Tuesday, August 25, 2026

 

TẤN CÔNG VÀO ĐẦU NÃO BẤT KHẢ XÂM PHẠM CỦA QUÂN KHU 5 CS THÁNG 4/1964

==

LỜI NÓI ĐẦU: Đây là cuộc hành quân (HQ) đầu tiên của liên quân Việt-Mỹ tấn công vào mật khu Đỗ Xá tháng tư năm 1964 – mà ngay cả trước năm 1954, quân Pháp cũng chưa bao giờ tấn công mật khu này, do địa thế rừng núi quá hiểm trở.

Những hình ảnh dưới đây: ngoài một số thuộc bài viết, còn lại lượm lặt trên mạng.

               

Ảnh: mật khu Đỗ Xá nằm ở nơi tiếp giáp của ba tỉnh Quảng Tín, Kontum và Quảng Ngải. 

Ảnh: Bản đồ các quân khu của CS, trong đó có QK-5, mà đầu não ở Đỗ Xá. Chấm đỏ là nơi đóng quân cấp TĐ, hình tam giác là nơi đóng quân cấp trung đoàn.

Ảnh: Lc quân và TQLC M khám xét các v trí đặt súng ca VC ti Đỗ Xá sau cuc hành quân Quyết Thng 202 được tiến hành bi QĐVNCH tháng 4/1964. Rt nhiu cây quế b hư hng bi bom đạn khiến cho c vùng có mùi thơm. Mt s lính VNCH đã thu nht v quế vì h bán giá cao ch.


Ảnh: Trung tướng Đỗ Cao Trí, TL của QĐ 3, nói chuyện với các sĩ quan Việt Mỹ, trong một hành quân ở Kampuchia khoảng năm 1970. Dù ở nơi tuyến đầu, lúc nào ông cũng đội mũ đánh golf với 3 sao trắng. Năm 1964, là TL của QĐ 2, ông mở cuộc hành quân vào mật khu Đỗ Xá.

Ảnh trên: Đại tá Nguyễn văn Hiếu, tham mưu trưởng của QĐ 2, và thiếu tướng Lữ Lan, tư lịnh phó về hành quân, chụp tại triển lãm chiến lợi phẩm từ trận Đỗ Xá tháng 4 1964.

Ba ảnh dưới: Chiến lợi phẩm được triển lãm tại Đà Nẳng. Ở mật khu Đỗ Xá có một bịnh viện dã chiến với các sách y khoa viết tay. Vũ khí các loại của nhiều nước với các bản chỉ dẫn viết tay (để biết cách tháo ráp).


Ảnh: H-34 là trực thăng đầu tiên có hệ thống tự động bay đứng một chỗ (auto-hovering system). Có bọc giáp để bảo vệ phi hành đoàn và động cơ—và nhờ động cơ đặt ở mủi máy bay nên tản nhiệt tốt và dễ sửa chữa. Do vậy dù bay chậm nhưng vẫn được TQLC và Lục quân Mỹ xử dụng.

Ảnh trên: H-34 cũng được dùng để thả biệt kích Mỹ và VNCH -- như phi đoàn 219 nổi tiếng vì gan dạ, ảnh dưới.

Ảnh: Các bao gạo được bốc dở từ một trực thăng H-34 của Air America, để phân phối cho dân tị nạn Hmong ở Phou Khao Khouay, Lào.

Ảnh: Một H-34 của hãng Air America chuẩn bị câu một chiếc Helio Courier, bị rơi tại Lào tháng 1/1966.

Ảnh trên: Trực thăng H-34 của TQLC Mỹ bị rơi khi dự trận Đỗ Xá. Ảnh dưới: trong trận này, một bánh lái giúp-trực-thăng-giữ-thăng-bằng bị sút ra.

 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ bài viết của Phi đội trực thăng HMM-364 của TQLC Mỹ, đồn trú tại Đà Nẳng.

I/ CHUẨN BỊ HÀNH QUÂN

“Dựa trên thông tin tình báo nhận được, ngày 27/4/1964, các BTL quân đồng minh đang đồng thời chuẩn bị cho một cuộc hành quân trực thăng vận vào các cứ điểm tình nghi của VC. Một nằm ở 15 dặm Anh tây tây bắc của Quảng Ngải, gần làng Đỗ Xá, và một ở khoảng 30 dặm xa hơn về phía tây.

Ở những doanh trại cũ của Pháp tại Đà Nẳng, tiếng kẻng vang lên đã đánh thức các TQLC của phi đội trực thăng 364 TQLC hay HMM-364. Họ gồm có phi công, xạ thủ, cơ phi. Họ đang được chở ra đường băng trên các chiếc xe tải 6 bánh mà họ trìu mến gọi là "Sweetlips", xem hình.

Phi đội này gồm có 19 chiếc UH-34 “Dog” (võ trang bằng M-60), bao gồm 1 chiếc UH-34 của trung tá John Lavoy, chỉ huy phi đội, xem hình.

Ngoài ra còn có 2 chiếc H-34 lo về tìm kiếm và cấp cứu, gọi tắt là SAR của thiếu tá Braddon chuẩn úy (CWO) McKee. Hai chiếc này còn có phụ tùng thay thế và thợ máy để sửa máy bay tại chỗ khi cần.

Ảnh: Thiếu tá Braddon đã rất can đảm vượt bực trong trận này vì từng cấp cứu hai trực thăng H-34 ở bãi đáp, một H-34 đáp xuống sông, và một Skyraider đáp khẩn cấp xuống tiền đồn.

Trong khi đó, ở đầu phía đông nam của phi đạo dài 5.000 bộ của sân bay Đà Nẳng, có năm chiếc gunship loại UH-1B “Huey” cũng đang chuẩn bị cất cánh. Họ thuộc Dragon Flight của TĐ 52 không vận (52nd aviation battalion) của lục quân Mỹ. Danh hiệu truyền tin của các chiếc này lần lượt là “Dragon 1,2,3, 4 và Dragon Six”. Chỉ huy của 5 chiếc này là đại úy Jack Woodmansee, xem hình dưới.

Ảnh của hai chiếc UH-1 hay Huey đang bảo vệ hai chiếc H-34.

The Team, Headed Out For Day's Work

Ở đâu đó trong sân bay là hai chiếc A-1H “Skyraider” của không quân VNCH, xem hình, đang chuẩn bị để yểm trợ nếu cần.

Một chiếc L-19 “Bird Dog” của không quân Mỹ, với một sĩ quan điều không hay FAC người Mỹ ngồi ghế trước và một FAC người Việt ngồi ghế sau, cũng đang sẵn sàng.

Ở sân bay Quảng Ngải, 100 dặm phía nam của Đà nẳng, khoảng 640 người lính VNCH đang lau chùi võ khí cá nhân, hay coi lại trang bị của họ. Họ xếp từng toán 10 người để nhanh chóng lên máy bay khi trực thăng tới.

Ở Đà Nẳng, trung tá Lavoy, phi đội trưởng của HMM-364, danh hiệu truyền tin Yankee Kilo Six, kiểm tra máy truyền tin với 18 chiếc trực thăng còn lại, và 5 chiếc gunship của Lục quân. Kiểm soát Mặt đất của Đà Nẳng cho phép họ ra phi đạo và sau đó họ được phép cất cánh bay về Quảng Ngải bởi Kiểm soát Không lưu.

