Saturday, August 26, 2023

 

Thảm Cảnh Vượt Biên Trên Biển Đông – Nguyễn Hà Tịnh

1Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, quý độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được,…tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển.

Vụ Thứ Nhất : 87 người bị giết

Nhân Chứng : Bà Nguyễn Thị Thương, 36 tuổi, tốt nghiệp Đại Học Hoa Kỳ, tu nghiệp tại Paris, Pháp. Trước 1975 Bà là Giáo Sư Đại Học Bách Khoa Thủ Đức. Bà Thương vượt biển cùng chồng là Giáo Sư Trần Quang Huy, Phân Khoa Trưởng Văn Khoa Đại Học Sài Gòn, cùng với Mẹ ruột, cậu, 2 em trai, 2 em dâu, 4 cháu gái và một con gái nhỏ 3 tuổi. Nhưng chỉ còn Bà, con gái nhỏ của bà, một người em trai của Bà và một em gái của chồng sống sót.

Ghe mang số SS0646 IA dài 13,5 m, chở 107 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 01/12/1979. Ra khơi được 3 ngày, thuyền chạy về hướng Thái Lan, khi đã gần tới đất liền thì gặp bọn cướp biển vào ngày 03/12/1979. Hai tàu cướp Thái Lan cặp 2 bên hông thuyền tỵ nạn, bọn cướp đã ùa sang với súng và dao. Vì ghe thuyền Việt Nam quá chật hẹp, bọn hải tặc đã lùa 27 người sang tàu của chúng cho dễ lục soát vàng bạc của cải.

80 người còn lại bị khám xét cướp hết vàng bạc, vật quý. Sau đó bọn cướp buộc giây vào ghe Việt Nam vào đuôi tàu của chúng và kéo chạy. Chúng xả hết tốc lực, chạy lượn vòng qua lại làm ghe tỵ nạn nghiêng chìm như một trò chơi. Dân tỵ nạn la khóc, lạy van cho tới khi ghe chìm hẳn. Bọn cướp biển cắt giây nối và chạy bỏ mặc 80 người vùng vẫy tuyệt vọng, trong khi 27 người tỵ nạn trên tàu của chúng vật vã khóc ngất nhìn xuống biển chứng kiến người thân đang dãy dụa chết chìm.

Bọn hải tặc chạy thẳng về đảo sào huyệt KO KRA của chúng mang theo 27 người mà chúng đã tách đem lên thuyền chúng trước đó. Nhưng gần tới đảo, chúng xô đẩy tất cả đàn ông xuống biển, buộc họ bơi vào đảo. 7 người dàn ông này đều bị chết đuối vì không đủ sức bơi hoặc không biết bơi để có thể vào đến bờ, trong số này có Giáo Sư Trần Quang Huy. Còn lại 20 người sống sót sau cùng đã bị bọn cướp đưa lên đảo và lập tức chúng lại lục soát, sờ nắn khắp thân thể để tìm kiếm vật quý con cất giấu trong người. Bà BTD (xin viết tắt, giấu tên) 26 tuổi có con 4 tuổi, bị dẫn ngay vào bụi hãm hiếp mặc dù Bà đang mệt lả không đứng dậy nổi vì đói khát, kinh hoàng.

Sau đó, trong suốt 8 ngày liền bị giam giữ trên đảo, 20 thuyền nhân còn lại này đã bị quần thảo hành hạ bởi nhiều toán cướp biển khác nhau hàng ngày đổ bộ lên đảo. Các phụ nữ, cô gái phải chạy vào rừng hoặc leo lên hốc ẩn tránh. Nhưng vẫn không thoát khỏi tay bọn dâm tặc. Một lần Bà BTD quá mệt mỏi không còn sức chạy trốn nổi, đang nằm ngất ngư và được mọi người săn sóc thì bọn hải tặc lại ùa đến, đuổi tất cả mọi người chung quanh đi chỗ khác và 4 tên Thái man rợ luân phiên hãm hiếp tàn nhẫn ngay tại chỗ, khiến bà ta bị kiệt lực nằm im lìm không nhúc nhích được nữa.

Đến ngày thứ 3 trên đảo, một tàu Thái, bên hông có ghi chữ POLICE số 513 tới đảo. Bọn cướp rút lui, chạy tàu ra xa. Chiếc tàu Cảnh Sát neo sát bờ biển, họ chỉ nhìn vô bờ nhưng không lên đảo. Những người tỵ nạn Việt Nam mừng rỡ tưởng được cứu thoát, một thanh niên tỵ nạn bơi ra mang theo một lá thư cầu cứu bằng tiếng Anh để gởi cho giới chức Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc. Nhưng chưa bơi tới nơi đã bị tàu Cảnh Sát Thái nổ súng bắn xuống biển cảnh cáo. Anh ta hoảng hốt bơi quay trở vào bờ. Sau đó mọi người lại đề cử một thiếu niên 15 tuổi liều mình bơi ra cầu cứu lần nữa. Cậu này đã được Cảnh Sát cho lên tàu, nhưng chỉ cho vài gói mì và đuổi xuống biển ngay. Cuối cùng tàu Cảnh Sát này bỏ đi. Sau này mới biết họ đã không hề báo tin vào đất liền.

Ngay sau khi tàu Cảnh Sát bỏ đi bọn hải tặc lại lên đảo và tình trạng tồi tệ tiếp tục diễn ra. Đến ngày thứ 5, một tàu Hải Quân Thái Lan đi ngang qua đảo, nhóm người tỵ nạn chạy ra sát bờ vẫy gọi, làm hiệu và lần này chiếc tàu Hải Quân đã cho người lên đảo tiếp xúc và nhận bức thư nhờ chuyển về cho Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan. Ngày thứ tám, Ông SCHWEITZER Đại diện Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan ra đón họ vào đất liền.

Không lâu sau đó Bà Nguyễn Thị Thương sinh thêm đứa con gái út trong trại tỵ nạn Song Khla và Bà sống tại đó với một đứa con gái 3 tuổi và người em trai của Bà và một em gái của Ông Trần Quang Huy. Lúc bắt đầu rời Việt Nam Bà Thương đã có thai gần 9 tháng, chính nhờ vậy trong những ngày trên đảo KO KRA, Bà đã không bị hải tặc hãm hiếp.

Bà Nguyễn Thị Thương kể lại câu chuyện trên rồi khóc lặng lẽ và nói : “Chồng tôi và tôi đã đoán trước những thảm cảnh có thể xảy ra trên biển. Nhưng chúng tôi vẫn chấp nhận ra đi vì chúng tôi đã nghĩ rằng, dù thế nào cũng ít tệ hại hơn là sống dưới chế độ Cộng sản. Nhưng những đau khổ tôi đang phải chịu đã vượt qua dự đoán của chúng tôi”.

Vụ Thứ Hai : 70 thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn bị giết

Nhân Chứng : Ông Vũ Duy Thái 44 tuổi, đi cùng vợ là Bà Đinh Thị Bằng 40 tuổi cùng 4 con và 2 cháu. Hiện chỉ còn mình Ông sống sót.

