Wednesday, September 20, 2023

 Viết "Lời Ai Điếu", Lê Phú Khải vén tấm màn nhung của triều đình bí hiểm...

Đăng bởi Elvis Ất on Friday, June 23, 2017 | 23.6.17

Vũ Thư Hiên: Tôi hân hạnh giới thiệu với các bạn bài viết nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam của tác giả Thái Văn. Bài điểm sách Lời Ai Điếu của Lê Phú Khải dài, tôi xin trích vài đoạn để các bạn làm quen trước khi gặp toàn văn. Bài này là do một bạn đọc đáng tin cậy chuyển cho tôi, không ghi nguồn, tôi xin phép đưa lên đây với lời cáo lỗi cùng tác giả.

Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”. 

"…Cũng có người nhận xét, Lời ai điếu là cuốn hồi ký của những phác thảo chân dung chính khách cộm cán trên chính trường từ khi Chủ nghĩa Cộng sản thắng thế trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Khi giành được thắng lợi, những người Cộng sản cai trị đất nước theo cách riêng của mình. Thành phần lãnh đạo được chọn lọc rất kỹ qua sự sàng lọc khắt khe của Ban Tổ chức Trung ương mà thành phần giai cấp là tiêu chí quan trọng nhất. Cho nền, hầu hết những nhà lãnh đạo đều là những kẻ vô học và cơ hội, thậm chí có nguồn gốc lưu manh trong các băng đảng tội pham, bị tù tội, được các đảng viên Cộng sản “giác ngộ”. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng lộng quyền, tham nhũng, tha hóa nhân cách. Tuy nhiên, với người Cộng sản, lừa bịp, dối trá lại là “nghệ thuật” lãnh đạo. Họ thường dùng tấm màn đỏ che giấu sự nhếch nhác, hủ bại nhằm giữ thể diện trước nhân dân và cộng đồng thế giới. Lê Phú Khải làm ngược lại. Ông tìm mọi cách tháo gỡ tấm màn lòe loẹt ấy, phơi bày trước bàn dân thiên hạ mặt thật của những kẻ đạo đức giả, vừa ngu dốt vừa kiêu ngạo, lúc nào cũng coi mình là trung tâm vũ trụ.

Chân dung đầu tiên mà tác giả khắc họa là Trần Quốc Hoàn. Ngày nay, một số người lầm lẫn vẫn coi Trần Quốc Hoàn là “nhà cách mạng”, nhưng bộ mặt thật của ngài ủy viên Bộ Chính trị, đứng đầu ngành công an suốt 28 năm liền thì không phải ai cũng biết nếu không có tướng Lê Hữu Qua nhiều lần kể cho cháu mình nghe về chuyện “thâm cung bí sử”. Tác giả viết: “Gộp những gì tướng Qua nhắc đến thì đây là một ông quan liêu nặng, dốt nát nhưng hay khoe mẽ, ích kỷ và dối trá, thích cấp dưới tâng bốc mình, ghét người trung thực, đặc biệt là trí thức. Ông đã loại bỏ trí thức ra khỏi guồng máy công an. Vợ ông là một người tham lam vô độ, cái gì vơ được là vơ… Chưa bao giờ tôi thấy tướng Qua gọi tên hay chức vụ bộ trưởng đối với Trần Quốc Hoàn. Ông gọi vị bộ trưởng này bằng tên H. lưu manh”. Ở một đoạn khác, Lê Phú Khải nhắc lại lời tướng Qua: “Tên H lưu manh này chỉ biết hắn thôi. Sau ngày giải phóng Thủ đô, hắn chiếm ngay ngôi biệt thự này. Tất cả cán bộ cao cấp khác, hắn bắt ở trong cơ quan với lý do bảo vệ cán bộ”. Trong khi ấy, tướng Lê Hữu Qua, người hùng của chế độ, từng lại xe đưa cụ Hồ thoát khỏi sự truy đuổi của quân Tàu Tưởng, được cử đi bảo vệ cho Phạm Văn Đồng ở Hội nghị Genève năm 1954, chỉ bởi trực tính mà bị cho về hưu sớm. Tác giả kể về ông chú mình: “Cả một đời ngang dọc, đánh đông dẹp bắc chiến tích đầy mình mà đến cuối đời chú tôi vẫn phải ở trong căn nhà “như cái chuồng chó” ấy thật là bất công. Bây giờ, mỗi khi vô một căn nhà, chủ nhân chỉ là viên sỹ quan cấp tá thôi nhưng nhà họ nguy nga như một lâu đài. Tôi mới ngẫm ra rằng, như một nhà hiền triết đã nói: Nghĩ ra một chủ nghĩa bao giờ cũng là các bậc thiên tài. Thực hiện cái chủ nghĩa đó bao giờ cũng là những người cuồng tín và hưởng thành quả của chủ nghĩa đó thì bao giờ cũng là bọn lưu manh”. 

Tướng Qua còn nói về thói ích kỷ, sự dối trá và nhất là sợ chết của Trần Quốc Hoàn. Dưới gầm bàn làm việc, ông ta cho xây căn hầm: “Chỉ cần bấm nút một cái là cả bàn giấy của H thụt xuống hầm sâu. Căn hầm có thể tránh được bom nguyên tử. Bên phố Yết Kiêu gần đấy, dưới đất là cả một căn hầm rộng mênh mông. Tên H rất sợ chết, chỉ lo bảo toàn tính mạng cho riêng hắn”.

Bộ trưởng như thế, đương nhiên các thứ trưởng và đám thuộc hạ phải được chọn theo ê kíp. Cục trưởng Hoàng Mai và Lê Quốc Thân chính là sản phẩm của vị bộ trưởng có thời kỳ cầm cờ đám ma và hành nghề lưu manh trên đường phố Hà Nội. Vẫn theo lời kể tướng Qua, phe cánh của Cảnh Con (biệt danh của Trần Quốc Hoàn) thường xuyên gây áp lực đến mức hàng loạt cán bộ cao cấp bị đẩy khỏi ngành: “Ở ngành an ninh Việt Nam, sau khi Lê Giản chuyển sang ngành Tư pháp – Tòa án, lần lượt các vị “lão tướng trung thần” như Nguyễn Tạo, Lê Tuấn Thức đều ra đi. Ông Nguyễn Tạo sang làm Tổng cục trưởng Tổng cục lâm nghiệp, Lê Tuấn Thức sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng cục Lâm nghiệp… vì không thể ở lại ngành dưới triều đại của Trần Quốc Hoàn”. 

Trần Quốc Hoàn là nhân vật nổi tiếng với những thành tích bất hảo ngay từ thời kỳ đầu lãnh đạo ngành công an, là nhân vật chính trong kế hoạch thủ tiêu người tình của ông Hồ Chí Minh, nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam không hiểu vì lý do gì lại im lặng. Về vụ thảm án này, Lê Phú Khải viết: “Được biết về vụ án cô Nông Thị Xuân năm 1957. Trước đó Trần Quốc Hoàn đã hiếp dâm cô Nông Thị Xuân ở số nhà 66 phố Hàng Bông Nhuộm rồi lập mưu giết hại cô như thế nào?

Trong cuốn Đêm giữa ban ngày nhà văn Vũ Thư Hiên cũng viết trên giấy trắng mực đen vụ án kinh tởm ấy. Vũ Thư Hiên còn nói rõ trong Đêm giữa ban ngày là, cán bộ từ cấp vụ trở lên ở Bộ Công An đều biết vụ án này. Vì thế, tướng Qua mới luôn gọi Trần Quốc Hoàn là “thằng H lưu manh” khi nói chuyện với tôi. Còn nhà văn XĐ quê ở Nghệ An thì nói với tôi rằng, nếu giết hết được cả làng tôi thì thằng Hoàn nó cũng giết, vì cả làng đều biết nó là thằng ăn cắp ở chợ làng trước kia!”. 

Từ những câu chuyện mang bóng dáng “một nửa sự thật” không ghi trong chính sử ông trùm công an Cộng sản, tác giả liên hệ đến những phát ngôn ấn tượng của nhà văn Dương Thu Hương: “Cần có cách mạng để quét đi những rác rưởi, và cần có tự do để quét đi những rác rưởi mà một cuộc cách mạng đã sinh ra! Chỉ tiếc là, rác rưởi mà một cuộc cách mạng vô sản đã sinh ra lại nhiều hơn cả rác rưởi mà nó định quét đi, vì thế mà tướng Trần Độ đã viết trong Nhật ký rồng rắn của mình rằng: Tôi đi làm cách mạng để xóa đi một xã hội xấu xa, nhưng xã hội hiện nay lại xấu bằng và xấu hơn cái xã hội mà chúng tôi đã xóa đi!”.

