Tuesday, May 23, 2023

 

ĐÊM NOEL GIỮA RỪNG BÙ BÔNG

0
Lượt chia sẻ
202
Lượt xem

ĐÊM NOEL GIỮA RỪNG BÙ BÔNG

Trình Tự Kha

Một ngày cuối năm tôi có chuyến công tác lên Tây Nguyên, qua Đồng Xoài xe lăn bánh vào con đường Hồ Chí Minh huyền thoại . Đường Hồ Chí Minh hôm nay là đại lộ thênh thang ,còn giữa rừng đại ngàn kia không biết có còn dấu vết con đường mòn Hồ Chí Minh ngày xưa tôi đã cùng đồng đội của Đoàn 2020-Hà Nội hành quân vào Nam ( ? ). Hơn 3 tháng trời ròng rã từ Trạm khách Làng Ho,vượt dốc 1001, qua ngã ba Đông Dương, vượt sông Mê Công…chúng tôi mới tới những cánh rừng Tây Ninh . Xe vẫn lao đi giữa hun hút núi rừng, những địa danh bên đường Kiến Đức, Bu-pờ-răng…đưa tôi về với ký ức của một thời chinh chiến.
Ngày đó Trung đoàn 174 ( đoàn Cao- Bắc- Lạng) trong đội hình Công trường 5 ( nay là Sư đoàn 5 BB-QK7) đứng chân 2 bên con lộ ủi Lệ Xuân trãi dài từ cầu Cần Đăng đến ngã ba Đồng Pan ( Tây Ninh). Một ngày trung tuần tháng 12 năm 1973 Trung đoàn được lệnh hành quân bằng xe cơ giới lên Bù Bông ( Kiến Đức) để dành lại đoạn hành lang Đông Trường Sơn bị địch lấn chiếm sau Hiệp định PARI. Những ngày cuối năm trên Tây Nguyên trời rét đậm, bộ đội co ro trong tấm áo sợi mới được phát khi lên đây. Sau mấy ngày ổn định vị trí đóng quân,đêm 24 tháng Chạp khẩu đội pháo DKZ 75 ly của tôi được lệnh xuất quân phối thuộc với Tiểu đoàn 5 phục kích đánh địch lên tăng viện hòng tái chiếm cứ điểm Bù Bông . Trời sập tối chúng tôi vừa vượt qua suối Đá Bàn thì gặp Đại đội trưởng Lê Minh Huệ cùng Tham mưu trưởng Trung đoàn Vũ Cam đứng đón bên bìa rừng đưa bộ đội vào trận địa phục kích , đó là một quả đồi sỏi đỏ cây rừng rậm rạp sát bên con lộ 88, đào hầm xong chúng tôi ngồi nhai gạo rang chờ địch đến . Sáng hôm sau khi nắng lên sương tan chúng tôi nghe rõ tiếng gầm rú của đoàn xe địch đang tiến vào trận địa phục kích của D5. Những giây phút chờ đợi căng thẳng rồi cũng qua,đã có lệnh nổ súng, cùng với hoả lực B40,B41…của bộ binh chúng tôi nã đạn vào chiếc xe tăng địch dẫn đầu . Địch phản ứng quyết liệt, pháo từ Kiến Đức bắn lên, bộ binh địch tràn xuống mép đường chống trả điên cuồng . Rừng cây dày đặc, ta với địch cách nhau không đầy 50 mét mà không nhìn thấy nhau. Lính pháo chúng tôi phải dùng AK và lựu đạn quần nhau với giặc, một quả đạn M79 nổ ngay trên cành cây trước mặt tôi ,sau tiếng nổ tôi cảm thấy như vừa bị một vật gì giáng mạnh vào trán, lột chiếc mũ tai bèo xuống tôi đã thấy máu tràn khắp mặt , Đinh văn Lâu pháo thủ số 2 cùng hầm với tôi quýnh lên lấy nguyên một nắm thuốc lào đắp vào vết thương của tôi rồi băng lại , phải mất 2 cuộn băng cá nhân máu mới ngưng chảy xuống mặt. Mệt,đói,khát nước và lạnh tê người..tôi ngồi dựa vào vách hầm chờ trận đánh kết thúc . Tiếng súng bộ binh thưa dần rồi tắt hẳn,chỉ còn tiếng pháo địch rít trên đầu và tiếng máy bay địch lượn vòng dội bom vào khu rừng . Trận đó quân ta thắng to, tiêu diệt gần hết đoàn xe địch,bắt sống nhiều tù binh,thu nhiều vũ khí và chiến lợi phẩm . Lính C5 đi ngang đưa tôi một hộp cá mòi và lương khô ăn cho đỡ đói rồi đồng đội dìu tôi về Phẫu tiền phương . Bác sĩ Chương, Trưởng trạm phẫu tiền phương xem vết thương,mổ gắp những mảnh đạn M79 còn nằm trên đầu rồi khâu lại, 4 mũi khâu không có thuốc tê làm đau tê tái . Đêm đó tôi và một số thương binh nhẹ đi cùng đội tải thương của C22 khiêng các thương binh nặng về Bệnh viện trung tuyến YV20 thuộc Đoàn 770 .Pháo địch vẫn bắn đuổi theo đoàn quân vừa thắng trận, khi ra khỏi tầm pháo địch đội tải thương dừng nghỉ giữa rừng , một đống lửa to được đốt lên để xua đi cái lạnh giá của núi rừng Tây Nguyên.Bây giờ tôi mới thấy mệt rã rời…ly sữa được uống lúc ở Phẫu tiền phương đã tan đâu mất, đã đói lại càng lạnh,vết thương đau nhức hơn,ôi sao nhớ và thèm đến thế tô cháo gà vừa cay vừa nóng của Má nấu ngày nào…Đội trưởng đội tải thương sục sạo trong nương rẫy của đồng bào gần đó tìm được mấy trái bắp già,bắp nướng trên than hồng rồi lấy dao găm chia cho mỗi người một mẩu, vừa xuýt xoa nhai vừa thấy vị ngọt của trái bắp thấm vào tận tim gan, bữa tiệc đêm Noen năm 1973 của tôi là như thế đấy. Mấy thương binh nặng phải cáng bằng võng được các chiến sĩ vận tải chặt cây rừng làm nạng chống để nghỉ ngơi,tôi ngồi dựa lưng vào võng của anh Luyện thiu thiu ngủ. Anh Luyện lớn hơn tôi vài tuổi, nhập ngũ từ Nhà máy dệt 8/3, cùng huấn luyện ở Nho quan ( Ninh Bình),nhưng khi đi B thì anh ở C2 tôi ở C1 của Đoàn 2020 .Lúc gặp nhau ở Trạm phẫu tiền phương tôi thấy anh phải băng trắng toát cả đầu và đang mê sảng, tôi lay gọi nhưng anh không còn nhận ra tôi .Trinh sát của Trung đoàn thông báo đoạn đường phía trước có biệt kích địch nống ra,ta đang bao vây tiêu diệt nên xe cứu thương không vào đón được ,đành phải chờ thông đường. Tôi cố ru giấc ngủ ngồi, chợt thấy lưng mình cứ lạnh dần…lạnh dần…quay lại sờ lên mặt anh Luyện không thấy anh phản ứng gì, tôi vội gọi Y sĩ hộ tống,anh Y sĩ từng trãi trận mạc bật đèn pin soi , áp tai nghe lên ngực anh Luyện rồi lắc đầu “ anh ấy đi rồi..” Đường thông, đội tải thương lại cùng các thương binh lên đường .Trời sáng dần nhưng sương vẫn còn dày đặc, qua suối Đá Bàn , mấy chiến sĩ vận tải khiêng anh Luyện tạt vào bãi đất trống bằng phẳng ven rừng,nơi đã có hơn chục nấm mộ của các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh chốt Bù Bông. Đoàn tải thương vẫn đi tiếp,tôi nán lại cùng mấy chiến sĩ của C22 mai táng anh Luyện, chúng tôi liệm anh bằng chính chiếc võng anh đang nằm,thêm một tấm tăng bọc bên ngoài,một lọ pênicilin đựng tấm giấy ghi tên tuổi,quê quán và ngày hy sinh của người vừa nằm xuống đó…thế thôi,chúng tôi không thể tìm đâu ra tấm bia ghi danh liệt sĩ để chôn trên mộ anh, một nén nhang cũng không thể có giữa vùng chiến trận…tôi ngắt một cành hoa sim tím bên đường cắm lên mộ anh thay cho lời tiễn biệt .
Thoắt đã 47 năm rồi, sau chiến tranh tôi đã qua nhiều vùng đất, từ Duyên Hải-Cần Giờ, Côn Đảo , Vũng Tàu…nhưng vẫn chưa một lần trở lại thăm chiến trường xưa . Hài cốt của anh Luyện và các liệt sĩ hy sinh trong chiến dịch Bù Bông, Kiến Đức năm nào có được về quê, được an táng trong một Nghĩa trang liệt sĩ nào đó của đại ngàn Tây Nguyên,hay vẫn nằm đấy ven rừng và đã tan vào lòng Đất Mẹ (?) . Đất nước này còn hơn 200 ngàn liệt sĩ vẫn còn nằm đâu đó giữa rừng Trường Sơn,trong bưng biền Đồng Tháp,hay trên đất bạn Lào, Campuchia…chúng tôi mãi nợ các Bà Mẹ đau đáu mong con về,dù chỉ là nắm đất đen phủ lá cờ Tổ quốc ..chúng tôi mãi nợ các anh,những đồng đội thân yêu của một thời chinh chiến, đi mãi không về…

