Monday, June 9, 2025

 Làm thế nào sự tử tế của một kẻ xa lạ trong đệ nhị Thế Chiến (TC) đã giúp chúng ta có lý thuyết Big Bang.

Lời nói đầu: Trong thời đại mà rất nhiều người ÍCH KỶ và VÔ CẢM trước nỗi đau hay khó khăn của kẻ khác thì có câu chuyện rất cảm động, đầy ấp tình người của một chủ tiệm sơn ở Mỹ đã bảo lãnh một gia đình mà y ko quen biết -- đang bị đàn áp bởi Đức Quốc Xã dưới thời Hitler. Sau đây là câu chuyện.
====
"Nhà vật lý gốc Đức Arno Penzias đã thoát khỏi Holocaust với sự giúp đỡ của một ân nhân mà ông chưa bao giờ gặp. Sự giúp đỡ bí mật này đã làm thay đổi đời ông--và hiểu biết của chúng ta về vũ trụ này.
Tạm dịch từ bài viết của Katie Sanders, đăng ngày 8/6/2022 trên National Geographic.
Vào một ngày trước đệ nhị TC, chủ một tiệm bán sơn ở Belleville, bang New Jersey nghe tiếng gõ cửa dồn dập (frantic). Đó là một di dân Đức 28 tuổi có tên Leo Gelbart, y đang đến từng nhà, khẩn cầu các thành viên của cộng đồng Do Thái (Jewish) trong TP. "Gia đình này cần ra khỏi Đức, và tôi ko đủ tiền để giúp. Ông có thể giúp ko?" Gelbart đã hỏi. Y đưa cho chủ tiệm một tấm ảnh trắng đen của bạn y tại Munich, Đức: một cặp đẹp đôi có tên Karl và Justine Penzias, với hai con trai Arno và Guenther, 6 và 4 tuổi. Với việc ngày càng gia tăng bức hại và bỏ tù người Do Thái của chế độ Đức Quốc Xã của Hitler, gia đình Penzias phải bỏ xứ (flee) hay đến trại tập trung. Nhưng để di cư đến Mỹ, họ cần vài tờ cam kết (affidavit) bảo trợ --đây là những giấy xác nhận (vouch) rằng họ có một thân nhân và một căn bản về tài chánh tại Mỹ. Gelbart sẽ khai gian (falsely state) rằng bạn y Karl Penzias là em họ (cousin). Nhưng là một kẻ hầu bàn, y ko đủ tiền để đủ điều kiện làm người bảo trợ (sponsor) cho gia đình bạn y. Do vậy y đang cố gắng tìm ai đó ký tờ cam kết thứ hai để nhận bảo trợ gia đình Penzias về tài chánh.
Người chủ tiệm sơn 52 tuổi này nói sẽ giúp. "Tôi vui lòng bảo trợ họ cho tới khi họ tự chủ về tài chánh," ông viết trên tờ cam kết. Từ Đức, Karl Penzias cực kỳ biết ơn, nhờ Gelbart chuyển lời tới ông chủ tiệm sơn, rằng gia đình họ chỉ cần bảo trợ trên giấy tờ và sẽ bày tỏ sự biết ơn bằng cách ko bao giờ tiếp xúc với ông.
Người anh của hai đứa nhỏ trong hình là Arno Penzias, nay đã 89 tuổi. Là một nhà thiên văn, từng được giải Nobel, nay đã nghỉ hưu và sống tại bắc Cali. Ông ra đời tại Đức năm 1933, khi Hitler nắm chính quyền. Năm 1938 gia đình ông và những người Do Thái khác, mang hộ chiếu (passport) Ba-Lan, buộc phải lên tàu để trục xuất tới Ba Lan. Những xe lửa đã hoãn lại, và Ba Lan đã vô hiệu hóa (invalidate) những hộ chiếu này trước khi xe lửa tới biên giới.
Năm 1939, họ đã vội vả sắp xếp mọi thứ để rời Đức tới Mỹ. Karl Penzias gửi hai con nhỏ tới Anh theo chương trình Kindertpassport -- một cố gắng của Anh nhằm chuyên chỡ 10.000 trẻ em, phần lớn là Do Thái, ra khỏi Đức.
Hai đứa trẻ sau đó đã được gửi từ một viện mồ côi toàn con gái ở London tới hai gia đình nhận con nuôi (foster family) khác nhau. Trong khi Đức Quốc Xã, còn gọi là Nazi, gia tốc chiến dịch diệt chủng, vợ chồng Karl và Justine Penzias, cuối cùng đã đến Anh để đoàn tụ với con và sau đó đến Mỹ bằng tàu. Gia đình họ đã gặp giông bão và tàu ngầm Đức khi vượt Đại Tây Dương. Ngày 3/1/1940, họ đã tới TP New York.
Gia đình Penzias đã định cư tại Bronx, nơi hai đứa nhỏ bắt đầu đi học. Arno tốt nghiệp trường trung học Brooklyn Technical và City College. Y phục vụ trong ngành truyền tin của Lục quân Mỹ, sau đó có bằng tiến sĩ về vật lý tại ĐH Columbia. Ông làm việc cho Bell Laboratories và, trong TN 1960, đã cùng đồng nghiệp Robert Wilson đồng khám phá bức xạ nền vi sóng vũ trụ (cosmic microwave background radiation), điều này đã xác nhận lý thuyết về vũ trụ học Big Bang (Big Bang theory of cosmology). Họ đã chia xẻ giải Nobel về vật lý năm 1978 về khám phá này.
. . .
Nhưng việc cảm ơn người mà chữ ký của y đã giúp gia đình này tới Mỹ ko dễ thực hiện (feasible). Cha của nhà bác học Arno Penzias đã hứa ko bao giờ tiếp xúc với người ký tờ cam kết, và ông giữ lời. Những chi tiết về người giúp ông vẫn là một bí mật.
Và năm 2012, David Penzias, con trai của nhà bác học đã tìm thấy một phong bì trong một số giấy tờ của gia đình. Bên trong là một bản sao của tờ cam kết ký bởi một người tên Barnet Yudin. David đã sốc khi đọc thông tin sau: Barnet có lợi tức 125 đô mỗi tuần và sống ở tầng trên của tiệm sơn và y có 2.000 đô trong tài khoản ngân hàng.
Con người này ko chỉ bảo lãnh cho một gia đình mà y ko quen biết, y còn cố gắng hết sức để làm điều đó. Vậy ông ta là ai?
Sau khi tìm kiếm trên mạng, David Penzias đã gọi một số phone có tên Robert Yudin tại New Yersey, mà y chắc chắn là cháu nội của Barnet Yudin. Qua tiếp xúc này, y biết Barnet đã chết vì ung thư năm 1950. Vợ ông, con trai và con gái cũng đã chết, và người cháu nội này ko có bất cứ giấy tờ gì của ông nội nói về việc đã giúp đỡ một gia đình Đức. Nhưng nhờ con trai nhà bác học tìm thấy phong bì mọi việc đã đưa ra ánh sáng.
Sở dĩ ông chủ tiệm sơn Barnet Yudin đã hết lòng giúp đỡ gia đình của nhà bác học Arno Penzias vì ông đã từng là di dân rời Nga vì là gốc Do Thái. Sanh năm 1886 tại Nga, ông đã hy vọng thành bác sĩ. Ông đã thi đậu vào trường y nhưng bị từ chối, vì gốc Do Thái. Ông rời Nga đi Mỹ bằng con đường Bắc Âu năm 1906. Sau khi định cư tại New Yersey, ông đã bán sơn bằng một xe đẩy (pushcart), và cuối cùng với vợ làm chủ một tiệm sơn phát đạt.
Cháu nội gái của Barnet là Sydney Neuwirth, một nghệ sĩ hồi hưu ở Princeton New Yersey, đã lớn lên trong một căn phòng của nhà ông nội, nằm ngay trên tiệm sơn. Trong khi lật xem những hình ảnh, thư từ, và những bài cắt từ báo (newspaper clipping) kể về cuộc đời của ông bà, cô càng hiểu rõ hơn về ông nội và gia đình mà ông đã giúp. "Ông đã biết rằng nếu ông ko giúp họ, sẽ giống như việc thấy kẻ sắp chết đuối mà ngó lơ," cô nói. "Đây là cách mà ông giúp. Ông đã luôn luôn muốn giúp đỡ kẻ khác." Trong khi cô đọc về cuộc chiến đang diển ra tại Ukraine -- và hậu quả là khủng hoảng về người tị nạn, lớn nhứt Âu Châu kể từ đệ nhị Thế Chiến -- cô càng thấy có nhiều triển vọng hơn.
Gần tám thập niên sau khi Barnet ký tờ cam kết, gia đình của ông nhận lời của David Penzias để họp mặt với nhau. Trừ nhà bác học ko có mặt vì lý do sức khỏe, người em trai và cháu của ông đã bay tới New Yersey để họp mặt tại nhà của cháu nội của Barnet. Trong buổi tiệc, cháu nội của nhà bác học Arno Penzias đã nói: "Cả gia đình chúng tôi đã ko có mặt tại Mỹ nếu ko có Barnet Yudin."

