Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc . . . (Lời Mở Đầu Của Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ)
Sunday, October 22, 2023
Saturday, October 21, 2023
Mục đích của Israel khi bao vây Dải Gaza.
- Là nhằm người dân Palestine đói, khát và lạnh lẻo -- để họ, nếu ko đầu hàng, cũng yếu đi.
Bài của Zoran Kusosac trên đài Al Jazeera ngày 21/10/23.
"Ngày thứ Bảy đã được đánh dấu bởi hai mẩu tin ít nhứt cũng tốt lành phân nửa (at least haft-good news): việc mở của khẩu Rafah với các xe tải cứu trợ ĐẦU TIÊN chạy vào Dải Gaza, và việc phóng thích 2 con tin. Đây là những phát triển phản ảnh khía cạnh quan trọng khác của xung đột mới nhứt ở Trung Đông: Israel bao vây Dải Gaza.
Bao vây là một trong những chiến thuật cũ rích. Phe tấn công cắt đứt mọi liên lạc và tiếp tế của kẻ thù, với hy vọng rằng sự thiếu thốn, bịnh tật, và việc mất tinh thần chiến đấu sẽ khiến lực lượng bị bao vây, và các dân thường cùng bị bao vây với họ, phải ngừng chiến đấu và đầu hàng.
Vào thời xưa, nếu dân thường ko bị tàn sát bởi quân xâm lăng, họ sẽ bị bắt làm tù binh, con tin, hay nô lệ. Ngày nay, những đối xử như vậy ko thể chấp nhận -- nhưng dân thường vẫn chịu đau khổ, ngay cả nếu họ liều mạng trốn thoát.
Mọi cuộc bao vây đều tàn ác. Đây là một chiến thuật khiến con người đói, khát, lạnh lẻo, khốn khổ, và ko thuốc men. Không thể giữ vệ sinh vì ko có nước, những người bị bao vây sẽ bị bịnh tả (cholera), kiết lỵ, và nhiều bịnh khác.
Dải Gaza từng bị bao vây 16 năm, nhưng ko thiếu thốn những nhu cầu căn bản. Tuy nhiên, sau khi Hamas tấn công ngày 7/10, Israel đã chấm dứt mọi tiếp tế cho Gaza, và cắt nước và điện. Việc đóng cửa mọi đường tiếp tế cho Gaza, oanh kích của không quân và lịnh bắt buộc dân phải rời bỏ vùng phía bắc, đã đẩy người dân Gaza vào bước đường cùng (desperation).
Điều này có nghĩa là hơn hai triệu dân Gaza giờ đây tùy thuộc vào cứu trợ lương thực để sống.
Một trong những phong tỏa sớm nhứt của thời cận đại là vụ Berlin bị phong tỏa vào năm 1948-49. Ghi chú: Khi Đức Quốc Xã bị sụp đổ, thủ đô Berlin của nước Đức nằm trên lãnh thổ của Đông Đức. Khi Berlin bị bao vậy, Mỹ đã lập CẦU KHÔNG VẬN để chỡ đồ tiếp tế cho dân Berlin -- người dịch. Tuy nhiên, những bao vây khắc nghiệt nhứt đã xảy ra trong TN 1990 ở Bosnia và Afghanistan. Trong khi vụ phong tỏa của Kabul, do xa với phương Tây, nên phần lớn bị bỏ qua, cuộc bao vây man rợ, tàn ác ở Sarajevo đã khiến thế giới hành động -- bằng cách cứu trợ. Nói thêm: Sarajevo là tp lớn nhứt và cũng là thủ đô của nước Bosnia-Herzegovina hay Bosnia -- người dịch.
Dù ko nước nào đã chống lại quân xâm lăng người Serb ở Bosnia, từng pháo kích thủ đô Sarajevo trong bốn năm, giết nhiều dân thường hơn lính, nhưng nhiều nước đã gửi lương thực, bếp lò, tấm trải để thay cửa sổ bị bể và dầu bị hạn chế.
Trung bình, người ta cần khoảng 2.200 ca-lo mỗi ngày. Các chuyên gia đã cho rằng trong một thời gian ngắn - tới một tháng, có thể là hai tháng -- một người có thể sống với 1.200 ca-lo ngày. Các tù nhân trong trại tập trung Auschwitz đã được cung cấp 1.000 ca-lo.
Các ghi chép đã cho biết người dân ở Sarajevo đã nhận trung bình 300 gam lương thực cứu trợ mỗi ngày, khi qui ra ca-lo thì chắc chắn dưới nhu cầu tối thiểu. Phần lớn những ai không chết vì bắn sẻ và pháo kích thì gầy và hốc hác (emaciated).
Con người cần trung bình năm lít nước mỗi ngày để uống, nấu nướng, và vệ sinh cá nhân. Các chuyên gia nói rằng trong lúc khẩn cấp thì 1.5 lít cũng đủ, với hy sinh đáng kể.
Nước Bosnia-Herzegovina, tuy từng bị bao vây, nhưng nhờ nhiều sông hồ, nên ko khốn khổ lắm, nhưng Dải Gaza khô cằn hoàn toàn không có nước ngọt.
Dựa trên nhu cầu căn bản nhứt về lương thực và nước uống, mỗi người dân ở Gaza cần hai kí cứu trợ mỗi ngày. Cho hai triệu người, con số sẽ là 4.000 tấn/ngày. Mỗi xe tải trung bình chỡ 20 tấn. Như vậy mỗi ngày cần HAI TRĂM XE TẢI.
Để chuyển hàng cứu trợ, thế giới bên ngoài cần một cảng có thể tiếp nhận hai tàu mỗi ngày. Rất mai, Ai Cập có một cảng ở cách cửa khẩu Rafah 40 km, trên tp ven biển el-Arish.
Một số hàng cứu trợ khẩn cấp có thể chỡ bằng máy bay, nhưng máy bay ko thể thỏa mãn như cầu cứu trợ. Nhưng có 2 sân bay Ai Cập gần đó: al-Gorah và el-Arish. (Sân bay Gaza ở đầu phía nam của Dải Gaza bị Israel phá hủy năm 2001).
Không thể dựa vào không vận dù có nhiều máy bay: Khinh nghiệm ở tp Sarajevo có thấy trung bình một máy bay chỡ 11 tấn. Với nhịp độ như vậy, mỗi ngày cần 360 chuyến, một triển vọng ko thực tế.
Điều mơ ước của dân Palestine ở Gaza hiện nay là đồ cứu trợ có thể đến đều đặn, nhưng điều này chưa xảy ra". Vì tùy thuộc rất nhiều vào Israel vì họ có thể đóng cửa khẩu Rafah bất cứ lúc nào! -- người dịch.
Dịch từ đài Al Jazeera, đặt tại nước Qatar.
Wednesday, October 18, 2023
Bài này đăng trên tạp chí Vietnam năm 2006.
Tales of War; When the VC overran Fire Support Base “Mary Ann” in March 1971. – Metallicman
Running down the hallway of the battalion tactical operations center (TOC), Captain Paul S. Spilberg charged into a cloud of tear gas just as he reached the commander’s quarters.
Staggering blindly back the way he had come, Spilberg made it to the north exit, crawled up the stairs and out the door into the fresh but bullet-ridden air. Forcing his eyes to focus, the shaken captain was stunned to hear the fire of AK-47s and the crash of rocket-propelled grenades from inside the base’s perimeter. In amazement he watched as numerous small figures darted catlike among the spreading flames. Everywhere he looked he saw the scurrying silhouettes, who were enemy sappers feeding the chain of explosions devouring Fire Support Base Mary Ann on that afternoon in 1971.
Topographical Map of Indochina.
This is the story of the 23rd Infantry Division “Americal” 1st Battalion, 46th Infantry Regiment2nd ARVN DivisionBattery B, 22nd Field Artillery , against Military Region 5409th VC Main Force Sapper Battalion .
Four days earlier.
Four days before the fatal attack, Spilberg had arrived at the FSB by helicopter. He was an old hand there, having previously served at Mary Ann as a company commander.
Along with three assistants, he now had returned as a marksmanship instructor. His team had established a training course using targets on a crude rifle range set up on the FSB’s southwest slope.