Ghe VNKG 0980 dài 14 m, bề ngang 2 m 2 chở 120 người khởi hành từ Rạch Giá ngày 29 tháng 12, 1979. Lúc 7 giờ sáng ngày 31/12/1979 gặp tàu hải tặc Thái Lan. Tàu này sơn màu đỏ cam, mang số 128 ở đầu mũi, gồm 12 tên cướp võ trang súng dài và dao, búa, rìu. Tàu của chúng phóng tới húc vào làm nứt bể mũi ghe tỵ nạn. Bọn hải tặc nhảy qua và lập tức phá máy ghe làm thủng thêm vết nứt, nước bắt đầu tràn vào. Bọn chúng lục soát chụp giựt đồng hồ, nhẫn vàng … trong lúc nước nước tràn vào ghe của người tỵ nạn càng nhiều hơn và bắt đầu bị chìm dần sau khoảng 1 tiếng đồng hồ.

Khi ghe chìm hẳn, đàn bà, trẻ con la khóc hoảng hốt níu kéo lẫn nhau. Bọn cướp nhảy xuống biển và chỉ chọn lựa cứu các cô gái trẻ đẹp. Lúc đó tàu của bọn hải tặc neo đậu cách đó 50 m. Bọn cưới đã lôi kéo về tàu chúng 5 cô gái. Một số đàn ông và thiếu niên tỵ nạn biết bơi cũng lội về phía tàu của chúng và bám leo lên. Nhiều người bị xô đẩy xuống, nhưng vì chúng ít người nên cuối cùng còn 50 người sống sót leo lên được tàu của chúng kể cả 5 cô gái được chúng cứu trước đó. Những người này đã chứng kiến trước mắt 70 người còn lại bị chết chìm dần dần. Mọi người nhìn thấy những bàn tay chới với ngoi lên khỏi mặt biển rồi mất hút.

Ông Vũ Duy Thái rời Việt Nam cùng vợ và 4 con, 2 cháu. Riêng Ông trong lúc hỗn loạn đã bơi bám vào tàu hải tặc và níu được vợ và một đứa con. Còn 3 đứa con khác và 2 cháu thì bị chết chìm. Tuy nhiên vợ và đứa con còn lại của Ông đã bị uống nước quá nhiều, khi kéo lên được thì không còn nhúc nhích. Ông hy vọng dùng phương pháp hô hấp nhân tạo sẽ cứu sống được, nhưng bọn hải tặc đã quăng vợ và con Ông xuống biển trở lại cho chết luôn.

Anh Phạm Việt Chiêu, 26 tuổi là tài công kể lại chính anh và một số đàn ông khác còn khoẻ đã vớt được một số người chưa chắc đã chết hẳn mà có thể chỉ mới bị ngất xỉu nhưng bọn hải tặc đã bắt bỏ họ xuống biển lại. Sau đó tàu hải tặc trực chỉ đảo KO KRA và chúng giam giữ nạn nhân trên đảo.

Ngày 01/01/1980, một chiếc tàu Hải quân Thái mang số 18 đến đảo vào ban đêm có võ trang vũ khí. Mọi người mừng rỡ tưởng được cứu thoát. Nhưng những người lính Hải quân chẳng chút Thương tâm đoái hoài đến dân Việt Tỵ Nạn đang lâm cảnh khốn cùng, họ chỉ lo việc khám xét bằng cách bắt tất cả mọi người lột bỏ quần áo trần truồng kể cả đàn bà con gái rồi bỏ đi.

Ngày 02/01/1980 một tàu Hải quân Thái khác mang số 17 lại tới đảo. Lính Thái lại ùa lên lục soát. Tất cả phụ nữ bị lột truồng không còn mảnh vải che thân công khai trước đám đông để bọn lính này sờ nắn khám xét như để tìm vũ khí kẻ nào có giấu diếm. Sau đó, chúng rút về tàu đậu gần bờ biển và đến trưa ngày 04/01/1980 mới bỏ đi.

Trong thời gian hải quân Thái làm việc, bọn cướp vắng mặt nhưng ngay sau khi lính Thái vừa bỏ đi thì lập tức 4 chiếc tàu hải tặc tràn người lên đảo. Bọn cướp lại lục soát thêm nhiều lần nữa. Dĩ nhiên những nạn nhân VN khốn khổ chẳng còn gì để chúng cướp bốc nữa. Chúng luân phiên nhau hãm hiếp phụ nữ tại chỗ giữa ban ngày. Chúng chẳng cần tìm chỗ nào kín đáo để làm hành động thú tính này. Năm em gái Việt Nam : KH 15 tuổi, BT 17 tuổi, AH 12 tuổi, NY 11 tuổi và MT 15 tuổi bị chúng cưỡng hiếp tập thể ngay trước mắt mọi người.

Lẽ ra, thảm kịch còn kéo dài chưa biết đến ngày nào chấm dứt, nếu không may mắn được vị cứu tinh là Ông SCHEITZER Cao Uỷ tỵ nạn Liên Hiệp Quốc xuất hiện kịp thời cứu giúp và kết thúc thảm ác trạng này. Ông đã đến đảo KRA trên một chiếc tàu Cảnh Sát Thái Lan.

Vụ Thứ 3 : Hải tặc Thái bắt gái VN bán vô ổ điếm

Nhân Chứng : Nguyễn Thị Ánh Tuyết 17 tuổi đi cùng chị là Bà Nguyễn Thị Năm bà này đã bị hải tặc giết trước đó và Công Huyền Tôn Nữ Mỹ kiều 17 tuổi.

Ghe không số, dài 10 m, chở 78 người, khởi hành tại NhaTrang ngày 08/12/1979. Ra khơi được 3 ngày thì hết nhiên liệu và thực phẩm, thuyền lênh đênh trên biển trong 10 ngày. Thời gian này có 12 trẻ em đã bị chết vì đói khát. Thi thể các em phải bỏ xuống biển. Đến ngày 21/12/1979 gặp 2 tàu hải tặc Thái Lan. Bọn cướp buộc giây vào ghe VN với tàu của chúng, dùng vũ khí ép buộc tất cả mọi người qua tàu chúng để lục soát.

Bà Nguyễn Thị Năm 33 tuổi đang mang thai 5 tháng, đi cùng chồng là Ông Lê Văn Tư và 3 đứa con 9 tuổi, 5 tuổi và 3 tuổi. Cả 3 đứa trẻ này đã chết trong thời gian 10 ngày ghe bị trôi lênh đênh trước đó. Bà Năm quá đau khổ và mệt mỏi không còn đủ sức leo qua tàu hải tặc khi chúng ra lịnh. Bọn cướp đã xốc nách Bà lên nhưng Bà vẫn nằm im, một tên cướp liền dùng xẻng xúc cá đập túi bụi vào đầu Bà Năm. Bà đã bị nứt sọ chết ngay tại chỗ và chúng xô xác Bà xuống biển.

Mọi người kinh hoảng vội leo sang tàu hải tặc để cho chúng có chỗ trống lục soát, phá phách, xét quần áo, thân thể tìm đồ quý. Sau đó tất cả đàn ông bị bắt nhốt vào hầm nước đá, đàn bà chúng cho ở trên sân tàu để sờ mó nghịch ngợm. Rồi chúng lùa thuyền nhân tỵ nạn qua trở lại chiếc ghe đã thủng nát. Khi đến ghe thì một người đàn ông đã chết vì đã bị giam giữ trong hầm nước đá lạnh cóng. Chiếc ghe tỵ nạn lại tiếp tục thả trôi lênh đênh trong nỗi tuyệt vọng cùng cực của mọi người.