Saturday, June 7, 2025

 Thursday, september 22, 2011

BÁNH XE ĐỊNH MẠNG HAY CUỘC ĐỜI "LÊN VOI XUỐNG CHÓ" CỦA TÔI

Hiểu tức là nhớ lại -- Nhà toán học cổ Hy lạp Platon.

Thành La Mã ko thể xây trong 1 ngày -- châm ngôn Tây phương.


I/ Để có được kiến thức như hôm nay, tôi đã trải qua rất nhiều chông gai khó nhọc vì tôi đã gần như hoàn toàn TỰ HỌC.

1/ Trong sách Gia ngữ, đức Khổng Tử đã dạy như sau:

Người quân tử có ba điều phải nghĩ:

a. Lúc nhỏ nếu ko học, đến lúc lớn ngu dốt, ko làm được việc gì.

b. Lúc giàu mà ko biết bố thí, đến lúc khốn cùng chẳng ai cứu giúp.

c. Lúc già, nếu ko đem những điều mình biết để dạy kẻ khác, lúc chết chẳng ai thương tiếc.

2/ Trồng đậu thì được đậu, trồng khoai thì được khoai -- tư tưởng Phật giáo. 

3/ Những gì, mà bạn có được hay xảy ra đến với bạn, đều xuất phát từ kiếp trước. Dù bạn không thể thấy được kiếp trước nhưng tôi có thể nói chắc với bạn rằng chúng ko đến với bạn một cách ngẫu nhiên -- kinh nghiệm của bản thân .


II/ Thưa các bạn:

Tôi viết bài này để nói lên sự phấn đấu không ngừng của tôi, dù cho bịnh tật triền miên từ nhỏ. Tôi được ông bà dạy rằng: "ở đời không gì khó hơn học chữ"; bởi vậy tôi muốn khuyên các bạn trẻ phải không ngừng học tập; vì trong cuộc đời này, khi bạn đứng lại, tức bạn đã thụt lùi, vì kẻ khác sẽ vượt qua bạn. Bạn không nên nghĩ rằng cứ học tà tà rồi cũng vượt qua; kinh nghiệm cho thấy, học giỏi ở trung học chưa chắc đã giỏi ở đại học: một số học sinh của tôi chỉ học hết lớp 12 rồi nghỉ vì nói đại học Mỹ quá khó, học ko vô !

Chỉ có những em có năng khiếu hay có cha mẹ có trình độ đại học kèm cặp mới vững tiến vào con đường đại học. Trong cuộc đời này không có phép lạ đâu, các bạn trẻ ơi ! Bạn đừng bao giờ trông chờ cây cam trong vườn nhà bạn sẽ cho trái ngọt nếu bạn không thường xuyên tưới nước, chăm bón cây đó .