The hill was garrisoned by Company C, 1st Battalion, 46th Infantry (1-46), 196th Light Infantry Brigade, assigned to the 23rd ‘Americal’ Infantry Division.
The battalion commander, Lt. Col. William P. Doyle, was a serious professional.
Along with the Company C commander, Captain Richard V. Knight, Doyle had molded this handful of reluctant draftees into one of the better combat units still in the field in 1971.
Mary Ann was in a generally quiet sector, and the soldiers atop the hill had come to regard their outpost as something of a rear echelon area rather than what it actually was — the division’s most forward firebase..
It starts.
Three hours later the American firebase was rocked from within by a series of powerful explosions. Spilberg was asleep deep inside the TOC.
The structure was a sturdily reinforced, half-buried bunker, and from its interior Spilberg initially had a hard time recognizing the muffled crashes. Thinking the base was taking mortar fire, he rolled off his cot and began pulling on his boots and shirt.
TOC
Before leaving the bunker, he grabbed his .45-caliber pistol from under his pillow.
Hindsight; earlier that day.
On the afternoon of March 27, 1971, after the soldiers had completed their target practice, the three officers remained on the shooting range. They plinked with various weapons and talked awhile, and then Doyle and Knight headed for the mess tent.
Spilberg remained behind to take a few more shots. He had only the base’s mascot dog for company.
The mongrel suddenly bristled and began barking and growling at something downslope that Spilberg could not locate. He had never seen the amiable mutt behave like that, but try as he might he could not detect what was agitating the animal.
Finally deciding the dog must have scented a tiger or cobra, Spilberg set out after the other officers.
Much later he related: ‘I never said anything to Doyle about that dog being on alert, but I should have known. It bothered me for years and years. It was my second tour. I should have known.’
Sappers storm the base.
One of the sappers had thrown tear gas into the TOC officers’ quarters, and Colonel Doyle was trying desperately to escape his gas-filled room.
As he struggled to unlatch the plywood door, a satchel charge detonated in the hallway, blowing the door from its hinges and flattening him. Picking himself up, he turned toward the door and faced a sapper wearing nothing but bush shorts, a gas mask and a full-body coating of camouflage..
When the Communist drew back to hurl another satchel charge, Doyle raised his own .45 and shot him square in the chest. As the man fell backward the bomb went off, blowing him to bits and flattening Doyle a second time. Three more charges exploded in the hall before Doyle was able to dig through the rubble and leave the bunker.
By then he was bleeding from fragmentation wounds in one leg and both arms. He was unable to hear through his blood-filled ears, and could barely see through gas-seared eyes.
For 45 minutes, the infiltrators sprinted throughout the firebase, expertly planting their charges among the frantic, befuddled Americans. As the assault concluded, the TOC was a towering pyre.
Spilberg picked up a damaged M-16 he found on the ground. Wincing from three grenade fragments in his back, he made for Knight’s company command post to see if the captain had survived.
The CP was a bonfire and beginning to collapse. As he reached the crumbling entrance, Spilberg could hear ammunition exploding in the flames. He peered inside but saw only a blazing vision of hell. Somewhere within that inferno, Knight lay dead.
The company CP and battalion TOC had been the primary targets for the brilliantly executed sapper assault, and Knight was one of 30 Americans killed. On the morning of March 28, Doyle and Spilberg were among the 82 wounded GIs evacuated.
The first indicator that something bad was afoot had come on the night of March 25-26. Lieutenant Scott Bell was on patrol, on what was supposed to be his last night on the hill.
As he squinted into the surrounding silent, mist-cloaked jungle, he sensed an almost tangible uneasiness in the air, and felt a primordial sense of dread that motivated him to organize one last big rat kill before his departure. Maybe that would keep his men alert.
The last big rat kill.
The soldiers knew the drill.
They constructed ingenious rattraps from empty C-ration cans laced with cheese and blasting caps. All night the men counted miniature explosions as squirrel-sized Asian rats died in the competition between platoons.
By dawn there were 130 dead rodents laid out in neat lines in front of the CP. These were the last fireworks here for Bell and Company A.
The next morning they moved out and were replaced by Captain Knight and his Charlie Company, who were transferred in from Chu Lai.
Charlie Company settled into the new position and started policing the area in preparation for a visit from the brigade commander, Colonel William Hathaway, who had been unhappy with Company A on his last inspection.
Knight hurriedly set his men to work disposing of dead rats, marijuana cigarette butts, empty whiskey bottles and other such junk left behind by their predecessors. When Hathaway, accompanied by Doyle and Knight, walked the perimeter that afternoon, he was delighted with the improvement over what he had seen a week earlier.
Hathaway, however, did not inspect the tactical outer wire because, he later explained,’somewhere along the line you have to put the trust in the company commander.’
Additional trip flares were triggered by the prop blast of CH-47 helicopters as they landed at and took off from the FSB.
The Americans did not replace the flares.
In hindsight, Hathaway thought overconfidence might have been another factor contributing to the debacle.
Overconfidence.
‘Charlie Company, commanded by Captain Knight, was certainly the best company in that battalion, and probably one of the best companies in this division,’ Hathaway said later. ‘One of the problems was that they were so good they were a little contemptuous of the enemy.
They were the hunters, not the hunted.’
But the outer defenses were not in order.
As Lieutenant Jerry Sams, leader of C Company’s 2nd Platoon, later explained: ‘The sergeant major was on everybody’s ass about policing the area before the inspection, and they had my platoon out there picking paper off the wire.
Those helicopters would come in and kick up all kinds of crap.
I had to send the guys out two or three times, and it was one of those typical Army things where everybody’s bitching and raising hell. They were accidentally setting off trip flares in the wire — all our early warning devices that would have come in mighty handy later on that night.’
Another cause for the false sense of security was that there had been no signs of an impending attack. Major Alva V. Hardin, the 196th Infantry Brigade’s intelligence officer, later testified, ‘We had no intelligence to indicate there would be an attack on Mary Ann.’
Lack of Listening Posts.
The lack of listening posts outside the wire was another critical mistake. When Hathaway learned Doyle had not deployed LPs beyond the outer perimeter, he concurred. ‘Listening posts were not a policy,’ explained Hathaway.
‘I considered listening posts outside the wire a hazard. I considered the danger of people getting wounded, either by defensive fires or somebody getting excited and firing on the perimeter, to be greater than the necessity for the listening post.’
Mary Ann had been constructed on the bulldozed summit of a ridge running northwest to southeast.
In profile the elevation looked like the back of a camel, with the base stretching 500 meters across both humps. It was 75 meters wide between the humps, and 125 meters broad at each end. A continuous trench that was knee- to waist-deep and had 22 bunkers formed the perimeter.
Inside the perimeter were 30 buildings of various styles, giving the appearance of a shantytown. The whole thing was surrounded by two belts of concertina wire.
Two dirt roads interrupted the trench and wire line of the perimeter. Doyle had tried unsuccessfully to have chain-link fencing flown in to close the openings, but higher headquarters, noting that the base was soon to be turned over to the ARVN, decided against providing construction materials for the soldiers of South Vietnam.
The road openings remained.
Easing up the guard…
With the 196th Infantry Brigade already scheduled for redeployment to Da Nang, Doyle had ceased all construction projects within and around Mary Ann and had started packing for the move.
By March most of the base’s mortars and artillery had been airlifted to nearby LZ Mildred to fire on enemy positions in that sector. By March 27, all of Mary Ann’s starlight scopes and ground radars had been shipped to the rear for maintenance.
On the night of the attack, the infantry under Doyle at Mary Ann consisted of 231 Americans and 21 South Vietnamese, plus the battalion training team, battalion intelligence officer, the sergeant major, an interpreter and 22 transient soldiers from Companies A, B and D. The transient troops spending the night at the base were in no mood to remain on alert.
Specialist 4 Harold Wise was one of those who had just arrived. ‘Thirty percent of the guys on the hill were heads,’ he said later. ‘Marijuana, heroin, whatever you wanted. The guys in the sensor hooch next to the tactical operations center were potheads, and a lot of people congregated there to buy stuff, but unless they knew you, you didn’t come in.