Ngày hôm sau, 2 chiếc tàu hải tặc khác lại đuổi theo, tới gần vùng đảo KO KRA chúng lại lên ghe lục soát cướp bốc. Lần này 3 thiếu nữ xinh đẹp nhất bị chúng bắt đem đi. Con thuyền tỵ nạn lại tiếp tục trôi trong tình trạng vô cùng bi đát. Máy ghe bị hư hỏng, không thức ăn, nước uống và ghe thì đã ngập nước vì lúc đó tất cả đàn ông đã quá đói khát không còn đủ sức tát nước nữa. Không ai biết số phận 70 người còn lại trên chiếc ghe khốn cùng đó, lúc này ra sao ?

Hai chiếc tàu hải tặc chia nhau 3 cô gái VN. Hai cô NT Ánh Tuyết và Mỹ Kiều bị chiếc tàu của tên SAMSAC làm chủ bắt giữ. Còn chiết tàu kia bắt Cô LAN 17 tuổi mang đi mất hút, cho tới bây giờ không còn nghe tin tức gì về Cô ấy nữa. Hai cô ÁnhTuyết và Mỹ Kiều bị bọn SAMSAC mang vào đất liền, nhốt trong một khách sạn tại Songkhla. Chúng tách rời 2 cô ở phòng riêng khác nhau. Ánh Tuyết bị một tên, được nghe gọi là BÍT canh chừng. Còn Mỹ Kiều thì ở chung phòng với tên SAMSAC.

Ánh Tuyết kể lại là Cô đã la hét kêu ầm lên khi tên BÍT định cưỡng hiếp Cô, khiến mọi người ở các phòng chung quanh cùng khách sạn đa số là người Tây Phương đổ xô tới xem và tên BÍT đã bỏ chạy. Riêng tên SAMSAC ở phòng gần đó nghe tiếng ồn ào vội đem Mỹ Kiều đi giấu trong một khách sạn khác ở tỉnh Haadyai cách Songkhla hơn 30 Km. Khi cảnh sát đến điều tra, chính cô Ánh Tuyết đã dẫn Cảnh Sát đến bến tàu Songkhla, nơi có chiếc tàu của bọn SAMSAC vẫn còn đậu đó và các thủ phạm hải tặc đã bị bắt kể cả tên SAMSAC mà Cảnh sát đã tìm thấy hắn sau đó cùng với Cô Mỹ Kiều tại khách sạn nói trên.

Tại Ty Cảnh Sát chúng đã khai là định bán 2 cô gái này cho một đường giây chuyên buôn gái cho các ổ điếm.

Trên đây, chúng tôi chỉ đưa ra một vài vụ điển hình thuyền nhân Việt Nam bị thảm nạn hải tặc Thái Lan hành hạ, giết chóc xảy ra trong tháng 12/1979 tại đảo KO KRA. Tưởng cần nhắc lại rằng tệ nạn hoành hành của hải tặc THÁI không phải vào thời gian này mới xuất hiện. Trong mấy năm trước 1979 khi ở Việt Nam khởi sự có làn sóng Thuyền Nhân Vượt Biển Tìm Tự Do thì người Việt Tỵ Nạn của chúng ta đã trở thành những con mồi ngon cho bọn hải tặc Thái.

Báo chí trên thế giới cũng đã nhiều lần đề cập đến thảm kịch kinh hoàng mà « Boat People » đã phải chịu khổ nạn. Tuy nhiên kể từ khi các ngư phủ Thái nhận thấy việc cướp bóc Thuyền Nhân sẽ làm cho họ trở nên giàu có mau chóng hơn là đánh cá thì số ngư dân Thái kiêm thêm nghề hải tặc đã ngày trở nên đông đảo, đưa tới hậu quả là người VN đi tỵ nạn bằng đường biển càng ngày càng bị rơi vào mạng lưới của bọn cướp biển dày đặc bủa vây trong khắp vùng Vịnh Thái Lan.

Nguyễn Hà Tịnh

 Một số ảnh về khu trù mật Võ Đắt, chụp khoảng tháng 4/1962.







Sunday, August 20, 2023

 Huỳnh Anh Kiệt trong màu áo Biệt Động Quân và các trận đánh ở Cần Thơ

Văn Lan/Người Việt

GARDEN GROVE, California (NV) – Trong bối cảnh chiến tranh ngày càng gia tăng với những cuộc tấn công miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt, bao chàng trai đã lên đường nhập ngũ với tinh thần quyết chiến đấu để bảo vệ lý tưởng tự do, lại càng thúc giục Huỳnh Anh Kiệt cùng với bao lớp trai hùng lên đường vào quân đội.

Ông Huỳnh Anh Kiệt kể lại trận đánh ở quận Đức Long, Cần Thơ, ông bị thương nhưng không chết, tiếp tục chiến đấu trong Sư Đoàn 21 Bộ Binh. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Với ông Kiệt, được chiến đấu dưới lá cờ vàng cho miền Nam tự do thanh bình, trong áo trận bạc màu xông pha vào nơi lửa đạn khắp bốn phương trời là chí nguyện của người trai thời tao loạn.

Ngồi tại nhà ở Garden Grove hồi tưởng lại chuyện từ khi vào lính trên chiến trường cho đến khi chiến đấu trên các mặt trận xã hội, ông Huỳnh Anh Kiệt kể lại câu chuyện dài gần nửa thế kỷ nhưng tưởng chừng như mới hôm qua, với tinh thần chiến đấu vẫn còn nguyên khi Cộng Sản vẫn còn trên quê hương đang chìm trong đêm dài tăm tối.

Ông Kiệt kể khi đang theo học tại trung học Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn và trường Đức Minh Thủ Đức thì chiến sự ngày càng ác liệt, ông không thể nào ngồi học khi ngoài chiến trường, bạn học mình đang ngày đêm chiến đấu không hẹn ngày về.

“Tôi quyết định đăng lính vào Lực Lượng 81 Biệt Kích năm 1971, sau đó được chuyển qua Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân. Sau khi học khóa hạ sĩ quan ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tôi chính thức về Sư Đoàn 21 Bộ Binh, thuộc Trung Đoàn 33, Tiểu Đoàn 2,” ông Kiệt kể.

Sư Đoàn 21 Bộ Binh thuộc Quân Đoàn IV, phụ trách khu vực chiến trường miền Tây lúc bấy giờ cũng ngập tràn máu lửa với những trận đánh liên miên giữa Sư Đoàn 21 Bộ Binh với Cộng Quân. Người lính trận ngày đêm liên tục hành quân với những trận truy đuổi, càn quét và đụng độ với Việt Cộng khắp nơi trên vùng sình lầy ngập nước, nơi mà sông rạch chằng chịt và trận địa mênh mông với những cánh đồng lúa “cò bay thẳng cánh.”

Từ sau năm 1972, nhất là sau Hiệp Định Paris 1973, Cộng Sản Bắc Việt và quân Giải Phóng Miền Nam luôn tìm cách tấn công miền Nam bằng mọi cách.