 

TẠI SAO QUÂN VNCH TẠI BAN MÊ THUỘT TỰ ĐỘNG TAN HÀNG ?

*( Trích sách “Giải Mã Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh ).

Binh lính Sư đoàn 23 BB/VNCH  

Quảng cáo
REPORT THIS AD

Ngày 10 tháng 2 năm 1955, Sư đoàn 6 Bộ binh được thành lập. Dân chúng quen gọi là Sư đoàn Nùng.  Sở dĩ gọi là Sư đoàn Nùng bởi vì binh sĩ trong Sư đoàn gồm 8.400 người tuyển từ dân Bắc di cư đang định cư tại thị trấn Sông Mao và thị trấn Sông Lũy thuộc tỉnh Bình Thuận.  Sư đoàn do Đại tá Woòng A Sáng chỉ huy.

Đến tháng 9 năm 1955 Sư đoàn được đổi tên thành Sư đoàn dã chiến 41.  Hai tháng sau đổi thành Sư đoàn Khinh chiến số 3 ( Sau này trở thành Sư đoàn 5 Bộ binh ).  Nhưng đến cuối năm 1958 nhập thêm 2 trung đoàn biệt lập ( Trung đoàn 130 và 162 ở vùng Biên Hòa, Định Quán ) và  tách 2 trung đoàn Nùng đưa ra Dục Mỹ, nhập thêm một trung đoàn lấy từ Quy Nhơn; lập thành Sư đoàn Khinh chiến số 15, gồm có 3 trung đoàn là Trung đoàn 43, 44, và 45.  Bộ tư lệnh đóng tại Dục Mỹ.

Quảng cáo
REPORT THIS AD

*( Tháng 5 năm 1965 thành lập Sư đoàn 10 Bộ binh.  Trung đoàn 43 trở thành một trung đoàn của Sư đoàn 10 BB, gồm có Trung đoàn 43, 48 và 52.  Thay vào đó Trung đoàn biệt lập 53 đang đóng tại Di Linh được nhập vào Sư đoàn 23 BB, thay thế cho Trung đoàn 43.  Trung đoàn 53 có 2 tiểu đoàn người Thái gốc Sơn La, Lai Châu, Mộc Châu ).