Khoảng 14 tuổi gì đó (vì gia đình tôi dọn về nhà số 6-8 Đỗ thành Nhơn quận tư Sài Gòn NGÀY 4 THÁNG 10 NĂM 1961, theo chỉ dẫn của chiêm tinh gia Trần Hữu Ích, và tôi đã bị bịnh nặng sau khi dọn về đây); tôi bị sốt cao, nằm mê man, muốn đi lại phải vịn vào thành giường. Từ đó về sau, tôi thường xuyên bị ốm đau. Người ta thì "lê gót khắp các sàn nhảy ở Sài gòn", còn tôi thì 'lê gót khắp các phòng mạch bác sĩ và bịnh viện'. Do bịnh nên thân thể ốm yếu, tay tôi hay bị rung nhẹ, không thể làm những việc đòi hỏi sự khéo léo (dexterity). Sau này qua Mỹ mới biết đó là hội chứng đường hầm cổ tay (carpal tunnel syndrome). Phản xạ lại quờ quạng, do vậy sau này, lúc ở quân trường, các đồng đội ít cho tôi tham gia các bài trung đội tấn công ngày, v.v... vì họ sợ cả trung đội bị phạt vì có một ' con vịt đẹt'.

Thuở nhỏ, vì quá dở, nên tôi đã không vào nổi đệ thất trường công. Tôi đã học các trường tư như Kiến Thiết, Hàn Thuyên, Hưng Đạo và Bồ Đề, đều ở Sài Gòn. Tôi chọn Pháp văn là sinh ngữ chánh, Anh văn phụ.

Tôi còn nhớ, lúc ở đệ thất thì học L' Anglais Vivant, các năm sau đó học các giáo trình như Practice Your English, Let's Learn English, v.v... Tôi chưa học quyển American Streamline, có lẽ sách này dành do các học sinh chọn Anh văn làm sinh ngữ chánh. Và gần như không có dịp nói chuyện với Mỹ, nên phát âm rất dở.

Khoảng lúc học đệ ngũ/đệ tứ gì đó, ba tôi có thuê 1 gia sư (précepteur), đã từng ở Pháp, về dạy Pháp văn cho tôi và Sĩ-người em kế của tôi; do đó tiếng Pháp của tôi khá nhứt lớp Pháp văn của thày Hoàng Cung. Lại nữa, lại có chú Trần Thể (lúc đó đang học kỹ sư điện tại Cao đẳng Phú Thọ) ở trọ nhà tôi, khuyên tôi nên đọc các sách toán bằng tiếng Pháp của các giáo sư Brachet và Lebossé và Une Réunion de Professeurs.

Nhưng tiếng Anh đã đến với tôi qua một con đường rất ĐỘC ĐÁO, nghĩa là không giống ai. Số là từ khi người Mỹ có mặt ở Sài gòn, khoảng đầu thập niên 1960, rải rác ở vỉa hè các con đường lớn như Lê lợi, Lê văn Duyệt, v.v... đã xuất hiện các nguyệt san như National Geographic, Life, v.v... nhưng tôi đặc biệt đam mê tạp chí National Geographic, viết tắt là NGS, vì chúng có nhiều hình ảnh, phần lớn là màu, giúp ta hiểu biết những đất nước xa lạ. Thế là thỉnh thoảng tôi mua 1 cuốn: khi đọc tạp chí này, chữ nào không biết thì tra tự điển Anh-Pháp Pháp-Anh. Tôi còn nhớ cháu Phượng cũng thích đọc nguyệt san này dù không hiểu nghĩa vì cháu chỉ khoảng 3-4 tuổi.

Có một lần, khoảng tuổi 16, trong khi đi dạo bên hông Bộ Công chánh Việt Nam Cộng Hòa, lề đường chỗ này rất lượm thượm vì không có hàng quán gì hết, trong khi bên kia đường thì toàn cửa tiệm, tôi thấy 1 chỗ có bày bán nhiều tạp chí này. Anh chủ, một người cụt tay, hỏi tôi muốn mua trọn bộ không? Tôi đồng ý. Thế là tôi đã ĂN CẮP tiền của cha mẹ để mua một bộ NGS từ cuối thập niên 1940 đến số mới nhứt, bao gồm bản đồ, các số đặc biệt, phải dùng xe ba gác chở về nhà. (Vì ba tôi có nhiều công trường xây dựng ở nhiều nơi khắp nước nên ông thường xuyên vắng nhà, má tôi thỉnh thoảng đi mua sắm hay phát quà tại viện cô nhi, v.v... (họ mời vì ba má tôi là mạnh thường quân), nên ba má giao cho tôi chìa khóa tủ tiền để đưa tiền cho thày thợ ở Sài Gòn khi họ có nhu cầu mua sắm, v.v... Họ chỉ cần đưa hóa đơn là tôi xuất tiền. Khi nào tủ tiền sắp cạn, tôi báo cho ba tôi để ông sai người ra ngân hàng lãnh tiền để bỏ vào tủ. Vì ba tôi tin tôi, nên ông không bao giờ hỏi số dư trong tủ là bao nhiêu, do vậy tôi lấy tiền mua sách mà ông không biết). (Sau năm 1981, có vợ chồng 1 cựu sĩ quan Mỹ, quen biết với em gái, đến thăm. Thấy bộ NGS này, ông nói, tôi là người Mỹ mà không có bộ sưu tập như vậy!)

Học hết đệ tam thì do bịnh quá nên mỗi năm tôi chỉ học đệ nhị tại trường tư thục Bồ Đề quận Nhì Sài Gòn vài tháng rồi nghỉ, dù đi học có xe nhà đưa rước, và tôi cũng học hàm thụ (by correspondence), họ gửi bài và tôi làm bài tập gửi cho họ. Học ba năm liên tiếp, khó khăn lắm tôi mới có Tú tài 1 vào năm 1966. Vì không thể đậu Tú tài 2 để vào đại học nên tôi đã nhập ngũ vào khóa 8/68 năm 1968.

Như đã nói, do thể chất yếu đuối, phản ứng quờ quạng nên ở quân trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế, tôi thường trực phòng vào ngày có bài học đòi hỏi về thể chất như leo núi, v.v... Khi học các bài trung đội tấn công ngày hay đêm, không trung đội nào muốn tôi tham dự vì sợ phản ứng quờ quạng của tôi sẽ khiến cả trung đội bị phạt.

Ra trường năm 1969, tôi phục vụ tại Tiểu đoàn 53 địa phương quân tại quận Hốc Môn tỉnh Gia Định, và sau đó làm tại ban Thông tin Báo chí Biệt khu Thủ đô. Nhiệm vụ của tôi là đọc báo chí bằng  tiếng Anh hay Pháp. Nếu có bài nào nói đến quân đội VNCH hay thủ đô Sài gòn thì dịch và trình lên trung tướng tư lịnh Nguyễn văn Minh. Vốn sẵn khá 2 ngoại ngữ nên tôi rất thích hợp với công việc. Cũng do nghề nghiệp này nên đã có DUYÊN NỢ rất sớm về đề tài CHIẾN TRANH VN.