Các H-34 bay theo đội hình mỗi nhóm 4 chiếc, và hai chiếc H-34 lo về cấp cứu bay cuối cùng – hai chiếc này do thiếu tá John Braddon và chuẩn úy Denis Mckee chỉ huy.

Năm chiếc gunship cũng hướng về thị xã Quảng Ngải.

2/ CHUẨN BỊ ĐỔ QUÂN.

Thời tiết hôm đó rất đẹp với trần mây và tầm nhìn ko hạn chế, viết tắt là CAVU. Ngay khi tới Quảng Ngải, 18 chiếc H-34 và 5 chiếc gunship đổ xăng. Một thuyết trình chi tiết được tiến hành tại đây với các phi công của máy bay H-34 TQLC, máy bay UH-1 Lục quân, các chỉ huy của VN, và của hai máy bay H-34 VNCH—2 chiếc này sẽ tham dự vào đoạn cuối của chuyến bay. Đại tá Robert Merchant sẽ chỉ huy cuộc hành quân SHUFLY có nhiệm vụ tìm và diệt này. Ngay sau buổi thuyết trình, các lính của đợt đổ quân đầu tiên sẽ lên 18 chiếc H-34 (gồm 16 của TQLC Mỹ và hai của VNCH).

Ngay khi tới bãi đổ, có tên là Đỗ Xá, họ thấy khu vực rất hiểm trở, chỉ có 1 bãi đáp hay LZ, xem hình, đủ chỗ cho 18 chiếc H-34 xuống 1 lượt.

Do Xa LZ from Capt. Woodmansee's Cockpit

ẢNH bãi đáp chụp từ xa, từ phòng lái của đại úy Woodmansee. Ảnh dưới là cận ảnh của bãi đáp.

Bãi đáp này, trừ mặt phía tây là bằng phẳng, ba mặt còn lại là núi cao, với nhiều hang động trên vách đá. Gió mạnh thổi từ phía nam, khiến trực thăng phải bay từ phía bắc để đổ quân. Chiếc L-19 bay vòng vòng trên cao, có lẽ cao hơn 2.500 bộ. Ở độ cao 5.000 bộ hay cao hơn, là 1 chiếc Helio Courier STOL, xem hình, của CIA, trên đó có đại tá Merchant và một ĐT lục quân, có lẽ là ĐT Sullivan, cố vấn trưởng của QĐ 1. (Theo báo New York Times, thời điểm xảy ra trận này, TL của QĐ 2 là tướng Đỗ cao Trí, tham mưu trưởng là ĐT Nguyễn văn Hiếu. Hai người từng làm việc rất ăn ý. Đầu năm 1971, Tướng Trí, TL của QĐ 3, tử nạn, khi chuẩn bị thế tướng Lãm để chỉ huy hành quân Lam Sơn 719, còn tướng Hiếu tử nạn ngày 8/4/75 vì tai nạn “súng cướp cò”. Cả hai đều ra đi trong tiếc thương của toàn quân và toàn dân VNCH – ND).

 

Ảnh của chiếc Helio Courier: Nổi tiếng vì có thể cất cánh và vọt lên từ 1 phi đạo dài 30 tới 61 mét.

3/ BÃI ĐÁP NÓNG

 Đại úy Woodmansee, sau này là trung tướng, kể lại: “Bốn gunship của tôi chia làm hai toán: 2 chiếc bay phía trước, 1 chiếc bên phải và 1 chiếc bên trái của máy bay của tôi. (Máy bay trực thăng hay khu trục cơ, luôn luôn bay từng cặp, để bảo vệ lẫn nhau: một chiếc bay phía trước, gọi là lead, một chiếc bay phía sau gọi là wing-- ND). Các chiếc H-34 bay phía sau tôi. Chúng tôi bay rất nhanh với đội hình chữ V ngược, với cao độ thấp. Hai chiếc gun lo hướng 6 giờ và mặt bắc của bãi đáp. Hai chiếc còn lại lo mặt phải hay mặt nam và hướng 12 giờ của bãi đáp.

Tôi bay phía sau để quan sát. Nếu gunship nào bị dưới đất bắn lên, xạ thủ của chiếc đó phải ném lựu đạn khói. Chiếc trực thăng bay phía sau, sẽ bắn vào nơi khói xuất phát”.

“Trong pass đầu tiên, bay thấp ở khoảng 100 bộ, bốn gunship đều ném lựu đạn khói ở 2 bên của máy bay. Tôi có thể thấy đạn vạch đường hay đạn tracer của VC đan chéo từ 2 bên của thung lũng (trong 1 dây đạn, cứ 5 viên thì có 1 viên tracer). Cũng lúc đó, đạn của VC bắn từ sườn đồi hai bên, ko phải từ bãi đáp. Tôi gọi ngay Yankee Kilo Six hay trung tá LaVoy và yêu cầu ông hủy bỏ việc tiếp cận bãi đáp, để chúng tôi khống chế hỏa lực đối phương. Máy bay ông liền bốc cao, ngoài tầm đạn của kẻ thù. Chúng tôi bắt đầu tác xạ chung quanh bãi đáp bằng rocket và đại liên. Trong lần bay từ tây sang đông, tôi bị bắn bằng đại liên 50 hay 12.7 ly từ bên phải.  Một loạt đạn tracer bay dưới máy bay của tôi khoảng 10 bộ trong ít nhứt 10 giây.  Một chiếc gun thấy khẩu này và bắn trả bằng rocket và đại liên.

Trong 1 lần bay gần ngọn đồi ở phía nam bãi đáp, trực thăng chúng tôi đã bị một đại liên của vc nổ súng bất ngờ với khoảng cách rất gần. Người xạ thủ của tôi đã bắn 1 băng đạn từ súng M-14, xem hình, để câm họng nó”.

Ảnh của súng trường M-14.

4/ 12.7 LY CỦA VC BỊ CÂM HỌNG BỞI GUNSHIP

“Chúng tôi sắp hết đạn và tôi hỏi tiền sát viên không quân hay FAC liệu y có thể hướng dẫn Skyraider vào các mục tiêu. Y trả lời L-19 bay quá cao nên ko thể thấy gì và yêu cầu tôi có thể đánh dấu mục tiêu. Tôi ko thể tin vào điều mình vừa nghe và mấy phút sau mới định thần. Khi lấy lại điềm tỉnh (composure), tôi bắt đầu bay từ nam lên bắc, bay rất thấp ngang sống núi (ridge) phía nam, dưới vị trí đặt súng ở phía bắc mà tôi sắp đánh dấu. Tôi bay nhanh ngang vị trí súng và xạ thủ bên phải ném ngay lựu đạn khói vào vị trí. Đó là một khẩu đại liên 12.7 ly với thiết bị nhắm, như trên các tàu thời đệ nhị thế chiến. Lính VC mặc đồ ngụy trang và đội nón cối.

Có những đường mương hay giao thông hào dẫn lên các hang động trên núi. Chúng tôi chỉ cách VC khoảng 25 bộ. Khi xạ thủ bên phải của tôi ném lựu đạn khói, bọn Việt Cộng đang trèo lên khỏi mương, và một tên đang xoay khẩu đại liên 12,7 ly về phía chúng tôi nổ súng. Tôi liền gọi thiếu úy Bert Coalson, chỉ huy 2 chiếc gun, ở cách tôi 1.000 bộ và hướng 6 giờ.