Sau này Sư đoàn Khinh chiến số 15 được đổi thành Sư đoàn 23 Bộ binh.  Binh sĩ của Trung đoàn 44 và 45 nguyên thủy là của Sư đoàn 6 Nùng, có quê quán tại vùng Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Mông Cáy.  Kết quả của Hiệp định Geneve 1954 đã đưa đẩy cho các tiểu đoàn Nùng di cư vào Nam, mang theo vợ con của các chiến binh Nùng.

Đến định cư tại Sông Mao và Sông Lũy, tất cả lực lượng lao động chính của khu định cư là 8.400 chiến sĩ của Sư đoàn Nùng, họ không có thời gian để theo đuổi nghề nông như dân di cư tại các khu trù mật hay khu dinh điền khác bởi vì họ phải làm nhiệm vụ của người lính và cả gia đình sống nhờ vào đồng lương của người lính.

Quảng cáo
REPORT THIS AD

Rồi vì nhu cầu của chiến trường Việt Nam mà gia đình các quân nhân thuộc Sư đoàn Nùng phải theo chồng, cha mà dời chỗ định cư từ Sông Mao ra Dục Mỹ, Ban Mê Thuột, Phan Rang, Di Linh.  Cho nên cuộc sống của họ, nhất là việc học hành của con cái không được ổn định. Vả lại đồng lương của người lính chỉ đủ nuôi sống gia đình chứ không có dư để tích lũy hay tạo dựng nên sự nghiệp riêng.

Cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 của quân CSVN đã vô tình xác định một thực tế chua xót :  Khi chiến trận bùng nổ mạnh tại Kontum, quận Tân Cảnh thất thủ, Sư đoàn 22 Bộ binh bị đánh tan, thì các chiến binh của Sư đoàn 23 Bộ binh phải tiến lên địa đầu giới tuyến để ngăn chặn sức tiến của 3 Sư đoàn CSVN với xe tăng từ ngoài Bắc tràn vào.

Ba tháng sau thì Sư đoàn 23 đã tạo nên kỳ tích, họ đã chiến thắng oanh liệt và giữ vững Cao Nguyên.  Nhưng cũng từ đó thì họ phải luôn luôn hành quân liên tục, cho tới tháng 3 năm 1975 không người nào được đi phép thường niên, và các đơn vị của SĐ 23 không bao giờ được trở về BMT để nghĩ ngơi, họ chỉ có hành quân tạt ngang BMT trong những lần đánh nhau tại Quảng Đức vào năm 1973, 1974.

Quảng cáo
REPORT THIS AD

Nhưng trong các lần tạt ngang đó họ đã được biết những sự thật chua xót :  Trong Mùa Hè 1972, sau khi Tân Cảnh thất thủ và Kontum bị đe dọa thì dân chúng BMT tản cư về Nha Trang để đề phòng chiến tranh lan khắp Cao Nguyên.  Rốt cuộc thành phố BMT chỉ còn lại gia đình của những quân nhân Sư đoàn 23 BB.

Họ không tản cư được bởi vì họ không có tiền để làm lộ phí di tản.  Trong suốt thời gian mà tính mạng của những người lính được tính từng ngày trên chiến trường Kontum thì tại Ban Mê Thuột những người vợ và những người con của họ cũng phập phồng trong âu lo tuyệt vọng.

Đây là bài học đau đớn khiến cho những chiến binh thuộc sư đoàn 23 BB/VNCH đã có quyết định sẵn trong đầu là họ sẽ bỏ quân đội để lo cho gia đình một khi chiến trận tại Cao Nguyên tái diễn một lần nữa.

Không lạ lùng gì khi những người lính Trung đoàn 44, 45 đã cởi áo lính sau khi được trực thăng vận xuống Phước An…! Không lạ lùng gì khi những người lính của Trung đoàn 53 BB đã cởi áo lính sau khi chứng kiến Tướng Lê Trung Tường dùng trực thăng để bốc riêng gia đình của ông ta…!

Những người đàn ông Việt Nam thộc Sư đoàn 23 BB/VNCH, và các sư đoàn sau này nữa, đã quyết định quay về lo cho gia đình và bản thân sau khi biết chắc tập thể quân đội không thể nào hoàn thành nhiệm vụ đối với đất nước. Không ai trách được họ.

Binh lính Liên đoàn 21 Biệt Động Quân

Tiền thân của liên đoàn 21 BĐQ là những đại đội Biệt kích Mỹ thộc lực lượng Dân Sự Chiến Đấu ( CIDG ) do CIA tuyển mộ và trả lương.  Theo hồi ký của tướng Westmoreland thì tổng cộng quân Biệt kích Mỹ là 45 ngàn người, hầu hết là dân tộc Thiểu số sinh sống dọc theo dãy Trường Sơn.

Một câu chuyện minh họa :  Ngày 23-11-1967, quân CSVN tấn công đồn Huoei Sane (Huội San) của quân đội Lào.  Sáng hôm sau, quân đội Lào gồm 519 người chạy về biên gới Việt Nam cùng với khoảng 2.000 thân nhân của họ (sắc tộc Cả), được quân VNCH trong đồn Làng Vei tiếp nhận và đưa về tạm trú tại đồn Làng Vei cũ.

Con số 519 quân nhân Lào chạy sang Việt Nam cùng với 2.000 thân nhân là một điển hình của chiến tranh Việt Nam.  Từ thời Pháp người ta thường bỏ tiền ra thuê nguyên một buôn làng người Miền Núi đi lính cho Pháp, nhưng chỉ có đàn ông con trai cầm súng và nhận lương, còn người già, đàn bà và trẻ con thì sống nhờ tiền lương của đàn ông con trai.