Từ phải, Giáo Sư Võ Thị Liễu mẹ của ông Huỳnh Anh Kiệt, ông Kiệt và em gái, cùng đồng hương trong buổi biểu tình trước Tòa Bạch Ốc để đấu tranh cho nhạc sĩ Việt Khang được trả tự do. (Hình: Huỳnh Anh Kiệt cung cấp)

Trận Long Mỹ đầu đời trong binh nghiệp

Xã Long Mỹ cũng thuộc quận Long Mỹ trong buổi chiều êm ả với những cánh chim cò bay thẳng cánh trên đồng ruộng lúa vàng ươm, lại phơi bày một cảnh tượng hết sức đau lòng. Những cánh đồng lúa chín vàng đang chờ thu hoạch đã bị Việt Cộng đốt cháy rụi để mượn khói lửa tung hỏa mù để pháo kích vô quận và cũng để dọn đường rút quân, vừa tạo cảnh hoảng loạn trong dân chúng, vì xã Long Mỹ ở ngay rất gần trung tâm quận Long Mỹ.

Từ Phụng Hiệp về Chương Thiện có ba ngã rẽ, một về quận Đức Long, một về Chương Thiện, và một hướng thẳng vô quận Long Mỹ, khi ba tiểu đoàn 1, 2, và 3 thuộc Sư Đoàn 21 kéo về.

Ông Kiệt nhớ lại: “Tiểu Đoàn 2 ở ngay hướng trái quận Long Mỹ nơi đóng đô dinh quận, được lệnh là phải đánh Việt Cộng dạt khỏi vị trí ấy. Khi được lệnh, ba tiểu đoàn 1, 2, và 3 của Sư Đoàn 21 tràn vô, tôi ở Tiểu Đoàn 2 phía cánh trái ngay Long Mỹ, còn Tiểu Đoàn 1 và Tiểu Đoàn 3 ở cánh phải khi bọn Việt Cộng tập trung tấn công vô quận Long Mỹ.”

“Khi xáp lá cà, giữa quân ta và Việt Cộng chỉ cách nhau khoảng 400 mét, máy bay F5 thả bom dữ dội rơi vào bên địch mà bên ta bị tức thở theo, còn pháo binh thì phải xếp càng không bắn được vì hai bên quá gần. Chịu không nổi, bị tổn thất nặng bọn Việt Cộng phải rút chạy luôn vô những đồng ruộng phía sau. Bọn tôi không truy đuổi theo vì trời tối, hơn nữa những cánh đồng lúa đã bị cháy rụi, không có chỗ ẩn nấp rất nguy hiểm khi bị phục kích,” ông Kiệt kể.

Bức hình gia đình duy nhất còn sót lại của gia đình ông Huỳnh Anh Kiệt, khi năm anh chị em còn nhỏ trước 1975 (ông Kiệt, đầu tiên bên phải). (Hình: Văn Lan/Người Việt chụp lại)

Đụng độ với Quân Khu 9 Cộng Sản, giải vây cho Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân

Tại Chương Thiện đầu năm 1974, một tiểu đoàn của Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân khi đang đổ quân xuống trấn đóng ở đó, đã đụng độ với Quân Khu 9 (sư đoàn chính quy của Bắc Việt), hợp cùng với quân Giải Phóng Miền Nam dùng cối 60, cối 82 và đại bác 57 tấn công.

Khi được lệnh, Tiểu Đoàn 2/33 Sư Đoàn 21 lội theo đường bộ theo con kênh chạy về Chương Thiện, hướng về U Minh Hạ, Bạc Liêu để giải vây cho một tiểu đoàn của Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đang bị tấn công.

Ông Kiệt kể, ở miền Tây khi chiều về là từng đoàn trâu lũ lượt kéo nhau về chuồng, đó là cảnh quá quen thuộc đến mức thấy bình thường. Lúc ấy trên bờ ruộng, cánh Biệt Động Quân thấy đoàn trâu đi về phía mình trong chiều tối, nhưng khi chúng đến gần mới phát giác là bọn Việt Cộng núp phía sau, mượn đàn trâu đi phía trước che chắn để tấn công.

Khi địch khai hỏa thì Biệt Động Quân đang ở thế bất ngờ, bị động phải nhảy xuống ruộng để phản công và kiếm đường rút, không ngờ ruộng ở đó là loại sình đặc, khi lún xuống không thể di chuyển được, Biệt Động Quân phải chịu trận chờ quân bạn giải vây, trong khi trọng pháo không thể can thiệp vì hai bên ở quá gần!

Ông Kiệt kể: “Lúc đến giải vây cho một tiểu đoàn của Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân, khi Tiểu Đoàn 2/33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh tràn vô thì bọn Việt Cộng rút qua con kênh phía sau lưng bỏ chạy. Tại trận này, trong đêm tối ghe đi sâu vô con kênh không được, trực thăng tản thương đáp xuống cũng không xong, cả những giang đoàn cũng không vô được vì còn đang bị địch pháo kích, không có lối cho các đơn vị tản thương.”

“Khi bọn Việt Cộng rút chạy, đêm ấy Tiểu Đoàn 2/33 Sư Đoàn 21 nằm lại trận địa, và Đại Đội 2 của tôi đóng ở tuyến đầu để quan sát phòng ngự, chờ đến sáng hôm sau mới kiểm điểm lại và mang xác đồng đội về. Lực lượng bạn tổn thất khá nặng khi chỉ còn khoảng 80 người!” ông Kiệt xúc động kể tiếp.

Ông Huỳnh Anh Kiệt (phải) gặp lại vị niên trưởng năm xưa, cựu Thiếu Tá Lê Nguyễn Thiện Truyền, cựu sĩ quan chỉ huy của Sư Đoàn 21 Bộ Binh, trong buổi tưởng niệm 30 Tháng Tư tại Little Saigon. (Hình: Huỳnh Anh Kiệt cung cấp)

Trận Đức Long bị thương nặng không chết, tiếp tục chiến đấu

Hướng Long Mỹ về Chương Thiện, là quận Đức Long, ngay ngã ba con kênh có một đồn nghĩa quân, gồm binh sĩ và vợ con cùng ở chung. Khi Tiểu Đoàn 2/33 vừa đi tới, ngay trên dòng sông, bọn Việt Cộng gõ nồi niêu om sòm gây tiếng ồn để uy hiếp tinh thần, để trên bờ bọn chúng bắn B40 và cối 82 vô đồn.

Khi Tiểu Đoàn 2/33 tiến vô thì đụng độ với Việt Cộng bên kia bờ đê pháo qua, nhưng lúc tiến sát vô tới nơi thì Việt Cộng rút chạy. Trời đã tối, tiểu đoàn phải rút ra khỏi bờ đê, bỗng một quả cối 82 bay trúng đầu ngọn dừa, trái đạn tạt xuống trúng ngay Trung Sĩ Nhất Kiệt và bốn anh em trong Đại Đội 2 cùng dính đạn.