Một nhân vật cao cấp khác được tướng Qua nhắc đến là Phạm Văn Đồng, người có thâm niên 32 năm làm Thủ tướng Chính phủ “nhưng không làm gì” như bài vè dân gian thời ấy giễu nhại. Nghe Lê Phú Khải kể lại những chi tiết dưới đây, khiến ai cũng phải giật mình, bởi một chính khách vô tích sự như vậy đứng đầu nội các, mà guồng máy xã hội vẫn hoạt động bình thường thật là sự lạ: “Dưới mắt tướng Qua thì Phạm Văn Đồng là con người chủ quan, bốc đồng và rất vô tích sự. Ông kể: vừa mới giải phóng thủ đô, tôi phải bảo vệ cuộc họp quan trọng của đại diện Cộng Hòa Pháp với chính phủ ta. Tôi phải đích thân lái xe đến chỗ Sainteny để chở hắn sang họp với Phạm Văn Đồng… Cuộc họp kết thúc, Sainteny chưa bước ra khỏi phòng họp thì đã thấy tiếng cười lớn Ha! Ha! Ha! của Phạm Văn Đồng rồi tất cả cười theo. Thấy thế Sainteny quay ngoắt lại, có vẻ rất ngạc nhiên và khó chịu. Sau khi đưa Sainteny về rồi, tôi quay lại hỏi ông Lê Thanh Nghị… ông Nghị cười nói: Sainteny sau cùng có đề nghị ta, nếu chính phủ Việt Nam có cần giúp đỡ, bồi hoàn chiến tranh của chính phủ Pháp thì xin các ông cứ đề đạt, tôi sẽ là người tích cực trong công việc này… Nghe Sainteny nói, anh Đồng không trả lời, khi y quay ra thì anh Đồng nói: Mới đánh cho thua vãi cứt mà đã lên mặt! Rồi anh ấy cười lớn, mọi người cười theo!”. Kể xong câu chuyện trên, tướng Qua hạ một câu: “Phạm Văn Đồng là thế đó, chỉ làm hại đất nước”.

Tuy nhiên những chuyện trên mới chỉ là một phần sự thật. Còn một sự thật động trời nữa là, quốc dân đồng bào không thể ngờ, vị Thủ tướng “đáng kính” của mình là tay nghiện thuốc phiện và chơi gái có hạng. Ở các nước tư bản “giãy chết”, các chính khách vướng vào vụ scandal động trời như vậy, cầm chắc là phải hầu tòa hay chí ít ra cũng phải từ chức về “đuổi gà cho vợ”, nhưng ở ta, đây cũng là “bí mật quốc gia”, luôn được giấu kín như mèo giấu… của! Chuyện này cũng do tướng Qua kể, tác giả ghi lại: “Lần này thì chính ông ta gọi tôi lên để trình bày về cái vụ thế giới nó chỉ trích ta về nhân quyền trong vụ bắt tù nhân là tướng lĩnh sỹ quan Sài Gòn đi cải tạo vô kỳ hạn sau 1975. Với tư cách Cục trưởng Cục Trại giam, tôi phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ để còn biết đường mà trả lời các cuộc phỏng vấn của báo chí Phương Tây. Tôi chuẩn bị khá kỹ tài liệu để báo cáo. Gặp tôi, ông ta không thèm hỏi han một câu nào, chỉ ra hiệu, anh nói đi! Tôi vừa báo cáo được vài câu thì đã thấy ông ta ngủ gật. Tôi phải vờ đặt cái tay xuống bàn thật mạnh để ông ta tỉnh dậy. Tôi lại báo cáo, ông ta lại ngủ gật. Lúc tỉnh dậy, ông nói, anh báo cáo lại đi tôi nghe chưa rõ. Tôi đứng dậy và nói thẳng vào mặt ông ta, anh có nghe đâu mà rõ… sau đó tôi quay gót về luôn. Ông ta cũng không nói gì cả. Chắc là để ngủ tiếp! Sau này tôi được nghe nhà báo TĐ ở báo Nhân Dân kể, Phạm Văn Đồng chuyên hút thuốc phiện và chơi đĩ do Lê Đức Thọ cung cấp, vì thế hai cái môi thâm sì. Và Lê Đức Thọ bảo sao thì phải nghe vậy, không thì cắt nguồn thuốc phiện và gái! Tôi tin lời anh TĐ vì suy ra, người hút thuốc phiện hay ngủ gật, và điều tướng Qua nói là hoàn toàn đúng về cái sự ngủ gật của ông Thủ tướng lâu năm này. Chả có thế mà đã thành bài vè trong dân gian: 

Hoan hô ông Phạm Văn Đồng 

Tuy là Thủ tướng nhưng không làm gì!”

Viết về chân dung Phạm Văn Đồng, Lê Phú Khải có nhắc đến chuyện, trong một cuộc hội thảo khoa học năm 1978 về kế hoạch khai hoang 50 vạn héc ta, một đại biểu phụ nữ Nam Bộ đã dũng cảm phản biện rất dữ dội chiến dịch phiêu lưu này, phớt lờ ba lần rung chuông của Phạm Văn Đồng khiến ông ta mất mặt. Sau cái gọi là “giải phóng” năm 1975, Phạm Văn Đồng đi đâu cũng tiền hô hậu ủng đăng đàn chém gió bên cạnh bọn “trí thức công nông” xu nịnh bốc ông ta lên tận mây xanh. 

Nhân một lần đi theo chuyến máy bay chở cá giống vào Nam cùng mấy chuyên viên kỹ thuật của Bộ Thủy sản, Lê Phú Khải suy ngẫm về nền công nghiệp nước nhà: “Cái máy bay như thế mà đã vứt vào nghĩa địa vì nó được bay hết giờ quy định của hãng chế tạo ra nó. Phương Tây là như thế. Tôi nghĩ, 100 năm nữa chưa chắc nước ta đã làm nổi một chiếc máy bay từ A tới Z như cái DC tôi vừa đi. Tôi chưa thấy ai bốc phét như ông Phạm Văn Đồng “đuổi kịp và vượt phương Tây trong vòng mươi, mười lăm, hai mươi năm nữa!”. Một đất nước được lãnh đạo bởi những con người hoang tưởng và lố bịch như thế thì đất nước sẽ đi về đâu? Nhân dân sẽ sống thế nào? Còn đám trí thức kia thì chỉ ngậm miệng ăn tiền mà thôi”.

Nếu Phạm Văn Đồng chỉ là viên thư lại, vô tích sự, thì Lê Duẩn đích thị là vị hoàng đế điều hành đất nước với sự trợ giúp đắc lực của Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ. Qua ngòi bút phóng khoáng của Lê Phú Khải, Lê Duẩn xuất hiện như một nhà độc tài, vô học, cuồng tín và cực kỳ hoang tưởng. Với hàng loạt chính sách phiêu lưu, duy ý chí, từ sau năm 1975, ông ta đã đưa đất nước vào những đợt khủng hoảng triền miên, kinh tế suy thoái, nạn đói hoành hành khiến hàng triệu người phải bỏ đất nước ra đi, tạo nên hiện tượng thuyền nhân (boat people) như một vết nhơ hằn vào lịch sử. Cho dù Lời ai điếu chỉ là một vài nét chấm phá nhưng chân dung tác giả “Quyền làm chủ tập thể” vẫn sừng sững “thi gan cùng tuế nguyệt” chẳng khác gì một “tượng đài nghìn tỷ”, biểu tượng cho sự hổ nhục trong tâm thức dân tộc. 

Không phải ngẫu nhiên mà ngay ở “Lời nói đầu” Lê Phú Khải đã đưa đến cho người đọc một thông tin gây sốc: “Tôi nhớ, vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, khi Tổng Bí thư (TBT) Lê Duẩn vô thăm tỉnh Tiền Giang. Ban Thường vụ tỉnh ủy lúc đó đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy Chín Hải (tức Lê Văn Phẩm), và Chủ tịch tỉnh Sáu Bình (Nguyễn Công Bình) dẫn TBT Lê Duẩn vô thăm vùng Đồng Tháp Mười thuộc địa phận Tiền Giang (90.000 ha). Đứng trước cánh đồng bao la bát ngát của vùng Đồng Tháp Mười, TBT Lê Duẩn chỉ tay về cánh đồng trước mặt, hỏi: 

- Trồng những cây gì thế kia? 

Bí thư Tỉnh ủy Chín Hải lễ phép trả lời: 

-Thưa Tổng Bí thư, đó là rừng tràm ạ. 

Bỗng mọi người sửng sốt khi nghe TBT quát: 

-Ngu! Ngu! Sao không trồng lúa? 

Trước cơn giận dữ của TBT vì sao tỉnh lại không trồng lúa ở Đồng Tháp Mười mà lại trồng tràm… thì mọi người chỉ còn biết chết lặng mà thôi. Ai dám cãi lại? Ai dám cả gan giải thích cho đồng chí TBT rằng, đất Đồng Tháp Mười là đất phèn nặng, chỉ trồng tràm là hợp nhất mà thôi… Khi TBT Lê Duẩn đi rồi, tôi nghe rõ tiếng than của Bí thư Tỉnh ủy Chín Hải: 

-Ông Ba (tức Lê Duẩn) quay cờ rồi (!)”.

Sự kiêu ngạo của nhà lãnh đạo quốc gia thiếu một nền học vấn cơ bản, xuất thân từ nghề bẻ ghi xe lửa được phản ánh khá rõ qua tác phẩm “Quyền làm chủ tập thể” và kế hoạch hoang đường “sắp xếp lại giang sơn” với 500 pháo đài XHCN, khiến giáo sư Tạ Quang Bửu phải thốt lên: “Tôi là một nhà toán học, tiếp xúc nhiều với khái niệm trừu tượng, nhưng tôi chưa thấy cái gì trừu tượng bằng khái niệm làm chủ tập thể”. Nói về việc sáp nhập các tỉnh, các huyện thành đơn vị hành chính lớn của Lê Duẩn gây bao phiền toái cho dân, tác giả nhận xét: “Có xe hơi mà chúng tôi đi từ Lạng Sơn sang Cao Bằng để gặp lãnh đạo Cao Lạng phải toát mồ hôi hột thì nhân dân, cán bộ trong tỉnh miền núi này đi lại vất vả biết nhường nào. Chỉ sau một giấc ngủ, các nhà lãnh đạo trong thể chế toàn trị độc tài hứng chí lên là có thể sáp nhập các tỉnh trong cả nước một cách vô lối và điên rồ như thế…”. 