Trước kia trong thời bình thì người già, đàn bà và trẻ con sống nhờ sức lao động làm nương rẫy của quý ông.  Nhưng trong chiến tranh thì tất cả đàn ông trong làng đều ký hợp đồng đi lính cho Pháp giống như ký hợp đồng mộ phu đồn điền.  Công việc sản suất lúa gạo bị dẹp lại vì không còn lực lao động, toàn bộ dân làng sống nhờ vào đồng lương của những người lính.

Tính ra thì cả làng đi lính lợi hơn là làm nương rẫy.  Làm rẫy thì chỉ đủ lương thực cho tới ngày giáp hạt mùa sau nhưng phải làm lụng rất vất vả và đôi khi có thể bị mất mùa.  Còn như tất cả trai tráng đi lính thì tiền lương dư sức mua gạo cho cả làng mà không phải làm lụng, chỉ cần lên đồn canh gác vào ban đêm, ban ngày thì về nhà nghỉ ngơi.  Cho nên hễ lính đóng đồn ở đâu thì dân chúng dời buôn làng đến sinh sống ở gần đấy.  Và khi những người lính bị quân CSVN đánh phải bỏ chạy thì bắt buộc cả làng phải chạy theo bởi vì ở lại thì không còn lương thực để sinh sống.

Sang tới thời Mỹ vào Việt Nam thì tình trạng cũng diễn ra y như vậy.  Do đó tinh thần chiến đấu của những chiến binh người Miền Núi không có.  Họ chỉ đi lính để lấy lương sinh sống cho buôn làng chứ không phải để chiến đấu.  Rốt cuộc một khi trận chiến nổ ra thì họ quăng súng bỏ chạy cùng với gia đình của họ.

Suốt thời gian quân đội HK hiện diện tại chiến trường Việt Nam thì 45 ngàn tay súng Biệt kích trở thành lực lượng chủ yếu bảo vệ biên thùy VNCH trên dãy Trường Sơn.  Tuy nhiên vì tính cách hợp tác lỏng lẻo, lấy đồng tiền lương và tiền thưởng làm căn bản, cho nên tinh thần chiến đấu của người dân Miền Núi rõ ràng là đánh thuê với mức tiền thưởng được tính trên từng xác chết và từng cây súng tịch thu được

*( Vào thời điểm 1970, một xác chết được trả 2.000 đồng VNCH, một cây súng trường hay tiểu liên là 2.500 đồng, một cây B.40 là 4.500 đồng, một cây đại liên là 11.000 đồng, một cây súng cối là 20.000 đồng, v.v… ).

Đến năm 1970 Lực lượng Dân sự chiến đấu ( Biệt kích ) được giải tán, tất cả 45 ngàn tay súng Biệt kích được chuyển qua Biệt động quân Biên phòng hay Địa phương quân, người lính sắc tộc thiểu số không còn gì để phải ràng buộc với chính phủ VNCH, bởi vì tiền lương của quân đội VNCH chỉ còn lại 1 nửa so với lương của một Biệt kích quân ( Thời điểm 1970, lương của một Biệt kích quân độc thân là 7.200 đồng, trong khi lương của một người lính thuộc sư đoàn Bộ binh là 3.600 đồng ).  Và tiền thưởng cho chiến công chỉ còn là chiếc huy chương Anh dũng bội tinh, không thể nào đổi thành lương thực cho gia đình.

Quảng cáo
REPORT THIS AD

Các buôn làng người Miền Núi nhanh chóng rơi vào khủng hoảng vì đột nhiên thu nhập giảm xuống 1 nửa, trong khi họ không thể nào mở ra công việc làm nương rẫy như xưa bởi vì không còn dụng cụ và hạt giống ngũ cốc, cũng như kinh nghiệm canh tác bị thất truyền.

Những người chiến binh Miền Núi đành phải tiếp tục bám vào quân đội VNCH như là một nguồn thu nhập bất đắc dĩ.  Và rồi đến cuối năm 1974, Hoa Kỳ giảm viện trợ quân sự, đồng bạc VNCH bị sụt giá còn 65%.  Người chiến binh Miền Núi bắt đầu nghĩ tới chuyện chia tay với quân đội VNCH nhưng họ còn chùng chình chưa chia tay được bởi vì hễ chia tay thì chết đói cả buôn làng.

Vì vậy không có gì là lạ khi Liên đoàn 21/BĐQ từ hơn 2.000 người chỉ còn 110 người trong vòng 4 ngày mà không đánh một trận nào.  Các chiến binh sắc tộc Miền Núi  đành phải buông súng để trở về lo cho buôn làng trong viễn ảnh đen tối, bởi vì trước đây họ đã lỡ gây hận thù với quân CSVN.

Quảng cáo
REPORT THIS AD

Không ai trách được họ.  Người Miền Núi đã phải hy sinh quá nhiều trong cuộc chiến Đông Dương 1950-1954, cũng như trong cuộc chiến Việt Nam 1959-1975.  Với bản chất hiếu hòa cho nên họ ít bị chết vì đánh nhau nhưng hầu hết họ bị chết vì miếng ăn, miếng sống của họ bị lệ thuộc vào chiến tranh.

Một khi chiến tranh kết thúc thì đương nhiên miếng sống của người Miền Núi cũng kết thúc.  Họ bị rơi vào thảm họa tuyệt chủng do vì không còn hạt giống, kinh nghiệm gieo trồng, dệt may, đan lát… bị thất truyền.  Họ không còn khả năng tự kiếm ra lương thực và tự tạo các vật dụng sinh hoạt hàng ngày cho nên họ phải tiếp tục sống dựa vào núi rừng với kiếp lượm hái như loài vượn khỉ.  Cuối cùng là chết dần chêt mòn vì đói và suy dinh dưỡng.