“Tôi bị miểng pháo cối cắm vào cổ họng, hai cườm tay và cánh tay, chân đều bị miểng nằm sâu trong thịt, cổ tay phải có miểng đạn chèn vô gân. Tình hình nguy cấp với nhiều thương binh nằm chờ cứu thương nhưng tất cả phương tiện đều không vào được vì đạn pháo địch liên tục pháo ngay chỗ đóng quân. Tôi cùng vài đồng đội nằm tại chiến trường một ngày đêm chịu trận, hôm sau mới được ghe chở ra bệnh viện Chương Thiện,” ông Kiệt nhớ lại.

Ông Kiệt cho hay ông nằm bệnh viện vì miểng đạn pháo chèn vào cổ họng khiến giây thần kinh nói bị tê liệt không nói được, hai tay và chân băng bột. Nằm tới sáng hôm sau nữa, có hai ông bà vô tìm con theo giấy báo tử. “Khi đến đúng giường bệnh tôi nằm, thì hóa ra giấy báo tử ghi lầm, vì hai người nằm trong bệnh viện đều tên Anh Kiệt, nhưng tôi họ Huỳnh thì ghi đã tử trận còn người họ Trần chỉ bị thương, vì vậy theo giấy báo, hai ông bà đến bên giường tôi nằm để mừng thăm con,” ông kể.

“Sau giây phút sững sờ, y tá cho biết tôi thuộc Trung Đội 3 còn người đã mất thuộc Trung Đội 2, đều là trung sĩ nhất. Tội nghiệp cho hai vợ chồng già lặn lội đi tìm con với niềm hy vọng là con chỉ bị thương. Hai ông bà khóc hết nước mắt khi biết con mình đã hy sinh ngoài mặt trận, nhưng lúc đó tôi không thể nào lên tiếng an ủi được, còn hai tay thì bó bột cứng ngắt không cử động, đó là những cảnh đau lòng trong cuộc chiến mà tôi từng chứng kiến!” ông Kiệt nhớ lại.

“Trong lúc đó mẹ tôi được giấy báo tử là tôi đã chết, bà phải bao nguyên chiếc xe chạy trong đêm đi Cần Thơ, nhưng về tới Phụng Hiệp bị Việt Cộng đắp mô không đi được nữa, bà phải kêu xe ôm đi về bệnh viện Chương Thiện lúc 9 giờ tối, tức tốc vào nhà xác tìm con, mới gặp lại được hai vợ chồng già khóc tức tưởi khi nhận xác con mình, lúc ấy mẹ tôi mới biết tôi còn sống,” ông Kiệt bồi hồi xúc động kể.

Ông Huỳnh Anh Kiệt bên hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma trong dịp ông xuống tóc trong ngày mẹ mất. (Hình: Huỳnh Anh Kiệt cung cấp)

Đoạn đường gian truân sau 1975

Nhớ lại biến cố 30 Tháng Tư, 45 năm về trước, ông Kiệt cho hay lúc đó ông theo một đoàn mấy chiếc thiết giáp M113 từ Cần Thơ chạy ngược về hướng Chợ Mới, Long Xuyên. Trên đường đi, khi Việt Cộng đi từ Cần Thơ về Trà Nóc thì quân lính Việt Nam Cộng Hòa đi từ Trà Nóc về Bến Xe Mới ở Cần Thơ, xuống phà qua Vĩnh Long.

“Trong đầu tôi nghĩ cứ đi theo thiết giáp, dù sao đi bằng xe vẫn nhanh hơn đi bộ, trong khi bên lề đường phía đối diện, hàng đoàn lính Bắc Việt đi ngược chiều về hướng Cần Thơ, hai bên cứ đi, đều nhìn thấy nhau nhưng không phía bên nào bắn nhau, lính Cộng Sản hấu hết là rất trẻ, khoảng 15, 16 tuổi. Cứ đi như vậy cho đến khi đoàn thiết giáp M113 chạy về tới An Giang thì trời nhá nhem tối,” ông Kiệt kể.

“Tôi nghĩ mình đã mất nước, nhưng tuổi thanh niên tràn đầy nhiệt huyết, trong lòng vẫn sục sôi khí thế, thề quyết chiến đấu vì đất nước cho tới chết. Lúc đó tôi không bỏ súng, vẫn đi trên đường với khẩu M16 và băng đạn còn quấn bên hông, trên người vẫn còn mặc đồ lính trận với huy hiệu Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Cứ đi với thiết giáp cho tới khi về tới Long Xuyên thì cũng vừa hết nhiên liệu, lương thực cũng không còn, ở đó cho tới hôm sau thì tan hàng, mạnh ai nấy đi!” ông Kiệt nhớ lại.

Tại Long Xuyên ông Kiệt luôn tìm đường về Sài Gòn, lúc đó tiền không còn một xu trong túi, lương thực cũng không có, khi qua bắc Vàm Cống cũng khó khăn vì có mấy chốt chặn nhưng may mắn ông cũng lọt qua được.

“Khoảng 20 ngày sau tôi về tới Thủ Đức, ở nhà lúc đó còn bà mẹ là giáo sư dạy Anh và Pháp văn tại trường Lasan Mossard Thủ Đức, trong khi ba tôi còn đang ở Ban Mê Thuột lo về quân lương trong quân đội, vài tháng sau ông về tới nhà thì mất khi năm người con đang còn nhỏ. Khi đó cả gia đình hụt hẫng vô cùng,” ông Kiệt nói. (Văn Lan) [qd]

Kỳ cuối: Huỳnh Anh Kiệt, một ngày lính trận Sư Đoàn 21 Bộ Binh, một đời chiến đấu

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

 Sau Hội nghị du kích chiến tranh của Quân khu 6 (4-1974), phong trào nhân dân du kích dấy lên khắp nơi. Trong kế hoạch hoạch 1974-1975, Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ cho Quân khu 6 kết hợp với Quân khu 7 giải phóng 2 huyện Hoài Đức và Tánh Linh của Bình Tuy, góp phần hoàn chỉnh căn cứ miền Đông Nam bộ[2]. Hoài Đức và Tánh Linh là 2 địa bàn có ý nghĩa quan trọng về mặt chiến lược do các mối liên quan chặt chẽ với miền Đông Nam bộ và Nam Tây Nguyên. Làm chủ được vùng này sẽ góp phần chia cắt được quân khu 2 và 3 của địch, xác lập bàn đạp để bao vây tiến công Sài Gòn từ hướng Đông.

Bộ chỉ huy chiến dịch Hoài Đức - Tánh Linh được hình thành, gồm 5 đồng chí do đồng chí Đặng Sĩ Ngọc - Tư lệnh Sư đoàn 6 - Quân khu 7 làm Chỉ huy trưởng. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Sư đoàn 6 của Quân khu 7, Trung đoàn 812, Tiểu đoàn đặc công 200C của Quân khu 6 cùng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh Bình Tuy, du kích và các đội công tác của 2 huyện Hoài Đức, Tánh Linh. Đồng thời, ta huy động thêm lực lượng phía sau đi dân công phục vụ chiến trường, mở thêm tuyến đường ôtô từ Hàm Thạnh đến phía Tây Biển Lạc để vận chuyển hàng phục vụ chiến đấu[3].