Các kế hoạch “hoành tráng” đổ vỡ, đời sống bế tắc, xã hội uể oải bởi chính sách cai trị quái đản của những người Cộng sản mất hết lương tri, khiến dân gian lưu truyền nhiều giai thoại độc đáo về ông Đảng trưởng coi trời bằng vung để xả nỗi bực tức. Một trong những tiếu lâm truyền kỳ ấy là, có anh chàng mò đến số 6 Hoàng Diệu xin gặp Tổng Bí thư. “Bảo vệ hỏi: anh quan hệ với TBT như thế nào? Anh chàng kia trả lời: Bạn học cũ! Anh ta liền bị còng tay ngay vì đồng chí Lê Duẩn có đi học bao giờ đâu mà có bạn học!”. 

Đời tư Lê Duẩn cực kỳ phức tạp, và quan hệ tình ái của ông ta cũng khá lăng nhăng, vô trách nhiệm như hầu hết các ông lớn Cộng sản khác. Trong mục “Nguyễn Hà Phan, bi hay hài”, Lê Phú Khải viết lại những gì được nghe từ người em họ Lê Thị Tuyết, Phó Ban Tài chính Trung ương Đảng đã kể: “Khi bà vợ hai của Lê Duẩn báo sẽ ra Bắc, thì lập tức cô phải điều bác sỹ đến khám sức khỏe cho bà cả. Rồi theo kịch bản, bác sỹ la lối lên “sức khỏe chị Cả kém lắm rồi, phải đi Tam Đảo nghỉ ngơi!”. Khi bác sỹ đến khám, có cả hai nữ công an mặc quân phục, đeo súng bên hông rất oai để “bảo vệ” chị Cả đi Tam Đảo an dưỡng… Thấy mình oai quá, chị Cả đi liền. Thế là tối đó, đưa Tổng Bí thư lên biệt thư ở Hồ Tây, chị Hai từ Sài Gòn ra, xuống sân bay là đưa thẳng đến biệt thự! Có lần cô còn tố cáo với vợ tôi: Lê Duẩn tàn độc lắm, có lần ngủ với cô y tá được cử đến để đấm bóp cho ông ta. Sau khi ngủ với cô y tá này, ông ta ra hiệu phải… Cô Tuyết nói nguyên văn với vợ tôi: – Em là phụ nữ, có chồng có con, lại theo đạo Phật, không bao giờ em làm điều thất đức”. 

Nhân cách Lê Duẩn không chỉ như vậy, ông ta còn là thủ phạm gây ra sự biến Mậu Thân tắm máu đồng đội. Tác giả cuốn hồi ký nhận xét: “Tết Mậu Thân là tội ác trời không dung, đất không tha. Biết là lộ, là thua rồi vẫn cứ lùa quân đi vào chỗ chết. Nhiều chiến binh ở Nam Bộ còn sống sót trong Tết Mậu Thân đã kể với tôi, quân ta đi đánh thì máy bay do thám của địch bay trên đầu, địch biết hết nên đánh đợt hai đi 100, về chỉ còn 1, 2…”.

Lê Đức Thọ là nhân vật gian hùng số một của triều đình Cộng sản Việt Nam. Nếu Lê Duẩn là Vua, thì trên thực tế Sáu Búa (biệt danh của Lê Đức Thọ) là Tể tướng chứ không phải Phạm Văn Đồng. Trưởng Ban Tổ chức Trung ương thời kỳ ấy là chức vụ siêu quyền lực. Lê Đức Thọ sử dụng hệ thống mật vụ kiểu KGB giám sát nhất cử nhất động tất cả các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương đến các Bộ trưởng, Thứ trưởng… Đó là một xã hội bị bóp nghẹt dưới sức nặng của chính sách hộ khẩu, chính sách tem phiếu và mạng lưới công an, đặc tình (chỉ điểm) khiến người dân chẳng khác gì những tội đồ trong một trại tập trung khổng lồ. Sáu Thọ như một phù thủy cao tay ấn điều khiển đám âm binh, trong đó có Tổng cục 2, chế tạo ra nhiều vụ án tưởng tượng để thanh toán phe đối lập trong Đảng.

Ngay từ khi ký hiệp định Genève, Lê Đức Thọ cũng như Lê Duẩn đã tỏ ra ghen tức vầng hào quang Điện Biên của tướng Giáp, đến khi hai nhân vật này nắm trọn quyền lực trong tay thì số phận Vainqueur de Dien Bien Phu (người chiến thắng ở Điện Biên Phủ) như báo chí Phương Tây gọi là vô cùng cay nghiệt. Cũng về nhân vật đầy mưu mô xảo quyệt này, tác giả viết: “Theo cách phân loại con người qua ba tiêu chí: thông minh, lương thiện và Cộng sản, mà ông Hà Sĩ Phu nói đến, thì, nếu thông minh mà Cộng sản thì gian hùng như Lê Đức Thọ, nếu lương thiện mà Cộng sản thì bầm dập, nếu thông minh và lương thiện thì không theo Cộng sản”. 

Bàn tay sắt của Sáu Búa cùng với công cụ chuyên chính do Trần Quốc Hoàn nắm giữ đã tiến hành bắt giữ hàng loạt cán bộ trung, cao cấp trong vụ án gọi là “Xét lại chống Đảng năm 1967”. Theo nhà nghiên cứu người Mỹ Sophie Quinn-Judge đã viết trên tờ Journal of Cool War History (Lịch sử chiến tranh lạnh), tháng 11 năm 2005, thì vụ án này có 300 người bị bắt, trong đó có 30 nhân vật cao cấp, tất cả bị giam giữ lâu và không xét xử gì cả, rồi thả dần.

Theo nhận xét của Nguyễn Kiến Giang, một nạn nhân trong chiến dịch thanh trừng này kể lại, thì Lê Đức Thọ, ngay từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước đã có ý định lật đổ Lê Duẩn. Ông kể lại: “Lê Duẩn lên Tổng Bí thư, ông Trường Chinh bảo tôi sang gặp anh Ba Duẩn để xin anh ấy các bài viết, các phát biểu… đem về in thành sách… Ông Duẩn rất cởi mở, đưa tôi một ôm tài liệu, bảo muốn làm gì thì làm… Tôi đọc kỹ thấy ông Duẩn không hiểu gì về chủ nghĩa Marx cả, chỉ có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa… Khi trao đổi với Lê Đức Thọ khi ông vào thăm tôi ở trong tù, tôi có nói ý đó. Thọ bảo tôi viết lại thành tài liệu đưa Thọ. Thọ về rồi, tôi suy nghĩ kỹ. Thọ nham hiểm lắm, muốn lợi dụng tôi để lập hồ sơ về Lê Duẩn, khi cần thì sử dụng. Đó là cách Thọ thường làm. Thì ra Thọ đã có ý lật Lê Duẩn từ đó. Nghĩ thế nên tôi không mắc lừa, không viết gì phê phán Lê Duẩn là dân tộc chủ nghĩa cả!”.

Còn một chuyện khá khôi hài nhưng lại là hiện thực về sự đa nghi đúng chất Tào Tháo của “Ông cố vấn” từng được Giải Nobel hòa bình, vẫn do cô em Lê Thị Tuyết kể với tác giả cuốn hồi ký: “Có lần cô Tuyết kể trực tiếp cho tôi nghe, khi cần vụ của Lê Đức Thọ đem một cái chăn bông đã rách nát đến đổi chăn bông mới, cô nói với chú cần vụ này: Thủ trưởng của câu tiết kiệm quá, chăn rách cả mền, lòi cả bông ra thế này mới chịu đem đổi. Cậu ta cười nói: Tiết kiệm cái con tiều! Tối nào trước lúc đi ngủ ông ta cũng nắn bóp cái chăn đến nửa tiếng đồng hồ, chỉ sợ người ta gài mìn thôi… nên chăn mới rách bươm ra như thế. Tối qua, bông nó xổ ra, bay tứ tung làm ông ấy ho suốt đêm nên sáng nay mới bảo tôi đem đổi!”. 

Trong đời mình, Lê Đức Thọ đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác với dân tộc, hãm hại không biết bao nhiêu người lương thiện, vì thế, sau khi ông ta chết, gia đình các nạn nhân vẫn không quên trả thù bằng cách hàng tuần bí mật đổ phân tươi lên phần mộ. Cuối cùng, gia đình Sáu Búa phải dời mộ từ Mai Dịch về quê.

Là một trí thức có tư tưởng cấp tiến, Lê Phú Khải nhận rõ bản chất của cái gọi là “báo chí cách mạng”. Trước khi bàn sâu về nền báo chí của nhà nước độc tài toàn trị, tác giả kể một chuyện vui nghe như tiếu lâm hiện đại thời bao cấp: “Không hiểu vì lý do gì hay sơ xuất mà trong khi mỗi nhân viên phục vụ ở Quốc hội được phát một phiếu mua hàng, còn ba nhà báo mới được một, nên phải bốc thăm để loại nhau. Một đồng nghiệp của tôi ở TTXVN mới phán một câu xanh rờn: Thì ra ba thằng bồi bút mới bằng một con bồi bàn!”. 