Sau năm 1975 chính quyền CSVN phủi tay với những người Miền Núi tự sinh sống trong vùng rừng sâu biên giới hay trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh.  Họ cũng phủi tay đối với những dân tộc Miền Núi từng theo Pháp, theo Mỹ chống lại họ. Còn người Pháp, người Mỹ thì phủi tay sớm hơn nữa, trong khi họa tuyệt chủng là do người Pháp, người Mỹ gây ra.

Quảng cáo
REPORT THIS AD

BÙI ANH TRINH

Tướng Thiệu, Tướng Khang và Tướng Phú thăm viếng anh em binh sĩ Liên đoàn 24/BĐQ tại vùng hỏa tuyến Quảng Đức trong dịp tết 1975. Không ai ngờ đây cũng là lần thăm cuối cùng giữa những ông tướng tư lệnh với những người lính VNCH.

 Ngày 5/12/1973: quận lỵ đầu tiên bị mất kể từ ngày ngưng bắn và kho xăng Nhà Bè bị phá hoại.


Lời nói đầu: Sau khi ký kết hiệp định Paris ngày 27/1/1973, do quân viện bắt đầu cắt giảm và ko còn quân đồng minh như Mỹ, Úc, Hàn Quốc, v.v... nên tương quan lực lượng đã có lợi rất nhiều cho quân CSBV. Vì đạn dược, xăng nhớt và phụ tùng bị cắt giảm mạnh mẻ nên quân lực VNCH đã giảm bớt các cuộc hành quân, đại bác ko còn bắn thoải mái như trước, v.v... Do ko còn máy bay B-52 đánh phá đường mòn HCM nên quân CSBV đã tha hồ di chuyển ngày đêm, đưa cả những chiến cụ nặng nề như xe tăng T-54, đại bác 130 ly, và súng phòng không 37 ly, v.v... vào quân khu 1,2, và 3. Một trận tấn công vào đầu tháng 12/1973, nghĩa là chưa tới 11 tháng sau ngày ngưng bắn, vào quận lỵ Kiến Đức của tỉnh Quảng Đức, với sự tham dự của khoảng 20 xe tăng T-54, là một bằng chứng hùng hồn về tác hại của hiệp định Paris đối với quân và dân miền Nam. Đây là quận lỵ đầu tiên bị tấn công sau khi ký kết hiệp định Paris 1973.

Sau đây là chuyển ngữ từ bài viết của James Markham, đặc phái viên của báo New York Times, viết tắt là NYT, và đăng ngày 5/12/1973.

"SÀI GÒN, Nam Việt Nam, thứ tư, ngày 5/12/1973--Khi các xe tăng và lính CSBV đã tấn công và chiếm một quận lỵ trong tỉnh Quảng Đức xa xôi và đầy núi non, họ đã lần nữa tái tục cuộc tấn công kéo dài cả tháng nay nhằm kiểm soát một hệ thống đường xá quan trọng ở Cao nguyên Trung phần, phát ngôn viên của QLVNCH thông báo sáng nay.
Cuộc tấn công vào quận lỵ Kiến Đức, 120 dặm hay 193 km bắc-đông bắc của thủ đô Sài Gòn, là một cuộc tấn công trực diện đầu tiên của CS vào một quận lỵ kể từ HĐ Paris 1973 có hiệu lực vào tháng Giêng.