Đến năm 1973, vì một sĩ quan của sđ 7 bộ binh xin thuyên chuyển về Biệt khu Thủ đô, do tôi nhẹ gánh gia đình nên phải hoán chuyển với y. Tôi phục vụ tại TĐ 2/10 thuộc sđ 7. Vì không có kinh nghiệm chỉ huy và tác chiến, tôi đã bị một số sĩ quan ở đơn vị này coi thường. Tôi ko lấy làm buồn vì nghĩ rằng mình quá dở nên mới bị như vậy. Tôi dặn người nhà, mỗi tháng ra sạp báo lấy cho tôi 1 quyển NGS. Tôi suýt quên, thời gian làm việc ở SG, tôi đọc nhiều tạp chí như Life, Time, Newsweek, Paris-Match, Historia, v.v... Tóm lại , lúc đó tôi đã là mọt sách (bookworm) rồi. Sách báo về KHKT, chiến tranh VN, y khoa (vì đọc để tìm hiểu bịnh của mình), khảo cổ, nền văn minh ngoài trái đất, v.v... đầy ắp 2 tủ sách, xem hình. Trong hình, ko còn nhiều sách báo vì sau 75, ba tôi đem sách báo về chiến tranh VN đem đốt hay cân ký, tuy nhiên ông vẫn giữ nguyên bộ NGS vì ông thích bộ này. Để che mắt CA, ông lấy trang bìa của Newsweek có hình HCM, xem hình, để lộng kiếng và treo ở nơi trang trọng trong phòng khách. Tuy thể chất yếu đuối, ko rành về quân sự, nhưng tôi có trí nhớ rất tốt, đến độ chỉ cần ai đó nói 1 đề tài gì, tôi sẽ lấy 1 tạp chí hay 1 cuốn sách có bài về đề tài đó.

Thời gian đi tù sau 1975, tôi hay chơi môn 'scrabble' rất xuất sắc với các anh bạn tù - là giảng viên văn hóa của Võ bị Đà lạt và có bằng cao học tại Mỹ hay Úc hay New Zeland. Môn này đòi hỏi phải có ngữ vựng phong phú về tiếng Anh. Vì kiến thức tổng quát quá nhiều, tôi còn được một số bạn tù gọi là "tự điển sống".

Ra tù năm 1981, tôi dạy Anh văn (AV) cho 1 đứa cháu đang học lớp 12, để lấy chứng chỉ trung cấp của quốc gia về Anh văn. Tôi đã giúp nó làm bài đặc sắc đến độ thày giáo sinh nghi và hỏi cháu tôi như sau "Ai đã giúp trò làm các bài này?" Cháu tôi trả lời đó là bác tôi, mới ra tù.

Thời gian sau đó, tôi có vài ba năm trong nghề xây dựng; nhưng đam mê chánh vẫn là đọc sách (bằng tiếng Anh và Pháp) về đủ mọi đề tài như khảo cổ, tử vi dân bản địa Mỹ, y khoa, vật lý, điện, cơ học, kiến trúc, xây dựng, cơ khí xe hơi, v.v... Lúc bấy giờ lại có thêm sách KHKT từ Liên xô và các nước XHCN đưa qua, vừa tiếng Anh và Pháp. Do đó, tuy chưa bao giờ lái một chiếc Honda Dame 50 phân khối vì ko quen sang số; thế mà khi người em rể tên Quan đưa cuốn cẩm nang của chiếc moto mấy trăm phân khối mới tinh, nhờ tôi dịch giùm, tôi dịch rất trôi chảy.

Thỉnh thoảng đọc sách báo, khi gặp từ nào ko hiểu, thay vì tra tự điển hay tự điển ko có sẵn, tôi dựa vào NGỮ CẢNH (context) của cả câu mà đoán nghĩa của từ đó. Cũng có lúc, gặp chỗ nào ko hiểu, tôi bỏ qua và đọc đoạn kế tiếp. Sau này , đọc sách mới biết đó cũng là một phương pháp đúng để học ngoại ngữ. 

Có lẽ có bạn thắc mắc tại sao tôi thích đọc sách y khoa. Vì quá nhiều bịnh, thường xuyên uống thuốc nên tôi đọc sách y khoa để tìm hiểu về bịnh lý củng như cách trị liệu. Tóm lại, ngữ vựng về y khoa của tôi cũng khá, mặc dù ko thể nào so sánh với các bs, đã học hành có bài bản.

Từ năm 1990 -1994, tôi làm thông dịch viên cho một người Pháp - làm việc cho 1 tổ chức phi chính phủ (ONG). Tôi nói tiếng Pháp ko bằng dân học trường tây J.J.Rousseau hay Marie-Curie nhưng vẫn được dùng vì kiến thức rộng rải.

Qua Mỹ, được 1 tháng, tôi giúp một người thi nghành nail qua việc dịch những bài về cơ thể học (anatomy) từ 1 cuốn sách dầy cộm.

Năm 1996, tôi đậu vào trường ĐH cộng đồng West Valley ở San Jose với hạng cao, nhưng ko học vì lý do sức khỏe.

Năm 1998, vì bà con của một gia đình VN mới qua Mỹ năn nỉ quá, tôi đã dạy toán và Anh văn cho năm em của gia đình này. Tuy chỉ có 5 em nhưng trình độ khác nhau nên coi như tôi dạy năm lớp. HS có lúc trên 15 người vì có bạn bè của các em này. Tôi dạy rất trôi chảy; mặc dù đã hơn 30 năm ko ngó ngàn tới môn đại số và hình học thời trung học.

Sau đó, tôi bắt đầu nghiên cứu Lý thuyết Số/LTS (Numerology), một khoa tử vi xuất phát từ cổ Hy lạp (có trước Công nguyên). Sở dĩ tôi tin và truyền bá LTS đến bạn bè và bà con vì nó đã nói chính xác về tính tính và số mạng của tôi và một số người khác. Qua LTS, tôi đã biết ba người đưa đến sự sụp đổ của VNCH (TT Thiệu, TT Khiêm và tướng Phú) đều có tên bằng số 13 và những ảnh hưởng của số này đối với nước VN.