Nghĩ về thân phận nhà báo, Lê Phú Khải viết: “Ở nước ta báo chí chỉ có một thang bậc giá trị là chức vụ hành chính. Và thực chất, các nhà báo của chúng ta là những ông công chức trong cơ quan nhà nước. Họ chỉ có thể tiến thân bằng con đường quan chức báo chí. Vì thế, có thể nói nước ta chưa có báo chí, chưa có “nhà báo” đúng nghĩa vì chỉ có báo quốc doanh. Thậm chí, có nơi chẳng “doanh” gì cả. Họ lấy tiền công quỹ ra để in báo rồi biếu không cũng chẳng ai đọc. Một phóng viên dù tài giỏi đến đâu nếu không có một chức sắc gì trong cơ quan, thì cũng chỉ là nhân viên hạng… chót!”. Cũng bởi đã lăn lộn với nghề báo chí minh họa, hiểu được bản chất của hệ thống tuyên truyền nên tác giả khẳng định, nhà nước có hơn 800 tờ báo, tạp chí và cả trăm đài phát thanh truyền hình nhưng chỉ có một Tổng Biên tập là Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, vì “đảng ta” dứt khoát không chấp nhận báo chí và xuất bản tư nhân. Thế mới có chuyện cười ra nước mắt: “khi chiến sự ở Iraq nổ ra, một tờ báo ở TP HCM năng nổ cử phóng viên thạo tiếng Anh đi Iraq viết tin, bài… thì lập tức bị cấp trên phê phán là chưa báo cáo xin phép!”. Trong khi đó, nữ “phù thủy” Lê Bình, Giám đốc chương trình “Chuyển động 24 giờ”, lại cùng ê kíp cánh hẩu, ngụy tạo bộ phim về chiến sự ở Syria mà nội dung hoàn toàn ăn cắp của các đồng nghiệp người Nga, thì lại được công chiếu trên VTV1!?

Là trí thức có nền học vấn đại học nghiêm túc, có tầm văn hóa dày dặn, lại có chú ruột là tướng công an nhưng Lê Phú Khải không vào đảng, không ham chức tước mà chỉ chỉ muốn làm một nhà báo đúng nghĩa, tự do rong ruổi khắp những dặm dài đất nước. Từ biên chế ở Đài Tiếng nói Việt Nam, tác giả dám “Nam tiến” làm một phóng viên tỉnh lẻ Đồng Bằng Sông Cửu Long, chứng tỏ bản lĩnh đáng nể của kẻ sĩ Hà Thành cùng với đặc tính thích phiêu lưu mạo hiểm của người làm báo có nhân cách. Và cũng chính bởi cuộc “thiên di” bất đắc dĩ theo tinh thần “tự cứu mình trước khi trời cứu” này, Lê Phú Khải đã thành danh. Ông lặn lội khắp hang cùng ngõ hẻm vùng châu thổ sông Cửu Long, dấn thân vào cuộc nhân sinh đầy cam go, kết giao với nhiều bạn bè, hòa đồng được văn hóa Bắc Kỳ với tính cách hào sảng của các Anh Hai Nam Bộ. Và cũng do cơ may ấy, ông viết được hàng chục đầu sách có giá trị về vùng đất phương Nam trù phú, về văn hóa đặc thù Miệt Vườn, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc trong và ngoài nước.

Định cư ở vùng sông nước Nam Bộ, với tư cách là người làm báo ưa phản biện, Lê Phú Khải luôn hy vọng góp một chút công sức vào sự phát triển của đất nước, đồng thời tác động ít nhiều đến bộ óc trì trệ của những nhà lãnh đạo quốc gia bảo thủ, vô cảm và quan liêu. Nhưng rồi ông hoàn toàn thất vọng khi mà những nghịch lý cứ phơi bày ra trước mắt: “Thật là chua chát! Cho đến nay khi Việt Nam đã xuất khẩu gạo vào hàng nhất nhì thế giới, nhưng càng xuất nông dân ĐBSCL càng nghèo và các nhóm lợi ích càng giàu. Người làm ra hạt lúa thì nghèo, kẻ đi buôn gạo được lấy tiền ngân hàng lãi suất thấp đi buôn, buôn độc quyền thì phè phỡn. Tham nhũng thành quốc nạn, lãnh thổ bị gặm dần bởi anh bạn 16 chữ vàng, đất nước đứng bên bờ vực thẳm. Đó là kết quả của đại hội VI, chỉ cải cách kinh tế mà không cải cách chính trị, dẫn đến một nền kinh tế của bọn mafia. Tôi chỉ còn một con đường là cầm bút viết cho báo “lề trái”, viết cho mạng Internet tự do”. 

Nghĩ lại cuộc tranh chấp ruộng đất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long những năm tám mươi, Lê Phú Khải chỉ ra nguyên nhân sâu xa của nó nhưng nhà cầm quyền có thói quen ăn sẵn chỉ giải quyết phần ngọn: “Chính sách hợp tác hóa của Đảng là nguyên nhân của tội ác này. Và nói thật công bằng, giới báo chí cũng phải chịu trách nhiệm về tội ác này vì đã cổ vũ cho phong trào “hợp tác hóa”. Trong những tội ác mà báo chí đã gây ra, có tôi, kẻ viết những dòng chữ này cũng nhúng tay vào tội ác đó. Chính tôi đã viết không biết bao nhiêu tin, bài cho đài cho báo để cổ vũ cho hợp tác hóa vì sự ngu dốt, ngộ nhận của mình”. Tuy nhiên, việc tự “thú tội” với việc thay đổi cách viết để “phục thiện” là cả một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, bởi vì: “… báo chí dưới sự lãnh đạo của Đảng chỉ để ca ngợi, để minh họa đường lối của Đảng, để “đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”. Báo chí không cần dự báo, không được “bôi đen” chính sách của Đảng và không cần đưa cuộc sống vào nghị quyết Đảng”.


Friday, September 15, 2023

 Nhà tình báo Sáu Trí từng được cài vào làm sĩ quan Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm, về sau thoát ly lên chiến khu giữ chức Trưởng Phòng Tình báo của Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Ông nhiều lần "xuất quỷ nhập thần" đột nhập nội thành Sài Gòn để nắm tin tức, xây dựng và củng cố, phát triển mạng lưới tình báo chiến lược…    

thieu tuong tinh bao sau tri va chuyen dot nhap sai gon cuoi cung
Thiếu tướng tình báo Sáu Trí và AHLLVTND Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang)

Hiệu quả suốt 2 cuộc chiến tranh

Nhà tình báo Sáu Trí tên thật Nguyễn Văn Khiêm, sinh trưởng trong một gia đình quan lại, trí thức yêu nước ở Gò Công, Tiền Giang và sớm được giác ngộ, hoạt động cách mạng. Để giữ bí mật, thời chống Pháp, ông đổi tên thành Phạm Duy Hoàng, thời chống Mỹ là Nguyễn Đức Trí và đây cũng là tên gọi quen thuộc của ông về sau này. Cùng với những nhà tình báo lão luyện như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Hoàng Minh Đạo, Trần Văn Danh, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Thành Trung, Đinh Thị Vân, Nguyễn Văn Tàu,… Thiếu tướng Nguyễn Đức Trí đã góp phần xây dựng và chỉ huy một đội quân điệp báo bí mật, hoạt động hiệu quả gần suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Vào cuối tháng 3-1975, Nguyễn Đức Trí đang học ở Học viện Quân sự cao cấp - Hà Nội chợt nhận điện của Thượng tướng - Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái (bí danh Mười Khang) gọi vào Văn phòng Bộ Tổng tham mưu. Tình hình khẩn cấp, Sáu Trí được lệnh phải vượt Trường Sơn trở về Nam. Nếu như trước đây khi ra Bắc học, Sáu Trí cùng Tư Cang (Nguyễn Văn Tàu, Phó Chính ủy Phòng Quân báo miền - J22) phải đi trong tiếng gầm rú của máy bay địch với những đợt bom rải thảm kinh hoàng của B52 hay những chuyến đột kích bất ngờ đường Trường Sơn của phản lực thì ngày về xe chạy bon bon trên đường tráng nhựa, không tiếng máy bay, không tiếng bom đạn.

Về đến Lộc Ninh, Sáu Trí vào cơ quan Đoàn 22 tình báo chiến lược để trình diện và nhờ thông báo với cấp trên là đại tá Trần Văn Danh, tức Ba Trần, đang là Tham mưu phó phụ trách tình báo, đặc công, biệt động của Bộ Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Ba ngày sau, Ba Trần tiếp Sáu Trí và cho biết Cụm Tình báo A20 qua Ba Lễ (tức Nguyễn Văn Lễ, một cán bộ điệp báo có bí danh H3, đang là dân biểu của Hạ nghị viện chế độ Sài Gòn) có xây dựng một cơ sở mới là đại tá Lộc.

Viên đại tá này đang được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu giao nhiệm vụ thành lập và chỉ huy một liên đoàn biệt động quân để tăng cường tuyến phòng thủ Sài Gòn. Đại tá Lộc là đảng viên Tân Đại Việt. Ba Lễ chơi thân với đại tá Lộc lúc sinh hoạt ở Tân Đại Việt. Nhiệm vụ cấp bách của Sáu Trí là vào thẳng Sài Gòn gặp đại tá Lộc, sử dụng ông ta phục vụ cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn.

Sau đó, Sáu Trí quyết định đi gặp H3 - Ba Lễ đang hoạt động ở Sài Gòn. Ông lần xuống Cụm Tình báo H63 ở Phú Hòa Đông, Củ Chi nhờ liên lạc móc Ba Lễ ra ngả cầu Ông Cộ ở Bến Cát.

Đúng ngày giờ hẹn, Ba Lễ đã bí mật đánh xe từ Sài Gòn lên đến nơi. Sau khi cho biết tình hình đại tá Lộc, Ba Lễ đưa ra kế hoạch đón Sáu Trí vào Sài Gòn ngày 26-4-1975 qua ngả cầu Ông Cộ và bảo đảm cho vị chỉ huy tình báo chỗ ăn ở an toàn trong suốt thời gian đột nhập nội thành Sài Gòn. Chia tay Ba Lễ, Sáu Trí vội vàng trở về Bộ Tham mưu miền gặp Ba Trần để báo cáo kế hoạch. Khi dừng ở bến Thanh An, Sáu Trí tranh thủ vào cơ quan Cục 2 tình báo quân sự nhờ bộ phận kỹ thuật làm gấp một giấy căn cước giả của chính quyền Sài Gòn. Người phụ trách bộ phận này là Văn Bảo, đã chụp ảnh Sáu Trí và hẹn sẽ giao căn cước "hợp pháp" vào 6 giờ sau đó.