Sau khi chiếm Kiến Đức, quân CSBV đã sẵn sàng để di chuyển từ thành phố nhỏ bé chuyên về khai thác gỗ (logging) này, mà dân số khoảng 5.000 người để tiến tới Gia Nghĩa, tỉnh lỵ bị cô lập của tỉnh Quảng Đức, ở cách đó 13 dặm hay 20,9 km về phía đông và nằm trên một con đường đất ngoằn nghoèo.
Phát ngôn viên nói rằng Kiến Đức đã mất lúc 6:30 sáng hôm qua khi quân csbv, hỗ trợ bởi khoảng 20 xe tăng, đã tấn công quận lỵ lần thứ tư trong cùng ngày. Có nhiều báo cáo cho biết cận chiến ác liệt (bitter) đã xảy ra trên đường phố trước khi BCH trung đoàn và quân trú phòng rút lui về Gia Nghĩa.
Trung tá Lê Trung Hiền, người phát ngôn của QLVNCH, nói rằng trước đó Bắc quân đã bắn 300 đạn đại bác 105-ly vào Kiến Đức, hủy diệt đạn dược và vài đại bác. Các phản lực chiến đấu cơ, đã bay 58 phi xuất khắp tỉnh, bắn cháy hai xe tăng T-54 ở ngoại ô của Kiến Đức, trước đó đã bị tấn công từ hướng tây và nam.
Ông nói thêm sđ 9 CSBV, từng tràn ngập hai tiền đồn trên QL-14 trong trận đánh ngày 4/11, đã tấn công khắp tỉnh. Tin cho biết năm xe tăng của địch đã bị bắn cháy ở các nơi khác trong tỉnh.
Ông cho biết tại tỉnh Quảng Đức, Bắc quân có 75 người chết; nhưng ko nói rõ tổng số thiệt hại của quân chính phủ tại Quảng Đức dù có 4 người chết và 18 bị thương trong một cuộc đụng độ.
Ông nói bộ binh csbv, hỗ trợ bởi xe tăng, đã tấn công vài vị trí của quân chính phủ (CP) ở nam Bu Prang và Bu Bong và phía tây của ngã ba Dak Son.
(Nói thêm: Bu Prang là một trại LLĐB nằm ở phía tây của QL-14; và Bu Bong là một đồn ĐPQ với quân số một đại đội ở phía đông nam của Bu Prang và cách xa QL-14 vài km. Hai nơi này bị tấn công ngày 4/11.
Dak Song là một ngã ba trên QL14, có hai ngã: một ngã theo QL14 chạy về tây nam tới Tuy Đức, ngã thứ hai chạy về đông nam, còn gọi là liên tỉnh lộ 8B (LTL-8B), chạy qua Đạo Trung, Nghi Xuân-những làng Công giáo mà TT Diệm đã đưa dân di cư 1954 lên đây để khẩn hoang lập ấp. LTL này chạy tới tỉnh lỵ Gia Nghĩa và tiếp tục tới Di Linh, dù đoạn này chỉ xử dụng một phần do mất an ninh sau khi TT Diệm bị lật đổ. (Tháng 3 năm 75, đoàn quân dân di tản từ Quảng Đức đã dựa một phần đoạn đường này để từ Gia Nghĩa đi Di Linh). Từ Di Linh, LTL-8B chạy tới Phan Thiết. Theo bản đồ của Hội Địa Lý Quốc Gia Mỹ in tháng 2 năm 1967 thì đoạn đường này tốt, ko bị gián đoạn. Tuy nhiên vào đầu thập niên 1990, lúc làm thông dịch cho người Pháp, chúng tôi đã dùng đường này để thăm một làng Chàm ở bắc Phan Thiết, đường rất xấu, tài xế phải thường xuyên nhảy ra khỏi xe để thảy những khúc gỗ lót đường cho xe chạy. -- Người dịch).
Phát ngôn viên Lê Trung Hiền cho biết trận chiến đã tiếp tục lan rộng khắp tỉnh và không quân VNCH đã thực hiện nhiều phi vụ nhằm yểm trợ những đơn vị bộ binh bị bao vây (beleaguered). Theo tin tình báo, cuộc tiến công của CS tại tỉnh thưa thớt dân cư này bắt nguồn từ một kế hoạch nhằm nối liền một con đường mới xây dựng (xuất phát từ phía bắc của Nam Việt Nam, chạy ngoằn nghoèo dọc theo biên giới Lào và Cam-bốt) với QL-14 ở Quảng Đức.
"Đường xá đồng nghĩa với lãnh thổ," một nhà quan sát quân sự thạo tin, đã nói rằng việc kiểm soát QL-14 ở Quảng Đức sẽ cho phép CS mở rộng vùng kiểm soát của họ về phía nam xuyên qua những lãnh thổ bao gồm các thành phố bị cô lập như Phước Bình và An Lộc. Nói thêm: Dù tỉnh lỵ An Lộc của tỉnh Bình Long ko bị mất trong năm 1972 nhưng phần phía bắc của tỉnh lỵ đã nằm trong tay CS như quận lỵ Lộc Ninh. Riêng tỉnh lỵ Phước Bình của tỉnh Phước Long, dù do VNCH kiểm soát tới tháng giêng 1975, nhưng việc di chuyển và tiếp tế bằng đường bộ rất khó khăn vì dễ bị phục kích. Tới cuối năm 1974, sau khi quận lỵ Đồng Xoài bị mất, tỉnh lỵ bị đe dọa và mất luôn.-- Người dịch.
Phát ngôn viên cho biết ba tiểu đoàn BĐQ, ba TĐ ĐPQ và một trung đoàn của sđ 23 bộ binh VNCH--khoảng 5.000 người--đã cố gắng bẻ gẫy kế hoạch kiểm soát QL14 của đối phương.
Trận chiến ác liệt tại Quảng Đức chỉ xảy ra một ngày sau khi CS tấn công kho xăng dầu ở Nhà Bè, kế phía nam Sài Gòn. Đây là cuộc tấn công gây nhiều tiếng vang kể từ HĐ Paris 1973 khi đã phá hủy khoảng 18 triệu ga-lông (1 ga-lông = 3.78 lít) các sản phẩm từ dầu hỏa. Cuộc tấn công bằng rốc-két này, theo một số nguồn tin, được thực hiện bởi đặc công, đã gây tác hại lớn lao cho nền kinh tế VNCH vì chiếm 45/100 khối lượng dầu hỏa dành cho dân sự của cả nước.
Chánh phủ đã lập tức ban bố một loạt biện pháp nhằm duy trì năng lượng.
Phái đoàn VC đặt tại sân bay TSN, lúc đầu đã chối bỏ (disclaim) trách nhiệm trong vụ tấn công kho xăng Nhà Bè, hôm nay đã ra thông báo rằng "dựa vào thông tin mới nhận", lực lượng của họ đã làm nổ kho xăng này.
Mỹ giúp VNCH bù đắp tổn thất.
Washington, ngày 4/12/1973 (UPI) -- Dù nước Mỹ đang khan hiếm nhiên liệu, Ngũ Giác Đài hôm nay đã nói sẽ thay thế số dầu hỏa đã bị phá hủy trong cuộc tấn công bằng rốc-két hôm qua. 18 triệu ga-lông bị phá hủy này--dù bằng 45/100 dự trữ dầu hỏa dành cho dân sự của VNCH--nhưng chỉ bằng 35 phút so với mức tiêu thụ mỗi ngày trong năm 1973 ở Mỹ."
Nói thêm: một thùng (barrel) = 42 ga-lông (gallon). Theo thông tin ở: https://www.energy.gov/.../fact-894-october-12-2015-us...
mức sản xuất các sản phẩm dầu hỏa mỗi ngày ở Mỹ năm 1973 là 17.03 triệu thùng hay 715.26 triệu ga-lông.
Do đó số dầu bị phá hủy ở VN lúc đó chỉ bằng: 18/715.26 = gần khoảng 1/40 số dầu hỏa tiêu thụ một ngày tại Mỹ năm 1973. Vì một ngày có 24 x 60 = 1.440 phút thì con số này chia cho 40 sẽ là: 36 phút. -- Người dịch.
===========================================
Thời gian để dịch bài này khoảng 2g 40 phút, dựa theo Stopwatch của iPhone XR.
SJ ngày 23/5/2023.