Bốn khẩu súng M-60 từ 2 chiếc gun này, có khả năng hạ nòng 60 độ, xoay 12 độ vào phía trong và xoay 45 độ ra phía ngoài. Bert chỉ cần cho máy bay hạ xuống cao độ 1000 bộ để các đại liên M-60 bắn chung quanh mục tiêu, tức lựu đạn khói. VC sẽ khó ẩn nấp trong giao thông hào khi trực thăng ở ngay trên đầu của họ. Vị trí súng này đã câm họng từ lúc đó”.

5/ SKYRAIDER TRÚNG ĐẠN PHẢI ĐÁP KHẨN CẤP

“Khi chiếc Skyraider tấn công đối phương, nó ko thể đánh trúng khẩu 12.7 ly đặt trên một gò đất nhỏ (hillock), nhô ra từ sống núi phía bắc vào thung lũng. Sau vài lần lao xuống ở góc 40 độ, chiếc Skyraider đã trúng đạn từ bờ nam của thung lũng và bỏ đi với khói đen bốc cuồn cuộn (billow) từ động cơ Wright B-3350 có sức mạnh 2.700 mã lực.”

Thiếu tá Braddon, bay trên chiếc H-34 tìm kiếm và cấp cứu SAR, khi thấy chiếc Skyraider bốc khói rời mục tiêu để đi Quảng Ngải, đã bay theo. Ông thấy chiếc này trên 1 phi đạo ko tráng nhựa của một trại LLĐB. Phi công đã ko thể hạ bánh đáp. Y đã đập mặt vào bảng điều khiển khiến mặt bị thương tích. Braddon đã chở y đến Quảng ngải và trở lại Đỗ Xá.

Ảnh: Chiếc AH-1 bị hư nặng.

6/ GUNSHIP BAY VỀ QUẢNG NGẢI ĐỂ TIẾP ĐẠN

Chuyện kể của Dragon Six tiếp tục như sau: “Trung tá LaVoy, theo lịnh của ĐT Merchant bay ở phía trên, yêu cầu tôi cho đổ quân. Tôi báo cáo rằng các gun đã bắn hết đạn, nên phải về Quảng Ngải để tiếp đạn. Tôi gợi ý rằng nên để các Skyraider của VN tấn công mục tiêu trước khi tôi trở lại. Tôi nói thêm, chúng ta nên kiếm bãi đáp khác. Vì chúng tôi sẽ bay vào 1 ổ phục kích nếu dùng bãi đáp lần nữa, (tôi đã nói điều này với vị tỉnh trưởng). Tôi không tin rằng chúng tôi đã gây được thiệt hại đáng kể cho kẻ thù sau đợt tấn công vừa rồi.

“Trong khi chúng tôi nạp đạn và tiếp xăng ở Quảng Ngãi, tôi được biết có 1 sai lầm (screw up) chết người đang xảy ra ở khoảng 30 dặm phía tây của khu vực chúng tôi. Các chiếc trực thăng đã đổ quân xuống bãi đáp trước khi các chiếc gun tới. Và các chiếc này đã bắn lầm vào lính VNCH ở bãi đáp.

7/ TIỀN SÁT VIÊN VÔ TÍCH SỰ

“Trung tá LaVoy quyết định (theo lịnh của ĐT Merchant) rằng chúng tôi phải trở lại Đỗ Xá và đến bãi đáp chỉ định. Trong khi hướng về khu vực đổ quân, tôi cố gắng gọi tiền sát viên của không quân hay FAC để đưa các Skyraider khả dụng vào bãi đáp này, nhưng tôi rất bất mãn (chagrin) khi nghe FAC đầu tiên đã trở về Đà Nẳng để “nghỉ ngơi”. Y nói đã bay từ 6 g sáng, khoảng thời gian chúng tôi cất cánh, và ko thể bay thêm. Viên FAC mới thì ko biết gì về khu vực hành quân, cũng như ko biết gì về tình hình bạn và địch, lẽ ra phải được truyền đạt từ FAC cũ; tóm lại y là kẻ vô tích sự (worthless). Tôi tức giận và áp huyết lại tăng.”

8/ MỌI THỨ ĐỀU BÙNG NỔ, MỘT H-34 RƠI

“Khi chúng tôi sắp tới bãi đáp, trung tá LaVoy ra lịnh các gunship phải bắt đầu trấn áp bãi đáp trước khi các UH-34 đổ quân. Với các UH-34 bay phía sau, chúng tôi rải đạn như mưa xuống (rake) bãi đáp và đột nhiên mọi thứ đều bùng nổ (all hell broke loose). Chúng tôi đều nổ súng. Tất cả các xạ thủ trực thăng H-34 đều nhả đạn trong khi binh lính QLVNCH nhảy xuống từ các chiếc này và nhanh chóng chạy ra khỏi khu vực kế bên để tìm chỗ ẩn nấp”. Ở toán thứ ba của H-34 (mỗi lần chỉ xuống 4 chiếc vì bãi đáp hay LZ ko an toàn), chiếc đầu tiên bị rớt, do đại úy Cunningham lái. Có lẽ khẩu đại liên ở vị trí móng ngựa trên bìa rừng phía bắc nhìn xuống bãi đáp là thủ phạm”.

9/ MỘT CHIẾC H-34 KHÁC PHẢI ĐÁP XUỐNG TIỀN ĐỒN GẦN ĐÓ

Thiếu tá Albert Allen đang dẫn đầu toán thứ tư (cũng gồm 4 chiếc H-34), hôm sau kể lại.

“Có vẻ đại úy Cunningham và tôi bị trúng đạn cùng lúc. Y đang đưa máy bay lên cao, để né tránh các cây to đã chết khô và tôi cũng chuẩn bị đáp xuống. Do bị phân tâm bởi các đường đạn bay xuyên qua máy bay, tôi ko để ý máy bay của Cunningham đang trước mặt tôi. Khi nhìn về phía trước lần nữa, tôi thấy rõ ràng là y đang rơi xuống. Tôi đang lao thẳng về đúng vị trí mà y sẽ rơi vào. Ba chiếc còn lại đều ra khỏi vùng. Tôi cất cánh ngay khi lính tráng rời máy bay. Cơ phi cho biết máy bay của tôi trúng nhiều phát bên trái với đạn vào chỗ thấp nhưng ra ở chỗ cao. Một viên đã làm hư động cư servo chánh, xem hình, khiến dầu thủy lực văng khắp nơi. (Động cơ servo là loại động cơ có hộp số gắn liền ko thể tách rời – ND).

Cơ phi cũng xác định được rằng một thanh của giá đỡ chuyển tiếp chính đã bị đứt lìa. Tôi biết rằng tôi phải tìm chỗ đáp để xem xét lại máy bay. Khoảng 1 dặm cách bãi đáp, tôi thấy một bãi cát nhỏ ven sông nên định đáp xuống. Nhưng khi bay gần tới thì bị bắn nên ko đáp. Tôi còn nhớ, lúc trên đường tới bãi đáp, tôi đã thấy một tiền đồn VNCH, nên quyết định đáp xuống đó. Chẳng bao lâu, máy bay sửa chữa của chuẩn úy McKee tới. Sau khi thợ máy kiểm tra máy móc, y nói với tôi, nếu là y, y sẽ lái chiếc này tới Quảng Ngải. Nhưng sau đó y đổi ý. Ngày hôm sau, máy bay được sửa chữa.  