Thuyết phục đại tá Lộc làm binh biến

Đúng hẹn, xe ông Ba Lễ xuất hiện. Ngồi băng ghế sau cạnh ông là ông Tám Thạnh, một cán bộ hoạt động bí mật. Ở ghế trước là ông Kim Anh, nguyên Trưởng Ty Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn vừa nghỉ hưu. Kim Anh vai cậu của Sáu Trí, vốn rất nể trọng và có nhiều thiện cảm với Sáu Trí. Với bản tính thận trọng và để bảo đảm an toàn chắc chắn, Ba Lễ đã mời Kim Anh cùng đi. Rời cầu Ông Cộ, xe bon bon theo Quốc lộ 13 chạy thẳng về Sài Gòn. Nhờ sự có mặt của ông Kim Anh nên xe qua nhiều trạm gác khỏi phải dừng lại. Đúng 18 giờ ngày 26-4-1975, Sáu Trí có mặt ở Sài Gòn, nghỉ tạm tại nhà riêng dân biểu Ba Lễ trên đường Nguyễn Tri Phương ở Chợ Lớn.

Do dân biểu Nguyễn Văn Lễ từng nhiều lần giúp đỡ đại tá Lộc nên ân nghĩa càng sâu đậm, đại tá Lộc dần thổ lộ những bí mật đời mình. Ông ta vốn là cơ sở bí mật của binh vận quân giải phóng, vì cán bộ binh vận bị bắt nên đứt liên lạc. Ba Lễ đã thuyết phục đại tá Lộc hoạt động trở lại cho tình báo cách mạng.

Theo đúng lời hẹn, ngày 28-4-1975, đại tá Lộc đến nhà riêng Ba Lễ, gặp Sáu Trí. Đại tá Lộc trình bày rằng mình vừa nhận quyết định làm Chỉ huy trưởng Liên đoàn 316 Biệt động quân, một đơn vị cấp chiến đoàn mới thành lập, gom binh sĩ từ các tiểu đoàn biệt động quân lẻ tẻ do các chiến đoàn cũ tan rã. Liên đoàn 316 này bố trí tăng cường phòng thủ tuyến vành đai bên trong Sài Gòn. Sở chỉ huy đặt tại trường đua Phú Thọ. Binh sĩ chia nhau canh giữ từ trường đua Phú Thọ tới ngã tư Bảy Hiền.

Sáu Trí cùng Ba Lễ động viên đại tá Lộc: "Đây là thời điểm lịch sử trọng đại của dân tộc mà mỗi người Việt Nam chúng ta cần góp phần vào. Đại tá hãy phát huy tinh thần yêu nước thương nòi, bằng mọi giá phải nắm chắc Liên đoàn 316 Biệt động quân, làm sụp đổ hệ thống phòng thủ bên trong Sài Gòn, góp phần cùng quân dân ta giải phóng thành phố. Đại tá đừng bỏ lỡ cơ hội ngàn năm có một để phục vụ cho Tổ quốc".

Mờ sáng ngày 29-4-1975, sau khi nghe đại tá Lộc báo cáo tình hình, Sáu Trí chỉ thị cho đại tá Lộc không để Liên đoàn 316 Biệt động quân manh động gây trở ngại cho cánh quân giải phóng tấn công vào hướng ngã tư Bảy Hiền. Nếu được, đại tá nên nắm tập trung một đơn vị cấp tiểu đoàn, hoặc một - hai đại đội, ít nhứt là một hai trung đội làm nòng cốt để khởi nghĩa, binh biến, lôi cuốn chiến đoàn nổ súng đánh sau lưng địch, làm rối loạn hậu phương địch, hỗ trợ cho bước tiến của đại quân ta.

Nhận lệnh của Sáu Trí, đại tá Lộc nhanh chóng quay về tìm cách thực hiện. Ngày hôm sau, khi đại quân ta tiến vào thành phố, Liên đoàn 316 hoàn toàn bị vô hiệu hóa, đã rã ngũ tập thể, vứt súng tại chỗ, bỏ chạy thoát thân. Với thành tích này, đại tá Lộc đã góp phần giúp cho Sài Gòn giải phóng nhanh chóng, trọn vẹn; được Mặt trận Dân tộc giải phóng khu Sài Gòn - Chợ Lớn tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

Chứng nhân thời khắc lịch sử

Khoảng 9 giờ 30 phút sáng 30-4, tại nhà một cơ sở cách mạng (là nghị sĩ Quốc hội của ngụy), ông nghe trên Đài Phát thanh Sài Gòn lời phát biểu của Dương Văn Minh kêu gọi quân đội Sài Gòn buông súng, chấp nhận những điều kiện của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Vài giờ sau, một số đồng chí mời ông vào Dinh Độc Lập để chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh.

Nhằm tránh mọi hành động đáng tiếc xảy ra khi Quân Giải phóng tiến vào tiếp quản Dinh Độc Lập. Ông cùng một số điệp viên khác đã vào Dinh Độc Lập, đến phòng của Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền thì thấy có một bộ phận Quân Giải phóng đã có mặt trong Dinh. Bộ đội ta đòi bắt toàn bộ các nhân vật này làm tù binh.

Sợ anh em vi phạm chính sách của Mặt trận Giải phóng, ông liền gặp và giải thích: Nội các Dương Văn Minh đã chấp thuận theo những điều kiện của ta nên vừa có thông báo đầu hàng trên Đài phát thanh. Lúc đầu, bộ đội không tin vì thấy ông mặc thường phục. Ông đành tự giới thiệu mình là Đại tá Sáu Trí, Sĩ quan Bộ Tham mưu B2 vào Sài Gòn làm công tác đặc biệt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. May sao, đúng lúc đó xuất hiện một sĩ quan thuộc đơn vị thiết giáp, là người bạn học cùng khóa quân sự cấp cao với ông ở Hà Nội…

Sau đó, ông đã gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An-Tư lệnh Quân đoàn 2 -và tham gia bàn việc tiếp quản Dinh Độc Lập. Các ông nhất trí nên có lời công bố chính thức của Quân Giải phóng trên đài phát thanh. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An phân công Sáu Trí soạn thảo gấp. Ông cùng với Tô Văn Cang, Ba Lễ bàn nhau và thống nhất giao cho Tô Văn Cang chấp bút bản thông báo với tựa đề “Thông báo số 1”.

Viết xong, ông đến gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An để thông qua. Ông tế nhị từ chối không đề tên đơn vị mình và đề xuất chỉ nên đề là “Bộ tư lệnh Quân Giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định”. Ông Tô Văn Cang được phân công cùng với ông Giàu lên xe com-măng-ca chạy ra Đài phát thanh. Phải khó nhọc lắm xe của ông mới vào được trong. Ông Cang lên lầu, đọc chậm và rõ bản “Thông báo số 1”. Ông Giàu đọc lại lần hai. Sau đó dặn cứ 5 phút thì lặp lại một lần.

Bản "Thông báo số 1” của Bộ tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định là bản tin chính thức được ta phát trên Đài phát thanh, vài giờ sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh. Những ngày đầu sau giải phóng, ông Sáu Trí được cử làm Phó Chánh Văn phòng Ủy ban Quân quản TP Sài Gòn, sau đó ông được phong quân hàm Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1997 ông Sáu Trí mới nghỉ hưu. Quanh ông lúc nào cũng vui vầy con cháu và sự chăm sóc chu đáo của người vợ hiền những khi trái gió trở trời. Không hổ danh con nhà nòi yêu nước, nhiều người con của ông từng là bộ đội, người đã chuyển ngành, người vẫn đang trong quân ngũ. Người con gái thứ hai từng phụ trách điện đài mật của tình báo ở Sài Gòn phục vụ cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu thân 1968; người con trai thứ tư là sĩ quan Quân đội, tham gia tiểu đoàn trinh sát của tình báo vào giải phóng Sài Gòn; con trai thứ năm, 15 tuổi đã làm liên lạc cho tình báo; con trai thứ sáu (ông lấy tên làm bí danh của mình - Sáu Trí) từng là lính xe tăng chiến đấu ở Campuchia... Trong ngôi nhà giản dị của mình, ông dành một gian trang trọng nhất để trưng bày hình ảnh, kỷ vật truyền thống của gia đình - những hình ảnh, kỷ vật của một đời phục vụ cách mạng.

P.V (Tổng hợp)

 LÊ = 35 = 8

ĐỨC = 463 = 13 = 4

ĐẠT = 414 = 9

 Cố Chuẩn tướng LÝ TÒNG BÁ

LÝ = 31 = 4

TÒNG = 4753 = 19 = 10 = 1

BÁ = 21 = 3

NGUYỄN = 7

CHÍ = 351 = 9

VINH = 6155 = 17 = 8

Cộng lại: 7 9 8 = 24 = cực kỳ may mắn. 