Khoảng năm 2001-2002, vì nhà gần thư viện lớn nhứt của SJ nên tôi tập tành xử dụng máy tính. Sau đó vài năm tôi mua được 1 máy tính cũ hiệu HP, chạy Windows XP. Vì máy hay bị hư, tôi tập sửa bằng cách vào thư viện, và tìm trên mạng cẩm nang (manual) của máy này và in lại những đoạn chỉ dẫn cách mở máy, cách thay thế ổ cứng, memory module, optical drive, bộ nguồn, thẻ âm thanh (sound card), v.v... Tôi đã từng tháo tung cái HP này, sau đó ráp lại, máy vẫn chạy. Sau này hệ điều hành Windows XP bị hư, tôi đã xài HĐH Linux. 

Sau đó, một học trò cho tôi  1 laptop hiệu Gateway bị hư. Khi xách về nhà, tôi cứ nghĩ là xách 1 khúc củi vì tôi chưa bao giờ biết xử dụng laptop và cũng chẳng có manual của máy này. Thế là vào thư viện, in lại các đoạn chỉ dẫn cách thay pin, v.v...sau đó, đặt mua AC adapter. Cả tháng sau máy mới chạy vì tôi chờ cái adapter này gửi về.

Sau đó, bạn bè có PC hay laptop hư nhờ tôi sửa. Tôi sửa ko lấy tiền, và nhiều khi thức tới 2-3 giờ sáng để sớm giao máy và còn cho đồ phụ tùng như keyboard, wireless mouse, wireless adapter, USB flash drive, USB hub, print server (gần 40 đô), v.v...

Khi sửa máy, chỗ nào ko biết tôi đọc sách hay đặt câu hỏi, bằng tiếng Anh, trên mạng . Thông thường có đến gần chục câu trả lời. Tôi áp dụng từng câu vào trục trặc của máy mình; nếu ko được thì áp dụng câu thứ hai và các câu kế tiếp. Nguyên tắc của tôi là nếu ko sửa được phụ tùng đó, thì cũng ko nên làm hư bất cứ một phụ tùng khác; tránh nạn ' trâu lành thành trâu què'. Có nhiều laptop ko có manual hay có mà ko đầy đủ, tôi phải tìm trên mạng 1 laptop có cấu trúc tương tự để áp dụng vào máy đang sửa.

Tôi đã từng sửa các laptop hiệu Gateway, Dell, Lenovo, HP, Fujitsu, Toshiba, Acer , v.v...

Thỉnh thoảng tôi giúp bạn bè điền đơn từ bằng tiếng Anh; trước kia tôi còn đi thông dịch nhưng nay do nướu teo lại răng giả ko bám được, nói tiếng Anh khó nghe nên ko làm. 

Những người nhờ tôi sửa máy, có người rất giỏi tiếng Anh, trình độ đại học nhưng họ lại gần như mù tịt về vi tính. Trong khi nhiều người khi gỏ máy thì dùng cả 10 ngón, còn tôi thì chỉ dùng 1 ngón; nhưng nhờ quen mặt phím nên tôi gỏ chữ cũng nhanh. Tôi đã từng thay màn hình của 1 laptop, rất công phu, mất thời giờ, vì tay tôi ko khéo léo như người khác. Tuy nhiên, với sự chịu khó, tôi vẫn thành công.

Tôi đã từng sửa biết bao laptop cho bạn bè cũng như sửa laptop hư cũ, để cho người mới qua hay ko có máy dù đã ở Mỹ khá lâu. 

Tôi có thể kết luận: mặc dù thể chất yếu đuối, bịnh tật triền miên từ nhỏ, chỉ ngồi ghế nhà trường hết năm đệ Tam, mấy năm đệ nhị chỉ học vài tháng, nhưng do học tiếng Anh bằng cách đam mê đọc sách, đặc biệt về KHKT, tôi đã: 

- sánh vai cùng những anh chị em tốt nghiệp đại học tại Mỹ về ngữ vựng tiếng Anh. 

- dạy toán và Anh văn. 

- giúp bạn bè láng giềng làm đơn từ dịch thuật và vi tính. 

- biết sửa chữa pc và laptop. 

- giúp bạn bè láng giềng về phone và máy tính bản.

Nói thêm: theo 1 tài liệu, để nói được tiếng Anh với những đề tài thông thường, bạn chỉ cần biết khoảng 3-4 ngàn từ; để viết được tiếng Anh , bạn phải biết khoảng 100 ngàn từ; và để đọc được tiếng Anh, bạn phải biết gần nửa triệu từ . Tài liệu này được công bố khi computer và internet còn phôi thai; nay với hai kỹ thuật mới này, ngữ vựng tiếng Anh, mỗi ngày mỗi nhiều, ko còn đứng ở con số nữa triệu nữa. Năm 1994, khi mới sang Mỹ , tôi đã gặp nhiều sq, đã học hết bậc trung học khi ở VN; lúc qua Mỹ , họ ko thể đọc nỗi một nhựt báo bằng tiếng Anh ! Thành ra, họ xoay qua làm assembler về electronics, hay đi bỏ báo, v.v... Chỉ có những sq nào, có căn bản Anh văn từ ở VN, thì mới có thể thi đậu vào các ĐH cộng đồng; nhưng họ chỉ học thêm một số ngữ vựng liên quan đến nghành học của họ. Có một số rất ít, do phấn đấu đặc biệt, đã leo lên những chức vụ cao hơn. 