Ảnh trên: chiếc H-34 của thiếu tá Albert Allen đáp xuống sông, ảnh dưới, sau khi được câu lên bờ.

HU-34 Dries Out After Stream Landing

 

10/ BRADDON ĐÁP XUỐNG CỨU CUNNINGHAM

Trở lại Đỗ Xá, chuyện kể (narrative) của Dragon Six, ám danh của đại úy Woodmansee, chỉ huy của 4 chiếc gun tiếp tục: “Chỉ 1 lát sau khi chiếc trực thăng của Cunningham bị rơi, thiếu tá Braddon, đang bay phía trên, cho biết ông sẽ đáp xuống. Ông đã làm điều này ko một phút do dự. Ông ấy được huấn luyện để phản ứng, chứ không phải suy nghĩ. Ông giảm ga, thả cần điều khiển và bắt đầu để máy bay hạ xuống về phía chiếc UH-34 bị bắn rơi. Tôi, tức Woodmansee, bảo John nói với xạ thủ bên trái rằng gunship của tôi sẽ bay lơ lửng ở vị trí 7 giờ của anh ấy và dặn xạ thủ không được bắn vào tôi. Tôi đặt trực thăng của mình giữa John và vị trí súng máy VC ở quả đồi hình móng ngựa. Chúng tôi bắn vài quả rocket vào những tán cây phía trên vị trí đó để tạo ra những vụ nổ trên không (airburst), và nả đạn vào khu vực này trong khi John kiên nhẫn chờ đợi để phi hành đoàn lên máy bay. Sau đó, tôi nghe thấy John Braddon gọi, "Dragon Six, Yankee Kilo (trung tá LaVoy) đang đến", tôi quay lại theo anh ấy và bắn phía dưới anh ấy khi anh ấy đang bay lên. Bốn máy bay UH-1 của tôi yểm trợ cho John ở cả hai bên sườn trái và phải và chúng tôi thoát ra mà không hề hấn gì, nhưng John báo cáo rằng anh ấy đã trúng vài phát đạn, một số là đạn cỡ lớn, nhưng không ai bị thương. Đó là một phép lạ.

Bộ phận làm mát dầu máy của trực thăng của đại úy Cunningham đã bị phá hủy bởi đạn của vc. Điều này có lẽ xảy ra trong lúc máy bay vào bãi đáp nhưng, giờ đây đó là một máy bay hư hỏng nặng với khói bốc lên từ buồng máy và tất cả dầu đã cạn hết trong 1 thời gian ngắn.

11/ BRADDON ĐƯA PHI HÀNH ĐOÀN CUNNINGHAM ĐẾN NƠI AN TOÀN

Chuyện kể của thiếu tá Braddon tiếp tục: “Máy bay tôi trúng nhiều đạn. Khi tôi rời vùng với phi hành đoàn của Cunningham, tôi nhận thấy một số bộ phận điện không hoạt động và có những âm thanh khủng khiếp phát ra từ khoang động cơ. Chúng tôi rời khỏi khu vực theo cùng hướng với những chiếc máy bay không chở người, nhưng vì quá nặng nên chúng tôi không thể vượt qua ngọn đồi thẳng phía trước. Tôi quyết định bay vòng quanh một mỏm đất nhô ra khu vực hạ cánh và men theo lòng suối. Trên mỏm đất đó có rất nhiều lính Việt Cộng và chúng tôi được chứng kiến ​​một cảnh tượng ngoạn mục của những tia lửa từ nòng súng, suốt dọc đường đi. Chúng tôi đáp xuống 1 bãi đáp của VNCH khoảng giữa đường tới Quảng Ngải để kiểm tra kỹ lưỡng mức độ của thiệt hại của máy bay. Tôi nhận thấy một viên đạn 12.7 ly đã bắn trúng hộp đấu nối vách ngăn (firewall junction box), làm điện bị trục trặc. Một viên 12.7 ly khác đã tạo một lổ trong hệ thống thoát khí. Cuối cùng tôi quyết định rằng ngoài hư hỏng về điện và hệ thống thoát khí, máy bay của tôi vẫn còn mạnh, hệ thống truyền động và máy móc truyền tin còn tốt, nên có thể tiếp tục nhiệm vụ”.  

Sau khi hoàn tất đợt đổ quân đầu tiên, trừ 2 chiếc chở quân và chiếc của Braddon, số máy bay còn lại trở về Quảng Ngải để tiếp xăng, nạp đạn và chở quân. Ngay khi tới Quảng Ngải, thêm vài chiếc UH-34 ko thể bay tiếp.

12/ BÃI ĐÁP NÓNG VÌ BỘ BINH KHÔNG BẢO VỆ

Phần kể chuyện của Woodmansee tiếp tục:

“Khi trở lại bãi đáp hay LZ vào buổi chiều, chúng tôi không bắn vào LZ này vì có lính VN ở đó. Thay vào đó, để bảo vệ các H-34 bay vào LZ, chúng tôi bay ở độ cao 1.000 bộ với 2 gunship ở hướng 9 giờ của LZ và 2 chiếc ở hướng 3 giờ của LZ. Ngay trước khi các chiếc H-34 dẫn đầu thả trái khói, họ bị bắn trả dữ dội. Ngoài những vị trí mà tôi biết trước, nay có 1 vị trí mới ở chu vi phía bắc của LZ. Chúng tôi lại giao tranh ác liệt không kém gì đợt đụng độ mà tốp trực thăng UH-34 đầu tiên đã gặp phải khi đổ quân xuống LZ. Thật khó hiểu khi phải hứng chịu hỏa lực dữ dội như vậy ngay lúc quân ta đang có mặt tại khu vực, chẳng khác gì tình cảnh 45 phút trước đó khi chưa hề có quân ta ở đây. Nhớ lại sự việc bi thảm vừa xảy ra cách đó 30 dặm về phía tây, có lúc tôi đã nghĩ liệu có phải chúng tôi đang vướng vào một vụ "bắn nhầm" giữa phe ta với nhau hay không. Tuy nhiên, suy nghĩ đó nhanh chóng bị gạt bỏ, bởi lẽ chúng tôi đang bị bắn xối xả từ ngay trong LZ và buộc phải nổ súng đáp trả”.

“Cuối cùng tôi nhận ra rằng đợt lính bộ binh đầu tiên xuống LZ, đã chạy nhanh lên sống núi ở cạnh bắc của LZ. Nhưng họ ko để ai ở lại để bảo vệ LZ. Điều này đã cho phép VC đưa súng máy đến chu vi phía bắc của LZ. Do đó rất nhiều máy bay bị trúng đạn, kể cả gunship. Tuy vậy các phi công can đảm của H-34 vẫn đổ quân đợt hai và sau đó bay về thị xã. Trên đường đi, chúng tôi thấy Thiếu tá John Braddon quay lại nhập vào đội hình. Tôi nghe thấy Yankee Kilo Six hỏi liệu ông có thể tiếp tục bay được không. John báo cáo tình trạng hư hại cho sếp nhưng khẳng định rằng mình vẫn "sẵn sàng tiếp tục".