Wednesday, September 13, 2023

SƯ ĐOÀN 23 BỘ BINH RỬA HẬN CHO TÂN CẢNH VÀ DAK TO 2




- Ngay trong những ngày đầu tiên của trận Kontum 1972, sđ 23 bộ binh đã thắng lợi do binh sĩ dùng thuần thục M72, và tìm địch mà đánh -- như dàn quân dọc theo đường tiến quân của đối phương. Ngoài ra, Nam quân đã dùng pháo bắn tập trung vào đường tiến quân này cũng như được yểm trợ kịp thời bởi trực thăng Cobra, trực thăng trang bị phi đạn TOW và đặc biệt là B-52. Trong khi ở Tân Cảnh và Dak To 2, Nam quân trước đó đã co cụm về hai căn cứ này và thụ động chờ địch. Đã vậy binh sĩ ko được huấn luyện kỹ lưỡng về M-72, cũng như lần đầu tiên thấy T-54. "Một đại úy thiết giáp csbv đã viết trong hồi ký, khi đv của y tràn vào trung tâm hành quân của sđ 22, đã ko gặp bất cứ chống cự nào hết" -- Theo cựu tướng Lý Tòng Bá. Theo bài Tân Cảnh Thất Thủ, chỉ có ba T-54 bị bắn bởi máy bay Spectre nhưng một chiếc bị hư nhẹ và được bắc quân lái đi. Có một chiếc xe bồn chỡ xăng bị pháo binh sđ 22 bắn trúng và hai chiếc khác bị phá hủy bởi M-72 do lính của trung đoàn 42. 

- Theo một tướng lãnh csbv, họ đã dùng đại bác phòng không tự hành 57 ly của LX trong trận Dak To - Tân Cảnh. Theo wiki, pháo đặt trên gầm xe của T-54. Xe chỡ 300 viên đạn, tầm hoạt động của xe 420 km/đường tốt, 320 km/đường xấu, tốc độ 50 km/đường tốt, 30 km/đường xấu. 

Sau đây là phần chuyển ngữ từ trang 14 - 22 của chuyên khảo (memograph) đã dùng trong ba bài trước.

. . .

"Không kỵ Mỹ vẫn làm việc ngày đêm sau khi Tân Cảnh thất thủ. Những phi vụ hằng ngày trên chiến địa đã giúp họ phát hiện các đường chuyển quân, kho võ khí, và các hệ thống hầm hào mới tinh. Toán cố vấn ở QK-2 đã bắt đầu dùng một trực thăng chỉ huy và kiểm soát, còn gọi là trực thăng C-n-C (command and control) để các cố vấn cao cấp bay đến những nơi mà họ nghĩ là nơi tập trung quân, v.v... để dựa vào đó mà lập kế hoạch phòng thủ cho Kontum. Ngày 10/5, chuẩn tướng (BG) John Hill, cố vấn phó của QK-2, đã ghé Kontum để họp với đại tá John Truby, cố vấn của đại tá Bá về điều mà ông vừa thấy ở bắc Võ Định. Ông quả quyết khu vực này là một khu tập trung lớn của quân csbv. Một tù binh bị bắt cùng ngày đã xác nhận sđ 320 đã gần khu vực tập trung quân. Tiếp sau đó, B-52 đã oanh kích những vị trí tình nghi.

Sư đoàn 23 đã tiếp tục việc chuẩn bị phòng thủ Kontum. Đại tá Bá đã đích thân đi bộ ra chu vi phòng thủ. Ông đã chỉ trích những vị trí phòng thủ ko đúng cách và cổ võ tinh thần quân nhân các cấp. Một số thân (hull) của xe tăng cũ được đưa ra đồng trống để giúp nhiều người lính có cơ hội bắn hỏa tiển M-72 cũng như nhận sổ tay (companion) trong đó có hình các chiến sĩ VNCH đứng cạnh xe tăng mà họ phá hủy ở An Lộc và Quảng Trị. Mục đích là cho người lính VNCH tin rằng họ có thể bắn cháy chiến xa địch. 

Các cấp chỉ huy đã phối hợp ở những điểm giới hạn (limiting point) và giám sát việc cải thiện ngụy trang. Những lực lượng được dùng làm trừ bị đã thực tập phản công khi phòng tuyến bị chọc thủng -- đây là những đv ở tuyến sau, chỉ xử dụng khi phòng tuyến phía trước bị chọc thủng -- người dịch. Pháo binh của sđ 23 lập hỏa tập dự phòng quanh chu vi phòng thủ. Các đv ĐPQ của tiểu khu được huấn luyện cách gọi pháo binh để cho họ thấy rằng sđ 23 sẵn sàng yểm trợ họ hết mình. Đại tá Bá đã tổ chức những cuộc hành quân hạn chế nhằm dụ đối phương để họ trở thành mồi ngon cho B-52. (He ordered limited operations which fixed the ennemy and developed targets for the B-52 missions).

Ngày 12/5, trung đoàn 44 thuộc sđ 23 đã hoàn tất việc thay thế LĐ 2 BĐQ dọc hai bên QL-14 -- có thể là trục tiến quân của địch. Vị trí của họ ở khoảng 4 km tây bắc tp Kontum. Nói thêm: cựu Trung tá Ngô văn Xuân, từng là trung đoàn phó của 44 trong trận Kontum 1972, hiện ở San Jose -- người dịch). Các chiến sĩ VNCH này rất tự tin (confident) và tin rằng sẽ bắn cháy chiến xa csbv với vũ khí cơ hữu của họ, ý nói M-72. Đại tá Bá còn tự tin hơn khi nghĩ rằng sđ 23 của ông đã sẵn sàng đánh địch. Lúc 0700 giờ ngày 13/5, nhờ nghe lén các mật điện, quân đồng minh đã biết sđ 320 csbv đã ở giai đoạn cuối của việc chuẩn bị tại khu vực tập trung, điều này đúng với những báo cáo của không kỵ Mỹ về một tập trung về thiết giáp và bộ binh ở kế phía nam của Võ Định. 

Đối phương đã dự định càng đánh sớm càng tốt vì họ nghĩ rằng B-52 sẽ tấn công họ nếu họ đóng quân lâu dài ở tuyến xuất phát. Vann thì nghi ngờ về một tấn công lớn sắp xảy ra vì ko thấy đối phương dùng pháo bắn vào các vị trí của sđ 23 để mở đường. Dù có những cuộc chạm súng rải rác, nhưng kiểu dùng pháo binh bắn ồ ạt để phá nát phòng tuyến VNCH ở Tân Cảnh và các CCHL thì chưa xảy ra. Lúc 2230 giờ cùng ngày, một TĐ của trung đoàn 44 ở CCHL November báo cáo nhiều đèn sáng di chuyển về phía nam trên QL-14 hướng về vị trí của họ. Tin này lúc đầu ko gây báo động cho đến khi người ta nhận ra rằng chiến xa csbv ko quen hoạt động ban đêm nên trước đó họ đã mở đèn khi tấn công các vị trí ở Tân Cảnh. Một lát sau đó, đại tá Bá đã bước vào trung tâm hành quân (TTHQ) sư đoàn với một mật điện -- được gửi từ chỉ huy pháo binh của sđ 320 csbv đến một đv của y. Lịnh này viết rằng pháo binh sẽ nổ súng lúc 0400 giờ ngày 14/5 để hỗ trợ cuộc tấn công của sđ 320. Đại tá Truby, cố vấn của Bá, báo ngay cho Vann và phòng 3 QK. Vann đã tin rằng tốt hơn là nên chuẩn bị và nói với Truby rằng ông sẽ cung cấp cho Truby những cuộc không kích cần thiết khi trời sáng. Lúc 0400 giờ, ko có gì xảy ra. Trung tá Tiếu, phòng 2 sđ 23, lại mang vào TTHQ một mật điện vừa nhận được nói rằng tấn công sẽ được trì hoãn nửa giờ. Phòng 2 nghĩ rằng vì những lịnh này gửi từ bộ tư lịnh (BTL) của Mặt trận B-3 nên có thể theo giờ Hà Nội -- một giờ trể hơn giờ SG. Lúc 0430 giờ, CCHL November đã bắt đầu bị pháo kích với mức độ càng lúc càng gia tăng và kéo dài tới 0530 giờ, khi cuộc tấn công bắt đầu.

Bắc quân đã ngạc nhiên khi chiếm Tân Cảnh quá dễ dàng. Do vậy họ đã quyết định tấn công tp Kontum mà ko cần bắn dọn bãi mất nhiều thời giờ (time-consuming). Cuộc tấn công tiến theo ba trục, dựa theo QL-14 từ bắc và tây bắc. Trung đoàn 48 csbv và một đại đội của trung đoàn xe tăng 203 từ hướng tây bắc, dọc theo bờ tây của QL. Trung đoàn 64 csbv tiến dọc theo bờ đông của QL với một đại đội của trung đoàn xe tăng 203. Trung đoàn 28 csbv của mặt trận B-3 tấn công vào trung đoàn 53 từ phía bắc. Riêng trung đoàn 141 của sđ 2 csbv đã tấn công thăm dò các vị trí dọc theo sông Dabla ở phía nam tp Kontum do ĐPQ phụ trách. 