Sau thời gian chuẩn bị, 2 giờ 35 phút ngày 10-12-1974, ta tấn công cứ điểm Lồ Ồ. Sau mấy tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, ta làm chủ hoàn toàn cứ điểm. Cứ điểm Lồ Ồ là một đỉnh cao then chốt, có lợi thế khống chế cả khu vực xung quanh và bảo vệ trực tiếp cho chi khu Tánh Linh. Chính vì vậy mà mất cứ điểm này, Chi khu Tánh Linh rơi vào tình thế bị uy hiếp hết sức nghiêm trọng, tinh thần quân lính sa sút, hoang mang.

Cùng thời gian này, các đơn vị còn lại của Trung đoàn 812 và lực lượng vũ trang tỉnh, huyện đã đánh chiếm hầu hết các mục tiêu trong khu vực; đồng thời diệt luôn Phân Chi khu Sùng Nhơn, hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy giành quyền làm chủ. Ngày 24-12-1974, Bộ Chỉ huy chiến dịch hạ lệnh tiến công Chi khu Tánh Linh, quét sạch quân địch. Trên đà thắng lợi, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định tập trung mọi sức lực để giải phóng tiếp chi khu Hoài Đức, kết thúc chiến dịch. Lúc này, địch đã điều lực lượng tăng cường cho chi khu Hoài Đức đồng thời lập thêm trận địa pháo ở Trà Cổ để hỗ trợ cho chi khu này. Đêm 3-1-1975, ta bắt đầu nổ súng đánh vào chi khu. Bảy ngày sau ta mới chiếm được một số thôn xung quanh chi khu và bị thương vong khá nặng. Trước tình đó, Bộ Chỉ huy Miền cho kết thúc chiến dịch[4].

Chiến dịch Hoài Đức - Tánh Linh kết thúc, tuy chưa thực hiện được trọn vẹn kế hoạch đề ra, song ta đã giải phóng hoàn toàn huyện Tánh Linh và hầu hết vùng nông thôn của huyện Hoài Đức với trên 30.000 dân, tiêu diệt hơn 2.000 tên địch, góp phần rất quan trọng vào chuyển biến tình hình, tạo tiền đề cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn quê hương.

Đầu năm 1975, trước khí thế cách mạng hừng hực tiến công, tinh thần quần chúng sôi sục. Tháng 1-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm, trong 2 năm 1975 - 1976 sẽ giải phóng miền Nam.

Tiếp đó, kế hoạch chiến lược trong 2 năm 1975 - 1976 đã được Bộ Chính trị thông qua, trong đó hướng tiến công chiến lược chủ yếu của đầu năm 1975 là Tây Nguyên, mở vùng giải phóng nối liền Nam Tây Nguyên với Đông Nam bộ và cùng phối hợp tiến đánh Sài Gòn. Bộ Chính trị còn dự kiến thêm phương án “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”[5].

Thực hiện chủ trương trên và nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Miền giao, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 6 đã hạ quyết tâm sử dụng lực lượng của quân khu và của Bình Tuy để tiêu diệt Chi khu Hoài Đức trong thời gian ngắn nhất, sau đó đưa toàn bộ lực lượng lên đường 20 phối hợp với chủ lực của Miền phát triển về hướng Tây Nguyên.

Về cách đánh, Ban chỉ huy chiến dịch quyết định dùng lối đánh “bóc vỏ” để bao vây, cô lập và sau đó dùng các mũi đột phá bằng đặc công và bộ binh để dứt điểm chi khu. 23h ngày 16-3-1975, ta tấn công Chi khu Hoài Đức. Sáng ngày 20-3, quân ta hoàn toàn làm chủ chi khu. Đến ngày 23-3-1975, huyện Hoài Đức được hoàn toàn giải phóng[6].

https://truongchinhtri.binhthuan.dcs.vn/Tin-tuc/post/19772/tu-chien-dich-hoai-duc-tanh-linh-den-giai-phong-hoan-toan-que-huong-binh-thuan

Thursday, August 17, 2023

 

Tánh Linh - trăm năm dáng núi

07/04/2023, 09:24 - Lượt đọc: 3,258

Từ năm Thành Thái thứ 13 (1901) Tánh Linh là địa danh hành chính cấp huyện, tách từ hai tổng Cam Thang, Ngân Chữ của thổ huyện Tuy Lý, phủ Hàm Thuận nhưng bấy giờ thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng.

Tri huyện đầu tiên là người Chăm tên Mã Ôn (1). Ba năm sau, đến năm Thành Thái thứ 16 (1904) mới chuyển huyện Tánh Linh nhập lại phủ Hàm Thuận thuộc tỉnh Bình Thuận gồm 17 thôn sách, chia ra 3 tổng: Cam Thang, Ngân Chữ và Nông Tang (2). Thời Minh Mạng thứ 17 (1836), tổng Nông Tang thuộc huyện Tuy Định, phủ Hàm Thuận đã có địa danh thôn Tánh Linh (cùng thời với các thôn trong khu vực (Ma Lâm, Hiệp Nghĩa, Phù Trì).

Dân bản địa vùng cao Tánh Linh xưa chỉ có các bộ tộc người thiểu số Rai, K’ho, Châu Ro, Mạ sống theo buôn, mang, sách… Và duy nhất có làng Chăm Lạc Tánh (Palei Picam) và về sau dần dần người Kinh các vùng lân cận đến nhập cư sống nghề rừng, buôn bán trở thành trung tâm dân cư huyện lỵ Tánh Linh. Dưới triều vua Minh Mạng thứ 5 (1824) ban sắc phong Thần quản tế cho Pô Harum Cơk (Pô Lâm Chớ) lãnh chúa người Chăm cai quản vùng này.

Những địa danh huyền thoại

Đất huyện miền núi Tánh Linh, phía tây Bình Thuận ngày đó có địa giới giáp huyện Xuân Lộc, Túc Trưng (Đồng Nai), Đạ Oai, B’lao (Lâm Đồng)… Khi chưa lập tỉnh Đồng Nai Thượng, đất Di Linh thổ phủ (Di Dinh/ Djiring) từ năm 1899- 1905 là địa lý hành chính do Công sứ Bình Thuận quản lý. Sau đó tách ra trả về vùng cao nguyên để tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng vào năm 1920. Trước đó, theo Doanh điền sứ Nguyễn Thông ghi trên châu bản “Doanh điền biểu văn” (1877) kể lại cuộc hành trình khảo sát vùng núi này, khi đi qua đất Lão Lâm (sát Võ Xu) đến cánh đồng lớn vào đất La Ngư (La Ngà), ruộng khẩn 3.000 mẫu, rồi theo chân núi Ông đến thôn Lạc Tánh, làng người Chăm theo đạo Bàni ở phía tây Bình Thuận có từ thời Minh Mạng thứ 5 thuộc tổng Nông Tang, huyện Tuy Định, phủ Hàm Thuận. Từ điển Địa danh đối chiếu… của Sakaya ghi Tánh Linh/ Danaw Aia Lin/Ling (hồ/ bàu) do người Pháp phiên âm (3). Hoặc có thể viết“Danau Halin”, đều có nghĩa “Bàu nước thiêng” bởi địa hình một lòng chảo được bao quanh bởi núi cao và con sông La Ngà. Tựu chung, chữ Danaw Lin/Ling, là trường hợp viết theo gốc Chăm bằng chữ Latin và người kinh đọc chệch âm thành Tánh Linh.