Tại Quảng Ngải: một số máy bay hư nặng, có chiếc phải đáp xuống suối. Phi đội trở lại Đỗ Xá lần này với 5 chiếc gun, khoảng 9 chiếc H-34 của TQLC, 2 chiếc H-34 của VN, và 2 chiếc cấp cứu hay SAR.

13/ BÃI ĐÁP ĐÃ BỚT NÓNG

Lần đổ quân thứ ba này gặp hỏa lực của VC yếu hơn. Một số chiếc trúng đạn, nhưng ko bị rơi hay ko ai bị thương, nếu có, cũng nhẹ.

Thiếu tá Braddon nhớ lại: “Woodmansee ra lịnh bắn rocket vào các vị trí súng bên trong và chung quanh của LZ, và để một tiền sát viên ở dưới đất để chỉnh pháo cũng như chỉ rõ vị trí để gunship trả đủa bằng từng chùm hỏa tiển 2.75-inch EFAR.

Ảnh: Rocket 2.75-in trên trực thăng Cobra. Được bắn từng chùm (salvo). Ảnh dưới: 4 rocket 2.75-in kế cận một phi đạn AGM-114 Hellfire.

 

14/ MỘT H-34 VNCH BỊ BẮN RƠI

Trong đợt đổ quân thứ 4 và cuối cùng, 1 chiếc UH-34 của VN bị trúng đạn và rơi, khiến thiếu tá Braddon phải xuống cứu phi hành đoàn (giờ đây trên LZ có 2 chiếc H-34).

ẢNH: nhìn kỹ sẽ thấy 2 chiếc H-34 bị rơi trên LZ.

Thiếu tá Braddon kể lại: “Các chiếc H-34 này trang bị đại liên M-1919, xem hình dưới, thay vì M-60 trên H-34 của TQLC Mỹ. (Đây là đại liên 30 hay 7.62 ly, giải nhiệt bằng không khí, dùng rất nhiều ở VN, trước khi thay thế bởi M-60 nhẹ hơn rất nhiều, vào khoảng năm 1968 -- ND). Phi hành đoàn VNCH đã tháo khẩu đại liên 30 chuyển qua máy bay tôi. Mỗi lần họ bắn, họ làm mũ bay tung lên (bounce) trên đầu tôi.

Ảnh đại liên 30 trên trực thăng H-34.

Thiếu tá Braddon kể: “Khi cứu chiếc H-34 của Cunningham, máy bay chúng tôi rất nặng khi rời vùng. Chiếc máy bay cứu hộ hay SAR của tôi đã có 2 pilot, 1 cơ trưởng, 1 xạ thủ, 2 thợ máy, nay lại thêm 4 người của Cunningham và 1 thùng đồ nghề và phụ tùng nặng 500 cân Anh.

Vào lúc cuối của đợt đổ quân thứ 4, hỏa lực VC đã bị triệt tiêu tại khu vực phụ cận của LZ. Cuối cùng lính vnch đã làm chủ LZ. Phi đội đã bay đến Quảng Ngải để bốc các phi hành đoàn thất nghiệp (vì máy bay đã hư hỏng) để đưa họ về Đà nẳng.

15/ BRADDON BẢO VỆ H-34 TẢI THƯƠNG

Khi được biết vài phi vụ H-34 tải thương của VNCH tại vùng Đỗ Xá, thiếu tá Braddon đề nghị dùng gunship UH-1 để yểm trợ. Khi tới LZ, hai chiếc này đều bị trục trặc nên đáp xuống. Woodmansee đã đến bắt tay Braddon vì sự dũng cảm của Braddon. (Vì H-34 hỏa lực yếu và bay chậm hơn gunship – ND).

Braddon và Dragon Six hộ tống các chiếc tải thương tới Quảng Ngải, dù trời đã tối.

Braddon nói: “Chúng tôi đổ xăng cho chiếc Dog (H-34) đầy lổ đạn của tôi, với hệ thống điện hư nặng và động cơ kêu như máy đập lúa (thresh) và, với gunship của Jack là wing của tôi, bay trở về Đà Nẳng. Tôi bay dọc bờ biển, phòng lái với đèn chớp tắt liên tục báo hiệu máy móc trục trặc, và hy vọng chiếc H-34 đầy thương tích về tới nhà. Tất cả chúng tôi trở về Đà Nẳng lúc trời tối.

16/ BÃI ĐÁP ĐÃ AN TOÀN

Tối hôm đó, trung tá LaVoy cho biết phi đội H-34 sẽ phải đến LZ cũ vào sáng sớm ngày mai. Tôi báo cáo tôi cần trời sáng tỏ để xem xét kỹ lưỡng những hư hỏng mà gunship đã bị do trúng đạn. Tôi nói, sau khi làm tiền-phi trong 2 g, các gunship sẽ đến Quảng ngải lúc 1000. Các H-34 đã đến đó trước và chờ tôi. TĐ 52 không vận, mà tôi thống thuộc, đề nghị cung cấp gunship khác để yểm trợ cho các H-34, nhưng bên H-34 trả lời họ thích hành quân với gunship chúng tôi”.

“Ngày kế chúng tôi lên đường với 4 chiếc UH-1. Ngay khi tới LZ, chúng tôi vui lòng khi thấy lính VNCH từng rời LZ đêm trước, nay đã lục soát LZ và VC đã trở lại núi. Ngày đó chúng tôi ko gặp kẻ thù.”

Nhận xét của nhiều TQLC có mặt tại Đỗ Xá: Họ đã ca ngợi đại úy Woodmansee, chỉ huy các chiếc gun đã phục vụ hết mình, đặc biệt ngày 27/4/64.

17/ TÔNG TÍCH CỦA PHI CÔNG VNCH DỰ TRẬN ĐỖ XÁ:

Trung úy Phạm văn Hòa đã tiếp tục chiến đấu đến khi chiến tranh kết thúc. Một tuần trước khi SG sụp đổ, ông Hòa đã đưa vợ và 4 con vào khoang hàng của 1 C-130 bay ra khỏi nước. Con trai ông, tên Quang, giờ đây chủ một dot-com ở Newport Beach, lúc đó 10 tuổi. Các con gái lúc đó lần lượt là 11, 6, và 2.

Trong khi gia đình ông sống chen chúc ở các trại tị nạn ở Philippines, Guam, Fort Chafee bang Arkansas, Hòa đã ở lại để dự trận chiến vô ích và cuối cùng này, và nhanh chóng bị bắt và gửi đến 1 trại cải tạo. Ông đã trải qua 12 năm trong những vùng nông thôn khắc nghiệt của bắc VN, lao động khổ sai và đói khát mỗi ngày. Và được cai tù liên tục nhắc lại các tội ác của đế quốc Mỹ.

Cuối cùng, năm 1987, Hòa được thả và sống với mẹ vợ ở SG trong khi chờ thủ tục đi Mỹ. Trong 5 năm, ông thường xuyên bị theo dỏi và ko được phép làm việc.

Khi ông đến California, các con ông đã lớn, học vấn đàng hoàng và thành đạt. Con trai ông, Quang X., nay là một phi công trực thăng TQLC Mỹ, đóng tại Tustin. Quang đã lập một website để tưởng niệm người cha quá cố ở: www.phamvanhoa.com.