Các máy bay đã chưa ứng trực trên không (on station) khi trung tâm hành quân (TTHQ) sđ 23 nhận tin hai đoàn quân địch có tăng yểm trợ đang tiến dọc QL14. Ứng trực trên không là bay vòng vòng phía trên khu vực để can thiệp kịp thời -- người dịch. Đại tá Truby phải gọi gấp về TTHQ của QK-2 để nơi này ra lịnh cho trực thăng Cobra và trực thăng trang bị phi đạn TOW xuất kích. Chỉ huy trưởng pháo binh của sđ 23 đã nhanh chóng ra lịnh bắn tập trung vào QL14, trung đoàn 44 đã gửi các toán diệt tăng bằng M72. Việc pháo binh bắn tập trung này đã khiến T-54 làm mồi ngon cho các toán diệt tăng vì đã tách tăng ra khỏi bộ binh. Trung tá Thomas McKenna, cố vấn trưởng của trung đoàn 44, đã báo cáo rằng, lúc đầu lính VNCH sợ các quái vật bằng sắt này, nhưng sau đó đã bò ra khỏi hố chiến đấu và bắn tăng bằng M72 với cự ly rất gần. Hai chiếc đã bị phá hủy bởi các toán diệt tăng này. Trong khi đó, các trực thăng gắn TOW đã có mặt trên bầu trời Kontum. Trước khi hai xe tăng chạy tới các bụi cây rậm rạp (undergrowth) dọc theo QL để núp, các phi đạn TOW đã khiến chúng ngừng lại (stop them dead in their tracks). Việc bắn tập trung của pháo binh nam quân và việc bị hủy diệt quá bất ngờ của những chiếc tăng dẫn đầu đã khiến cuộc tấn công đầu tiên đã chấm dứt lúc 0900 giờ sáng, dù pháo và tấn công thăm dò của csbv còn tiếp tục. Ngoài ra, máy bay của Mỹ và VNCH bay đầy trời, đã mãnh liệt (vigourously) tấn công các mục tiêu. 

Toàn bộ tp Kontum đều bị tấn công bằng pháo và rốc két, nhưng không trợ đã thành công khi tìm ra vị trí đặt súng và làm chúng câm họng. Tuy nhiên, một vài khu vực, như sân bay và BTL của sđ 23 vẫn bị pháo nhẹ, chứng tỏ tiền sát viên đang điều chỉnh đường đạn. Khi đêm xuống của ngày 14, các phòng tuyến đã được tái chiếm bởi sđ 23 thông qua đánh sáp-lá-cà hay cận chiến ác liệt giữa đôi bên. 

Lúc 2000 giờ, địch đã lần nữa tấn công trung đoàn 44 và 45. Trận này dữ dội hơn trận đầu tiên. Do chiến đấu vào ban đêm, hai trung đoàn đã ko phối hợp chặc chẻ khiến một TĐ csbv đã xâm nhập khe hở giữa 2 trung đoàn.

Thiếu tá Wade Lovings, cố vấn phó của 44, báo cáo với cố vấn sđ rằng trung đoàn trưởng của 44 đang yêu cầu hỏa tập dự trù và đúng lúc vào vị trí của họ. Lovings cũng yêu cầu máy bay Spectre có mặt trên chu vi phòng thủ của 44 đúng giờ. Vào lúc đó Lovings và trung tá Mckenna cảm thấy rằng họ đang đối diện với ba TĐ bắc quân ở trước mặt, hông phải, và phía sau. Spectre đã bay tới và Lovings lập tức yêu cầu Spectre bắn quanh chu vi phòng thủ mà vị trí các mục tiêu đã được chuyển từ các đv ở tuyến đầu thông qua trung đoàn trưởng. 

Cùng lúc đó, tại trung tâm hành quân (TTHQ) của sđ, đại tá Truby và các cố vấn khác đang áp dụng một số biện pháp phòng thủ rất liều mạng (last-ditch), kiểu 5 ăn 5 thua, để bịt các phòng tuyến bị thủng. Họ muốn 2 phi xuất B-52, mỗi phi xuất 3 chiếc, thả bom xuống lúc 0300 giờ sáng vào địch quân đã chọc thủng phòng tuyến. Tình hình càng lúc càng nguy ngập vì nếu phòng tuyến ko bị bịt kịp thời, Kontum sẽ mất lúc rạng đông. Vì ko thể yêu cầu B-52 ném bom gần quân bạn hơn, đại tá Truby yêu cầu đại tá Bá lui quân một giờ trước giờ B-52 ném bom. Pháo binh đã được được dự trù gia tăng để thay thế chỗ trống do quân VN lui quân. Khi B-52 tới, chúng sẽ giết bắc quân giữa đồng trống khi họ ko có hầm hố gì cả. Lúc đó Bá cực kỳ lo lắng do tình hình bi đát và sẵn sàng làm mọi thứ để cải thiện tình hình. Truby báo cáo với Vann về kế hoạch này và yêu cầu chuẩn y. Van đã ngần ngại do sự phối hợp rất phức tạp giữa B-52 và điều quân trên đây của Bá. Cuối cùng, ông đồng ý sau khi thảo luận kỹ lưỡng với Truby và Bá. Trong vòng ba tới bốn giờ tới khi oanh kích, mọi đv đều cố gắng giữ vững vị trí. Trung đoàn 53 cam kết sẽ dùng trừ bị của họ để chận lổ thủng trong khu vực của họ. Với giúp đỡ của máy bay Spectre, trung đoàn 44 phải chiến đấu một mình với địch ở ba mặt.

Khi giờ khắc quan trọng đã tới, Bá ra lịnh cho quân lính thụt lui và ra lịnh cho pháo binh bắn liên tục trong một giờ để bù đấp phòng tuyến bị bỏ trống do lui quân. Hai phi xuất của B-52 đã ném bom gần đến nỗi răng của những người lính phòng thủ "đánh bò cạp", nghĩa là liên tiếp đập vào nhau vì sợ (shake the tooth) cho đến cơn chấn động do bom tạo ra chấm dứt. Khi trời mới hừng đông, các thành phần của hai trung đoàn di chuyển vào khu vực bị đánh bom, đã phát hiện vài trăm xác chết và những phần thân thể trong quân phục xanh lá cây và mang dép râu. Phần lớn những tên đã chọc thủng phòng tuyến là đặc công chỉ mang AK-47 và chất nổ. Ở khu vực phòng tuyến, nhiều súng cộng đồng được tìm thấy với xạ thủ nằm chết tan xác gần đó. Lovings và McKenna xác nhận hơn 200 xác địch chết trước vị trí của họ với 189 tên khác theo báo cáo của thiếu tá Perry của trung đoàn 53. Bảy xe tăng bị phá hủy bởi phi đạn TOW, M-72 và máy bay chiến thuật trong ngày 14/5. Nam quân nói rằng đã phá hủy 11 tăng và cả bộ tham mưu của sđ 23 và cố vấn Mỹ đều tin rằng xe tăng T-54 ko phải là bách chiến bách thắng. Vann và bộ tham mưu của ông ở QK-2 đã nghĩ rằng bắc quân đang cố gắng tiết kiệm thời gian bằng cách tấn công với chiến xa mà ko dọn bãi kỹ lưỡng bằng pháo binh. Đối phương có vẻ đã hy vọng rằng quân phòng thủ sẽ bỏ chạy khi thấy T-54 như ở Tân Cảnh khoảng 3 tuần trước. Dù chưa tới 3 ngàn quân CSBV tham chiến trong các trận đầu, bộ tham mưu của Vann biết rằng nguyên một sđ 10.000 người sẽ được tung vào trận trong 2 hay 3 ngày tới.

Trong khi lục soát khu vực bị oanh kích bởi B-52, TĐ 2/53 đã tìm thấy 23 xác và một kẻ bị thương nằm rất gần nhau. Kẻ sống sót cho biết đại đội của y chỉ còn 25 người. Y cho biết vừa mới bắt đầu tấn công thì bom bắt đầu rơi. Đại tá Bá cho một số đv nhỏ vào các khu đã bị B-52 ném bom tối hôm trước để biết các vị trí mới của bắc quân hầu lập kế hoạch tấn công bằng phi pháo. Trong những hoạt động này, các thành phần của trung đoàn 44 và 55 bị tấn công liên tục bằng cối và súng liên thanh. Trực thăng gắn phi đạn TOW đã phá hủy một xe tải chỡ đạn, một kho đạn, và một hầm trú ẩn lớn ở đông bắc của tp. Không kỵ Mỹ cũng báo cáo địch gia tăng hoạt động ở đông bắc, đông nam, và tây của tp. Hoạt động như vậy cũng được phát hiện xa hơn ở tây tp gần sông Dak Poko.

Việc địch quân tập trung ở phía nam phòng tuyến làm các cố vấn sđ rất lo âu. Vì họ biết rằng lính ĐPQ ở phòng tuyến phía nam có thói quen buổi tối bỏ phòng tuyến và vào tp ở với gia đình. Việc này sẽ tạo các lổ hở trên phòng tuyến và nếu địch biết sẽ xâm nhập tp. 

Một cuộc không vận lớn đã bắt đầu ngày 15 để di tản các gia đình tị nạn người Thượng. Những người tị nạn này sẽ chỡ tới Pleiku. Khoảng 2.500 đàn ông Thượng được giao võ khí và đưa vào các đv dân quân bảo vệ tp. Khoảng 30.000 người cũng di tản khỏi tp để đến vùng ven biển và các tỉnh phía nam ngay sau khi Tân Cảnh thất thủ.

Sự yên tỉnh tương đối của ngày 15 đã gián đoạn lúc 0200 giờ ngày 16/5 khi địch gia tăng pháo kích. Một số là đạn 100 ly bắn từ sáu xe tăng T-54. Một xe Jeep Mỹ gắn phi đạn TOW vừa được triển khai ngày 14 ở Kontum đã bắn cháy một T-54. Một cuộc tấn công của bộ binh bắc quân vừa bắt đầu trước phòng tuyến của trung đoàn 53 khi bom B-52 rơi trên quân tấn công lúc 2240 g. Cuộc tấn công bằng pháo binh (attacks-by-fire) đã tiếp tục trên toàn tuyến của sđ cho tới khoảng 2300 g thì giảm dần và chấm dứt. Từ đó về sau ko có hoạt động nào đáng kể của địch cho tới 0615 g thì xe tăng lần nữa bắn vào vị trí của trung đoàn 44, nhưng ko có tấn công thăm dò vào lúc này.