They had locks on the door of their hooch.
Nobody did it in the open. It wasn’t brazen. If an officer saw somebody doing it, he’d bust the guy. Some of the officers and sergeants knew what was going on, but as long as you did your job, they didn’t say anything.’
The drug problem on the base, although not as pronounced as in other areas, was still sufficient to benefit the enemy.
Battery C, 3rd Battalion, 16th Field Artillery (155mm), was aligned in battery formation atop the base’s highest elevation. The infiltrators quickly destroyed both of the unit’s howitzers. Staff Sergeant Easton Rowell, the chief of the firing battery, was wounded six times. He later groused, ‘We took a screwin’ because the grunts on that hill were a bunch of potheads!’
VC 409th Sapper Battalion
The attackers were from the Main Force VC 409th Sapper Battalion.
This unit was known for operating against the ARVN in Quang Nam province, and at that time was thought by out-of-date U.S. intelligence to be 15 to 20 kilometers east of Mary Ann, preparing for a major push against the South Vietnamese.
At 0200 hours on March 28, an American searchlight crew conducted a cursory 20-minute illumination sweep of the slope outside the exit to the firing range.
The hillside had been cleared of vegetation, but still was punctuated by boulders and tree stumps, all of which provided good hiding places for the small enemy. Seeing nothing unusual, the GIs shut down their light and headed for their bunker.
The explosions started 10 minutes later.
The 409th sappers were experts in their trade. With AK-47s strapped to their backs, grenades in their belts and satchel charges fastened to their chests, they wore nothing but khaki shorts and soot. They crawled silently, slowly and steadily through the jungle, using their fingertips as probes.
When they detected trip flares, they used lengths of bamboo, carried in their teeth, to tie down the strikers. When they felt wires leading to Claymore mines, they used wire cutters to cut the lines. They were careful to cut only two-thirds of the way through the strands of concertina, then used their fingers to break the rest of the way through the wire silently and without shaking the large coils.
Approaching from the southwest, the infiltrators cut four big gaps through the concertina, two holes on each side of the road where it left the perimeter.
They repeated the procedure 50 meters farther on, through the second barrier, although the wire there was in such a state of disrepair that many sappers simply walked across the rusty, breaking steel strands. Another 30 yards and they came to the final concertina barrier.
Rather than risk having the snip of cutters heard by some alert sentry, the infiltrators simply spread a gap through the wire, tying it open with bamboo strips.
The sappers were well-rehearsed. Splitting up into three- and six-man squads in the zone between the inner wire barrier and the bunkers facing southwest, the assault teams waited until 0230 hours.
Then their supporting mortars opened with accurate fire on the TOC and CP on the base’s southeast side, and on the remaining U.S. mortar and artillery positions in the northwest area.
All Hell breaks out.
A card game in the radio room was just breaking up when the first rounds hit.
The explosion hurled Wise onto his back, knocked off his glasses, broke his left arm and sprayed the front of his body head-to-foot with fragments. Using his right arm to drag himself into his hooch, he shook awake his roommate, Pfc Peter Detlef, and then hid behind his reel-to-reel tape deck as he seated himself on the floor and tried to cover the door with his M-16.
When Detlef, still half asleep, tried to go through the door, another explosion blasted the door off its frame and on top of him.
As the VC had anticipated, most defenders were immobilized by confusion. One radioman never bothered to crank up his radio to report the situation, but simply rolled off his cot onto his hut’s dirt floor and hid beneath his mattress until the shooting stopped.
Inside the TOC, Spc. 4 Stephen Gutosky grabbed his radio mike and reported: ‘Be advised, we are taking incoming at this time! Stand by and I’ll see if I can get a direction on it!’
When he realized with a start that he was still inside the TOC, he shouted into his microphone: ‘I can’t get outside to see where it’s coming from! Just fire all the counter mortars and counter rockets you got ASAP!’
By that point the south end of the TOC was burning from the inside after a satchel charge set off a case of white phosphorus grenades. Yet Doyle still refused to abandon his position. After ordering Gutosky to radio for helicopter gunships and illumination, the wounded colonel said, ‘I’m going out to see what’s going on!’
Doyle did not realize how badly he was hurt. He was almost deaf and blind from tear gas, powder burns and explosion concussions. The shrapnel wounds in his arms and legs would take months to heal. Nonetheless he made it to the top of the exit steps, raised his M-16 and started to aim at a couple of infiltrators outside the bunker — but a third, unseen enemy soldier threw a grenade at him. It landed at his feet and exploded as he turned to head back inside, blowing him down the stairs.
The entire TOC was now burning. Lieutenant Edward McKay, the TOC night duty officer, started to panic in the ovenlike bunker. ‘We gotta get outta here!’ screamed McKay.
‘Not yet!’ hollered Doyle.
‘We’re all going to die!’ sobbed McKay.
Summoning his last element of strength, Doyle slapped the hysterical junior officer hard across the face and snarled, ‘Shut up, lieutenant!’
It was now 0251, and radio telephone operator (RTO) David Tarnay managed to raise LZ Mildred.
Spilberg heard Tarnay shouting into his microphone, he bounded back inside the blazing TOC. Grabbing a handset, he shouted to Lieutenant Thomas Schmitz at LZ Mildred: ‘I want artillery 50 meters out, 360 degrees around our position. On my command be prepared to fire on the firebase!’
Grabbing a handset, he shouted to Lieutenant Thomas Schmitz at LZ Mildred: ‘I want artillery 50 meters out, 360 degrees around our position. On my command be prepared to fire on the firebase!’
Grabbing a handset, he shouted to Lieutenant Thomas Schmitz at LZ Mildred: ‘I want artillery 50 meters out, 360 degrees around our position. On my command be prepared to fire on the firebase!’
Spilberg realized that calling down fire on his own position was likely the only way to save the surviving Americans there.
Doyle next grabbed the mike and informed Schmitz they were being forced to evacuate the TOC and would temporarily lose radio contact. With Tarnay and Gutosky carrying all the radio equipment they could, and with the now-incoherent McKay slung over Tarnay’s shoulder, the handful of resolute GIs made their way to the firebase aid station, where Tarnay put McKay on a cot and then tried to get a radio working.
It was now 0251, and radio telephone operator (RTO) David Tarnay managed to raise LZ Mildred.
Doyle and Spilberg left the aid station and crossed the compound to the Charlie Company CP. When they arrived they found that it too was an inferno, its sandbagged entrance collapsed.
Throughout Mary Ann, unprepared Americans were shot and blown apart by the VC sappers, who seemed to know precisely where to concentrate their assault.
ARVN helped plan the attack.
Later, some survivors would accuse the South Vietnamese of cooperating with the attackers. Specialist 4 Steven Webb was the only U.S. soldier who was with the base’s ARVN contingent throughout the fight. Despite later rumors that ARVN troops had fired on Americans that night, Webb said he never saw it happen.
Nevertheless, suspicion and bitterness lingered. One of Knight’s NCOs, Staff Sgt. John Calhoun, later remarked, ‘It was an inside job.’
Specialist 4 Edward L. Newton concurred. ‘That morning before the attack, an ARVN officer came up to our bunker and asked how we got out of the perimeter,’ he recalled. ‘We asked him why he wanted to know. He said because he and his men wanted to go down there fishing. We thought it was kind of peculiar. We said we did not know for sure.’
The officer, who wore the insignia of a South Vietnamese first lieutenant, persisted in his questioning of the Americans until some of them told him the easiest way in and out was the south end and on the road running past the rifle range to the water point.
Specialist 5 Carl Cullers later claimed: ‘[I saw] an ARVN going behind the rifle range. It was more or less a joke at first. One of the cooks said, `Hey Cullers, there’s an NVA down there,’ and I said, `Quit joking,’ and he said, `Wait, and I’ll point him out to you.’ I knew he was an ARVN by his size. He had gone out beyond the rifle range, and down the slope for about 20 minutes. I took it for granted he had gone down to defecate.’