Hiện nay về dịch thuật đề tài chiến tranh VN, chỉ có tôi và BĐQ Vũ Đình Hiếu (trước 75 thuộc LĐ 22 BĐQ). Hình như trước năm 1975, ông có trình độ ĐH, cấp bực chuẩn úy và di tản trước ngày 30.4.75. Ông thích dịch các đề tài về BĐQ và lực lượng đặc biệt VNCH. Nhưng hiện ông ko thường xuyên có bài như tôi, có lẽ đã chán nản về đề tài này. Ngoài ra còn có ông Đỗ văn Phúc, trước đây là thông dịch viên cho LLĐB Mỹ ở Quảng Trị, sau đó về trung đoàn 8 của sđ 51, sau này chuyển qua không quân, làm việc trên máy bay C-130. Ông này sau 75 cũng đi tù. Qua Mỹ ông dịch 1 số bài về chiến tranh VN. Tóm lại, nếu tôi ko lầm, hiện nay tôi là người duy nhứt tại Mỹ THƯỜNG XUYÊN dịch đề tài này. Tất cả cũng nhờ ĐAM MÊ, dù sức khỏe suy yếu nhiều với nhiều bịnh của tuổi già. 

San Jose ngày 23/09/11 lúc 0022 am. Cập nhật ngày 7/6/25. 

Thursday, June 5, 2025

 Chuẩn bị đi Mỹ từ lúc 16 tuổi.

Vì mê những tạp chí National Geographic từ nhỏ, nên ở tuổi, tôi đã ĂN CẮP tiền của cha mẹ để mua 1 xe ba gác các nguyệt san này. Do giỏi tiếng Pháp, nên dùng tự điển Anh-Pháp Pháp-Anh để tìm hiểu những từ ko biết. 

Khi vào QĐ, vì ba tôi có nhiều bạn bè làm về hành chánh tài chánh nên ông khuyên tôi vào ngành này để có chữ thọ; tôi trả lời 'rất sợ các con số', do đó ko theo ngành này. 


Wednesday, June 4, 2025

Nhờ có tu từ nhiều kiếp trước nên lời cầu nguyện được đáp ứng.

- Muốn biết kiếp trước tạo nhân gì, hãy xem kiếp này hưởng quả gì; muốn biết kiếp sau hưởng quả gì, hãy xem kiếp này tạo nhân gì -- Kinh Phật.

Hôm nay tôi viết về "các quí nhân vô hình đã nhiều lần giúp tôi vượt qua những khó khăn hay nguy hiểm của cuộc đời" như:
1/ Nhờ cầu nguyện, khoảng cuối năm 1978, tôi đã hoãn chuyển trại ngay trong đợt đầu, từ trại tù Phong Quang của CA, gần thị xã Lào Cai, một cửa khẩu trên biên giới Hoa-Việt, đến trại Nam Hà, ở Phủ Lý, phía nam Hà Nội. (Trại đã chuyển tù về phía nam vì sợ Trung quốc tấn công các tỉnh biên giới phía bắc - đã xảy ra sau đó vài tháng vào ngày 17 tháng 2 năm 1979). Tôi rất sợ chuyển trại vì phải di chuyển bằng xe Molotova bịt kín mui, đứng hay ngồi chồm hổm rất chật chội. Lần đó, một số đội (khoảng 40 người một đội) đã tập họp tại hội trường của trại tù để nghe đọc tên. Lúc đó tôi đang bị tiêu chảy nên tôi cầu nguyện khi nào hết bịnh thì chuyển trại. Sau khi cán bộ trại đọc tên xong, y hỏi, "Có ai ngồi ở đây mà không có tên trong danh sách này?"; và chỉ có tôi và một anh bạn khác dơ tay. Thế là tôi được ở lại. Đợt kế tôi cũng chưa đi và chỉ đi vào đợt chót. Lần đó, chúng tôi, cứ hai người còng chung 1 cái còng, nghĩa là anh nào đái ỉa thì anh kia cũng đi theo! Lần đó xe chở tù của công an đã đụng xe của bộ đội, và bộ đội đã định đánh công an.
2/ Đầu năm 1981, tôi được phóng thích ngay tại trại Nam Hà B, thay vì phải chuyển trại vào Nam để bị giam thêm vài năm. Trước đó, tôi cầu nguyện rằng "thà ở tù lâu hơn còn hơn chuyển trại vào nam". Vì tôi biết rằng khi chuyển trại cứ hai người bị còng chung 1 còng. Anh Nghỉ (nay đã chết) và anh L. đang ở Canada, từng ăn cùng mâm với tôi, đã lần lượt được chuyển trại. (Sau này tôi biết họ chuyển trại bằng xe lửa, cứ 2 người một còng, về trại Z-30A gần Hàm Tân, để ở thêm 1 hay 2 năm mới thả ra). Sau đó, đúng như lời cầu nguyện, tôi đã được phóng thích tại trại Nam Hà và được chở ra ga Hàng Cỏ bằng Molotova. Tới nơi, vì quá mệt nên tôi nằm ở lề đường trước ga. Công An áp tải ra kiếm tôi, tôi nói rằng có bà con ở Hà Nội, nên xin ở lại vài bữa. Họ không đồng ý (nghĩa là ko cho tôi thăm viếng "thiên đường XHCN"), và yêu cầu tôi lên xe lửa xuôi nam.
3/ Năm 1993, thay vì hối lộ bác sĩ Công An phụ trách về X-quang hay uống nước ngọt Seven-Up pha với calcium để phổi trong (theo lời khuyên của bạn bè), tôi không làm như vậy nhưng vẫn đi Mỹ dù chỉ là BỘ XƯƠNG. Anh em cựu tù nhân chánh trị rất sợ bị nám phổi vì phải ở thêm 6 THÁNG để uống thuốc: mỗi ngày phải đến bịnh viện Công An (kế chợ An Đông) uống thuốc trước y tá, nếu bỏ một lần, sẽ uống thêm 6 tháng! Tôi nói với bạn bè, nếu phải ở lại thêm 6 tháng để mỗi ngày đến bịnh viện uống 1 viên thuốc ngừa lao, tôi sẽ không đi Mỹ. Lời cầu nguyện này được đáp ứng.
Qua Mỹ tôi đã được quí nhân vô hình giúp đỡ nhiều lần (sẽ kể dịp khác).
Theo Lý Thuyết Số, sở dĩ tôi được quí nhân vô hình hỗ trợ vì đã làm NHIỀU ĐIỀU TỐT TRONG CÁC KIẾP TRƯỚC CŨNG NHƯ TRONG KIẾP NÀY. Hơn nữa, lời cầu nguyện phải HỢP LÝ và CHÍNH ĐÁNG, chứ nếu cầu nguyện trúng số độc đắc Super Lotto, để lấy VỢ ĐẸP thì không bao giờ được đáp ứng!
Ảnh: bộ xương "cách trí" như vầy, nhưng vẫn đủ sức khỏe để đi Mỹ! Nghĩa là không bị nám phổi hay nhiễm lao.
Ảnh dưới chụp, hình như là ngày 15 tháng 6 năm 1994 tại nhà trong hẻm đường Hồng Thập Tự, tên mới là Nguyễn thị Minh Khai, quận Nhứt Sài Gòn. Hàng đứng là cậu Tâm, cậu bảy, và tôi. Hàng ngồi có má tôi và cháu Thủ. Sau đó tôi ra sân bay để đi Mỹ.