 








 


https://911gfx.nexus.net/vietnam/maps/nd48-16/nd48_16g.html

Monday, May 22, 2023

Quân đội VNCH tăng viện cho tỉnh lỵ Gia Nghĩa của tỉnh Quảng Đức. 

Lời nói đầu: Với vị trí chiến lược ở kế bên biên giới Cam-bốt và cách đó khoảng 60 km về phía đông là Ban Mê Thuột-thủ phủ giàu có và quan trọng nhứt của Cao nguyên Trung phần, từ năm 1968-69 đến 1973, tỉnh Quảng Đức đã thường xuyên bị CS quấy rối hay tấn công để nhằm thay đổi cán cân lực lượng. Vì nếu người CS làm chủ tỉnh này, đường Trường Sơn Đông, thay vì đi trên đất Cam-bốt, sẽ chạy trên QL-14, để đi tới tỉnh Phước Long của Vùng 3 Chiến Thuật. Hơn nữa, nếu tỉnh Quảng Đức, trong đó có quận Đức Lập, lọt vào tay CS, tỉnh lỵ Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac sẽ bị đe dọa. Và điều này đã xảy ra vào ngày 10/3/75, sau khi quận lỵ Đức Lập đã mất vào ngày trước đó.

Nhằm giúp các bạn trẻ tìm hiểu sự quan trọng của tỉnh này trong chiến tranh VN, tôi xin chuyển ngữ bài báo đăng ngày 6/12/1973 bởi đặc phái viên James M. Markham trên tờ New York Times. 

"Một gia đình người Thượng và tài sản quí giá của họ, một con voi, di chuyển trên con đường núi ngoằn ngoèo ở phía nam của cao nguyên Trung phần, ngày 8/12/1973, để trốn tránh chiến sự tại quận Kiến Đức của họ (nay thuộc huyện Dak R'lấp, tỉnh Dak Nông). Hàng ngàn người đã rời bỏ khu vực này khi các đv quân CSBV tiến công với xe tăng. Kiến Đức đã rơi vào tay CS, nhưng sau đó được tái chiếm". (Ảnh của phóng viên người Việt Nick Ut của hãng AP).
BẢN ĐỒ CHIẾN DỊCH QUẢNG ĐỨC NĂM 1973

"SÀI GÒN, Nam Việt Nam, thứ năm 6/12/1972--Quân tăng viện VNCH ngày hôm qua đã được chỡ tới Gia Nghĩa-tỉnh lỵ bị bao vây của tỉnh Quảng Đức, nơi đã xảy ra một số trận đánh ác liệt nhứt kể từ ngày ngưng bắn 27/1/1973. Xin xem bản đồ đính kèm, của sách Từ Ngưng Bắn Đến Đầu Hàng của đại tá LeGro -- người dịch.

Trung tá Lê Trung Hiền, phát ngôn viên quân sự của QLVNCH, đã tuyên bố rằng quân CSBV, sau khi tràn ngập quận lỵ Kiến Đức của tỉnh Quảng Đức vào tối thứ ba, đã chọn Gia Nghĩa, tỉnh lỵ của Quảng Đức, là "mục tiêu kế". 

Kiến Đức cách Gia Nghĩa 13 dặm hay 20,9 km đường đất, chạy ngoằn nghoèo xuyên qua các đồn điền nằm dọc biên giới VN-Cam bốt thuộc phía nam Cao nguyên Trung phần. 

Tin cho biết, quân csbv, hỗ trợ bởi xe tăng và thiết vận xa, sau khi chiếm Kiến Đức, nay họ đã ở vị trí tốt (good position) để tấn công sân bay Nhơn Cơ, cách Kiến Đức 5 dặm hay 8km về phía đông -- sân bay này được dùng để tiếp tế cho tỉnh lỵ Gia Nghĩa. 

Phát ngôn viên quân sự nói rằng việc Bắc quân pháo kích Nhơn Cơ đã khiến sân bay ko thể xử dụng nhưng các máy bay của chánh phủ--phần lớn là các vận tải cơ có thể chỡ được 30 lính--vẫn có thể chỡ quân tăng viện tới một cánh đồng nhỏ ở tỉnh lỵ Gia Nghĩa.

Tin cho biết, nhiều đơn vị đồn trú trong tỉnh Quảng Đức, sau khi rút bỏ căn cứ vì bị tấn công dữ dội, đã tập hợp lại quanh sân bay nhỏ tại Nhơn Cơ, nhưng ko có tin về đụng độ ở đây. 

KHÔNG QUÂN VNCH CAN THIỆP

Phát ngôn viên này cho biết hôm qua các lực lượng csbv đã pháo kích nhẹ vào các đơn vị bộ binh, địa phương, nghĩa quân và thiết giáp chung quanh căn cứ Dak Song, khoảng 25 dặm hay 40,2 km bắc của Gia Nghĩa. Quân chánh phủ (CP) đã phản công,giết 5 Bắc quân trong khi bị chết 2 và 32 bị thương, tin cho biết.

Nói thêmDak Song là một vị trí trên QL-14, ở phía nam của Đức Lập, từ đây có hai ngã rẽ: 

- Ngã thứ nhứt chạy về tây nam tới Tuy Đức. (Trại LLĐB Bu Prang cũ ở phía tây của Tuy Đức). 

- Ngã thứ hai chạy về đông nam, cũng là liên tỉnh lộ (LTL) 8B, có từ đời Pháp, đi qua Đạo Trung và Nghi Xuân trước khi tới Gia Nghĩa. Đi tiếp về hướng Đông Nam sẽ tới Di Linh của tỉnh Lâm Đồng và chấm dứt ở Phan Thiết của tỉnh Bình Thuận. Sau TT Diệm bị lật đổ, các ấp chiến lược trên toàn quốc bị xóa bỏ, tình hình an ninh suy sụp, nên phần lớn đoạn từ Gia Nghĩa tới Di Linh gần như bỏ hoang, để cho CS kiểm soát. Tuy nhiên, tháng 3/75, đoàn quân-dân di tản của tỉnh Quảng Đức đã phần nào dựa vào LTL này để đi bộ từ Gia Nghĩa đến Di Linh, vì lúc đó quân CSBV đã rời bỏ các mật khu để tiến về các thành phố. 