Specialist 5 Carl Cullers later claimed: ‘[I saw] an ARVN going behind the rifle range. It was more or less a joke at first. One of the cooks said, `Hey Cullers, there’s an NVA down there,’ and I said, `Quit joking,’ and he said, `Wait, and I’ll point him out to you.’ I knew he was an ARVN by his size. He had gone out beyond the rifle range, and down the slope for about 20 minutes. I took it for granted he had gone down to defecate.’
Specialist 5 Carl Cullers later claimed: ‘[I saw] an ARVN going behind the rifle range. It was more or less a joke at first. One of the cooks said, `Hey Cullers, there’s an NVA down there,’ and I said, `Quit joking,’ and he said, `Wait, and I’ll point him out to you.’ I knew he was an ARVN by his size. He had gone out beyond the rifle range, and down the slope for about 20 minutes. I took it for granted he had gone down to defecate.’
Sergeant Andrew Olints of Company D was next to the helipad at dusk on the 27th when ‘an ARVN chopper came out, and fifteen of those little suckers got on,’ as he later reported. ‘They were thrilled to death, jumping on, pushing each other. I didn’t think the thing would take off, it was so overloaded. We had no idea what was coming, but in retrospect it sure looked like they did.’
Sergeant Andrew Olints of Company D was next to the helipad at dusk on the 27th when ‘an ARVN chopper came out, and fifteen of those little suckers got on,’ as he later reported. ‘They were thrilled to death, jumping on, pushing each other. I didn’t think the thing would take off, it was so overloaded. We had no idea what was coming, but in retrospect it sure looked like they did.’
Sergeant Andrew Olints of Company D was next to the helipad at dusk on the 27th when ‘an ARVN chopper came out, and fifteen of those little suckers got on,’ as he later reported. ‘They were thrilled to death, jumping on, pushing each other. I didn’t think the thing would take off, it was so overloaded. We had no idea what was coming, but in retrospect it sure looked like they did.’
Specialist 4 Gary Noller, an RTO at LZ Mildred, later wrote: ‘I remember an incident where a GI came to the TOC and said that an ARVN was signaling with a flashlight to someone outside the wire.’
He said he went to check it out. ‘[I] did encounter an ARVN with a GI flashlight near the east perimeter wire,’ Noller remembered. ‘I told him not to use it, in English, which he probably didn’t understand, and then reported this to an officer.
The incident was not treated seriously by the officers, but added credence as far as the GIs were concerned that some of the ARVN were not on our side.’
Wholly SHTF!
In one of the most dramatic events of the night, Lieutenant Barry McGee, who had been sleeping atop bunker No. 10 when the attack started, stumbled half asleep into his platoon CP with several of his men just as the enemy targeted the position.
McGee was the leader of C Company’s 3rd Platoon, which manned bunkers Nos. 9 through 13. As he and his men grabbed their weapons and prepared to return outside, two mortar rounds hit the bunker, half demolishing it and dislodging a heavy ceiling beam that fell on the lieutenant, seriously injuring his head.
A medic dressed the wound, and after about 15 minutes the men in the platoon CP noted that the explosions outside seemed to be ending.
McGee had just lurched to his feet, turned to the door and said, ‘All right, let’s go!’ when a grenade sailed through the door, exploded and blew the medic, Spc. 5 Carl Patton, back into McGee. Realizing he had lost his weapon, McGee grabbed Patton’s M-16 and again headed for the door.
Another satchel charge detonated on the roof, caving it in and killing 22-year-old Sergeant Warren Ritsema when a beam fell on him.
The blast knocked down McGee, who again lost his weapon. He staggered to his feet and stumbled outside, incoherent with pain and frustration.
When the short, stocky, powerfully built and unarmed lieutenant collided with a sapper outside the bunker, McGee wrestled him to the ground and strangled him with his bare hands.
It was quite a feat for somebody already half-dead from a fractured skull. The lieutenant’s corpse was later found atop the VC he had choked lifeless.
Another sapper had shot McGee in the back.
At 0320, Spilberg and Doyle were at the southern end of Mary Ann, believing the attack was almost over. But then, partly obscured by the billowing smoke, another team of sappers started back up the hill, throwing grenades in all directions.
Apparently searching for their own dead and wounded, the VC broke contact and withdrew when the first helicopter gunship finally arrived overhead.
It was commanded by Captain Norman Hayes, Troop D, 1st Squadron, 1st Cavalry. Hayes radioed LZ Mildred that he had arrived at his objective and to lift and shift the artillery fire Spilberg had earlier ordered.
Mildred ceased firing except for illumination rounds.
When Hayes’ searchlight illuminated VC in the wire, they opened up on the gunship with small arms. As Hayes later put it, ‘We engaged, and I know that anything we fired on ceased firing on us.’
Hayes made repeated passes over the base, dropping grenades and strafing targets of opportunity, despite two of his guns becoming inoperative almost immediately after his arrival on station.
He made repeated radio calls for additional gunships and medevacs, but by the time he ran low on fuel and had to return to Chu Lai, no additional aircraft had arrived. Because of the chaotic state of communications, the brigade and division were under the misconception that Mary Ann had been subjected to nothing more than mortaring.
Hayes actually had time to return to Chu Lai, refuel, reload and repair his guns, and then fly all the way back to Mary Ann, before medical helicopters began arriving.
Colonel Hathaway and Lt. Col. Richard Martin, commander of the 3rd Battalion, 82nd Field Artillery, arrived with the medevacs. Spilberg was almost amused at their reaction to the devastation, later remarking: ‘They were in a state of shock. They had just walked into Auschwitz.’
Despite having a gutful of fragments, Spilberg at first refused to leave the base.
He wanted all his wounded men taken out before him, and when Doyle told him to board a chopper he simply climbed in one door and out the other side.
Not until Hathaway gave him a direct order did Spilberg finally leave. He was later awarded the Silver Star.Spilberg also recommended Doyle for a Silver Star, but Hathaway refused to endorse the nomination.
He later said he was tortured by the decision, explaining, ‘I just felt that although he had conducted himself with a certain amount of valor, the situation had occurred because of shortcomings on his part.’
At 1600 the next day, the enemy hit the ruins of Mary Ann with 12.7mm machine gun fire, sweeping the enclosure from a ridgeline to the north.
One GI was wounded in the attack.Fifteen dead sappers were collected from within the base, although blood trails indicated several dead and wounded had been dragged back into the jungle.
After the debacle, however, the South Vietnamese decided they did not want to garrison Mary Ann. The FSB was closed and abandoned on April 24, 1971.
General Creighton Abrams, commander of the U.S. Military Assistance Command, Vietnam, held 23rd Infantry Division commander Maj. Gen. James Baldwin responsible for the disaster, and relieved him of his command. The 23rd ID’s name had been eternally tarnished three years earlier because of the My Lai massacre.
Many in the U.S. Army suspected that Baldwin would not have been fired had he been in any other division.
What happened at Mary Ann was a failure at the most basic level of soldiering. The Company had been warned by its South Vietnamese Kit Carson scout that it had been infiltrated by enemy spies posing as ARVN (Army of the Republic of Vietnam) soldiers.
What happened at Mary Ann was a failure at the most basic level of soldiering. The Company had been warned by its South Vietnamese Kit Carson scout that it had been infiltrated by enemy spies posing as ARVN (Army of the Republic of Vietnam) soldiers.
What happened at Mary Ann was a failure at the most basic level of soldiering. The Company had been warned by its South Vietnamese Kit Carson scout that it had been infiltrated by enemy spies posing as ARVN (Army of the Republic of Vietnam) soldiers.
All electronic sensors had been pulled from the perimeter the day before the attack.
Not a single ARVN soldier came to the aid of the Americans, and the enemy left their Vietnamese brothers alone throughout the assault.
The Americans also took fire from the ARVN part of the compound.
Mary Ann was a classic case of intelligence failure. The clues, quite simply, were never added up.
Fire Support Base Mary Ann was scheduled to be turned over to the ARVN in a matter of days. Nobody had bothered to tell the soldiers who died defending it.
Both Hathaway and Doyle received career-ending formal reprimands. Being blamed for the Mary Ann tragedy was a crushing blow to Doyle. He and his wife divorced soon after his release from the hospital.