Chuyển ngữ từ: Do Xa Troop Insert by the Purple Foxes of HMM-364 đăng ngày 15 tháng 5 2004.

San Jose ngày 18/8/2026, cập nhật ngày 25/8.

Tài Trần

 

 

Sunday, August 23, 2026

 Căn cứ Nước Là - mật khu Đỗ Xá, trên địa bàn huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam là di tích cấp quốc gia. Một con đường dài 39 km xuyên qua vùng núi non hiểm trở này vừa thông tuyến để nối với huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum)...

Mật khu bất khả xâm phạm

Mật khu Đỗ Xá (*) hay căn cứ Đăk Bla (Nước Là) thành lập từ cuối thập niên 1950 thế kỷ trước nhằm hiện thực hóa đường lối đấu tranh giải phóng miền Nam của Nghị quyết 15 T.Ư ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Mật khu Đỗ Xá gắn liền với những tên tuổi lừng lẫy một thời của quân Giải phóng miền Nam như Võ Toàn (Võ Chí Công), các tướng Trần Kiên, Nguyễn Đôn, Chu Huy Mân, Trương Chí Cương, Võ Thứ, Hoàng Minh Thắng, Mười Chấp... Mật khu Đỗ Xá  nay là vùng Tăk Pỏ, Nước Là gần Trung tâm hành chính huyện Nam Trà My ngày nay.

 

Mật khu Đỗ xá nay là huyện lỵ Nam Trà My - Ảnh: T.Đ.T

Ông Nguyễn Văn Cao, nguyên Phó văn phòng Khu ủy 5 lúc đó, nhớ lại: “Trong những năm chiến tranh đặc biệt, địch thường xuyên đưa lực lượng càn quét đánh phá các khu căn cứ của cánh mạng. Mùa hè năm 1964, tướng Sài Gòn Nguyễn Khánh đưa 3 sư đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến đánh vào mật khu Đỗ Xá và vùng núi non hiểm trở giáp ranh giữa 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum để tiêu diệt các cơ quan đầu não cách mạng ở khu Trung Trung bộ...”. Tài liệu lưu trữ cho thấy lúc đó, quân đội Sài Gòn đã đổ hàng trăm tấn bom và hàng ngàn quân thiện chiến của Vùng I và II chiến thuật và TQLC nhiều lần tấn công vào Đỗ Xá, nhưng đã bị thiệt hại nặng nề. “Dân quân du kích và đồng bào các dân tộc tổ chức bố phòng bằng chông kín các ngả đường và các điểm cao trọng yếu kể cả xây dựng các trận địa bắn máy bay, sẵn sàng chiến đấu. Hàng trăm lính và hàng chục máy bay trực thăng đã bị ta bắn rơi, buộc chúng phải rút lui... Chiến thắng Đỗ Xá cho thấy ý nghĩa và vai trò lịch sử của mật khu này trong lúc lực lượng vũ trang của quân khu còn non trẻ”, ông Cao kể...

Về phía quân đội Sài Gòn, tham gia vào những đợt tấn công mật khu Đỗ Xá, có các tên tuổi cộm cán sau này như Ngô Quang Trưởng, Bùi Thế Lân, Lê Nguyên Khang lúc đó hãy còn là những sĩ quan cấp úy. Tướng Nguyễn Văn Hiếu của quân đội Sài Gòn thừa nhận trong hồi ký “Hai lần thâm nhập mật khu Đỗ Xá”: Tướng Khánh cũng đã thử tài tung quân vào mật khu Đỗ Xá, với sự trợ lực của trung tá Ngô Dzu, Tham mưu trưởng Quân đoàn 2. Nhưng họ đã bị thất bại cách ê chề vì đạo quân tung vào bị địch quân đánh dội trở ra sau khi nướng mất trọn một tiểu đoàn...

Ngày 28.4.2004, nhật báo New York Times tường thuật: “Hai mật khu Việt Cộng là Đỗ Xá và Mang Xin, do Cộng sản kiểm soát từ cuộc chiến Đông Dương chống Pháp sau Đệ nhị Thế chiến. Quân lính chính phủ xâm nhập vào vùng này lần đầu tiên năm ngoái, nhưng đã không diệt được sự kháng cự của Việt Cộng...”. Sau đó, hãng tin UPI của Mỹ tường thuật từ Sài Gòn: “QLVNCH cũng đã tổ chức hai cuộc xâm nhập vào mật khu này... Các nguồn tin Hoa Kỳ nói mỗi chiếc trực thăng xử dụng trong cuộc không vận đều bị trúng đạn của hỏa lực Cộng quân bắn từ dưới đất... Các nguồn tin này chối bỏ việc lực lượng chính phủ bị sa lầy, nhưng nhiều báo cáo nói ngược lại...”.

Thế trận lòng dân

Cựu đại tá Đỗ Phú Đáp, tập kết ra Bắc và quay về để kịp có mặt trong những ngày thành lập mật khu kể rằng, ngoài sự lớn mạnh của lực lượng quân sự, “nhân dân các dân tộc Xê Đăng, Bhơ-noong, Ca Dong một lòng một dạ đi theo cách mạng... cung cấp lương thực thực phẩm cho bộ đội, cung cấp thông tin và trực tiếp tham gia chiến đấu. Đó là một trong những nhân tố quan trọng làm chỗ dựa vững chắc cho căn cứ mật khu Đỗ Xá...”. Nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Lê Tấn Tỏa, lúc đó công tác ở Ban Tổ chức Khu ủy, kể: “Chúng tôi vào nhà dân, lúc nào dân cũng tiếp đãi rất tử tế. Lúc tôi ở làng Tak Chanh bà con ở các nóc gần đó hàng ngày mang gạo, bắp, củ mì, rau quả đến cho ăn không hết. Có hôm họ còn mời cán bộ sang nhà họ ăn cơm... Họ đi săn được heo hay nai cũng chia cho chúng tôi...”.

Thế trận lòng dân của mật khu Đỗ Xá được nhà báo Võ Thế Ái (TTXVN) ghi lại trong hồi ký Bước chuyển lớn trên Trường Sơn: “Đồng bào bấy lâu chỉ khao khát cách mạng cho lệnh đánh và cướp chính quyền, nay thấy cách mạng kêu gọi đóng góp nuôi quân thì liền hưởng ứng nhiệt liệt. Vượt qua mọi việc dò xét của địch, các buôn làng dựng lên hàng loạt kho gạo cách mạng... Ngoài việc tăng diện tích trồng lúa, đồng bào còn làm thêm nhiều rẫy sắn dành hẳn cho lực lượng thoát ly, gọi là rẫy cách mạng...”. Ông Hoàng Minh Thắng sau này là Bộ trưởng Bộ Thương mại, đau đáu về những hy sinh to lớn của hàng vạn người dân các dân tộc thiểu số ở đây: “Chúng ta phải có trách nhiệm để người dân, những người từng cưu mang chúng ta để cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, có được cuộc sống no đủ. u đó cũng là sự trả nghĩa cho ho...”.

