyt, các phương tiện công cộng, thì cứ việc ngủ thoải mái... Mà đừng nói đến ăn cắp, có khi để phơi ra đấy cũng không bị lấy. Vào nhà hàng túi để ở ghế rồi đi toilet vô tư. Nhiều khi mẹ Ổi đi siêu thị, chọn thực phẩm xong vứt xe hàng ở một góc, mải mê ngắm nghía quần áo chán chê mới tìm đến cái xe hàng để thanh toán thì mới giật mình vì thấy cái túi của mình vẫn vứt trong xe từ bao giờ. Mẹ Ổi với cái tính đãng trí đã không ít lần quên đồ, nhưng chưa bao giờ bị mất cái gì cả. Ấn tượng nhất là lần ngồi chờ ở bến xe buýt, mẹ Ổi để quên cái túi của mình trên ghế chờ. Khi phát hiện ra và quay trở lại tới nơi thì đã cả mấy tiếng sau, chiếc túi vẫn nằm ở đó, màu đỏ rất nổi bật, mà ở một bến chờ xe buýt trước cổng bệnh viện, biết bao người qua lại. Mọi thứ trong túi vẫn còn nguyên, ví tiền, giấy tờ tuỳ thân. Ôi ôi, thật là không tưởng tượng nổi. Đúng là họ đầy đủ về vật chất thì người ta sẽ sống tốt hơn, không nhòm ngó đến của cải của người khác. Nhưng mẹ Ổi cho rằng đó mới là điều kiện cần thôi. Vì thực ra người Nhật cũng rất tiết kiệm. Người ta thậm chí chờ xếp hàng cả mấy chục phút dài dằng dặc chỉ để mua xăng rẻ được vài trăm Yên. Chứ 10,000 Yên (số tiền tối thiểu thường có trong ví các bà nội trợ), thì cũng là khá to với họ. Vậy mà vẫn không bị lấy thì là vì sao. Vì họ có cả điều kiện đủ là nếp sống đẹp, lương tâm thiện... Ở Nhật đúng là như vậy, "Lễ" là cái đã ngấm vào máu của mỗi người dân. Họ cư xử với nhau không chỉ theo luật, mà còn theo lệ, theo lễ: Không ở đâu mẹ Ổi thấy người ta nói cảm ơn và xin lỗi nhiều như trong tiếng Nhật. Từ cảm ơn và xin lỗi ở trên đầu môi. Đi đường nhỡ va chạm vào nhau thì cả hai bên đều cúi đầu xin lỗi, bất kể ai sai ai đúng. Ổi thường hay nói chuyện với các bà già gặp ở đường. Bao giờ kết thúc câu chuyện cũng là lời cảm ơn của bà cụ, dù già như vậy. Cảm ơn vì đã giành thời gian cho bà được có những phút giây với đứa trẻ đáng yêu như Ổi. Ở trường dạy lái xe, người ta không chỉ dạy luật, mà văn hoá lái xe cũng rất được chú trọng. Chả thế mà ra đường nhiều khi cứ nhường nhau mãi, rồi mẹ Ổi (dù sao vẫn là người VN), thường là người đi trước. Hihi... Người ta rất nhường nhịn nhau. Khi 2 người cùng đến xếp hàng một lúc thì thường lịch sự cúi đầu nhường nhau đứng trước, chứ không có cảnh ai nấy cố gắng nhanh chân để được đứng trước. Người Nhật rất có ý thức giữ gìn kỷ luật chung. Ví dụ đi thang cuốn có luật bất thành văn là ai đứng trên thang để nó tự cuốn đi thì đứng dẹp về bên trái, để một lối bên phải cho những người vội vàng, muốn đi nhanh thì chạy trên thang nữa. Thế là ai nấy đều tuân thủ, chả thấy ai đứng yên mà đứng bên phải cả. Họ có ý thức trách nhiệm với xã hội từ những việc nhỏ như việc đổ rác chẳng hạn. Người ta phân loại rác rất kỹ, để dễ tái chế. Chia cơ bản nhất là rác cháy được và không cháy được. Nhưng trong rác cháy được, thì nhựa, giấy báo, giấy bìa, vỏ hộp sữa tươi,.... rác không cháy được thì hộp sắt, hộp nhôm, thuỷ tinh, đồ độc hại (pin...). Mẹ Ổi thì lười, chỉ phân loại sơ sơ, ví dụ vỏ hộp sữa hay juice bằng giấy, uống hết bóp cho nhỏ lại rồi vứt vào rác cháy được, nhưng mẹ để ý thấy các bà hàng xóm, các bà ấy mở cái vỏ cho phẳng ra, rửa sạch, phơi khô, xếp cả đống vào nhau, các khay đựng thịt cá cũng vậy, loại nào vào loại ấy khay trắng vào khay trắng, đen vào đen, nhựa trong vào với nhựa trong, rồi mới vứt. Hộp bằng kim loại có nắp bằng nhựa thì vứt riêng nắp, riêng hộp (tất nhiên hộp đã được cọ rửa sạch)... họ có được cái gì ở đó đâu, chỉ là vì tuân thủ qui định chung thôi. Mà rác nào được đổ ngày nào thì đúng ngày đó mới mang đổ, không thì cứ giữ ở nhà mình. Hôi thối cũng phải chịu chứ không mang ra bãi rác vứt trước ngày qui định. Mẹ Ổi không biết ở các nước văn minh khác như Mỹ và châu Âu thế nào, chứ dân châu Âu và Mỹ hàng xóm mẹ Ổi ở đây cũng a-ma-tơ chả hơn gì dân VN cả.
Ở Nhật là thế, cái gì cũng có qui định, và ai cũng tuân thủ, nên mọi thứ đều rất qui củ. Nói thêm về sự văn minh trong văn hoá ứng xử: Người Nhật không nói to ở chỗ đông người. Không ăn ngoài đường. Đứng ngồi đi lại ý tứ. Nói năng với nhau lễ phép lịch sự, thái độ nhã nhặn. Hiếm khi cáu kỉnh. Chưa bao giờ mẹ Ổi thấy người ta cãi nhau,... hình như họ không bao giờ cãi nhau thì phải??? Tất nhiên là người phải có yêu có ghét chứ nhỉ?, nhưng thậm chí cả trên phim truyền hình của Nhật cũng không thấy cảnh các mẹ tốc váy lên chửi nhau như người TQ, VN, Hàn Quốc... bao giờ. Nói chung, người Nhật rất lành tính, sống thiện. Văn hoá ứng xử của họ nếu chưa quen thì sẽ thấy cứng nhắc, có phần khuôn sáo, không thật lòng. Nhưng quen rồi thì sẽ thấy thật là dễ chịu.
Sơ sơ là thế, đã giống với xã hội chủ nghĩa chưa nhỉ? Không biết cái xã hội chủ nghĩa mà VN đang theo đuổi, với lại trong tưởng tượng của Cụ Mác với cụ Lê nin thế nào, chứ mẹ Ổi cũng chỉ mong muốn bấy nhiêu thôi. :p