He remarried in April 1972 — just two weeks before receiving his letter of reprimand from Army chief of staff General William Westmoreland. Doyle cut his honeymoon short in order to make a personal but futile appeal to Westmoreland.
Doyle developed a severe drinking problem, and he died of a heart attack in March 1984. He was 52. Hathaway and Spilberg were among those following his caisson to the gravesite at Arlington National Cemetery. While delivering the funeral oration, Spilberg spoke for many when he referred to Doyle as ‘the last casualty of Firebase Mary Ann.’
Tên nước của Israel và Palestine qua lăng kính của Lý thuyết Số.
Thế các chữ bằng trị số tương ứng, ta có:
I S RA E L =
1 3 2 1 5 3 = 15 = rất may mắn.
Sau đây là ý nghĩa của số 15.
PHÁP SƯ (THE MAGICIAN)
15 là số có ý nghĩa huyền bí (esoteric) sâu xa, của sự rung động của thuật giả kim (alchemy) qua đó tất cả ma thuật được bày tỏ (all magic is manifested). Số này cực kỳ may mắn và mang theo nó đặc tính làm say mê kẻ khác (essence of enchantment). 15 đi đôi với tài hùng biện, sự khéo ăn khéo nói, và những tài năng về âm nhạc, nghệ thuật, và kịch nghệ. Số này ban cho (bestows upon) người mang số này một tính khí bất ngờ/đầy kịch tính (dramatic temperament) và sự hấp dẫn/thu hút (charisma) cá nhân mạnh mẽ và kỳ lạ. Số 15 đặc biệt may mắn vì nhận được tiền, quà tặng, những giúp đỡ từ những kẻ khác, vì số này có sự thu hút mạnh mẽ đối với tính vị tha của người khác. Tuy nhiên, không hoa hồng nào lại không có gai, và người xưa cảnh báo rằng số 15 sẽ điều khiển những mức thấp của khoa huyền bí học (lower level of occultism) khi nó liên kết với số 4 hoặc 8. Những người như thế sẽ có thể dùng ma thuật (black magic), thôi miên, và sự dẫn dụ về tinh thần – để thực hiện mục tiêu của họ. Do đó, nếu 15 là ngày sanh, và tên cộng là 4, 13, 22, hoặc 31, thì bạn nên đổi tên sao cho nó bằng một số có thể thu nhỏ bằng 1, như số 10 hoặc 19. Nếu ngày sanh là 15, và tên bằng 8, 17, hoặc 26, thì bạn nên đổi tên sao cho nó bằng 6 hay 24. Nếu tên bằng 15, và bạn lại sanh ngày 4, 13, 22, và 31, bạn nên đổi tên thành 6 hay 24. Nếu tên bằng 15, và bạn sanh ngày 8, 17, hoặc 26, bạn nên đổi tên bằng 6 hay 24.
Ngoài sự cảnh báo trên, số 15 rất may mắn. Nếu bạn sanh ngày 15, và tên cũng bằng 15, bạn được ban cho khả năng mang hạnh phúc đến kẻ khác và đưa ánh sáng vào nơi tối tăm, với điều kiện là bạn không dùng tác động kỳ diệu và may mắn này cho các mục đích vị kỷ./.
Dịch từ quyển Linda Goodman’s Sun Signs nơi trang 252-253.
======
P A L E S T I N E
8 1 3 5 3 4 1 5 5 = 35. Số này có ý nghĩa của số 26.
Ý nghĩa của số 26
Sự hùn hạp làm ăn (Parnership)
Số kép nầy sẽ rung động, bằng một cách lạ kỳ, đưa tới một quyền lực độc đáo của thân ái/tử tế (kind power), (quyền này) đặt căn bản trên lòng nhân đạo (compassion) và sự không ích kỷ, với khả năng giúp đỡ những nguời khác, nhưng không luôn luôn giúp đuợc bản thân mình. Số 26 thì đầy mâu thuẫn. Nó cảnh báo về những nguy hiểm, thất vọng (disappointment), và thất bại, đặc biệt liên quan đến những tham vọng, gây ra (brought about) thông qua sự cố vấn sai lầm, liên kết với những kẻ khác, và những sự hùn hạp làm ăn không khéo chọn/không thích hợp (unhappy) dù lớn hay nhỏ. Nếu 26 là số kép của tên, điều tốt nhứt là đổi tên để có một ảnh huởng may mắn hơn. Nếu 26 là ngày sanh, và vì vậy không thể thay đổi, nguời này nên tránh hùn hạp làm ăn, và nên đeo đuổi nghề nghiệp một mình, không nghe theo sự cố vấn dù cho đầy thiện ý (well-intended) từ những kẻ khác, nhưng chỉ theo những linh cảm (hunche) và trực giác cá nhân – mặc dù những điều này nên đuợc tìm hiểu cẩn thận truớc khi hành động. Nguời số 26 nên ngay lập tức bắt đầu ổn định lợi tức, tiết kiệm tiền, không nên có thói quen tiêu xài hoang phí (behave in a extravagant manner) hoặc đầu tư dựa vào ý kẻ khác. Hãy đầu tư vào chính tuơng lai của bạn, hãy rộng luợng với kẻ khác, đặc biệt là nguời đang hoạn nạn (in need), nhưng cũng xây dựng một nền tảng vững chắc cho tuơng lai của chính bạn. Nếu tên cộng lại bằng 26, và nếu bạn lại sanh vào ngày 26, bạn hãy đọc cẩn thận đoạn nói về các số 4 và 8 ở cuối chuơng này. (2 cộng 6 bằng 8, do vậy 26 = 8). Đây là lời khuyên quan trọng nhứt đối với bạn – hay cho bất cứ ai mà tên bằng 4 hay 8, hay ai sanh vào ngày 8 tây – hay bất cứ ngày nào, sau khi thu nhỏ bằng 4 hay 8, như ngày 13, 17, 22, 26, và 3.
(Dịch từ trang 203 trong quyển Linda Goodman's Star Signs).
San Jose ngày 29 tháng 3 năm 2010
====================================
Đọc thêm:
1/ GAZA = 3171 = 12 = nạn nhân.
2/ WEST BANK
WEST = 6534 = 18 = 9
BANK = 2152 = 10 = 1
Cộng lại: 9 1 = 10 = bánh xe định mạng.
Tuesday, October 17, 2023
BÀ
TRẦN = 4215 = 12 = 3
THỊ = 451 = 10 = 1
THẮM = 4514 = 14 = 5
Sunday, October 15, 2023
PHẦN ĐỌC THÊM VỀ KỸ THUẬT ĐẶC CÔNG.
Tiếp cận CC từ hướng tây bắc, đặc công đã cắt bốn lổ lớn trên hàng rào kẽm gai thả rối, hai lổ ở mỗi bên của con đường nơi nó rời chu vi phòng thủ chạy tới bãi rác. Họ đã lập lại điều này ở 50 mét xa hơi, trên hàng rào kẽm gai thả rối thứ hai, dù rằng hàng rào này ở trong tình trạng hư hỏng (disrepair) đến độ nhiều đặc công đã đơn giản đi qua các cuộn dây rỉ sét và đứt gãy. Thêm 30 mét nữa là hàng rào kẽm gai thứ ba và cuối cùng. Thay vì cắt bằng kéo dễ gây tiếng động, họ đơn giản vạch một lối đi xuyên qua cuộn này, bằng cách dùng lạt tre buộc lại.
Các đặc công đã tập luyện thuần thục. Chia từng nhóm 3 hay 6 người trong khu vực giữa vòng kẽm gai trong cùng và các hầm trú ẩn hướng về đông nam, họ đã chờ tới 0230 g. Khi đó cối đã bắn chính xác vào trung tâm hành quân của TD và BCH ở cạnh đông nam của CC, và vào các vị trí của cối và pháo binh Mỹ ở khu vực tây bắc.
Một số quân nhân đang chơi bài trong phòng truyền tin đã bị gián đoạn khi những quả pháo đầu tiên rơi xuống. Tiếng nổ đã xô ngã Wise ra sau, khiến y bị bể kiếng đeo mắt, gãy tay trái và bị nhiều miểng văng vào mặt xuống tới chân. Dùng tay phải, y ráng lết về lều của y, đánh thức bạn cùng lều, binh nhì (pfc) Detlef, và cố gắng ngồi núp sau dàn máy thu băng của y và dùng súng M-16 để đóng cửa. Khi Detlef, vẫn còn ngái ngủ, đã phóng qua cửa, một tiếng nổ khác đã khiến cửa sút ra và rơi xuống Wise.