Cập nhựt ngày Aug 12 2026.

BÁNH XE ĐỊNH MẠNG - CUỘC ĐỜI ĐẦY KỊCH TÍNH* CỦA TÔI

* Nghĩa là liên tục "lên voi xuống chó".
- Tôi tư duy, tức là tôi tồn tại (Cogito, ergo sum) -- Triết gia và toán học gia Descartes.
- Không nơi nào dấu của cải bằng cái đầu của bạn -- Kinh nghiệm bản thân.
- Hiểu tức là nhớ lại -- Triết gia Platon.
- Thành La Mã ko thể xây trong một ngày -- Tục ngữ Tây phương.
- Tôi hay nói với bạn bè, tiếng Anh là tôi HỌC CHƠI, chứ tiếng Pháp mới là HỌC THIỆT. Ấy vậy, mà tôi đã và đang "ăn nên làm ra" vì việc học chơi này.
Hiện nay niềm vui của tôi là tìm hiểu về chiến tranh VN bởi lẽ đơn giản là từ khi tôi có trí khôn, cuộc đời tôi đã bị tác động MẠNH MẺ, nếu ko nói đầy KỊCH TÍNH (khi tôi đang làm văn phòng ở gần nhà, sáng đi chiều về, nhưng sau đó phải ra đv tác chiến; tôi đã ĐI TÙ gần 6 năm trong đói lạnh, tài sản đồ sộ của ba tôi đã tan thành mây khói, v.v...), cũng bởi cuộc chiến tranh này.
Đầu tiên, dù bịnh tật triền miên từ lúc 14 tuổi, đến năm 21 tuổi, khi xảy ra Trận Mậu Thân 1968, tôi vẫn đủ sức khỏe để nhập ngũ (dù ko vác nổi khẩu Garant M-1 trong giai đoạn đầu ở quân trường). Tôi đã rời quân trường năm 1969 với cấp bậc chuẩn úy. Sau khi phục vụ nhiều đv, phần lớn làm văn phòng, cuối cùng tôi ở 1 đv tác chiến của trung đoàn 10 sđ 7 bộ binh (nghĩa là cũng vào sanh ra tử, từng đánh qua Cam bốt năm 1974, và suýt tan xác ngày 10/3/1975 tại Kinh Bằng Lăng Cái Bè -- đã viết và đăng trên YouTube).
Tôi quên nói, lúc ở VN trước 1975, dù đang đi lính, nhưng lúc rảnh rổi, (vì có lúc làm việc tại SG từ 1969-73), tôi đọc rất nhiều sách báo về KHKT, văn chương và văn phạm Anh ngữ, y khoa (do bịnh nhiều), ngoại cảm, khảo cổ, chiến tranh VN, v.v... bằng tiếng Anh và tiếng Pháp. (Vì tôi học TRƯỜNG TƯ, chọn Pháp văn là sinh ngữ chánh, mà có gia sư đến nhà dạy kèm). Tiếng Anh tôi giỏi là do TỰ HỌC từ lúc 16 tuổi (bằng cách ĂN CẮP tiền của cha mẹ để mua 1 xe ba gác toàn nguyệt san National Geographic của Mỹ, kèm theo đầy đủ bản đồ, từ 1 ông bán sách cụt tay ở bên hông Bộ Công chánh VNCH Sài Gòn). Chứ chương trình Anh văn ở lớp chỉ là Let's Learn English, chưa học tới English For Today. Để hiểu tiếng Anh, tôi phải dùng tự điển Anh-Pháp Pháp-Anh. Cũng vì do tự học, nên tuy đọc được sách Anh-Mỹ nhưng nói rất dở vì ko thực tập nói chuyện với Mỹ -- ko như những ai học Hội Việt Mỹ, v.v... Tuy nhiên, nhờ tự học nhiều ở VN, khi tới Mỹ, tôi lại có thể nghe và hiểu các cassette hay CD của American Streamline. Có lẽ tôi có thể HIỂU được là do NHỚ LẠI những gì mình học trong các kiếp trước. Tôi hay nói với bạn bè, tiếng Anh là tôi HỌC CHƠI, chứ tiếng Pháp mới HỌC THIỆT (nhờ vậy trước khi đi Mỹ, làm thông dịch 4 năm cho Pháp). Ấy vậy, mà tôi đã và đang "ăn nên làm ra" vì việc học chơi này!
Ra tù năm 1981, tôi đã dạy Anh văn cho đứa cháu, điền đơn giúp bạn bè gửi TĐS Mỹ ở Bangkok, và làm thư ký đánh máy cho một HTX xây dựng. (Lúc đó, cháu tôi học lớp 12, đang học lớp luyện thi chứng chỉ trung cấp quốc gia về Anh văn. Tôi dạy nó về văn phạm và văn chương. Một hôm thày giáo nói 'Bài tập của tôi rất khó, mà em làm được, phải có kẻ giúp', cháu tôi trả lời 'đúng như vậy'. Ổng hỏi 'là ai', nó trả lời 'là bác ruột, mới cải tạo về').
Thời gian đó, có bao nhiêu tiền, tôi mua sách về các đề tài nêu trên bao gồm sách của các sở Mỹ trước 75, sách của những người bỏ nước ra đi và sách từ các nước XHCN (sách này rất rẻ, đến độ, người ta bán cân ký, sau khi tháo bìa cứng!).
Qua Mỹ tôi dạy Toán và Anh Văn trong 3 năm cho những học sinh mới sang Mỹ. Sau đó tôi tự học về computer. Từ chỗ ko biết gì về computer, tôi đã sửa chữa computer.
Từ ngày về chúng cư người già từ cuối năm 2012, đầu năm 2013, tôi giúp đỡ láng giềng và bạn bè về đơn từ, dịch thuật, vi tính và smartphone kể cả iPad và các loại tablet khác.
Khoảng 4-5 năm trở lại, tôi dịch các bài về chiến tranh VN để gửi đăng trên YouTube. Nói chung nhờ có vốn liếng cũng như ĐAM MÊ về ngoại ngữ và khảo cổ, mà đam mê là yếu tố quan trọng vì rất nhiều người giỏi Anh và Pháp văn hơn tôi nhưng họ ko có đam mê hay hứng thú để dịch thuật về đề tài này (rất khô khan).
Trước khi về chúng cư này, tôi đã nhiều lần nhập viện khẩn cấp vì nhức đầu do căng thẳng. Lúc đó tôi đã định ko dùng computer vì nghĩ rằng bịnh này sẽ tái phát nếu còn dùng computer. Nhưng từ từ, các cơn nhức đầu giảm dần rồi biến mất -- tuy nhiên lúc nào trên đầu giường cũng có 1 hộp Naproxen 375 mg. BS nói thuốc rất độc hại vì lâu ngày sẽ làm thủng dạ dầy hay gây nghiện.
TB. Nghĩ sao viết vậy, trong lúc trời nóng, nên tôi đã ko sắp xếp hợp lý ý tưởng của mình.
Viết trong buổi chiều với nhiệt độ trên 90 độ F.
SJ ngày 31/5/2025, cập nhật ngày 4/6/2025.