Từ Đỗ Xá đến Nam Trà My

Bí thư Huyện ủy Hồ Thanh Bá nói: “Nam Trà My là một trong 62 huyện nghèo nhất nước, 64% trong số 24 ngàn dân thuộc đối tượng nghèo theo chuẩn cũ. Nếu tính theo chuẩn mới, con số này lên tới 84%. Đây là vùng núi non hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt nhưng việc đầu tư hạ tầng và các chính sách của nhà nước chưa tương xứng...”.

Nam Trà My hiện có 10 xã với hơn 97% là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống theo tập quán tự sản tự tiêu, không có ruộng lúa nước nên lúa rẫy thường bị mất mùa nếu thời tiết không thuận lợi... Trong 2 năm qua, chúng tôi đã đưa gần 900 thanh niên đi xuất khẩu lao động, nhưng chỉ hơn 1/3 trong số đó đủ tiêu chuẩn vì nhiều người không đủ sức khỏe, bị các bệnh về gan, phổi hoặc không đủ trình độ văn hóa đã bị từ chối! Toàn huyện tuy xã nào cũng có trạm xá nhưng chỉ có mấy y tá vì đầu vào để đào tạo bác sĩ, y sĩ  tốt nghiệp phổ thông trung học là rất hiếm...”.

Người dân Nam Trà My sống bằng cây quế, cây sâm Ngọc Linh và loài cá niêng. Nhưng giống quế thuần chủng bị pha tạp, giá cả tùy thuộc vào tư thương. Bột quế cũng khó tiêu thụ vì bị mất thương hiệu. Cây sâm Ngọc Linh là thế mạnh của vài xã nhưng cũng gặp khó khăn về giống và nạn mất cắp, còn cá niêng thì ngày càng ít đi do môi trường bị xâm hại và nạn đánh bắt theo kiểu hủy diệt. Theo Chủ tịch huyện Hồ Văn Ny, tập quán sản xuất và cơ chế chính sách dành cho đồng bào miền núi chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển. Đầu tư theo Nghị định 30a của chính phủ mà mỗi năm chỉ rót xuống 20-30 tỉ đồng so với nhu cầu của huyện là 4.000 tỉ đồng, thì tôi tính ra phải mất đến... 111 năm mới hoàn tất!”.

Trên con đường Nam Quảng Nam mới mở nối thị trấn Tăk Pỏ đến huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) với vốn đầu tư gần 1.300 tỉ đồng nhằm phát triển vùng kinh tế Nam Trà My, nhiều ngôi nhà tôn, nhà gạch của nhiều hộ người miền xuôi lên xây dựng và mở cửa hàng buôn bán. Những chiếc xe thồ hàng chở đầy gà vịt, bia rượu từ hướng Tiên Phước lên cung cấp hàng tươi cho các lán trại công nhân cầu đường. Hàng ngàn mét khối gỗ ven những cánh rừng nguyên sinh quanh khu vực Ngọc Linh đã được đốn hạ “tận thu” để làm đường. Các xóm nhà người dân tộc của các xã Trà Mai, Trà Dơn vẫn nằm cách biệt trên những bờ dốc đứng cheo leo, bên những cánh rừng nguyên sinh và những nương rẫy bé tẹo. Dường như họ không quan tâm đến nền “kinh tế thị trường” đang nhộn nhịp bên ngoài. Ông Hồ Văn Ny cho biết: “Nhiều thanh niên địa phương bỏ học, hàng ngày vào rừng bứt mây, lột quế hoặc đi làm công ngày nào đòi tiền ngày ấy chỉ để... uống rượu. Tâm lý ỷ lại nhà nước và thói quen tư duy tự sản tự tiêu cứ mãi kìm hãm sự phát triển của họ...”.

Rõ ràng, rất nhiều sự đầu tư của nhà nước cho vùng cao như Nam Trà My, nhưng sự dàn trải; manh mún trong đầu tư, tư duy ỷ lại và tập quán sản xuất lạc hậu của người dân thiểu số vùng cao đã khiến cho cơ hội hưởng thụ “sự trả nghĩa” của người dân thiểu số ở mật khu xưa, như cách nói của ông Hoàng Minh Thắng, trở nên ít hiệu quả.

Phóng sự Trương Điện Thắng

(*) Theo nhà báo Võ Thế Ái, Đỗ Xá là mật danh của căn cứ Nước Là, cũng có người cho đó là tên của một chiến sĩ hy sinh khi đi tìm vị trí xây dựng căn cứ.

Dành cho bạn

 LÊ = 35 = 8

THỊ = 451 = 10 = 1

PHỈ = 851 = 14 = 5

cộng lại: 8 1 5 = 14.


Thursday, August 20, 2026

 Trong khuôn khổ của trận sông Đáy, đồn Yên Cư Hạ, một trong những mắt xích (verrou) của tuyến phòng thủ của khu vực, đã bị tấn công bởi trung đoàn 88, biệt danh “trung đoàn Sông Đáy”. Trong đêm 4 rạng ngày 5/6, quân phòng thủ (gồm một đại đội dân quân hay pạc-ti-dân người Việt Nam của tỉnh Hưng Yên, tăng cường từ ngày 30/5 bởi 120 lính của đại đội thám kích Romary) bị tấn công liên tiếp bởi đạn không giựt SKZ và đạn cối lân tinh trắng. (Đây là lần đầu tiên Việt Minh dùng đạn này. Thời đó, các đại đội commando hay thám kích đều lấy tên của người chỉ huy, trong trường hợp này là ông Romary – ND). Các người lính quyết tử của VM đã phá hàng rào bằng thuốc nổ lỏm và tấn công tràn ngập tiền đồn; và đồn đã đổi chủ bốn lần và một số pháo đài (casemate) đổi chủ sáu lần. Bên trong đồn, những quân phòng thủ sống sót đã cận chiến trong tuyệt vọng bằng lưởi lê. Trong giờ phút một nhóm nhỏ chiến binh, chỉ huy bởi trung úy Romary (đại đội trưởng thám kích), thì tàu LSSSL số 6 của lực lượng thủy bộ hay Dinassaut số 3 đã xuất hiện trên Sông Đáy, và họ đã khai hỏa các khẩu súng máy của mình, đánh tập hậu và cắt đứt đường rút lui của VM bằng đại bác.

(Lúc đó trung úy Romary đã bị trúng đạn bắn thẳng 2 lần, chưa kể miểng đạn pháo kích).

 

ĐỒN YÊN CƯ HẠ: TRONG MỘT ĐÊM ĐÃ ĐỔI CHỦ BỐN LẦN

      

Đức giám muc Lê hữu Từ và HCM duyệt hàng quân tại Hà Đông tháng 2 1951.

Lời nói đầu: Chỉ trong 1 đêm, một tiền đồn gồm một đại đội thân binh hay pạc-ti-dăng người Việt Nam (phần lớn là giáo dân) của tỉnh Hưng Yên, ở miền bắc, được tăng viện từ ngày 30 tháng 5 năm 1951 bởi 120 người thuộc đơn vị thám kích Romary, đã chiến đấu ác liệt chống lại một trung đoàn VM, như tựa của bài viết. (Lính pạc-ti-dăn giống như dân vệ hay ĐPQ ở miền nam trước 1975 -- ND) 

Ảnh trên và dưới: Bản đồ về Trận Sông Đáy.

             

              Bản đồ về mặt trận Ninh Bình.