Như VC đã dự đoán, phần lớn lính phòng thủ đều bất động vì hỗn loạn. Một lính truyền tin ko buồn vặn máy truyền tin để báo cáo tình hình, mà chỉ lăn người (roll off) từ ghế bố xuống nền đất và núp dưới nệm cho tới khi hết tiếng súng.
Bên trong trung tâm hành quân, hạ sĩ (Spc 4) Stephen Gutosky đã chụp ngay micro của máy truyền tin và báo cáo: 'Xin báo cáo, chúng tôi đang bị pháo! Xin chờ máy và tôi sẽ cho biết hướng bắn!'
Khi biết rằng mình vẫn còn ở trong trung tâm hành quân, y đã hét to vào micro: 'Tôi ko thể ra ngoài để thấy đạn bắn từ hướng nào! Hãy phản pháo càng nhanh cang tốt!
Vào lúc này phía nam của trung tâm hành quân TĐ đã bốc cháy từ bên trong sau khi một túi chất đã làm cháy một thùng lựu đạn lân tinh trắng. Tuy vậy trung tá Doyle vẫn ko rời bỏ vị trí. Sau khi ra lịnh cho Gutosky dùng máy gọi trực thăng võ trang và máy bay thả hỏa châu, vị trung tá bị thương này nói, 'Tôi sẽ ra ngoài để biết tình hình thế nào!'
Doyle đã ko biết rằng ông bị thương rất nặng. Ông gần như bị điếc và mù do lựu đạn cay mắt, bị phỏng do lân tinh và chấn động vì tiếng nổ. Những miểng đạn ở tay và chân đã khiến ông nằm viện vài tháng. Tuy nhiên ông đã cố gắng bò đến bậc cao nhứt của lối ra của trung tâm hành quân, nâng M-16 lên và bắt đầu nhắm vào hai tên đặc công bên ngoài trung tâm hành quân -- nhưng tên thứ 3, mà ông ko thấy đã ném một lựu đạn. Lựu đạn rơi xuống chân và nổ trong lúc ông quay mặt vào trong, thổi ông xuống phần phía dưới của lối ra của trung tâm hành quân.
Bây giờ trung tâm hành quân đang cháy. Trung úy Edward McKay,
Saturday, October 7, 2023
Căn cứ hỏa lực Mary Ann bị đánh đặc công.
Chuyển ngữ từ bài: Battle of FSB Mary Ann trên Wikipedia.
========
"Trận đánh tại căn cứ hỏa lực (CCHL) Mary Ann đã xảy ra khi đặc công VC đã tấn công một CCHL Mỹ tại tỉnh Quảng Tín vào sáng sớm ngày 28/3/1971.
CCHL này đã được lập để ngăn chặn sự di chuyển người và võ khí của quân csbv và VC dọc theo Hành Lang K-7 và Đường Mòn Dak Rose (hai nhánh của đường mòn HCM chạy từ Lào tới bờ biển Nam VN). Lúc đầu nó chỉ là một căn cứ tạm bợ, dùng trong một thời gian ngắn rồi dẹp bỏ, nhưng cuối cùng đã trở thành một căn cứ cố định, bảo vệ bởi ít nhứt là một đại đội lục quân Mỹ. Căn cứ được đồn trú bởi 231 lính Mỹ lúc xảy ra trận tấn công.
CCHL này lúc đó được dự trù giao lại cho QLVNCH khi TĐ 1/46 Mỹ dời đến Đà Nẳng. 21 quân nhân của pháo đội B, thuộc pháo binh 22 dã chiến VNCH, với hai đại bác 105 ly, cũng đóng tại đây để yểm trợ các hành quân của VNCH ở phía nam của căn cứ.
BỐI CẢNH VÀ VIỆC XÂY DỰNG CĂN CỨ
"Căn cứ hỏa lực này được lập vào ngày 19/2/1970 bởi một số thành phần của TĐ 1/46 thuộc lữ đoàn 196 bộ binh nhẹ (Light Infantry Brigade). Lúc đó, do ko có ý định dùng trong lâu dài, nên CCHL này đã bị TĐ này đóng cửa khoảng 2 tháng sau đó. Nay do nhu cầu hành quân (HQ), TĐ 1/46 đã mở lại CCHL ngày 27/6. Ghi chú của người dịch: Trong bài này, các từ như căn cứ, viết tắt là CC hay Mary Ann đều ám chỉ CCHL Mary Ann.
Chạy theo hướng tây bắc đông nam, căn cứ (CC) này dài khoảng 500 m, nằm trên một đường đỉnh cao 200 mét, nối liền hai triền đồi (hillside). Ở nơi hẹp nhứt, CC chỉ rộng 75 m, ở hai đầu mút rộng 125 m. Một giao thông hào, sâu tới đầu gối ở một số chỗ và sâu tới thắt lưng ở các chỗ khác, cũng là chu vi phòng thủ của CC; trên đó có 22 bunker hay hầm trú ẩn. Cũng như bất cứ CCHL, phần lớn các hầm trú ẩn được làm từ các container, còn gọi là conex. Ngoài các hầm làm từ conex, CC còn có hơn 30 cấu trúc khác như lều tranh (thatched hut hay hooch), hầm trú ẩn làm từ bao cát hay những mái vòm bằng thép, xem hình). Đầu phía đông nam của CC có BCH của TĐ và BCH của đại đội, cả hai nằm kế một sân bay trực thăng nhỏ. Các phòng ăn tập thể của CC, một trung tâm truyền tin, trạm y tế của TĐ, hầm chứa đạn dược, kho tiếp liệu, và hai vị trí pháo binh cũng nằm ở đầu đông nam của CC. Đầu phía tây bắc của CC có một pháo đội thứ hai với hai khẩu 155 ly, một trung tâm điều khiển pháo binh và BCH của pháo đội. Yên ngựa giữa hai đầu của CC được dùng làm bãi đáp để trực thăng tiếp tế. Những con đường đất chia cắt hai đầu của CC, cũng chạy bên ngoài dây kẽm gai ở hai điểm: điểm ở tây nam chạy ngang sân bắn tới một dòng suối nơi dùng làm điểm nước và điểm ở tây bắc dẫn tới bãi rác.
Chẳng bao lâu sau khi mở cửa lại, CCHL Mary Ann đã bị thăm dò nhiều lần (có 4 lần được ghi nhận giữa tháng 7 và 8/1970) và một tác giả đã nhận định rằng CC này dễ bị quan sát từ các cao điểm quanh CC. Cuộc chạm súng lớn nhứt xảy ra trong khu vực này là trận đánh ngày 13/8, khi đại đội A của TĐ 1/46 đã đụng độ và tràn ngập "có thể là BCH của địch trong khu vực." Sau trận này, ko có hoạt động đáng kể của địch trong khu vực. Sự yên tỉnh này, kết hợp với chu kỳ thay quân ở mọi cấp trong các đv Mỹ (từ người lính trơn đến TĐ trưởng), đã khiến viên TĐ trưởng sắp mãn nhiệm kỳ đã gọi đó là tư duy "hết sức tự mãn".
TÌNH HÌNH TRƯỚC CUỘC TẤN CÔNG.