Tuesday, June 3, 2025

 CUỘC ĐỜI CỦA NHẠC SĨ SONG NGỌC QUA LĂNG KÍNH CỦA LTS.


I/ Song Ngọc*(27 tháng 12 năm 1943 – 14 tháng 10 năm 2018) tên thật Nguyễn Ngọc Thương, là một nhạc sĩ người Mỹ gốc Việt.
Thay thế các mẫu tự bằng trị số tương ứng, ta có:
NGUYỄN = 536155 = 25 = 7
NGỌC = 5373 = 18 = 9
THƯƠNG = 456753 = 30 = 3
Cộng lại: 7 9 3 = 19 = rất may mắn. Sau đây là ý nghĩa của số này.
Vua của Thiên Đình (The Prince of Heaven)
19 là một trong những số rất may mắn và thuận lợi (favorable). Số này được tượng trưng bởi Mặt Trời, và còn được gọi là Vua của Thiên Đình bởi vì nó chỉ ra sự thắng lợi trên tất cả những thất bại và thất vọng tạm thời (it indicates victory over all temporal failure and disappointment). Số này ban cho người và thực thể (entity) mang số này với tất cả quyền lực của số 10, mà không chịu sự nguy hiểm của lạm dụng vốn có trong số 10. Số này sẽ hứa hẹn hạnh phúc và thành đạt (fulfillment) – là thành công trong mọi việc kinh doanh/mạo hiểm (ventures) cũng như trong cuộc sống cá nhân. Dĩ nhiên, nếu tên của bạn bằng 19, số này phải được xem xét cùng với ngày sanh, có thể là một số không may mắn. Không có gì là hoàn hảo trên đời này, nhưng dù cho con số kia có ảnh hưởng tiêu cực đi nữa, số 19 sẽ giúp mọi việc của bạn trở nên dễ dàng và hóa giải tối đa bất cứ tác động tiêu cực nào - do con số kia mang lại, mà bạn sẽ gặp trên đường đời. Dịch từ sách Linda Goodman's Star Signs trang 257.
II/ Vì ông sinh ngày 27/12/1943, nên ông cũng chịu tác động của số 27. Sau đây là ý nghĩa của số này.
Gậy chỉ huy
Đây là một số xuất sắc, hài hòa, và may mắn của can đảm và quyền lực, với một nét quyến rũ (a touch of enchantment). Số này phù hộ cho người hay thực thể mà nó đại diện với một hứa hẹn về quyền lực và chỉ huy. Nó bảo đảm rằng các phần thưởng lớn sẽ đến từ những công việc hữu ích/có kết quả (productive labor), trí tuệ (intellect), và tưởng tượng, rằng những năng lực (faculty) sáng tạo đã gieo mầm tốt sẽ chắc chắn gặt hái một vụ mùa tốt (reap a rich harvest). Những ai hay thực thể đại diện bởi số 27 sẽ luôn luôn tiến hành những ý nghĩ và dự định riêng của họ, ko bị dọa nạt (intimidate) hay ảnh hưởng bởi ý kiến khác biệt hay chống đối từ kẻ khác. Đây là số do NGHIỆP TỐT, đã đạt được từ nhiều kiếp trước.
Dịch từ trang 261 của sách Linda Goodman's Star Signs.
III. Ý nghĩa của số 27, chụp từ màn hình. Người này có nét quyến rũ (a touch of enchantment). Trong tiếng Anh, chữ enchantment có 2 nghĩa:
1/ sự bỏ bùa mê; trạng thái bị bỏ bùa mê.
2/ điều làm say mê, điều làm vui thích, sự say mê, sự vui thích.
TB. Ca sĩ Thiên Kim, siêu mẩu Hà Anh, người mẩu ngọc Trinh, ca sĩ Trấn Thành, tài tử Keanu Reeves, v.v... đều có ngày sanh hay tên bằng 27.
* Trước 75, ông hay tổ chức đại nhạc hội ở SG. Sau 75, qua Mỹ, ông ở Texas, ngoài gia sản đồ sộ về am nhạc, ông làm giàu vì mở nhà hàng và siêu thị, v.v... chứ ko chỉ sống bằng âm nhạc. Trước 75, ông là bạn thân của cậu Sắc của tôi. Xem clip: https://www.youtube.com/watch?v=_mDfgc77RvM
Theo clip này, khi di tản bằng máy bay trong tháng 4/75, ngoài tài sản trên 300 nhạc phẩm, ông còn mang thêm trên 30 KÍ VÀNG. Qua Texas lúc bang này phát đạt, ông mua nhiều cửa hàng như 7-Eleven, KFC, khách sạn Travelodge, v.v... Ông chết năm 2018 ở tuổi 75 (sanh 1943).