I/ TRẬN SÔNG ĐÁY 30/5/1951 – 8/6/1951

TĐ 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) đã về Hà Nội đêm 29 rạng 30/5/1951. Hôm sau TĐ được thả dù xuống Dang Dông, gần Ninh Bình ngày 30/5/1951 và tham dự hành quân với Chiến đoàn 1 tới ngày 8/6/51.

Trong trận chiến Sông Đáy, tiền đồn Yên Cư Hạ, một cứ điểm quan trọng trong tuyến phòng thủ của khu vực, đã bị tấn công bởi Trung đoàn 88 của Việt Minh (VM), có biệt danh là "Trung đoàn Sông Đáy". Vào đêm 4-5 tháng 6, quân đồn trú (gồm một đại đội thân binh hay pạc-ti-dăng người Việt Nam của tỉnh Hưng Yên, được tăng viện từ ngày 30 tháng 5 với 120 người thuộc đơn vị thám kích Romary) đã bị pháo kích dữ dội trong hai giờ bằng súng không giật (SKZ) và súng cối. (Đây là lần đầu tiên, Việt Minh (VM) sử dụng đạn cối chứa phốt-pho trắng. Thời đó, các đại đội commando hay thám kích đều lấy tên của người chỉ huy, trong trường hợp này là ông Romary – ND). Các "quyết tử quân" VM đã phá hoại các bức tường bằng thuốc nổ lỏm, và cuộc tổng tấn công đã tràn ngập vị trí; tiền đồn này đổi chủ bốn lần, và một số lô cốt đổi chủ sáu lần. Những người lính đồn trú sống sót đã chiến đấu tuyệt vọng bằng cận chiến với lưỡi lê ngay trong tiền đồn. Trong khi nhóm nhỏ chiến binh do Trung úy Romary chỉ huy (bị thương bởi hai viên đạn và nhiều mảnh đạn) tưởng chừng như sắp bị tiêu diệt, chiếc LSSL (tàu đổ bộ cỡ lớn) số 6 thuộc hải đoàn (Dinassaut) tấn công số 3 xuất hiện trên sông Đáy, và khai hỏa các khẩu súng máy của mình, đánh vào phía sau quân địch và cắt đứt đường rút lui của chúng bằng đại bác.

Ảnh: Các máy bay Bearcat đã ném bom và bắn phá chung quanh núi Ninh Bình, do VM chiếm giữ, với trợ lực của chiến xa.

 

II/ TỔNG KẾT:

TĐ 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) có 15 chết, trong đó có trung úy Laperrousaz, trung sĩ nhứt Froely và 60 bị thương, xem ảnh.

Tịch thu của VM: 1 đại bác 57 SKZ, 5 trung liên, 18 tiểu liên, 19 súng trường và một số lượng lớn thuốc nổ.

Số lính VM chết: 149 xác đếm được tại hàng rào, 300 xác trên đường rút quân (của trung đoàn 36 thuộc sư 308 và hai TĐ của một trung đoàn khác).

Ảnh: TĐ 7 Dù Thuộc địa rời đồn Yên Cư Hạ và lên tàu LCM.

 

III/ Cuộc tấn công thất bại vào tiền đồn Yên Cư Hạ đã khiến Sư đoàn 308, một đơn vị tinh nhuệ của Việt Minh (nổi tiếng với biệt danh "Sư đoàn Thép"), thiệt hại khoảng một nghìn người. Các tù binh VM được tập trung và chuyên chở bởi các tàu bọc thép chở quân (LCM) của hải đoàn Dinassaut số 3 và tù binh được giao cho Tiểu đoàn 4/7 Khinh chiến của trung đoàn bộ binh người An-giê-ri (IVe BM/7 RTA) chăm sóc. Sau đó, TĐ khinh chiến này đã giúp VM khiêng những người bị thương của họ trong khi đổ bộ lên bờ phải sông Đáy.

Trong khi đó, một số đợt tăng viện được tổ chức để củng cố tiền đồn vừa được tái chiếm. Tàu đổ bộ LSSL số 6, từng đã bị trúng hai phát đạn SKZ trong khi chạy ngược dòng vào ban đêm để nhanh chóng đến Yên Cư Hạ, hiện đang neo đậu không xa tiền đồn. Lính của Tiểu đoàn 7 Dù Thuộc địa (7th BPC) tiến dọc theo đê chắn sóng sau khi đổ bộ và tiến vào tiền đồn, xem ảnh.

Một lính Dù phụ trách máy truyền tin SCR 694, đang lắp đặt thiết bị giữa đống đổ nát, được các thân binh hay dân quân hỗ trợ, trong khi đồng đội của anh ta kiểm tra một khẩu pháo 155mm ngắn nòng nằm giữa đống đổ nát. Các binh sĩ An-giê-ri hoàn tất việc di chuyển những bộ đội bị thương bằng cáng tự chế hoặc, nếu không có, thì khiêng họ bằng tay.

Đại đội 13 (của Đại úy Sausse) thuộc Tiểu đoàn Dù Thuộc địa số 7 (7th BPC) được đổ bộ bằng tàu đổ bộ LCM và nhanh chóng yểm trợ quân trú phòng. Họ phải dùng thuốc nổ để phá hủy tháp canh nhìn xuống vị trí phòng thủ của cứ điểm, nơi một đại đội VM đang ẩn náu, bị mắc kẹt, nhất quyết không chịu đầu hàng và cuối cùng 55 bộ đội đã đầu hàng. Đóng quân trong đống đổ nát ngổn ngang xác chết tại đồn Yên Cư Hạ, lính Dù Thuộc địa chuẩn bị đẩy lùi một cuộc tấn công khác (dù họ đã đẩy lùi bốn cuộc tấn công trong đêm ngày 5-6 tháng 6 năm 1951).

Sau 1 đêm chiến đấu kể cả cận chiến (bằng lưởi lê, dao, cuốc xẻng, v.v…), cha tôi, người bên phải, ngồi kế bên một xác VM, xem ảnh.

 

Sau những đợt tấn công dữ dội suốt đêm tại đồn Yên Cư Hạ, người ta tìm thấy nhiều xác VM trên hàng rào phòng thủ.

Chuyển ngữ từ tiếng Pháp ở bài sau đây: Le 7ème BPC à La bataille du Day (30 mai/8 juin 1951).

San Jose ngày 7 August 2026, cập nhật ngày 20 August 2026.

Tài Trần

TB. Ảnh này chụp tại nhà ở SG vào đầu thập niên 1990 với cô giáo từng dạy Pháp văn ở đảo Galang (Indonesia). Do em tôi từng ở Galang đã giới thiệu cô này với tôi. 

Hai tủ sách này có trước 1975. Trước 75, khi bạn nói đề tài nào về KHKT, chính trị hay quân sự, tôi có thể lấy một tạp chí hay sách có một bài viết nói về đề tài ấy. Ngoài một sưu tập các nguyệt san National Geographic có từ cuối thập niên 1940 đến số mới nhứt, tôi còn có nhiều tạp chí Science et Vie, Popular Mechanics, Popular Science, Life, Newsweek, Time, Paris-Match, v.v... Historia, v.v...

Trong ảnh này, các tạp chí đã bán gần hết vì lúc đó tôi ko còn tinh thần để đọc. Đặc biệt, sau ngày 30.4.75, các tạp chí về chiến tranh VN đã được ba tôi đốt hay cân ký.