Tưởng cũng nên nhắc lại, sau 1954, TT Diệm đã lập nhiều khu dinh điền trong tỉnh Quảng Đức và các tỉnh lân cận như Lâm Đồng, Darlac, Phước Long, để đưa dân di cư 1954, phần lớn là Công Giáo, đến khẩn hoang lập ấp dọc QL14 và liên tỉnh lộ 8B, với các địa điểm như Đức Lập, Sùng Đức, Đạo Trung, Nghi Xuân, Gia Nghĩa, hay Bích Khê, v.v... Bích Khê là một ấp chiến lược (ACL) có từ thời ông Diệm, phong cảnh rất đẹp, sau 1963 đã bỏ hoang, biến thành một mật khu của quân CSBV. Đại đội 1 TĐ 11 BĐQ của Vương Mộng Long đã từng hành quân vào ACL này khi TĐ ông dưới quyền Task Force South của tướng Trương Quang Ân.-- Người dịch.

Không quân Nam VN cho biết hôm qua, đã thực hiện 121 phi xuất khắp nước để "trừng phạt" việc vi phạm HĐ Paris 1973 của Bắc quân -- trong đó có 72 phi xuất ở Quảng Đức. 

VNCH đã ko thể tiếp tế Gia Nghĩa bằng đường bộ kể từ lúc quân csbv mở các cuộc tấn công bằng xe tăng tại Quảng Đức trong tháng qua như một cố gắng có vẻ muốn kiểm soát QL14 chạy ngang qua tỉnh. 

Các nhà phân tích quân sự và giới ngoại giao tại Sài Gòn đã theo dõi chặc chẻ hành động kế tiếp của CS trong cuộc tấn công ở vùng cao nguyên này. Theo một số quan sát viên, nếu CSBV tấn công tỉnh lỵ Gia Nghĩa, về phương diện tuyên truyền, là một vi phạm trắng trợn đối với HĐ ngưng bắn vốn đã bị vi phạm nhiều lần. 

Nhưng mặt khác, nếu họ ko chiếm được Gia Nghĩa cho thấy họ ko đạt mục tiêu--đó là mở rộng mạng lưới đường xá chạy dọc biên giới xuyên qua Quảng Đức và đi tới đầu não chỉ huy của họ, xa hơn về phía nam, tại Lộc Ninh. Nói thêm: sau 1972, CS đã gọi Lộc Ninh là thủ đô của chánh phủ cách mạng cộng hòa miền nam VN -- người dịch.

Trung tá Hiền cũng cho biết rằng cuộc chiến đang diễn tiến ở Quảng Đức có vẻ đã bớt ác liệt. Trong lúc ông từ chối tiết lộ quy mô của quân tăng viện, ông nói Cộng quân ko bắt đầu tiến về Gia Nghĩa. 

Chánh phủ vẫn còn giữ liên lạc với các thành phần của trung đoàn 53 thuộc sđ 23 bộ binh VNCH, mặc dù họ ko thể liên lạc với BCH của họ ở quận lỵ Kiến Đức.

222 QUÂN CSBV BỊ HẠ

Phát ngôn viên nói rằng 222 địch quân đã bị giết khi tấn công Kiến Đức. Bên VNCH có 29 chết, 18 bị thương và 64 mất tích. 

Trong trận đánh gần Bu Prang, một trại LLĐB bị mất một tháng trước đây, 50 lính csbv bị hạ. Bên VNCH có 5 chết và 40 mất tích.

Hơn nữa, có bốn xe tăng bị bắn cháy gần Bu Prang, nâng tổng số lên đến chín xe tăng kể từ chiến sự bùng nổ ở Quảng Đức. 

Trong một hoạt động khác ở Cao nguyên Trung phần, tin của chính phủ cho biết 8.000 đạn 105-ly, đã bị phát nổ hôm qua tại một kho đạn 4 dặm hay 6,4 k tây bắc tỉnh lỵ Pleiku. Năm người lính bị thương từ sự kiện có vẻ do đặc công xâm nhập này.

Phát ngôn cho biết quân csbv đã tấn công các đv bộ binh ở chín dặm hay 14,4 km tây của Huế và bắn 167 đạn cối vào các vị trí của CP. Có 23 lính csbv bị giết so với 1 chết và 6 bị thương bên VNCH. 

Phòng tuyến phía tây Huế đã bị pháo kích gần như thường xuyên trong 2 tuần.

MỸ CÁO BUỘC CSBV

Washington ngày 5/12 (tin của hãng Reuters) -- Mỹ hôm nay đã tố giác quân số của csbv tại Nam VN đã gia tăng 20/100 kể từ ngày ngưng bắn 27/1/73 và kết tội "những hành động xâm lăng công khai vừa nghiêm trọng và trắng trợn" của Bắc VN.

Phát ngôn viên của bộ ngoại giao Mỹ, George Vest, đã xác nhận, các tin tức nói rằng hôm qua các lực lượng CS đã tung ra một cuộc tấn công cấp sđ gần biên giới ở phía đông bắc của thủ đô Sài Gòn. 

Tuy nhiên, ông ko thể tiên đoán rằng đó có thể là một tấn công toàn diện ở Nam VN. 

Mỹ ước tính hiện nay quân CSBV và VC tại miền Nam là 175.000 đến 185.000 người, so với 145.00 đến 155.00 người vào tháng 1.

Bộ quốc phòng Mỹ trước đó cũng nói rằng họ ko nghĩ các hoạt động hiện nay của csbv sẽ dẫn đến một tấn công toàn diện khắp nước."