Đại tá Bá đã xem xét kết quả của những tấn công thăm dò này. Ông đã thấy phòng tuyến bị chọc thủng và sđ của ông đã tránh thảm họa trong gang tất. Vì sợ điều này xảy ra lần nữa khiến ông thắt chặt chu vi phòng thủ. Bá đã thảo luận điều này với thiếu tướng Toàn, tư lịnh mới của QK, và ông Vann khi họ đến Kontum ngày 16. Họ đồng ý để trung đoàn 44 về làm trừ bị tại bịnh viện và thay thế vị trí của họ bằng trung đoàn 45. Theo hồi ký của đại tá Bá, trung đoàn 44 là thiện chiến nhứt của sđ 23 --người dịch.

Sân bay Kontum bị gia tăng pháo kích vào chiều 16. Mỗi khi trực thăng đến để tiếp xăng thì bị pháo 9 tới 12 quả cối hay đại bác. Ba trực thăng đã bị thiệt hại như vậy trong chiều này. Hai máy bay C-123 của VNCH đang đậu đã bị trúng pháo và phá hủy. Ngoài máy bay bị hư hại, phị đạo cũng hư hại vì hơn 50 đạn pháo rơi xuống sau 1700 g. Sân bay đã đóng cửa cho tới 0645 g ngày 17.

Lúc 1430 g ngày 17, một C-130 của Mỹ đang bốc dỡ (unload) đạn dược xuống đất ở đầu phía tây của sân bay thì hỏa tiển rới xuống sân bay. Viên phi công cố gắng cất cánh dù đạn dược chưa bốc dỡ hết và cửa sau (ramp) chưa kéo lên. Cửa sau bị kéo trên phi đạo khiến máy bay ko thể đạt tốc độ: máy bay cắt ngang nóc của một xưởng gạch VN ở đầu phía đông của phi đạo. Sau đó cánh phải đụng đất và máy bay đã lật ngửa (flip onto its back). Một trực thăng Mỹ đã bốc hai trong 5 người của phi hành đoàn. Vì tai nạn này và vì pháo (do tiền sát viên điều chỉnh ngày càng gia tăng vào sân bay) nên Vann chỉ cho máy bay có cánh được lên xuống vào ban đêm.

Ngày 17/5 đại tá Rhotenberry đã thế đại tá Truby làm cố vấn cho Bá. Ngày đầu tiên của ông tình hình yên tỉnh trừ pháo tiếp tục rớt vào sân bay. Tin tức tình báo cho biết địch sẽ dội pháo ồ ạt ngày 18 để kỷ niệm sinh nhựt HCM. Đêm 17, buổi sáng và buổi chiều ngày 18 ko có hoạt động đáng kể của địch. Từ 1740 giờ đến 1940 giờ hơn 200 đạn pháo và cối rơi xuống quân phòng thủ. Các toán tiền đồn của trung đoàn 44 báo cáo với trung tá McKenna là bảy T-54 trước mặt phòng tuyến. Một tiền sát viên không quân (FAC) đã thấy các xe tăng này và gọi máy bay Mỹ bắn cháy một chiếc. Vị trí của các tăng này cách lính phòng thủ khoảng 2 dặm hay 3.2 km chứng tỏ địch ngại hỏa lực chống tăng của VNCH. Cũng phi công này đã thấy hai khẩu 130 ly đặt gần trại Polei Kleng để bắn Kontum. Y cũng thấy hai phòng không 23 ly. Dù bị phát hiện, súng địch vẫn bắn cho tới khi bị phá hủy bởi chiến đấu cơ.

Lúc 2345 g ngày 18/5, pháo binh bắn ồ ạt để mở đường cho trung đoàn 48 csbv xung phong vào các tiền đồn của trung đoàn 44. Mìn claymore gài sẵn trên chu vi đã gây thiệt hại cho quân tấn công. Pháo binh Nam quân, sự gan dạ của người lính của trung đoàn 44 và tàn phá của mìn claymore đã cản trỡ cuộc tấn công này. Một phi xuất B-52 lúc 0015 g ngày 19/5 đã chấm dứt cuộc tấn công này. 

Chỉ có một hoạt động ý nghĩa vào ngày 19 đã xảy ra lúc 2115 g khi lính csbv đã bắn lựu đạn cay mắt (CS gas) vào phòng tuyến VNCH, theo sau là tấn công bộ binh. Cuộc tấn công đã nhanh chóng thất bại bởi pháo binh và bộ binh VNCH. Trước bình minh, lúc 0345 g ngày 20, trung đoàn 53 đã bị đợt xung phong đầu tiên trong ba đợt vào vị trí của họ. Ở đợt xung phong cuối cùng, lính phòng thủ đã bị đẩy lui khỏi vị trí trong những giờ đầu của buổi sáng. Việc này là hậu quả của nhiều tuần chiến đấu mệt mỏi.

Suốt ngày Nam quân đã cố gắng nhiều lần tái chiếm vị trí nhưng ko thành công. Chỉ huy một số đv đã vài lần báo cáo láo rằng đã tái chiếm. Lúc 1645 g, Bắc quân đã đào một đường hầm dài 20 mét bên trong vị trí của trung đoàn 53, quá gần đến nỗi ko thể ném bom. Mỗi lần nghe tin một vị trí được tái chiếm, đại tá Rhotenberry đã gửi một cố vấn dùng trực thăng C-n-C để kiểm chứng và khuyên đại tá Bá cũng nên làm như vậy để kiểm soát tình hình này. Suốt ngày hôm đó, đại tá Bá ko muốn cho thiết giáp vào trận hay đi kiểm tra các báo cáo của cấp dưới. Cuối cùng Vann tới và họp với Bá để khuyên ông dùng trừ bị của sđ. Thành công đã đến khi chín chiếc M-41 bắn thẳng vào địch với hỗ trợ của gunship. Kết quả: đơn vị CS  đột nhập vào phòng tuyến của trung đoàn 53 đã bị đẩy lui. Trong khi đó không kỵ Mỹ lại báo hoạt động nhộn nhịp của địch trong vùng bắc và đông của tp Kontum. Bắc quân trong khu này đã chuyển quân theo một thung lũng chạy dọc đường 5B để đến gần tuyến phòng thủ. (Nói thêm: đường 5B từ Kontum đi Quảng Ngải nhưng phần lớn ko dùng do mất an ninh -- người dịch).

Đêm của ngày 20/5 đã trải qua trong yên tỉnh cho đến 0500 g của ngày 21. Trung đoàn 44, theo dự trù sẽ thay thế bởi trung đoàn 45, lại bị pháo dữ dội. Nấp dưới làn mưa pháo, TĐ 406 đặc công đã bọc sau lưng của TĐ 3/44 và cắt QL-14 ở 3 km tây bắc tp Kontum. Cùng lúc một TĐ khác đã chọc thủng phòng tuyến giữa TĐ 4/45 và 2/53. TĐ 3/44 đã nhanh chóng tiến về phía nam, dọc theo QL trong khi TĐ 4/44 và 1/45 tiến theo QL đánh về phía bắc. Yểm trợ bởi gunship và máy bay chiến thuật, sau khi chiến đấu ác liệt, hai lực lượng này đã bắt tay với nhau và dọn sạch đặc công trên QL. Trước đó, khi hay tin phòng tuyến giữa trung đoàn 44 và 53 bị chọc thủng, đại tá Bá đã nhanh chóng yêu cầu máy bay chiến thuật và pháo binh tấn công phòng tuyến địch. Sau đó đại tá Bá đã đến thăm khiến tinh thần mọi chiến sĩ nâng cao. 

Từ Pleiku, không quân VNCH gửi một AC-47 Spooky trang bị ba minigun 7.62 ly. 30 phút sau đó phi cơ đã tưới đạn vào các vị trí địch. Trong khi đó một máy bay C-130 của Mỹ đã đáp xuống sân bay Kontum để tiếp tế cho quân phòng thủ. Đây là chiếc máy bay cánh cố định đầu tiên đáp xuống trong hai ngày qua.

Thêm hai cuộc tấn công của địch trong hai giờ kế đã trùng hợp với các phi xuất B-52 trên vị trí của họ, làm câm họng quân tấn công. Cuộc tấn công thứ 5 và cuối cùng đã bắt đầu sau 0400 g ngày 21/5. Đây là một trận cận chiến ác liệt khi hai bên đều dùng lựu đạn. Cuộc phối hợp, đã rất tốt suốt buổi tối giữa các đv Nam quân trên phòng tuyến, đã ko còn vào lúc rạng đông. Đối phương đã xuyên thủng một nơi trên phòng tuyến. Lovings đã gọi gunship Cobra tìm cách bịt lại lổ hổng này. Gunship đã tấn công quân xâm nhập này và đẩy chúng về phía bắc nơi mà hai phi xuất B-52 sẽ tấn công chúng. Các gunship báo cáo nhiều xác chết tung lên trời. Tổng cộng năm cuộc tấn công đã bị đẩy lui bởi bộ binh và không quân, và việc dùng B-52 ở sát phòng tuyến mỗi giờ

Trong đêm này 12 phi xuất của C-130 mang đạn dược và hàng hóa đến sân bay Kontum. Hai túi plastic khổng lồ, mỗi túi chứa 10 ngàn ga-lông hay 37.850 lít xăng từng bị hủy diệt ngày 17 đã được thay thế và điểm tiếp xăng đã hoạt động lúc rạng đông."

. . . 

Chuyển ngữ từ trang 14 đến 22 trong chuyên khảo đã dùng trong ba bài trước.

San Jose ngày 10/1/2023

Tài Trần