Lúc xảy ra trận đánh, CCHL Mary Ann được trấn giữ bởi đại đội C của TĐ 1/46, quân số 75 người chỉ huy bởi đại úy Richard Knight. Ngoài ra còn có 18 người thuộc trung đội trinh sát của đại đội E có mặt ở CC để hành quân vào ngày kế; chưa kể 34 người lính như y tá, nhân viên truyền tin, v.v.. thuộc BCH và đại đội chỉ huy của TĐ 1/46. Thông thường, một TĐ có 3 hay 4 đại đội tác chiến, một đại đội chỉ huy và BCH TĐ -- người dịch. Trừ một đv pháo binh VNCH cũng ở trong CC, trong CC còn có lính thuộc các đại đội A, B, và D của TĐ 1/46, chờ ra đại đội hay về hậu cứ của TĐ (22 người); và một số lính pháo binh, bao gồm xạ thủ của một khẩu đội đại liên 12.7 ly 4 nòng thuộc pháo đội G, thuộc trung đoàn 55 pháo binh phòng không. Theo một nguồn tin, những máy radar mặt đất và kính nhìn đêm (StarLight) đã "được gửi về hậu cứ của TĐ để bảo trì". Tuy nhiên trong CC vẫn còn những đầu dò hay máy cảm biến (sensor) để phát hiện chuyển động "trong tầm từ 1.500 m đến 4.800 m từ chu vi phòng thủ". Sau khi CC được mở lại, trong giai đoạn đầu, các máy cảm biến đã ghi nhận chuyển động, nhưng sau đó đã ko ghi nhận bất cứ chuyển động.
Đại đội C là đại đội duy nhứt khá đủ quân số tại CC này sẽ hành quân ở đông và nam của căn cứ gần một địa điểm có tên Bãi Đáp Mildred. Các đại đội A và B của TĐ 1/46 đã có mặt tại khu vực hành quân này, và một số đại bác hay súng cối trước đây ở CC đã được di chuyển đến Bãi Đáp Mildred để hỗ trợ các cuộc hành quân ở đó (bao gồm những súng cối 81 ly đi với hai đại đội này và khẩu cối 4.2-in hay 106.68 ly thuộc đại đội E). Trước cuộc tấn công, TĐ trưởng của 1/46, trung tá Doyle, đã chú ý nhiều hơn vào các cuộc hành quân gần Bãi Đáp Mildred. Nói rõ hơn, BCH của TĐ sẽ dự trù chuyển về đây ngày 28/3. Các dự tính này đã khiến ngừng lại mọi xây dựng mới ở CCHL Mary Ann, bao gồm việc dựng rào để khóa lại mọi con đường đi ra khỏi CC.
Có nhiều chỉ dấu cho thấy việc cảnh giác ở Mary Ann ko được tốt như yêu cầu. Một thành viên của đại đội chỉ huy của 1/46 sau này kể lại "Tôi ko nghĩ đại úy Knight đã ý thức rằng an ninh lỏng lẻo (lax) như thế nào ... vì ông đã ko sốt sắng. Ông đã giao việc kiểm tra phòng tuyến cho các trung úy và trung sĩ của ông. Trong nhiều trường hợp, những người này cũng ko làm việc đó, và sai lầm này còn gia tăng khi đại đội C thiếu quân số nên ko đủ người có mặt tại các bunker trên phòng tuyến. Đây chưa phải là lỗi lầm duy nhứt. Các mìn chiếu sáng (tripflare) gắn trên hàng rào kẻm gai thả rối (concertina wire) bao quanh CC đã luôn luôn ko được điều chỉnh lại hay thay thế, việc này thường xảy ra sau khi nó bị kích hoạt -- tạo ra bởi gió mạnh của cánh quạt trực thăng của CH-47 khi những chiếc này mang đồ tiếp tế hay đưa đi các cơ giới vì TĐ 1/46 sắp giao CC này cho QLVNCH. Thái độ chểnh mản này, cộng với khéo léo của các đặc công cs, đã dẫn đến hậu quả làm chết nhiều người của đại đội C. Dù ko "núp mình trong các bunker của họ", những lính phòng thủ đã ko chuẩn bị cho một tấn công của bộ binh. Sự thiếu chuẩn bị này đã ko được ghi nhận bởi đại tá William Hathaway, tư lịnh của lữ đoàn 196, khi ông thăm CC vào ngày 27/3, một ngày trước thảm họa này. Sau này ông đã nói rằng điều mà ông đã thấy ở Mary Ann ngày đó "là một cải tiến nhiều hơn so với lúc trước...lính tráng đều cảnh giác."
TRẬN ĐÁNH
Trong những giờ trước bình minh của ngày 28/3 những người lính của TĐ 409 đặc công VC đã áp sát hàng rào kẽm gai của CC và vào vị trí để chuẩn bị tấn công. Người ta ko rõ con số chính xác của số đặc công tham dự, nhưng phần lớn các nguồn tin đồng ý rằng ít nhứt là 50 người. Theo thông lệ của những đv này, họ đã mặc quần cụt bằng vải kaki và bôi nhọ nồi (soot) lên mặt và mang theo AK-47 hay B-40 và túi chất nổ và lựu đạn để tấn công các bunker của lính Mỹ. Do tính chất của nhiệm vụ, họ ít khi mang vũ khí hay trang bị nặng. Ban tình báo của lữ đoàn 196 bộ binh đã biết về TĐ 409 này, nhưng trước giờ họ chỉ hoạt động chống lại các căn cứ VNCH tại bắc tỉnh Quảng Tín. Ban tình báo đã cho rằng hai TĐ 402 và 409 đặc công đang ở phía đông của CCHL Mary Ann, để chuẩn bị tấn công các mục tiêu VNCH trong vùng. Không ai đoán trước một tấn công vào CC này. Nói thêm: Theo một tác giả, các đặc công của TĐ 509 rất thành thạo trong công việc. Với AK-47 đeo sau lưng, lựu đạn ở thắt lưng và các túi chất nổ buộc ở ngực, họ ko mặc gì hết ngoài quần cụt và mặt bôi đen bằng nhọ nồi. Họ đã bò trong im lặng, chậm chạp và đều đều xuyên qua rừng, dùng đầu móng tay để thăm dò. Khi họ phát hiện lựu đạn chiếu sáng, họ dùng một đoạn (length) lạt tre, ngậm sẵn trong miệng, để cột chặt chốt (striker) của lựu đạn. Nếu họ cảm thấy dây dẫn đến mìn Claymore, họ dùng kéo cắt dây này. Họ cẩn thận chỉ cắt 2/3 của sợi dây xuyên qua các cuộn của kẽm gai thả rối, rồi dùng ngón tay để bẻ phần còn lại của sợi dây một cách yên lặng và ko làm rung cuộn dây kẻm gai thả rối -- người dịch.
Bọn đặc công đã tiến quân vào cạnh phía nam của CC vì thế đất ở đó ko dốc lắm. Cạnh phía đông bắc rất dốc và đổ xuống một con sông, ko thuận lợi cho một tấn công bằng đặc công. Họ đã di chuyển theo toán nhỏ từ 3 đến 6 người, mở được 4 lối đi xuyên hai lớp kẽm gai thả rối ngoài cùng của CC. Nói thêm: kẽm gai thả rối còn được gọi là kẽm gai concertina vì được sản xuất thành cuộn lớn và có thể kéo giãn ra như đờn concertina (phong cầm) -- người dịch. Họ đã tốn nhiều thì giờ hơn để đi qua lớp thứ ba, cách tuyến phòng thủ khoảng 20 m, rồi sau đó tản ra dọc theo cạnh tây nam của phòng tuyến. Theo nguyên tắc chiến đấu của đặc công, họ chỉ bắt đầu tấn công khi súng cối mở màn trận đánh. Viên cối đầu tiên rơi xuống lúc 0230 g.
Một khi xuyên qua hàng rào kẽm gai, đặc công chia nhau tới các mục tiêu quan trọng: pháo binh, hầm trú ẩn dùng làm trung tâm hành quân hay BTOC của TĐ, BCH của đại đội, và nhiều bunker nằm trên phòng tuyến hay chu vi phòng thủ. Trong trận đánh này, họ đã dùng lựu đạn cay mắt hay đạn cối thông thường có trộn hóa chất cay mắt.