Nói đến Tánh Linh là phải nhắc đến con sông La Ngà, còn có tên gọi khác như La Nha, La Ngư… có chiều dài trên 270 km, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh chảy qua địa bàn Tánh Linh, Đức Linh ngày nay. Dòng sông có nhiều đoạn ngoằn ngoèo rồi nhập vào sông Đồng Nai chảy ra biển Đông, tạo nên một lưu vực lớn, đất đai trù phú. Riêng tên con sông đã đồng hành cùng dòng chảy miên man có nhiều cảnh quan huyền ảo và biết bao điều kỳ diệu. Với sách “Gia Định Thành Thông Chí”(4) gọi là La Nha Giang, mô tả sông La Ngà bắt nguồn ở phía bắc thượng lưu Phước Long Giang- sông này từ núi Phố Chiêm chảy ra phía bắc gọi là sông Dã Dương rồi vòng quanh núi Cộp Cộp, do dòng nước chảy xiết cọ vào đá phát ra tiếng kêu cộp cộp. Có tư liệu cho rằng La Ngà là biến âm của từ Rơnga theo người Mạ hoặc La Ngà có gốc của người K’ho với nghĩa Lơnga là hạt mè vì dòng sông này mùa hạ có đoạn khô nước, lòng sông nổi lên nhiều đá cuội đen trắng lấp lánh, thấy như một bãi phơi hạt mè, nên đặt tên sông Hạt Mè (Lơnga/Hạt mè). Người Việt đọc chệch âm từ Lơnga thành La Ngà.

Nhưng với cách giải thích có sức thuyết phục hơn, theo Đại Nam Quấc Âm tự vị- Huình Tịnh Của, viết “Là Ngà” là tên một loài tre - mọc đầy hai bờ sông. Âm ngữ gốc địa danh này là Laghna. Người Việt mượn tên loài tre Là Ngà để phiên âm địa danh Laghna, về sau do đọc chệch thành La Ngà.(Cửa sổ tri thức, trg 56 -Pgs.Ts Lê Trung Hoa). Nguồn phù sa, trầm tích màu mỡ từ con sông “lực lưỡng” giữa đại ngàn này đã tạo nên những lưu vực phì nhiêu với những cánh đồng, đầm trũng, ngập nước quanh năm. Ở đây vừa là những cánh đồng rộng lớn, vừa là hồ nước ngọt mênh mông, tôm cá đầy đàn như Bắc Ruộng (Bác Dã), Đồng Kho, Biển Lạc/Lạc Dã… Từ đó trong dân gian có câu “cá Biển Lạc, lúa Đồng Kho”.

Đọc lại trang sử một thời

Sau Hòa ước Nhâm Tuất (1862) Nhà Nguyễn thỏa hiệp giao cho Pháp vùng lãnh thổ Nam kỳ Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nhưng vua Tự Đức âm thầm tính kế “Tạm thời khuất mình, không bị mất đất đai thì nên lắm”. Trước nguy cơ lần lượt mất thêm các tỉnh miền Tây, nhiều sĩ dân Nam kỳ bỏ xứ chạy ra vùng Giao Loan Bình Thuận lánh nạn. Đang lúc nghĩa quân Trương Định bị thất thế thì Phan Trung (Phan Cư Chánh/ Chỉnh) đứng ra tiếp lãnh sứ mệnh, rút quân về Giao Loan là địa bàn hiểm trở giữa Tánh Linh - Biên Hòa, không nằm trong nhượng địa Pháp để lập căn cứ. Với 500 nghĩa sĩ bất khuất của Phan Trung, khai phá vùng đất hoang để tự túc lương thực và rèn đúc vũ khí, xây dựng lực lượng tự xưng “Bình Tây Phó Nguyên Soái”, được vua Tự Đức ngấm ngầm ủng hộ với kế sách vừa đánh vừa đàm…

Năm Tự Đức thứ 30 (1877) Thị giảng học sĩ Nguyễn Thông được giao chức Doanh điền sứ tỉnh Bình Thuận, trực tiếp đi hội khám vùng La Ngư và vùng thượng du đã lập bản “Nghỉ thinh thượng du đồn khẩn sự nghi sớ” (Bài sớ khai khẩn đồn điền vùng thương du), có đoạn mô tả vùng đất vàng của Tánh Linh giữa núi cao rừng thẳm như thế này: “Biển Lạc vốn là một chằm lớn, mùa hè mùa thu mưa nhiều, các khe suối từ thượng nguồn đổ xuống, thế nước tràn trề, cá tôm đầy dẫy. Đầu xuân nước cạn, dân cư chọn cá tươi mà nấu, đến tháng tư mưa xuống mới thôi. Thật là một kho vô tận nuôi sống dân địa phương”(5). Không có gì lạ, khi phát hiện của đoàn hội khám ở phía bắc bờ sông La Ngư, phía nam đến núi Ông có “ruộng đã khai khẩn khoảng hơn 3.000 mẫu”… Nhưng vẫn còn thưa thớt dân cư mà chỉ có nhóm dân miền Nam đến Lạc Dã/Biển Lạc, lại mới dựng 15 nóc nhà! Có thể giải mã phần nào trong bối cảnh tình hình phong trào chống Pháp của Phan Trung. Đó là việc Phan Trung chiêu mộ 2.000 nghĩa binh tiếp tục chiến đấu và tổ chức 500 nghĩa binh, đã cùng với các sĩ phu thân tín trung thành của Trương Định, Tham tán quân vụ Lương Quang Quyền, Doanh điền sứ Nguyễn Văn Phương mộ phu, tuyển binh, khai khẩn đất hoang, lập “đồn diến khố”, tích trữ lương thảo… ở vùng đất này. Cho đến khi phải đương đầu trước nhiều áp lực từ triều đình Huế với Pháp, đành phải giải binh, coi như đã hết vai trò và phần lớn trở về quê nhà sinh sống hay tản lạc các nơi có cư dân ổn định. Bởi đây là vùng đất của tộc người miền núi sống gần gũi lâu đời với buôn rẫy và vẫn còn là vùng đất sơn lâm chướng khí. Thời Nguyễn Thông khi đi sâu vào vùng này rất khó mà giao tiếp với người dân tộc bản địa. Thậm chí họ còn trốn chạy nên những cuộc khảo sát không có người dẫn đường. Cho nên những mộ phu, nghĩa sĩ, lưu dân người kinh dù từng có mặt ở đây cũng khó thích nghi để chọn lựa cuộc sống an cư lập nghiệp.

Trong lịch sử hình thành vùng đất Giao Loan Biên Hòa - Tánh Linh (Bình Thuận) có một lợi thế chiến lược và trở thành căn cứ khá an toàn để xây dựng lực lượng cho phong trào yêu nước trong thời kỳ chống Pháp ở miền Đông Nam bộ. Không xa mấy với các địa danh Lạc Dã, Bác Dã, Dã An, Võ Xu, Võ Mang… dù quá trình biến đổi các địa danh do phát âm, chữ viết nhưng vẫn là một bằng chứng khá sinh động trên bản đồ vùng đất huyện Tánh Linh xưa và nay.