Cuộc tấn công vào bunker (dùng làm trung tâm hành quân TĐ) đã rất dễ dàng do trung tá tiểu đoàn trưởng Doyle ko cắt cử người đứng gác trước các cửa (đây là một vi phạm vào chính sách của lữ đoàn). Đặc công đã dùng hơi cay và túi chất nổ để tấn công bunker này khoảng 0244 g vì lúc đó một hiệu thính viên ở đó đã báo với trung tâm điều khiển hỏa lực/FDC rằng CC bị pháo bằng cối và ghi vào sổ; và điều này đã làm gián đoạn hệ thống chỉ huy của CC. Cùng khoảng thời gian đó, người hiệu thính viên này đã yêu cầu đạn chiếu sáng từ các pháo đội gần đó, nhưng lại ko nói rõ rằng CC đang bị tấn công. Cửa phía nam của trung tâm hành quân đã bị cháy vào lúc đó, do một túi chất nổ đã làm cháy một thùng lựu đạn lân tinh để gần cửa này. (Điều này chứng tỏ trung tâm hành quân của TĐ có nhiều cửa để dễ dàng thoát hiểm -- người dịch).
Đặc công đã di chuyển khắp CC từ nam đến bắc, trong khi tấn công các bunker và vị trí súng với lựu đạn và túi chất nổ. Cuộc tấn công bằng bộ binh này kéo dài khoảng nửa giờ, theo một nguồn tin. Sau khi được xác nhận vào lúc 0250g, trung tá Doyle đã yêu cầu pháo binh bắn quanh CC, một máy bay thả hỏa châu, và các gunship. Ông cũng gọi trực thăng tải thương. Pháo binh ở các CCHL gần đó như Đồi Hawk, bãi đáp Mildred và Pleasantville đã nhanh chóng bắt đầu bắn đạn chiếu sáng và phản pháo, nhưng đã có "trì hoãn đáng kể" khi bắn yểm trợ dự phòng chung quanh CC. Vì một pháo đội đã ko thể bắn yểm trợ dự phòng chung quanh Mary Ann, do TĐ dự định di chuyển về bãi đáp Mildred, trong khi đó sĩ quan pháo binh ở CCHL Pleasantville trì hoản tác xạ do tình hình ở Mary Ann ko rõ ràng. Lối đánh của đặc công đã khiến pháo binh ở Mary Ann ko thể tác xạ dự phòng mà chỉ lo bảo vệ vị trí pháo của họ.
Nói thêm về phản pháo:
Radar AN/MPQ-4 là một radar chống pháo kích của lục quân Mỹ lúc đầu được dùng để tìm vị trí của súng cối và đại bác. Được xử dụng từ 1958, có thể xác định vị trí của súng cối trong chưa tới 20 giây sau khi quan sát một đường đạn, trong khi loại MPQ-10 cũ hơn phải chờ địch bắn thêm vài phát và phải cần 4-5 phút để phản xạ. MPQ-4 được dùng tới cuối thập niên 1970 cho tới khi được thay thế bởi AN/TPQ-36 -- người dịch.
Không như nhiều hầm trú làm từ conex, trung tâm hành quân của TĐ là một kết cấu bằng gỗ và chống dột bằng nhựa đường (tar), do vậy nó đã cháy rất nhanh. Sau khi gọi pháo yểm, khoảng 0251 g trung tá Doyle, đã quyết định rời bỏ chỗ này và dời về trạm y tế. Trước khi di chuyển các máy truyền tin, đại úy Paul Spilberg đã gọi pháo binh "tác xạ cách xa vị trí chúng tôi 50 mét, ba trăm sáu chục độ." Một khi các máy truyền tin được thiết lập ở trạm y tế, ông và Doyle đã biết rằng BCH của đại đội C, trước đây được dự phòng làm BCH TĐ, đã bị trúng đạn cối và phá hủy một phần.
Dọc theo chu vi phòng thủ, phần lớn lính tráng đã núp trong các bunker làm bằng conex khi cối bắt đầu rơi. Điều này đã giúp đặc công nhanh chóng đến gần mà ko bị bắn trả, và trong nhiều trường hợp chúng đã đi xuyên qua phòng tuyến trước khi lính Mỹ từ hầm của họ chạy ra phòng tuyến. Người đầu tiên báo cáo đã thấy đặc công khi ấy y đang ngủ trên nóc của bunker, nhưng chỉ nhận thấy khi chúng đã "ở 2/3 của con đường ra phòng tuyến." Nhiều thương vong của TĐ 1/46 đã xảy ra trong lúc này và tập trung vào những đv ở dọc sườn đồi thoai thải của CC. Trung đội 1 của đại đội C, chiếm giữ các bunker số 15-19 ở sườn đồi dốc của CC, đã gần như ko chạm súng gì hết trong giai đoạn đầu của cuộc tấn công. Ngược lại, trung đội 2 ở khu vực phía nam có 10 người chết và 11 bị thương trước khi Doyle và Spilberg chuyển tới bunker CH của đại đội C.
Trung đội 3 của đại đội C, giữ phòng tuyến từ bunker 9-13, cũng bị thiệt hại nặng. Trung đội trưởng, thiếu úy Barry McGee, đã chết khi cận chiến với đặc công, và những toán đặc công đi xuyên qua khu vực này để tấn công vị trí đại bác 155 ly nằm trên cao điểm ở phía tây bắc và đv tiếp vận nằm gần sân bay trực thăng chánh dùng để tiếp tế. Đặc công đã phá hủy nhiều cấu trúc gần sân bay trực thăng này, giết và làm bị thương một số lính thuộc BCH của TĐ.
Sau cơn sốc đầu tiên do bị tấn công, một số lính đã bắt đầu phản công. Chẳng bao lâu sau khi Doyle và Spilberg tới bunker, đã hư hỏng một phần của BCH đại đội C, khẩu 12.7 bốn nòng của CC đã bắt đầu bắn xuống đồi và thung lũng - và bắn thẳng vào sườn đối diện. Các xạ thủ của khẩu này đã tiếp tục bắn tới rạng đông, khi 4 nòng đã cháy đỏ (burn out). Spilberg cũng đã bắt đầu gom góp những kẻ sống sót gần BCH và trạm y tế, di chuyển người chết và bị thương và lập phòng tuyến tạm thời.
Dù pháo binh đã bắn để bảo vệ Mary Ann từ khi tin tức CC bị tấn công tới BCH của lữ đoàn, mãi tới 0325 g, máy bay mới xuất hiện bên trên CC. Một trực thăng loại Night Hawk của chi đoàn 1/1 Thiết kỵ, theo sau là một trực thăng thả hỏa châu và cấp cứu nếu chiếc Night Hawk lâm nạn, đã có mặt phía trên CC để tác xạ sườn đồi phía đông nam. Do sắp hết xăng, đại úy phi công Norman Hayes, buộc phải về Chu Lai và được biết chiếc gunship và trực thăng tải thương mà ông đã yêu cầu lúc đang yểm trợ cho CC, vẫn chưa rời Chu Lai.
Do trục trặc về truyền tin nên lữ đoàn và sđ vẫn nghĩ rằng CCHL Mary Ann chỉ bị pháo kích mà thôi, nên nhu cầu không yểm ko quan trọng. Trong khi Hayes đang tiếp xăng, chỉ có một chiếc UH-1 thuộc đại đội A của TĐ 123 không vận ở phía trên căn cứ. Chiếc này đã yễm trợ bằng đại liên 60 và lựu đạn, và trước khi rời vùng để tiếp xăng, đã đáp xuống một sân bay nhỏ và bốc 6 hay 7 người bị thương nặng và đưa họ về Chu Lai.
Các đặc công đã bắt đầu rút lui khi lữ đoàn trưởng, đại tá Hathaway, đáp trực thăng xuống Mary Ann. Người bị thương được di tản liên tục từ lúc này, các trực thăng võ trang bắn xuống bên ngoài phòng tuyến. Hathaway chỉ là người đầu tiên trong số các sĩ quan cao cấp đến Mary Ann vì khoảng 0700, thiếu tướng James Baldwin, tư lịnh sđ, đã tới để đánh giá thiệt hại. Lúc 0900g, TĐ phó đã đến để thế Doyle, và lúc 1100g, đại đội D đã đến để thế đại đội C để canh giữ CCHL. Lúc 1600 g, quân csbv đã bắn đại liên 12.7 ly làm bị thương một lính Mỹ, nhắc nhở quân Mỹ rằng họ đang bị theo dỏi.






.png)
%20(1).jpg)
.jpg)

.png)


.jpg)