Mối quan hệ giữa Bình Thuận với hạt/trấn Biên Hòa khá đặc biệt trong hiệp đồng giữ ấn quan phòng tuần phủ. Như trường hợp cử chức án sát Bình Thuận đi làm án sát Biên Hòa hay năm 1849, đưa Phó lãnh binh Biên Hòa là Lê Công Đức thăng chức lãnh binh quan tỉnh Bình Thuận. Đặc biệt hơn, bố chánh Biên Hòa Phạm Duy Trinh thấy dân trong hạt ngày càng tăng mà đất đai khô cằn nên nghĩ tới việc khai phá đất hoang với nhiều chính sách ưu đãi thuế, miễn đi lính để người dân đến vùng đất Chủ Chân (núi Chứa Chan) lập nghiệp. Thấy nguy cơ “tụ nghĩa” của những người dân có tinh thần kháng Pháp từ các nơi đến đây lánh nạn nên năm1866 triều đình Huế bị sức ép của Pháp phải ra lệnh đình chỉ việc khai khẩn đồn điền ở Tánh Linh (theo Địa chí Đồng Nai). Tiếp đó, năm 1890 lệnh “sáp nhập lãnh thổ người Mọi ở Tánh Linh vào Biên Hòa” (ĐCĐN- trang 203). Để dễ bề quản lý, năm 1899, Pháp cho thành lập quận núi Chứa Chan (thuộc tỉnh Biên Hòa). Sau đổi thành quận Võ Đắc, quận lỵ đặt tai xã Gia Ray. Năm 1912, bãi bỏ quận Võ Đắc để nhập vào quận Xuân Lộc (1924) đặt quận lỵ tại Xuân Lộc (thành phố Long Khánh hiện nay).

Nói đến địa danh hành chính quận/huyện Võ Đắc và liên hệ lại thị trấn Võ Đắc cũng là quận lỵ của quận Hoài Đức thời VNCH thuộc tỉnh Bình Tuy (1957-1975). Trong sách Nam Kỳ Địa Hạt Tổng Thôn…(1892) ghi Hạt Biên Hòa có 17 tổng, 196 thôn, trong đó tổng Bình Tuy có 7 thôn, gồm Cao Cang, Định quán, La Canh, Lý Lịch, Thuận Tòng, Túc Trưng, Vĩnh An. Phù hợp với bản đồ “Annuaire de l’Indochine.Hanoi 1910”- trên đất huyện Tánh Linh xưa đã có tổng Bình Tuy. Năm 1899, tổng Bình Tuy nhập vào tỉnh Đồng Nai Thượng. Cạnh bên là Hạt Biên Hòa/ Đồng Nai có tổng Phước Thành, trong đó có các thôn Gia An, Trà Tân và Dõ Đắt/ Võ Đắc…(6) là địa danh quận lỵ Hoài Đức trước đây- là một thị trấn của huyện Đức Linh ngày nay.

Những địa danh tên đất Tánh Linh- Đức Linh xưa nay và cả tỉnh, hạt Biên Hòa/Đồng Nai xen lẫn, chồng lấn lên nhau ở một số địa bàn giáp ranh của hai tỉnh Bình Thuận - Đồng Nai, đã làm nên sự giao thoa, tính cách, nếp sống văn hóa của con người ở đây, bởi dung hợp một phần Nam bộ hào phóng, một xứ miền Trung nghĩa tình…

Tại sao thời Ngô Đình Diệm khi ký sắc lệnh thành lập tỉnh Bình Tuy (24/1/1957) lại chọn địa danh hành chính là Bình Tuy? Có suy diễn cho rằng ghép hai tỉnh lân cận, chọn một từ Bình của Bình Thuận với Tuy của Phước Tuy! Chẳng lẽ đơn giản vậy, vì Phước Tuy cũng là một tỉnh mới cùng thời gian thành lập tỉnh Bình Tuy. Từ đó mới thấy sự tính toán của Ngô Đình Diệm, không những chọn địa bàn La Gi, Hàm Tân với vùng biển đã ổn định về cư dân mà vẫn phải mở rộng lên vùng cao Tánh Linh, đất đai trù phú, được coi là địa bàn chiến lược về quân sự lẫn kinh tế ở cuối dãy Trường Sơn. Cho nên mới tách phần đất rộng lớn của Tánh Linh lập quận Hoài Đức và quận lỵ ban đầu đặt tại Bắc Ruộng.

Những cột mốc để khởi đầu

Trong kháng chiến chống Pháp, vùng đất Tánh Linh nối dài với miền Đông Nam bộ, trở thành một căn cứ địa kháng chiến vững chắc có tầm chiến lược rất quan trọng. Dấu mốc mang tính lịch sử lớn nhất, sau hơn 50 năm (1904 - 1956) địa danh hành chính huyện Tánh Linh thuộc tỉnh Bình Thuận, tồn tại trên bản đồ tỉnh Bình Thuận để trở thành một thành trì căn cứ cách mạng, kiên cường nhất với cuộc chiến chống Mỹ oanh liệt. Đây cũng là vùng đất thật sự giàu tiềm năng thiên nhiên nên chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương đưa dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đến các khu Dinh điền Bắc Ruộng, Nghị Đức, Mê Pu, Sùng Nhơn ở Hoài Đức và Gia An, Võ Xu, Hiếu Tín, Đồng Kho, Tà Pao ở Tánh Linh. Tiếp đó là các đợt di dân từ Quảng trị, Thừa Thiên - Huế… đến lập nghiệp. Đất Tánh Linh, Hoài Đức trở thành đất tỵ địa, đất tụ nghĩa, đất của người dân tứ xứ chăm chỉ lao động, không chịu khuất phục và có ý chí vươn lên để thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu.

Tháng 7/1960, trận đánh hủy diệt Chi khu quận Hoài Đức - Bắc Ruộng có ý nghĩa lịch sử gây chấn động toàn miền và buộc địch phải dời quận lỵ Hoài Đức về xã Võ Đắc và từ năm 1980 đặt tại thị trấn Võ Xu. Sau ngày thống nhất đất nước 1975, với chủ trương của Trung ương, hai huyện Tánh Linh và Hoài Đức được sáp nhập thành huyện Đức Linh. Đây cũng bí danh của tổ chức Đảng của huyện căn cứ cách mạng Nam Thành từ năm 1970.

Ngày 26/4/1983, huyện Đức Linh lại được tách thành hai huyện Tánh Linh và Đức Linh, để mở ra một trang sử mới cho chặng đường xây dựng và phát triển. Phía Bắc sông và Nam sông của dòng sông La Ngà như một chứng nhân lịch sử của vùng đất lắm thăng trầm nhưng giàu lòng nghĩa khí…                    

Trích và tham khảo từ:

*Đại Nam Nhất Thống Chí -Bình Thuận (2)

*Địa chí Bình Thuận- (1).

*Nguyễn Thông, con người tác phẩm- (5).

*Từ điển Địa danh đối chiếu –Sakaya (3).

*Gia Định Thành Thông Chí -(4)

*Nam kỳ địa hạt tổng thôn- (6) Sách ghi: thôn Dõ Đắt- là đọc, viết theo âm Nam bộ thay vì Võ Đắc- địa danh này có từ trước 1892.        

PHAN CHÍNH